Để có được những chiến thắng vang dội trước những “gã khổng lồ” thực dân Pháp, đếquốc Mỹ ta không thể không kể đến công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc đã vì nước quênthân, ra đi tìm đường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
STT Họ và tên MSSV Nhiệm vụ Kết quả Chữ ký
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG …….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…5 Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ
KỶ XX …….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…… 5 1.1 Bối cảnh lịch sử …….…….…….…….…….…….…….…….…….…….5
1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và những tác động đến Việt Nam …….… 5 1.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam …….……. 6
1.2 Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 8
1.2.1 Phong trào yêu nước vào cuối thế kỷ XIX …….…….…….…….… 8 1.2.2 Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX …….…….…….…….…….… 8
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 …….…….…….…….…….…….…….…….…….…10 Chương 2: SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN, CHUẨN
BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC …….…….…10 2.1 Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-
2.1.1 Những yếu tố tác động đến quyết định đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc …….…….…….…….…….…….…….…….…….……. 10 2.1.2 Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản. …….…….… 12
2.2 Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1921-1929) …….…….…….…….…….…….…….13
2.2.1 Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị …….…….…….…….…….……. 13 2.2.2 Sự chuẩn bị về tổ chức Đảng …….…….…….…….…….…….… 14
2.3 Phát triển phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng
vô sản …….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…14
2.3.1 Sự phát triển của phong trào công nhân …….…….…….…….…14 2.3.2 Sự ra đời của các tổ chức Cộng sản …….…….…….…….…….… 15
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 …….…….…….…….…….…….…….…….…….…16 Chương 3 CHỦ ĐỘNG TRIỆU TẬP, CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÀNH LẬP :
ĐẢNG VÀ SOẠN THẢO CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN …….…17 3.1 Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên 17
3.1.1 Hội nghị thành lập Đảng …….…….…….…….…….…….……. 17 3.1.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên …….…….…….…….…….…….… 18
3.2 Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và
Cương lĩnh chính trị đầu tiên …….…….…….…….…….…….…….…….19
Trang 33.2.1 Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc
3.2.2 Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay…….…….…….
…….20
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 …….…….…….…….…….…….…….…….…….…22 PHẦN TỔNG KẾT…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…… 24 PHỤ LỤC …….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….…….……26
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong quá trình học tập, nghiên cứu môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, việcthành lập Đảng là nắm vai trò tất yếu trong chiến thắng trong cuộc cách mạng Việt Nam vớithực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nội dung thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành mộttrong những nội dung quan trọng nhất để đặt nền móng vững chắc cho một Đảng Cộng sảnViệt Nam cũng như người dân Việt Nam vững mạnh và thống nhất về tư tưởng chính trị
Để có được những chiến thắng vang dội trước những “gã khổng lồ” thực dân Pháp, đếquốc Mỹ ta không thể không kể đến công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc đã vì nước quênthân, ra đi tìm đường cứu nước cùng với nhiệt huyết cháy bỏng, nhãn quan chính trị nhạybén, vượt lên trên hạn chế của các bậc yêu nước đương thời, rồi quay trở lại mảnh đất ViệtNam với một đường lối kháng chiến phù hợp cho nhân dân, cùng với luận cương chính trịvững chắc và sự ra đời của đứa con tinh thần của Đảng cộng sản Việt Nam (ngày 03/02/1930)
là khởi nguồn cho những chiến thắng lịch sử sau này
Đảng Cộng sản Việt Nam đã soi rọi, dẫn lối nhân dân nước ta vực dậy từ thời kì khóibụi tro tàn, khói lửa tang thương, thời kì mà đến 90% dân số mù chữ không thể viết được tênchính bản thân mình trở thành một trong những quốc gia giàu tiềm năng, được các cườngquốc săn đón nhân tài cũng như hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy xí nghiệp, tương laiđất nước Việt Nam có thể đứng đầu khu vực và cạnh tranh các nước khác trên thế giới Trên con đường lãnh đạo dẫn dắt nhân dân, Đảng và nhà nước ta vẫn còn vấp phảinhiều thiếu sót Ví dụ như thời kì bao cấp ở những năm 1976-1986 thuộc thế kỷ XX, đời sốngnhân dân vẫn còn cực khổ, ăn không đủ no, áo không đủ ấm Đảng nhận ra tình hình khókhăn trong đời sống người dân nên đã ra cải cách kịp thời và đưa nền kinh tế Việt Nam tăngtrưởng mạnh mẽ từ đó cho đến nay đồng thời nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho ngườidân Việt Nam trở nên phồn thịnh hơn
Trong thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng ViệtNam với mục đích tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập sâurộng vào đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tiến tới xóa bỏ chế độ xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam Do đó, chúng ta cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quanđiểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ những thành quả cáchmạng to lớn mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 90 năm qua Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Đảng muốn vững chải phải có chủ nghĩa làm cốt,trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy” Chủ nghĩa nước ta xây dựatrên chủ nghĩa Mác-Lenin, để đất nước ta yên bình vững chính trị dân tộc ta phải thấm nhuầnchủ nghĩa ấy, để có được đất nước Việt Nam hiện nay chúng ta được Đảng Cộng sản dìu dắtngay từ những ngày đầu kháng chiến và vai trò to lớn người thành lập đồng thời cũng chính
là người lãnh đạo toàn dân kháng chiến Nguyễn Ái Quốc, chúng ta có thể đánh đuổi thù tronggiặt ngoài khi và chỉ khi mỗi người dân chúng ta khắc cốt ghi tâm công lao của Đảng, sự vĩđại Nguyễn Ái Quốc, luôn đặt trọn niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam
Lý do nhóm chọn đề tài: “VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI SỰ RAĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM” để có thể hệ thống hóa các quá trình dẫn đến sự
Trang 5ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và nêu rõ vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong việcthành lập Đảng Cũng từ đó giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa công lao Nguyễn Ái Quốc đã manglại cho nước nhà Cũng như một lời nhắc nhở sắc son lịch sử, đánh dấu chính thức nước ta cóĐảng chỉ huy về mọi mặt.
Nhiệm vụ của đề tài:
Một là, làm rõ tình hình thế giới, đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách
thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và kết quả của các phong trào yêu nướcViệt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Hai là, làm rõ quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản và sự chuẩn bị của
Nguyễn Ái Quốc về chính trị-tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ởViệt Nam;
Ba là, làm rõ sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ khi tiếp thu lý luận
về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc qua thực tiễn hoạt động của HộiViệt Nam cách mạng Thanh niên và sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam vàocuối năm 1929;
Bốn là, làm rõ sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc trong việc triệu tập, chủ trì Hội nghị
thành lập Đảng và soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Năm là, làm rõ giá trị sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị
đầu tiên đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1 Bối cảnh lịch sử
1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và những tác động đến Việt Nam
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa) Nền kinh tế hànghóa phát triển mạnh,đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường Đó chính là nguyên nhân sâu xadẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến cácquốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thácsức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc Đến năm 1914, các nước đế quốcAnh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân523,4 triệu người (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km2 và dân số 437,2 triệu).Riêng diện tích các thuộc địa của Pháp là 10,6 triệu km2 với số dân 55,5 triệu (so với diệntích nước Pháp là 0,5 triệu km2 và dân số 39,6 triệu người)1 (1 Xem V.I Lênin: Toàntập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.27, tr 478.)
Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại lợi nhuận tối
đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho quan hệ xã hội của các nướcthuộc địa biến đổi một cách căn bản Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bảnthực dân Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữadân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địacàng quyết liệt Và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạocho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng Sự thứctỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lậplại các quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược,thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân
Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của các dân tộc châu á cùng vớiphong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một caotrào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông Hàng trăm triệu người hướng về một cuộc sốngmới với ánh sáng tự do
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công Đối với nước Nga, đó là cuộccách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là mộtcuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nước Nga là nhà tù của các dântộc" Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công, các dân tộc thuộc địa của đế quốc Ngađược giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nêncác quốc gia độc lập và quyền liên hợp, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà xã hội chủnghĩa Xôviết (1922) Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dântộc bị áp bức đã "mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóngdân tộ 1(1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.8, tr 562.)c" Nólàm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào
Trang 7giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trongcuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản(1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin được công bố Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóngcác dân tộc bị áp bức Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc
tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập Tình hình thế giới đầy biếnđộng đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam
1.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lịch sử Việt Nam có những biến đổi hếtsức to lớn về nhiều mặt Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây,đêm ngày 31/8/1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam Tháng6/1884, triều đình nhà Nguyễn kí Hiệp ước Patơnốt, từ đó Pháp thiết lập sự thống trị ở toànViệt Nam Sau khi hoàn toàn chiếm quyền cai trị trên toàn bộ nước ta và cả Đông Dương,thực dân Pháp tiến hành thiết lập bộ máy cai trị thực dân Chúng dùng bộ máy quân sự vữngmạnh, hệ thống cảnh sát và nhà tù đề đàn áp nhân dân ta Thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn ápmọi sự chống đối Thực dân Pháp chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhautheo chính sách “chia để trị” Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và chế độ địachủ để làm công cụ, tay sai trong kế hoạch khai thác thuộc địa Nhân dân ta rơi vào cảnh nô
lệ, “một cổ hai tròng”, bị bóc lột bởi cả chế độ phong kiến bù nhìn lẫn chế độ thực dân.Chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố hết sức dã man, tàn bạo, chia rẽ dân tộc, tôngiáo Chúng vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao đô Šng nhân dân Viê Št Nam “tới tâ Šn xươngtủy”
Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất.Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chương trình khai thác thuộcđịa lần thứ hai ở Đông Dương, lấy Việt Nam là trọng điểm, với số vốn đầu tư trên quy mô lớnhơn lần thứ nhất và tốc độ nhanh Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập cácđồn điền cao su, cà phê, chè ) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng ) để thulợi nhuận nhiều và nhanh Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàngtrăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi.Tư bảnPháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt nhằm hỗ trợ cho công cuộckhai thác thuộc địa Phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền giao thương vớinước ngoài Do đó nền kinh tế nước ta có sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tư bản chủnghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp
Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam có nhiều sự thay đổi.Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Xã hội nước ta bịphân hóa nặng nề Mâu thuẫn giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội ngày càng lớn
Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại từ trước khi thực dân Pháp xuất hiện Chủnghĩa tư bản thực dân xâm nhập vào Việt Nam , song giai cấp địa chủ vẫn tồn tại cốt là đểlàm cơ sở cho chế độ thuộc địa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị của Pháp, giaicấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ Tuy nói
là giai cấp địa chủ nhưng bản chất vẫn là tay sai của thực dân Thế nên một bộ phận không
Trang 8nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyềnlợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai.
Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và
tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất của nông dân bị bọn tư bản thực dân chiếmđoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặnglãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lốithoát sức mạnh của giai cấp nông dân là giai cấp quan trọng nhất của cách mạng
Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sauchiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt Ra đời trong điều kiện bị tư bảnPháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều,thế lực kinh
tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối
Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao thầu nhữngcông trình xây dựng của chúng ở nước ta Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc cónhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đếquốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc
Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm những tư sản loạivừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng do chính sách độcquyền và chèn ép của tư bản Pháp nên không thể phát triển được Giai cấp tư sản dân tộc làmột lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủcông, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những bộphận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của
họ rất bấp bênh, luôn luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn,lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng Giai cấptiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do củadân tộc
Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp.Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số
cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho việc xâm lược và bình định của chúng ở nước
ta Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hìnhthành
Với tình hình xã hội đó, các phong trào đấu tranh giành lại quyền lợi dân tộc nổ ra làđiều hiển nhiên và hợp lý Tuy nhiên để chống thực dân Pháp, giành độc lập tự do cho dân tộcđòi hỏi dân tộc Việt Nam phải có sự đoàn kết giữa các giai cấp, phải có chung một hệ thống
lý tưởng và có sự lãnh đạo sáng suốt
Trang 91.2 Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.2.1 Phong trào yêu nước vào cuối thế kỷ XIX
Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước Ácmăng(Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song phongtrào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra
Tiêu biểu nhất trong giai đoạn này có thể nhắc đến phong trào Cần Vương do đại thầnTôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi khởi xướng Triều đình Huế lúc này có sự phânhóa rõ rệt, một số bộ phận quan lại phong kiến đi theo đường lối hòa hoãn với Pháp mục đích
là để bảo vệ quyền lợi của giai cấp Mặc dù vậy vẫn có một số bộ phận quan lại và sĩ phu yêunước, dám đứng lên đấu tranh giành lại đất nước Tôn Thất Thuyết là một trong số đó Ôngluôn giữ thái độ thù địch với Pháp, đặc quyền lợi của dân tộc và đất nước lên trên lợi ích cánhân Do đó mà phong trào Cần Vương được đa số người dân ủng hộ hết mình Có thể nóiđây là bằng chứng cho thấy nhân dân ta luôn có tinh thần yêu nước chống ngoại xâm
Tuy nhiên phong trào vẫn thất bại Nhiều nguyên nhân có thể được đưa ra:
Văn thân, sĩ phu còn mang đậm ảnh hưởng ý thức hệ phong kiến bên cạnh đó là sựbạc nhược và yếu hèn của triều Nguyễn trước tình hình dân tộc Khuynh hướng Phong Kiến
là lạc hậu, lỗi thời so với xã hội lúc bấy giờ
Chênh lệch lực lượng giữa ta và địch: Thực dân Pháp là nước tư bản phát triển, cótiềm lực to lớn cả về kinh tế lẫn quân sự Nền sản xuất lạc hậu, kém phát triển làm nền tảng,
vì vậy vũ khí thô sơ không thể chống lại vũ khí hiện đại của Pháp
Khởi nghĩa rời rạc, không có sự đoàn kết thống nhất Thiếu sự quy tụ và một đườnglối lãnh đạo đúng đắn
Sự kháng cự chỉ có tính chất địa phương, các người lãnh đạo chỉ có uy tín ở địaphương của họ, nên khi bị bắt hoặc hy sinh thì phong trào tan rã
Nhiều cuộc khởi nghĩa khác theo khuynh hướng Phong Kiến vẫn diễn ra trong giaiđoạn này, như khởi nghĩa Yên Thế v.v nhưng kết quả vẫn là thất bại Cho thấy để thắngđược thực dân Pháp yếu tố tinh thần và sự ủng hộ của nhân dân thôi là chưa đủ Còn cần phải
có sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp đứng đầu, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cả sức mạnh quân
sự lẫn tiềm lực tài chính Đấu tranh phải có sự nhất quán để tận dụng triệt để thế mạnh quầnchúng nhân dân tránh đấu tranh lẻ tẻ tạo cơ hội cho Pháp đàn áp dễ dàng Cuối cùng để thắngmột nước tư bản đã phát triển như Pháp lúc bấy giờ cần phải loại bỏ đi những cái lạc hậu củachế độ cũ, ở đây là tư tưởng Phong kiến cổ hủ
1.2.2 Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX
Sau sự thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng Phong Kiến ở cuốithế kỷ XIX, nhân dân ta cần một con đường mới thay thế để đấu tranh giành lại quyền tự dodân tộc Cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã làm nảy sinh những lực lượng xã hội mới nhưcông nhân, tư sản và tiểu tư sản đã tạo ra những điều kiện bên trong cho một cuộc vận độnggiải phóng dân tộc theo xu hướng mới Trong giai đoạn này nhiều sách báo mang tư tưởngmới được du nhập vào Việt Nam Các Tân sách, Tân báo do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêuviết được đưa vào Việt Nam đã cổ vũ các sĩ phu tiên tiến hướng theo lý tưởng cuộc vận độngDuy tân của Trung Quốc Sau cuộc Duy Tân Minh Trị, Nhật Bản đã trở thành một đế quốchùng mạnh, điều này có ý nghĩa rất lớn, khẳng định phong trào yêu nước theo chủ nghĩa này
Trang 10đã thành công Đầu thế kỷ XX, một phong trào yêu nước mới nảy sinh ở nước ta theo khuynhhướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là Phan Bội Châu – người lãnh đạo xu hướng bạo động vàPhan Châu Trinh – người lãnh đạo xu hướng cải cách.
Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản đểđánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến củaNhật Phan Bội Châu đã nêu rõ nhiệm vụ đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc Conđường cứu nước của Phan Bội Châu là “cứu nước để cứu dân” Ở đây ta thấy điểm tích cựctrong khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu là ông đã xác định được đúng mâu thuẫn
cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vì vậy ông nêu rõ mục tiêu là đánh đuổi Pháp thìmới có thể giành được độc lập tự do cho nhân dân Để thu hút sự tham gia đông đảo của quầnchúng nhân dân, Phan Bội Châu đã lợi dụng tư tưởng trung quân ái quốc để tập hợp lựclượng Rõ ràng ta thấy lúc này ở Việt Nam vẫn còn vua Thành Thái nhưng Phan Bội Châu đãchọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (cháu 6 đời của Vua Gia Long) làm thủ lĩnh để hiệu triệu quốcdân Cường Để có tinh thần chống Pháp chứ không phải một ông vua chính danh nhưng bùnhìn như Thành Thái
Phan Bội Châu đã xác định phương pháp cách mạng là bạo động vũ trang cần thiết làđúng vì bản chất của các thế lực thù địch là chúng chống phá ta bằng quân sự vì vậy phải bạođộng quân sự
Phan Bội Châu đã thành lập các tổ chức cách mạng bao gồm hội Duy Tân, hội CốngHiến được thành lập ở Tokyo, cơ quan liên lạc và Công hội Thương đoàn được thành lập ởHồng Kông tiếp đó ông tổ chức phong trào Đông Du (1905- 1908) đưa thanh niên Việt Namsang Nhật Bản học tập Tuy nhiên đến tháng 8/1908 chính phủ Nhật cấu kết với Pháp trụcxuất lưu học sinh kể cả Phan Bội Châu về nước Giữa lúc cách mạng Tân Hợi bùng nổ vàthắng lợi (1911), ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang Phục Hội (1912) với mục đíchtập hợp lực lượng đánh đuổi Pháp khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng Hòa DânQuốc Việt Nam Ngày 30 tháng 6 năm 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hảigiải về nước xử án tù chung thân
Có thể nói phong trào Đông Du của Phan Bội Châu mang lại làn gió mới cho cách mạng ViệtNam Tư tưởng và nhận định về xã hội của Phan Bội Châu là đúng đắn với thời điểm bây giờ,nhưng việc dựa vào Nhật là chưa hợp lý Vì Nhật sau khi tiến hành duy tân đã trở thành mộtnước đế quốc trẻ, thiếu thuộc địa Có thể sau khi dựa vào Nhật đánh đuổi được Pháp thì nước
ta sẽ lại bị Nhật chiếm đóng
Khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chủ trương tiến hành một phong trào DuyTân nhằm vận động cải cách kinh tế, văn hoá, xã hội và gắn liền với việc động viên lòng yêunước, căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của ngoại xâm Phan ChâuTrinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triểnkinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nướcmạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam Mặt khác, Phan ChâuTrinh còn phản đối việc dùng vũ lực để giành độc lập dân tộc quốc như cầu viện bên ngoài
“Bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu” Khuynh hướng vậnđộng cải cách của Phan Châu Trinh đã cỗ vũ tinh thần học tập, tự cường, chống các hủ tụcphong kiến
Trang 11Cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều là những người có ảnh hưởng lớn đếncách mạng Việt Nam Phong trào của hai ông thất bại là do khuynh hướng dân chủ tư sản đãlạc hậu với thời đại này Các phong trào diễn ra lẻ tẻ không thống nhất, dễ dàng bị thực dânPháp đàn áp Các phong trào quá phụ thuộc vào người lãnh đạo, khi người lãnh đạo chính bịbắt hoặc hy sinh không có ai tiếp tục đứng lên chỉ dẫn những người khác tiếp bước Thiếu sựvận động quần chúng do đó thiếu sức mạnh của toàn dân Với Phan Châu Trinh con đườngđấu tranh mà không dùng vũ lực là chưa đúng vì chỉ có khởi nghĩa vũ trang và chiến tranhcách mạng là con đường duy nhất đúng đắn để giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam Tuythất bại nhưng những cuộc cách mạng này là những viên gạch đầu tiên làm nền móng chocon đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc sau này
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động Các nước
tư bản phương tây dần đi theo chủ nghĩa đế quốc biến các nước kém phát triển hơn trở thànhthuộc địa Chủ nghĩa đế quốc khai thác triệt để các nước thuộc địa, đưa người dân vào cảnhlầm than, mất nước, mất ruộng đất và mất cả tự do Việt Nam cũng là một trong các quốc gia
bị chủ nghĩa đế quốc xâm chiếm Từ năm 1884 nước ta chính thức trở thành thuộc địa củaPháp Từ một nước phong kiến nước ta bị biến thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, xãhội bị phân hóa nặng nề Sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, xã hội nước tabao gồm các giai cấp: địa chủ phong kiến, nông dân, tư sản (tư sản mại bản, tư sản dân tộc),tiểu tư sản và công nhân
Từ những mâu thuẫn với thực dân Pháp những cuộc đấu tranh của nhân dân liên tục
nổ ra Ban đầu là các phong trào theo khuynh hướng phong kiến, sau đó là những cuộc đấutranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản Mặc dù những phong trào này sớm đi đến thất bạinhưng đó là nền móng cho thành công của các cuộc cách mạng sau này Thể hiện rõ nhân dân
ta luôn có tinh thần giải phóng dân tộc rất lớn Các giai cấp bị áp bức, bóc lột như nông dân,tiểu tư sản hay giai cấp công nhân mới được sinh ra đều có ý muốn thoát khỏi chế độ thựcdân nhưng thiếu bộ máy lãnh đạo với một định hướng đấu tranh đúng đắn Một tổ chức mớicần được ra đời để tập hợp sức mạnh của tất cả các giai cấp còn lại, đây là vấn đề cấp thiết.Năm 1930, Đảng ra đời để lãnh đạo các giai cấp cùng đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc
Chương 2:
SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN, CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
2.1 Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)
2.1.1 Những yếu tố tác động đến quyết định đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Những năm 20 của thế kỷ XX, đất nước ta đã chứng kiến nhiều cuộc khởi nghĩa thấtbại, nhưng chúng cũng đã góp phần làm động lực mạnh mẽ cổ vũ cho tinh thần yêu nước củanhân dân và thúc đẩy những nhà yêu nước, và nhất là tầng lớp thanh niên tri thức nhằm lựachọn những giải pháp, con đường mới nhằm giải phóng dân tộc Nguyễn Ái Quốc, với nhãnquan chính trị sắc bén và nhiệt huyết tuổi trẻ, đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước trong
Trang 12bối cảnh lịch sử, yêu cầu của nhân dân trong việc giải phóng dân tộc đó cùng với những yếu
tố hoàn cảnh khác nhau như sau:
Thứ nhất, do tinh thần yêu nước của truyền thống gia đình Cha của Người là NguyễnSinh Sắc là một nhà nho yêu nước và có ý chí, nghị lực kiên cường, còn mẹ của Người là mộtngười phụ nữ chịu thương chịu khó và giàu lòng nhân ái Lớn lên trong một gia đình như vậy
đã sớm hun đúc trong Nguyễn Ái Quốc một tình yêu quê hương thắm thiết và khao khát đượcgiúp đỡ những người dân đang lâm vào tình trạng “một cổ hai tròng” với những cảnh lầmthan khi nước mất, nhà tan Thêm vào đó, cha của Người cũng giao du và tiếp xúc với những
sĩ phu yêu nước khác như Đặng Thái Thân, Phan Bội Châu, … Những sinh hoạt hằng ngày,những cuộc đàm luận chính trị của cả ông lẫn những người bạn của ông đã có ảnh hưởng sâusắc và giúp mở mang tầm mắt của Nguyễn Ái Quốc đến với những con đường giải phóng dântộc khác nhau Có thể thấy, hoàn cảnh lớn lên của Nguyễn Ái Quốc chính là một nhân tốkhông nhỏ giúp định hình chí hướng cách mạng và con đường giải phóng đất nước của Người
Thứ ba, do những thất bại của các phong trào đấu tranh trước đó Cuối thế kỉ XIX,nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp bị thực dân thẳng tay đàn áp đẫm máu, nhữngphong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dưới lá cờ phong kiến đều đi đến thất bại sau cùng.Đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới, tiến hành cuộc vận độngcứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, nhưng cũng không thành công Sự nghiệp giảiphóng đất nước lâm vào bế tắc, khi những con đường đi về phương Đông như của Phan BộiChâu, hay dựa vào Pháp như của Phan Châu Trinh đều thất bại Chứng kiến điều đó, Nguyễn
Ái Quốc đã quyết định lựa chọn con đường đi sang phương Tây, nơi có tư tưởng tự do, bìnhđẳng, bác ái, có khoa học - kỹ thuật và nền văn minh phát triển
Thứ tư, do chứng kiến sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với sự ra đời củaĐảng Cộng sản trên toàn thế giới Với sự xuất hiện của Đảng trên toàn thế giới tại nhiều quốcgia như: Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, … Người đã nhận thấy được tiềm năng lãnh đạo, đoànkết các giai cấp lại để thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và giải phóng xiềng xích,đem về tự do cho quê hương
Cuối cùng, không thể không nhắc đến chính thực tiễn cuộc cách mạng, cùng với trítuệ và lòng quyết tâm không nguôi của Người Ý đồ đi ra nước ngoài để xem các nước kháclàm như thế nào để trở về giúp đồng bào và tìm ra con đường giải phóng đúng đắn, qua đó đãkhẳng định tư duy “vượt thời đại” của Người so với nhân sĩ, trí thức yêu nước ở Việt Nam lúcbấy giờ Mặc dù cũng chứng kiến cảnh lầm than lam lũ khổ sở của người dân Việt Nam vàcũng trăn trở với suy nghĩ cứu nước cứu dân như bao sĩ phu khác, nhưng Người đã vượt qua
tư tưởng chống giặc theo lập trường của phong kiến và dân chủ tư sản và tiểu tư sản Từ khát
Trang 13khao cháy bỏng đó, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc để tìm đường cứu nước, và giải phóngdân tộc khỏi xiềng xích của thực dân Pháp đã đánh tan bao cuộc khởi nghĩa trước đó.
2.1.2 Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
Sau nhiều năm bôn ba khắp biển Á, trời Âu, nghiên cứu thực tiễn cách mạng thế giới,Người đã được tiếp xúc với biết bao tri thức nhân loại Trong những năm ở Mỹ, ở Pháp,Người dành nhiều thời gian tìm hiểu về các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới: cách mạng
Mỹ (1776) với bản “Tuyên ngôn Độc lập” và cách mạng tư sản Pháp (1789) với bản “Tuyênngôn Nhân quyền và Dân quyền” Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nướcnày, nhưng không thể đi theo con đường của họ Bởi vì, "Cách mệnh Pháp cũng như cáchmệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dânchủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đãbốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hằng còn phải mưu cách mạng lần nữa mới hòng thoátkhỏi vòng áp bức Cách mệnh Việt Nam nên nhớ những điều ấy", "Chúng ta đã làm cáchmệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng
số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúngmới được hạnh phúc" Nói cách khác, đối với Người, những cuộc cách mạng đó là không triệt
để, không thể hoàn toàn giải phóng áp bức dân tộc được
Năm 1917, thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga - một sự kiện rung chuyển thếgiới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử loài người - đã có một sức ảnh hưởng vô cùnglớn đến tư tưởng và phương hướng của Nguyễn Ái Quốc Người rất ngưỡng mộ cuộc cáchmạng đó và vô cùng thán phục Lênin và đã từ đó tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, vàqua đó, Người đã trở thành chiến sĩ Cộng sản đầu tiên của Việt Nam Chính những hoạt độngcách mạng phong phú đó đã giúp Người chiêm nghiệm nhiều điều bổ ích và quý báu cho conđường giải phóng dân tộc sau này của mình
Vào đầu năm 1919, Người đã tham gia Đảng Xã hội Pháp, và ở đó đã đứng ra đưa rabản Yêu sách của nhân dân An Nam vào ngày 18-6 tới Hội Nghị thay mặt cho Hội nhữngngười An Nam yêu nước ở Pháp Mặc dù không được đáp ứng, yêu sách đã mang lại tiếngvang lên trên truyền thông quốc tế và là tiền đề giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ hơn bản chấthai mặt của đế quốc thực dân xâm lược
Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luậncương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng xã hộiPháp Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Muốn giải phóng dân tộc không có con đường nào kháccon đường cách mạng vô sản” Khi nói về niềm hạnh phúc tột độ của Bác khi đọc Luậncương của Lênin, trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” nhà thơ Chế Lan Viên đã viết
“Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc: Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!” Lý luậnđúng đắn và lập trường của Quốc tế Cộng sản về việc giải phóng dân tộc chính là cơ sở đểNguyễn Ái Quốc xác định thái độ ủng hộ Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần thứ XVIII vàonăm 1920 tại thành phố Tua
Cũng sau khi đã xác định được đường lối đúng đắn, Người tiếp tục khảo sát hoànthiện nhận thức về đường lối cách mạng và tiếp tục những hoạt động chính trị nhằm truyền báchủ nghĩa Mác-Lênin nhằm chuẩn bị cho ngày về quê hương và thực hiện đường lối chínhsách giải phóng dân tộc