1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài CHÍNH SÁCH hỗ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG mất VIỆC làm KHI CHỊU tác ĐỘNG đại DỊCH COVID 19

32 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách hỗ trợ người lao động mất việc làm khi chịu tác động đại dịch COVID-19
Tác giả Nguyễn Anh Vũ
Trường học Học viện Báo chí Và Tuyên Truyền
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 230,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, vấn đề thất nghiệp và các chính sách giải quyết việc làm đang là vấn đề nóng bỏng “vàkhông kém phần bức bách” đang được toàn xã hội đặc biệt qua

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA XÃ HỘI HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

TIỂU LUẬN MÔN AN SINH XÃ HỘI

ĐỀ TÀI

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG MẤT VIỆC LÀM KHI CHỊU TÁC ĐỘNG ĐẠI

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

1.BỐI CẢNH CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG MẤT VIỆC LÀM

BỞI ĐẠI DỊCH COVID 19 VÀ BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19 3

1.1.Chính sách hỗ trợ người lao động mất việc làm của Chính Phủ và

Nhà Nước Việt Nam 3

1.2.Ảnh hưởng đại dịch Covid 19 đến người lao động Việt Nam 7

2.TÍNH THÍCH ỨNG VÀ SỰ KỊP THỜI CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

NGƯỜI LAO ĐỘNG MÂT VIỆC LÀM BỞI ĐẠI DỊCH COVID 19 12

2.1.Chính sách hỗ trợ người lao động bị mất việc làm bởi đại dich

Covid 19 và các vấn đề đặt ra với chính sách 12

2.2.Sự thay đổi , cập nhật, bổ sung đối với các chính sách hỗ trợ

người lao động bị mất việc làm bởi đại dich Covid 19 17

2.3.Sự thích ứng của Chính Phủ với các chính sách hỗ trợ người lao

động bị mất việc làm bởi đại dich Covid 19 21

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU.

Cơ chế thị trường được vận hành theo bàn tay vô hình mà nódựa trên cơ sở lợi ích riêng của các cá nhân và sự cạnh tranh Trongnhiều trường hợp, cơ chế thị trường vận hành gần như hoàn hảo vànguồn lực xã hội được phân bổ tối ưu Lúc này không cần vai trò củanhà nước.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cơ chế thị trường đượcdẫn dắt bởi lòng tham và sự vị kỷ của con người làm cho việc phân

bổ nguồn lực xã hội không tối ưu Đó chính là thất bại của thị trường

và cần đến vai trò của nhà nước Có năm loại thất bại thị trườnggồm: độc quyền hay có quyền lực thị trường, ngoại tác, hàng hoácông, bất cân xứng thông tin, và hành vi không hợp lý

Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, vấn đề thất nghiệp

và các chính sách giải quyết việc làm đang là vấn đề nóng bỏng “vàkhông kém phần bức bách” đang được toàn xã hội đặc biệt quantâm.Đất nước ta đang trong quá trình chuyển sang kinh tế phát triển,chúng ta đang từng bước đổi mới, nhằm nâng cao đời sống vật chất,tinh thần cho nhân dân, kinh tế vĩ mô đã vạch rõ những vấn đề phátsinh trong đó thể hiện ở những vấn đề: Thất nghiệp, việc làm, lạmphát tuy nhiên, đề tài này chỉ đi vào nghiên cứu vấn đề thất nghiệp

và việc làm ở Việt Nam

Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp thời kì đổi mới từ năm 1986đến năm 1996, các nguyên nhân làm tăng hay giảm tỷ lệ thấtnghiệp, trong từng giai đoạn kể trên: Số người tăng thêm trong lựclượng lao động hàng năm và số người được giải quyết việc làm hàngnăm Các chính sách giải quyết việc làm của nhà nước ta từ năm

1986 đến nay “đặc điểm của thời kỳ đưa ra chính sách đó, mục tiêucủa chính sách, kết quả đạt được, những vấn đề chưa đạt được”.Tình hình việc làm của người lao động Việt nam hiện nay, phươnghướng giải quyết việc làm của Nhà nước, phương hướng giải quyếtviệc làm của Nhà nước trong thời gian tới.Đề tài nghiên cứu nàynhằm mục đích đưa ra nhận thức đúng đắn và sự vận dụng có hiệu

Trang 4

quả những vần đề nêu trên Từ đó có thể nêu lên được cơ sở lý luận

để xây dựng mà hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam Việc nhận thức vàvận dụng đúng đắn vấn đề này giúp ta giải quyết được những thựctrạng này được là sự giảm sút to lớn về mặt sản lượng và đôi khi cònkéo theo nạn lạm phát cao Đồng thời nó còn giải quyết được nhiềuvấn đề xã hội Bởi vì thất nghiệp tăng số người không có công ănviệc làm nhiều hơn gắn liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội như: cờbạc, trộm cắp làm xói mòn nếp sống lành mạnh, có thể phá vỡnhiều mối quan hệ truyền thống, gây tốn thương về mặt tâm lý vàniềm tin của nhiều người

Nỗ lực triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xãhội theo tinh thần của Nghị quyết 11/NQ-CP của các cấp, các ngành,các địa phương cùng với các chính sách nới lỏng giãn cách xã hội vàhoàn thành tiêm vắc xin trong những tháng cuối năm 2021 và đầunăm 2022 đã tạo điều kiện cho thị trường lao động dần phục hồi vàđạt được mức tăng trưởng khá Số lao động bị ảnh hưởng tiêu cực bởiđại dịch Covid-19 đã giảm mạnh, số người gia nhập lực lượng laođộng tiếp tục tăng ngay cả khi số ca nhiễm Covid-19 trong cả nướcvượt mức hàng chục nghìn ca mỗi ngày Lao động có việc làm tăngmạnh Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm đều giảm Thu nhập củangười lao động đã dần được cải thiện

Trong đề tài nghiên cứu này, em xin trình bày một số quan

điểm của bản thân về vấn đê với đề tài : CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG MẤT VIỆC LÀM KHI CHỊU TÁC ĐỘNG ĐẠI DỊCH COVID 19

Tuy nhiên thời gian hạn hẹp và trình độ có hạn, bài tiểu luậnnày chỉ xin dùng lại ở việc tổng kết những gì đã được học, các ý kiến

và số liệu kèm theo về vấn đề nói trên đã được một số nhà nguyêncứu đi sâu vào tìm hiểu và được đăng tải trên báo hoặc tạp chí

Trang 5

NỘI DUNG

1.BỐI CẢNH CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG MẤT VIỆC LÀM BỞI ĐẠI DỊCH COVID 19 VÀ BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19.

1.1.Chính sách hỗ trợ người lao động mất việc làm của Chính Phủ và Nhà Nước Việt Nam

Theo thống kê về nguồn nhân lực và thị trường lao động ở ViệtNam hiện nay, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đếnthời điểm 01/10/2015 ước tính là 54,32 triệu người, tăng 11,7 nghìnngười so với cùng thời điểm năm 2014, bao gồm lao động nam là28,12 triệu người, chiếm 51,77%; lao động nữ là 26,20 triệu người,chiếm 48,23% Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trởlên khu vực thành thị là 16,87 triệu người, chiếm 31,06%; khu vựcnông thôn là 37,45 triệu người, chiếm 68,94%

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên là47,78 triệu người, tăng 9,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm2014; bao gồm lao động nam 25,75 triệu người, chiếm 53,9%; laođộng nữ 22,03 triệu người, chiếm 46,1% Lực lượng lao động trong

Trang 6

độ tuổi của khu vực thành thị là 15,38 triệu người, chiếm 32,19%;khu vực nông thôn là 32,40 triệu người, chiếm 67,81%.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 9 tháng năm 2015ước tính 52,72 triệu người, giảm 177,3 nghìn người so với cùng kỳnăm trước, trong đó lao động làm việc trong ngành Nông, lâm nghiệp

và Thủy sản là 23,35 triệu người, giảm 1.523,7 nghìn người, chiếm44,3%; lao động công nghiệp và xây dựng là 11,85 triệu người, tăng756,4 nghìn người, chiếm 22,5%; lao động dịch vụ là 17,52 triệungười, tăng 590 nghìn người, chiếm 33,2%

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động 9 thángnăm 2015 ước tính là 2,36% (Quý I là 2,43%; Quý II là 2,42%; Quý III

là 2,24%), trong đó khu vực thành thị là 3,42% (Quý I là 3,43%; Quý

II là 3,53%; Quý III là 3,31%); khu vực nông thôn là 1,86% (Quý I là1,95%; Quý II là 1,91%; Quý III là 1,73%)

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 - 24 tuổi) 9 tháng năm

2015 ước tính là 6,74% (Quý I là 6,6%; Quý II là 6,68%; Quý III là6,9%), trong đó khu vực thành thị là 11,52% (Quý I là 10,95%; Quý II

là 11,84%; Quý III là 11,7%); khu vực nông thôn là 5,05% (Quý I là4,99%; Quý II là 4,91%; Quý III là 5,23%)

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên trong 9 thángnăm 2015 là 1,25% (Quý I là 1,41%; Quý II là 1,3%; Quý III là 1,03%),trong đó khu vực thành thị là 1,86% (Quý I là 1,99%; Quý II là 1,92%;Quý III là 1,67%); khu vực nông thôn là 0,96% (Quý I là 1,13%; Quý II

là 1,02%; Quý III là 0,72%)

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động ướctính là 1,93% (Quý I là 2,43%; Quý II là 1,8%; Quý III là 1,52%), trong

đó khu vực thành thị là 0,92%; khu vực nông thôn là 2,4%

Mặc dù nước ta có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lớn và tỷ lệthất nghiệp thấp, nhưng lao động có việc làm phi chính thức phi hộnông nghiệp lại khá cao Ước tính quý IV/2015, tỷ lệ lao động có việc

Trang 7

làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp của cả nước chiếm 56,4%tổng số lao động có việc làm khu vực phi hộ nông nghiệp, trong đó tỷ

lệ lao động có việc làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp khu vựcthành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 64,5%

Tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam trong các ngànhsản xuất và dịch vụ vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với các nướckhác trong khu vực Điều này cho thấy thị trường lao động Việt Namthiếu ổn định, việc làm chưa đầy đủ và bền vững, với năng suất laođộng thấp

Có thể thấy thị trường lao động Việt Nam đã có những bướctiến quan trọng trong vài thập kỷ qua Điều này được thể hiện quamức lương cao hơn, tốc độ giảm đều đặn của các việc làm trongngành Nông nghiệp và pháp luật lao động được cải thiện Nhưng mặc

dù có những tiến bộ như vậy, gần một nửa người số lao động ViệtNam vẫn đang làm việc trong ngành Nông nghiệp - ngành có năngsuất lao động và thu nhập thấp Cứ mỗi 5 người lao động thì khoảng

3 người làm những công việc dễ bị tổn thương (lao động tự làm vàlao động gia đình không trả lương) - đó là những công việc có điềukiện làm việc đặc biệt không đảm bảo

Nhìn chung, năng suất lao động và lương của Việt Nam tươngđối thấp so với các nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN nhưMalaysia, Singapore và Thái Lan Bởi vậy, Việt Nam cần tiếp tục nỗlực tăng cường pháp luật lao động, cải thiện việc tuân thủ luật pháp,thúc đẩy hệ thống quan hệ lao động và các cơ sở đào tạo, phát triển

kỹ năng

Tuy nhiên, hạn chế của việc sử dụng tỷ lệ thất nghiệp làmthước đo cho các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam là khôngthể hiện được đầy đủ tình trạng của thị trường lao động Những nướcnày không có đủ những việc làm tốt, bền vững với năng suất cao,dẫn đến việc không sử dụng được đầy đủ tiềm năng của lực lượnglao động (labour underutilization) như tỷ lệ thiếu việc làm cao, thu

Trang 8

nhập thấp và năng suất lao động thấp Như vậy, việc theo dõi thịtrường lao động ở các nước đang phát triển như Việt Nam cần cónhững chỉ số thể hiện được chất lượng việc làm Chẳng hạn, nhữngchỉ số này bao gồm tỷ lệ lao động nghèo, tỷ lệ việc làm dễ bị tổnthương, tỷ lệ nền kinh tế phi chính thức, tỷ lệ ngành Nông nghiệptrong số việc làm, năng suất lao động và lương bình quân.

Tóm lại, cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam thể hiện tỷ lệ lớn dân

số trong độ tuổi lao động và giảm tỷ lệ phụ thuộc Nếu Việt Nam cóthể tạo ra đủ việc làm có chất lượng cao để đáp ứng nguồn lao độngđang mở rộng, có thể đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và giảiquyết những lỗ hổng trên thị trường lao động Đồng thời, sự ổn địnhkinh tế vĩ mô và các thể chế về thị trường lao động vững mạnh hơn

sẽ giúp tạo ra một môi trường kinh doanh tốt hơn, thu hút đầu tư vàkích cầu Thêm vào đó, cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo vàchất lượng của các nhà cung cấp dịch vụ việc làm sẽ giúp người laođộng Việt Nam và người tìm việc đáp ứng được các nhu cầu củadoanh nghiệp và ngành nghề và nắm bắt những cơ hội việc làm mới

và tốt hơn

Các chinh sách của chính phủ giải quyết vấn đề thất nghiệp

- Tích cực đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

Về tài khóa, sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển dựa vàocủng cố nguồn thu; giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho cácthành phần kinh tế

Về tiền tệ, sẽ tiếp tục bù lãi suất tín dụng cho vốn vay trung vàdài hạn phục vụ đầu tư máy móc thiết bị cho nền kinh tế nói chung

và cho khu vực nông nghiệp nói riêng với các khoản

Kích thích tăng trưởng bằng các gói kích cầu.

Sắp xếp lại cơ cấu lao động đồng thời nâng cao trình độ chongười lao động Việt Nam có dân số trẻ nguồn lao động dồi dào, chi

Trang 9

phí rẻ nhưng do cơ cấu bố trí chưa hợp lý nên việc khai thác lao độngkém hiệu quả.

Tăng nguồn vốn đầu tư (chủ yếu lấy từ dự trữ quốc gia, vay nợnước ngoài) đẩy nhanh tiến bộ xây dựng cơ sở hạ tầng, làm thủy lợi,thủy điện giao thông… nhằm tạo việc làm mới cho người lao động.Đồng thời, nới lỏng các chính sách tài chính, cải cách thủ tục hànhchính nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài tạo nguồn việc làmcho người dân Bên cạnh đó khuyến khích phát triển các doanhnghiệp vừa và nhỏ, cho các doanh nghiệp vay vốn để mua sắm trangthiết bị, mở rộng quy mô sản xuất

Ưu đãi đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếtham gia đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn, tạo nhiều việclàm, hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế, hoán thuế,khoanh nợ song song với cam kết phải duy trì việc làm cho số laođộng hiện tại và thu hút thêm lao động nếu có thể, hỗ trợ vay vốncho các doanh nghiệp gặp khó khăn để duy trì sản xuất, bảo đảmviệc làm cho người lao động

Phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư nướcngoài vào các khu côngnghiệp các dự án kinh tế giúp tăng trưởngkinh tế và tạo việc làm cho công nhân

Để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động cần chuyển dịch cơ cấulao động theo hướng công nghiệp và dịch vụ, hướng người lao độngđến những việc làm ở những ngành nghề, đem lại giá trị cao trongcác chuỗi giá trị, với điều kiện lao động phải có hiểu biết, có kỹ năngchuyên môn để dần thay thế khu vực kinh tế nông nghiệp kém hiệuquả bằng khu vực kinh tế có giá trị cao hơn, thông qua đó nâng caođời sống và thu nhập của người lao động, tạo ra một thị trường laođộng cạnh tranh để giảm nguy cơ thất nghiệp khi có khủng hoảng

Lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề, họ cần cótrình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế của đất nước

Trang 10

Cần đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa và phát triển mạnh các khukinh tế vệ tinh, các khu công nghiệp và các làng nghề, tăng cườngmối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ,đặc biệt khai thác mối liên kết kinh tế giữa các thành phố lớn với cáckhu vực phụ cận nhằm tạo ra nhiều việc làm tại chỗ.

Cần có sự phát triển bền vững và đồng bộ thị trường hàng hóa,thị trường đất đai, thị trường vốn, thị trường lao động và thị trườngtín dụng

Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố giúp đỡ người laođộng sớm tìm được việc làm mới thông qua trung tâm tư vấn việclàm Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác dạynghề cũng là biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng

Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội

Tình trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học đang diễn ra

Để khắc phục tình trạng này thì việc làm tốt công tác hướng nghiệptrong nhà trường phổ thông, phối hợp giữa gia đình, nhà trường và

và mức độ khó khăn đang tăng lên do tình hình kinh tế trong nướcđang xấu đi, khi tốc độ tăng trưởng GDP quý III ước tính giảm 6,17%

Trang 11

so với cùng kỳ năm trước - mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Namtính và công bố GDP theo quý đến nay.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, thị trườnglao động có khả năng chống chịu tương đối vững trong năm đầu củađại dịch, nhưng xu hướng gần đây bắt đầu phản ánh tác động trựctiếp của đợt bùng phát dịch thứ 4 đến người lao động khi mà trong 9tháng năm 2021 cả nước có tới hơn 1,3 triệu người lao động thấtnghiệp, 1,3 triệu lao động đã phải về quê do không có việc làm vàcuộc sống khó khăn

Điểm đáng chú ý, ngay sau khi đợt dịch bùng phát hồi tháng 4,

đã ảnh hưởng tức thời đến người lao động Theo số liệu Tổng cụcThống kê, trong quý II năm 2021, khoảng 12,8 triệu người từ 15 tuổitrở lên đã bị ảnh hưởng tiêu cực, bao gồm mất việc làm, tạm nghỉ,làm việc luân phiên, giảm giờ làm, hoặc giảm thu nhập Quy mô lựclượng lao động giảm 0,7% trong khi có thêm 1,6% người lao độngthất nghiệp hoặc thiếu việc làm trong quý II năm 2021 so với quý IInăm 2019 Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng thêm lần lượt 0,2điểm phần trăm và 1,3 điểm phần trăm trong quý II năm 2021 so vớiquý II năm 2019 Mức lương thực tế vẫn thấp hơn 1,3% so với quý IInăm 2019 Trong quý II năm 2021, tỷ lệ lao động có việc làm phichính thức lên đến 57,4%, mức cao nhất trong ba năm qua Mặc dùnhững số liệu trên có vẻ tương đối nhỏ so với nhiều quốc gia khác, kể

cả trong khu vực, nhưng cho thấy sự thay đổi lớn trong lực lượng laođộng thường đạt mức toàn dụng lao động trước đó và đến lương thực

tế luôn gần như tự động tăng lên trong thập niên vừa qua

Bằng chứng này có lẽ thể hiện bức tranh sáng - tối đan xen vềtác động đến doanh nghiệp, với những dấu hiệu cho thấy áp lực tàichính lớn nhưng cũng thể hiện khả năng chống chịu ở khu vực tưnhân Nửa đầu năm 2021, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lậpmới cao hơn so với số đóng cửa Kết quả trên cần được diễn giải thậntrọng vì nó chỉ phản ánh khu vực kinh tế chính thức trong khi các

9

Downloaded by Ninh Lê (ninhvaytiennhanh@gmail.com)

Trang 12

doanh nghiệp khu vực phi chính thức có thể dễ bị tổn thương hơn.Ngoài ra, theo một kết quả khảo sát tần suất cao của Ngân hàng Thếgiới năm 2020 đã chỉ ra quan hệ tương quan chặt chẽ giữa sự giatăng chỉ số mức độ nghiêm ngặt của Chính phủ và tình trạng tàichính xấu đi ở khu vực tư nhân Ví dụ, trong đợt cách ly toàn quốcvào tháng 4/2020, khoảng 81% doanh nghiệp cho biết bị ảnh hưởngbởi khủng hoảng, khiến cho doanh số của họ giảm 52% so với cùng

kỳ năm 2019 Từ đó suy ra, tình hình tài chính của nhiều doanhnghiệp chắc chắn đã xấu đi kể từ đợt dịch bùng phát gần đây, khi họphải đóng cửa, gánh chịu đứt gãy chuỗi cung ứng, hoặc không thểgiữ lao động làm việc tại cơ sở sản xuất kinh doanh do phải cách ly ởnhà

Tác động kéo dài của đại dịch đến các hộ gia đình đã trở nên rõnét, thậm chí, ngay từ trước khi đợt dịch COVID-19 bùng phát vàotháng 4, vào thời điểm tháng 3 năm 2021, 30% hộ gia đình có thunhập thấp hơn so với tháng 3 năm 2020 Khoảng 12% các hộ giađình này rơi vào tình trạng khó khăn tài chính khi họ bị mất ít nhất50% thu nhập Nữ giới và các hộ ở nhóm 20% có thu nhập thấp nhấttrải qua quá trình phục hồi thu nhập chậm nhất Khu vực kinh tế phichính thức thường gắn liền với an ninh thu nhập thấp hơn, năng suấtlao động thấp hơn, và khả năng tiếp cận tài chính hạn chế, mặc dù ítnhiều đã được tiếp cận mạng lưới an sinh xã hội

Ngoài ra, như ở nhiều quốc gia khác, khủng hoảng có tác độngliên quan đến giới ở Việt Nam do nữ giới thường phải gánh tráchnhiệm chăm sóc trẻ em nhiều hơn, và đại dịch COVID-19 càng làmtăng áp lực về thời gian cho nữ giới phải chăm sóc con cái nhiều hơn,nhất là khi trường học bị đóng cửa, con em của họ phải học online tạinhà Các nhóm càng nghèo thì càng dễ bị tổn thương vì họ ít cókhoản tiết kiệm hơn và khả năng tiếp cận tài chính hạn chế hơn.Ngoài ra, có thể thấy chênh lệch vùng miền trong xu hướng thu nhập

hộ gia đình, trong đó khu vực duyên hải Nam Trung Bộ (khu vực có

10

Downloaded by Ninh Lê (ninhvaytiennhanh@gmail.com)

Trang 13

thành phố Đà Nẵng) và thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng nhiềuhơn bởi các biện pháp y tế dự phòng và hạn chế đi lại quốc tế do dulịch và kinh doanh dịch vụ chiếm một phần lớn trong quy mô kinh tếcác tỉnh này.

Khủng hoảng kéo dài đã chỉ ra thêm những thách thức mangtính cấu trúc trong nước, đòi hỏi các chính sách ứng phó của Chínhphủ phải xử lý hệ quả xã hội của khủng hoảng Tác động của COVID-

19 đến thị trường lao động và các hộ gia đình tiếp tục diễn ra trongnăm 2021, và càng trở nên trầm trọng sau đợt dịch bùng phát vàotháng 2 và tháng 4, nhất là trong những tháng gần đây của quý III

Có lẽ, trong thời gian gần, tỷ lệ tham gia lực lượng lao độngchưa thể khôi phục hoàn toàn về mức trước khi đại dịch COVID-19bùng phát và thu nhập của hộ gia đình cũng bị ảnh hưởng, với mức

độ khác nhau giữa các ngành nghề, giới và địa bàn Những tác động

đó đặc biệt liên quan đến nữ giới, là những người bị thiệt thòi hơn donhững điều chỉnh gần đây trên thị trường lao động Đồng thời, nhữngngười làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức và những địa bàn

mà hoạt động kinh tế phụ thuộc vào du lịch và doanh nghiệp quốc tếcũng bị ảnh hưởng nhiều hơn Tác động khác biệt như vậy có thể dẫnđến sự gia tăng kéo dài của bất bình đẳng Thu nhập hộ gia đình bịgiảm sẽ ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng và đầu tư, và qua đóảnh hưởng đến quá trình phục hồi kinh tế Thu nhập thấp cũng cóthể tác động đến các khoản đầu tư cho sức khỏe và giáo dục của trẻ

em, gây ảnh hưởng lâu dài đến tích lũy vốn con người của đất nước.Các cấp có thẩm quyền cần cân nhắc tăng cường phạm vi bao phủ,xác định đối tượng mục tiêu và mức hỗ trợ trong các chương trình ansinh xã hội để đảm bảo rằng những nạn nhân của đại dịch hiện tại vàtương lai cần nhận được hỗ trợ đầy đủ hơn

Đại dịch COVID-19 bùng phát tại TP Vũ Hán – Trung Quốc vànhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới, tác động đến hầu hết các lĩnhvực, trong đó có thị trường lao động Theo dự báo của Tổ chức Lao

11

Downloaded by Ninh Lê (ninhvaytiennhanh@gmail.com)

Trang 14

động Quốc tế (ILO), cuộc khủng hoảng thị trường lao động toàn cầu

do đại dịch COVID-19 gây ra ít nhất còn tiếp diễn đến năm 2023

Ở Việt Nam, đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến thịtrường lao động Việt Nam, số người có việc làm giảm sâu, tỷ lệ thấtnghiệp và thiếu việc làm tăng cao, thu nhập bình quân tháng củangười lao động sụt giảm nghiêm trọng Nhiều chủ sử dụng lao độnglâm vào tình cảnh nợ nần, phá sản Nguồn cung cho thị trường laođộng bị suy giảm, cơ cấu việc làm và chuyển dịch trong thị trường bịđảo chiều

Thị trường lao động bị chia cắt cục bộ giữa các vùng, các địaphương, làm mất cân đối cung cầu lao động, gây ra áp lực về giảiquyết việc làm cho người lao động Đại dịch COVID-19 tác động đếnmọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội khiến nhiều doanh nghiệp vàngười lao động đối mặt với nhiều rủi ro, buộc họ phải thay đổi đểthích ứng, an toàn, hòa nhập trong môi trường “bình thường mới”

Đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp đã ảnhhưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả quốc gia trên thế giới Nền kinh

tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng Thị trường lao động làmột trong những lĩnh vực chịu tác động khá nặng nề

Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đạidịch COVID-19 ảnh hưởng trực tiếp và gây tổn thương khá nặng nềvới quy mô khoảng 50-60% người lao động Trên 50% người trong độtuổi lao động bị ảnh hưởng mất việc làm, giảm thu nhập Đặc biệt,trong quý III/2021, dịch bệnh tăng mạnh khiến lao động việc làmthiếu hụt rất lớn, nhất là cuối thời kỳ giãn cách xã hội; thu nhập bìnhquân của người lao động tại thành phố giảm đến 40% so với bìnhquân trên cả nước

Tác động của dịch bệnh COVID-19 còn làm gia tăng khoảngcách về kỹ năng của người lao động hiện tại và các kỹ năng mà cácdoanh nghiệp cần để thích ứng với thay đổi về công nghệ và thịtrường Dịch bệnh đã làm cơ cấu việc làm thay đổi, trước đây, số việc

12

Downloaded by Ninh Lê (ninhvaytiennhanh@gmail.com)

Trang 15

làm trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản giảm, lĩnh vực dịch vụ, côngnghiệp tăng, nhưng hiện nay đã đảo chiều ngược lại Lao động trongngành dịch vụ giảm 2-3 triệu người so với cùng kỳ năm trước, naycòn khoảng 17,1 triệu người; lao động có việc làm ngành côngnghiệp và xây dựng là 15,7 triệu người, giảm 960.000 người so vớicùng kỳ năm 2020.

Trong quý III/2021, lực lượng lao động có 49,1 triệu lượt người,giảm 22 triệu lượt người so với cùng kỳ năm 2020; lao động việc làm

là 47,2 triệu người, giảm 2,7 triệu người so với cùng kỳ năm 2020; tỷ

lệ thiếu việc làm là 4,46% (hơn 1,8 triệu người), tăng 1,86% so vớiquý trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 3,98% (hơn 1,7triệu người), tăng hơn 1,25% so với cùng kỳ năm 2020; 14,7 triệu laođộng tạm nghỉ hoặc tạm ngừng sản xuất, kinh doanh; hơn 10 triệulao động giảm giờ làm, tạm dừng việc làm Như vậy, năm 2021, sốlượng lao động giảm việc làm khá lớn Đặc biệt, vùng Đông Nam Bộ

và vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nặng nề, với 4,59%lao động vùng Đông Nam Bộ và 44,7% lao động vùng Đồng bằngsông Cửu Long bị ảnh hưởng do ngừng việc, giãn việc, nghỉ việc

Đợt dịch bệnh COVID-19 lần thứ tư diễn biến phức tạp, lây lannhanh và kéo dài đã làm tăng tỷ lệ và số người thiếu việc làm trong

độ tuổi ở quý III/2021 lên mức cao nhất trong vòng 10 năm qua Theobáo cáo của Tổng cục Thống kê, trong năm 2021, tỷ lệ thất nghiệptrong độ tuổi lao động là 3,22% (quý I/2021 là 2,42%; quý II/2021 là2,62%; quý III/2021 là 3,98%; quý IV/2021 là 3,56%) Tỷ lệ thiếu việclàm trong độ tuổi lao động năm 2021 là 3,1% (quý I/2021 là 2,2%;quý II/2021 là 2,6%; quý III/2021 là 4,46%; quý IV/2021 ước tính3,37%)

Theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đạidịch COVID-19 đã gây ra nhiều thách thức đối với thị trường lao độngViệt Nam, như bị chia cắt cục bộ giữa các vùng, các địa phương, gây

ra thiếu lao động cho sản xuất - kinh doanh Việc thực hiện các biện

13

Downloaded by Ninh Lê (ninhvaytiennhanh@gmail.com)

Trang 16

pháp phòng, chống dịch khiến việc di chuyển giữ các vùng trở nênkhó khăn hơn, gia tăng sự mất cân đối cung cầu lao động cục bộ,gây ra áp lực về giải quyết việc làm cho người lao động Đặc biệt,dịch COVID-19 bùng phát tại nhiều nơi, trong đó có các khu vực kinh

tế trọng điểm phía Nam, tạo ra một làn sóng dịch chuyển lao độnglớn chưa từng có từ các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai,Bình Dương về các địa phương khác trên cả nước Điều này cũng tạo

ra lo ngại về thiếu hụt lao động tại các thành phố lớn trong thời giantới

Mặc dù, đại dịch COVID-19 gây ra nhiều thách thức với thịtrường lao động Việt Nam, song cũng tạo ra nhiều cơ hội lớn để thịtrường lao động phát triển Đó là cơ hội để các doanh nghiệp sắpxếp, cơ cấu sản xuất kinh doanh phù hợp với Cách mạng côngnghiệp 4.0, cơ hội điều chỉnh, phân bổ lại lao động giữa các vùng,các ngành kinh tế, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy chuyểnđổi kinh tế số, kinh tế xanh Đồng thời, đây là cơ hội phát triển cáchình thức giao dịch việc làm, đổi mới giáo dục nghề nghiệp, đào tạogắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Vì vậy,cần có giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, thách thức và tậndụng thời cơ để từng bước khôi phục và phát triển thị trường laođộng Việt Nam trong trạng thái bình thường mới

2.TÍNH THÍCH ỨNG VÀ SỰ KỊP THỜI CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG MÂT VIỆC LÀM BỞI ĐẠI DỊCH COVID 19

2.1.Chính sách hỗ trợ người lao động bị mất việc làm bởi đại dich Covid 19 và các vấn đề đặt ra với chính sách

Các vấn đề đặt ra về chính sách hỗ trợ người lao động bị mất việc làm bởi đại dich Covid 19

Năm 2020, Việt Nam đã đạt được những thành công nhất địnhtrong kiểm soát dịch Covid-19, với tỷ lệ ca mắc trên 1 triệu dân

14

Downloaded by Ninh Lê (ninhvaytiennhanh@gmail.com)

Ngày đăng: 21/12/2022, 07:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w