Những thảo luận gần đây tại Việt Nam cũng như trên thế giới đã coi KGST như là một mô hình kinh doanh mới nhằm hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp sáng tạo, thành phố sáng tạo, nơi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HƯƠNG
KHÔNG GIAN SÁNG TẠO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐÔ THỊ (QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHÔNG GIAN SÁNG TẠO TẠI HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2022
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HƯƠNG
KHÔNG GIAN SÁNG TẠO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐÔ THỊ (QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHÔNG GIAN SÁNG TẠO TẠI HÀ NỘI)
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9.22.90.40 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS BÙI HOÀI SƠN
2 TS ĐÀO THẾ ĐỨC
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Hoài Sơn và TS Đào
Thế Đức Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và
chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu của ai khác Luận
án cũng được thực hiện một cách nghiêm túc, cầu thị, đảm bảo các nguyên
tắc đạo đức trong trích dẫn tài liệu
Tác giả luận án
PHẠM THỊ HƯƠNG
Trang 4
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 11
7 Cơ cấu của luận án 12
CHƯƠNG 1 13
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 13
1.1.1 Nghiên cứu về không gian đô thị 13
1.1.2 Nghiên cứu về không gian sáng tạo 21
1.2 Cơ sở lí luận 31
1.2.1 Một số khái niệm 31
1.2.2 Lý thuyết khu vực công của Habermas 41
Tiểu kết chương 1 44
CHƯƠNG 2 46
BỐI CẢNH XÃ HỘI TẠI ĐÔ THỊ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC 46
KHÔNG GIAN SÁNG TẠO 46
2.1 Đô thị Hà Nội - môi trường dung dưỡng các không gian sáng tạo 46
2.2 Những thay đổi của xã hội Việt Nam sau Đổi Mới 55
2.3 Những ấn phẩm của ngành công nghiệp xuất bản tại Việt Nam và tiến trình dân chủ hóa 59
2.4 Vai trò của các trung tâm văn hóa nước ngoài tại Việt Nam 62
2.5 Sự xuất hiện của internet, mạng xã hội và bối cảnh toàn cầu hóa 66
Tiểu kết chương 2 69
CHƯƠNG 3 70
THỰC HÀNH VĂN HÓA TẠI CÁC KHÔNG GIAN SÁNG TẠO 70
Trang 5Giấc mơ nhỏ 70
3.1.1 Không gian kết nối những người đọc độc lập 71
3.1.2 Thảo luận tự do về các chủ đề 78
3.1.3 Chiếu phim, xem phim và thảo luận 83
3.1.4 Thảo luận về các vấn đề của môi trường và trách nhiệm xã hội 88
3.2 Trí thức trong không gian sáng tạo Cà phê Văn 96
3.2.1 Không gian của những thực hành nghệ thuật 96
3.2.2 Không gian gặp gỡ, kết nối và đối thoại 104
3.2.3 Không gian chất vấn và phản biện xã hội 107
Tiểu kết chương 3 117
CHƯƠNG 4 120
KHÔNG GIAN SÁNG TẠO: TỰ DO BIỂU ĐẠT VÀ KIẾN TẠO BẢN SẮC 120
4.1 Không gian sáng tạo: không gian nới rộng biên độ tự do 120
4.1.1 Không gian mở ngỏ và đa dạng 120
4.1.2 Không gian sáng tạo: những không gian độc lập 125
4.1.3 Không gian sáng tạo: những không gian công đặc thù 129
4.2 Không gian kiến tạo bản sắc nhóm, bản sắc cá nhân 133
4.2.1 Không gian sáng tạo kết nối cảm xúc 133
4.2.2 Không gian sáng tạo và nhu cầu định vị cá nhân 135
4.3 Không gian sáng tạo và những tác động trong đời sống văn hóa đô thị ……… 140
Tiểu kết chương 4 145
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC
Trang 6KGST Không gian sáng tạo
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Một tối cuối tuần, căn gác nhỏ tầng hai nằm trên con phố lớn trung tâm Hà Nội chật kín người đến tham dự buổi sinh hoạt học thuật của một nhóm bạn trẻ Chỉ số ít ngồi trên hàng ghế phía cuối phòng, khá đông còn lại thoải mái ngồi bệt xuống sàn nhà, xoay quanh người thuyết trình Tiếng nói không có micro trong này đôi lúc bị át đi bởi những âm thanh ngoài kia, cách
đó không xa, tại rạp Công Nhân - từng một thời được mệnh danh là rạp chiếu bóng hoàng kim - đang biểu diễn các trích đoạn hài kịch ngắn phục vụ công chúng trên phố đi bộ Cùng lúc đó, chỉ cách khoảng vài trăm mét, tại không gian khác đang diễn ra buổi gặp gỡ, đối thoại của những người trẻ về chủ đề môi trường Xa trung tâm hơn, không gian do một nữ đạo diễn trẻ tạo nên cũng đang được lấp đầy bởi tình yêu của công chúng trong chuỗi những hoạt động tưởng nhớ cặp nghệ sĩ tài hoa Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh… Cũng đã
từ lâu khi theo đuổi đề tài này, người viết thường khá bối rối những lúc phải quyết định chọn một sự kiện để tham dự khi mà còn có nhiều sinh hoạt văn hóa khác, tại nơi này hay nơi kia, được diễn ra trong các không gian sáng tạo (KGST)
Những năm gần đây, đời sống văn hóa tại Việt Nam nói chung, thủ đô
Hà Nội nói riêng chứng kiến sự “bùng nổ”, không khí hứng khởi, sôi động của các KGST Không chỉ ngày càng nhiều về mặt số lượng mà các KGST còn đa dạng trong cách thức tổ chức, phong phú về mô hình hoạt động Từ Zone 9 (phố Trần Thánh Tông) năm 2015 - một trong những KGST ban đầu,
ra đời một cách ngẫu hứng, tự phát và tự do, như “một giấc mơ bùng nổ”, dù tồn tại ngắn ngủi nhưng đã là một sân chơi nghệ thuật đầy thăng hoa và tạo
cảm hứng cho nhiều không gian khác về sau như Hanoi Creative City (phố Lương Yên), Heritage Space (phố Trần Bình), Manzi (phố Phan Huy Ích), Bar 98 (phố Ngô Văn Sở), Ơ kìa Hà Nội (phố Hoàng Hoa Thám), Cà phê thứ Bảy (phố Ngô Quyền), Tổ chim xanh (phố Đặng Dung)… Các KGST vẫn
Trang 82
đang hình thành, duy trì và phát triển như những không gian dành cho nghệ thuật, nơi của tự do sáng tạo, tự do học thuật, nơi kết nối những suy nghĩ, trao đổi xoay quanh các câu chuyện trong xã hội, về giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo… qua đó hình thành nên những cộng đồng chia sẻ với nhau nhiều điểm chung trong sở thích, cá tính, quan điểm, lối sống Nhiều không gian mở
ra nhưng cũng nhanh chóng khép lại trong lặng lẽ sau nhiều chật vật, khó khăn xoay xở để tồn tại Nhiều không gian vẫn đang nỗ lực tìm cách duy trì, nhiều KGST được kiến tạo mới đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm người trong
đô thị Các KGST có nhiều biến động, thay đổi về số lượng, cách thức hoạt động và chính thực hành văn hóa tại các KGST cũng đang tạo nên nhưng tác động lớn trong đời sống xã hội Sự xuất hiện, duy trì tồn tại và phát triển của các KGST gợi lên nhiều câu hỏi: KGST được kiến tạo nên như thế nào và có
ý nghĩa gì với các nhóm chủ thể? Điều gì làm nên sức hấp dẫn, sự lôi cuốn của các KGST? Tại sao nó lại thu hút được nhiều tầng lớp trong xã hội? Trong bối cảnh nào các KGST xuất hiện và được nói đến nhiều như vậy, nó phản ánh những động thái nào trong xã hội đương đại?
1.2 Những thảo luận gần đây tại Việt Nam cũng như trên thế giới đã coi KGST như là một mô hình kinh doanh mới nhằm hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp sáng tạo, thành phố sáng tạo, nơi cung cấp không gian trưng bày và kinh doanh nhằm hỗ trợ cho những người trẻ khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo, nơi đáp ứng nhu cầu về không gian giải trí, tạo dựng bản sắc đô thị từ việc cải tạo các không gian cũ trở thành KGST… Đây là những luận điểm được đưa ra để lý giải về sự phát triển mạnh mẽ của các KGST Tuy nhiên, các lí do này dường như chưa thể giải thích hết được nét riêng biệt của các thực hành trong KGST cũng như chủ đích của người kiến tạo nên KGST
Từ một khái niệm được Hội đồng Anh tiên phong đưa vào Việt Nam nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo nhưng khi được
“nhúng” trong bối cảnh đô thị Việt Nam hiện đại, nó đã được cấp thêm những lớp nghĩa mới Nếu xem KGST như một mô hình kinh doanh với mục tiêu
Trang 93
chính là tạo ra lợi nhuận, thúc đẩy sự sáng tạo để phát triển công nghiệp văn hóa thì dường như mới chỉ phản ánh một phần những chiều cạnh ý nghĩa của các KGST Vậy ngoài những ý nghĩa đã được đề cập trên đây, KGST còn có những ý nghĩa nào khác? Thực hành văn hóa tại các không gian đó tại sao lại quan trọng với các nhóm chủ thể? Thông qua những thực hành văn hóa tại các không gian đó các nhóm chủ thể mong muốn thể hiện điều gì và mở rộng ra,
nó biểu trưng cho nhu cầu gì của xã hội? Trong luận án này, từ góc nhìn văn hóa, đặt KGST trong bối cảnh đô thị đương đại, tôi muốn tìm hiểu các thực hành văn hóa trong các KGST cũng như nhìn nhận rõ hơn những động lực sâu
xa và chủ đích của việc kiến tạo nên các KGST trong bối cảnh đương đại
Với những lí do đã trình bày ở trên, nghiên cứu sinh (NCS) chọn
“Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội)” làm đề tài nghiên cứu cho luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung vào sự phát triển của KGST tại Hà Nội, khám phá các thực hành văn hóa và các chiều kích nghĩa đa dạng của KGST trong bối cảnh đô thị đương đại
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Hệ thống các khía cạnh lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu về không gian đô thị, KGST
- Phân tích, lý giải các yếu tố tác động đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của các KGST gắn với bối cảnh đô thị đương đại
- Phân tích các thực hành văn hóa trong hai KGST tại Hà Nội: Giấc mơ nhỏ và Cà phê Văn 1
- Phân tích ý nghĩa của các thực hành văn hóa trong KGST
1
Tên 2 không gian sáng tạo cũng như tên các nhân vật trong luận án đã được thay đổi để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh
Trang 104
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các thực hành văn hóa tạo nghĩa cho các không gian để trở thành KGST, nói cách khác là cách thức kiến tạo KGST của các
nhóm chủ thể Luận án lựa chọn nghiên cứu trường hợp hai KGST Giấc mơ nhỏ và Cà phê Văn, đều là những KGST độc lập ở Hà Nội - một đô thị lớn
của Việt Nam, nơi chứng kiến nhiều thay đổi về kinh tế, văn hóa xã hội trong những năm qua, là không gian quy tụ của nhiều tầng lớp xã hội, nơi tính cách
đô thị gắn với tầng lớp thị dân được bộc lộ một cách rõ rệt và hơn nữa cũng là môi trường dung dưỡng, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của nhiều KGST
- Khách thể nghiên cứu: Mỗi KGST được kiến tạo nên bởi những cá nhân, những nhóm khác biệt gắn với mong muốn, nhu cầu và mối quan tâm riêng Trong trường hợp hai không gian được nói đến trong luận án này là
những người trẻ tại KGST Giấc mơ nhỏ và các trí thức tại KGST Cà phê Văn
Sự phân tách này chỉ mang tính tương đối bởi thực tế trong mỗi KGST có sự tham gia đa dạng của nhiều cá nhân thuộc về nhiều nhóm xã hội, nhiều nhóm tuổi khác khác nhau Tuy nhiên, luận án chủ yếu sẽ đề cập đến những người
trẻ tuổi ở KGST Giấc mơ nhỏ và những trí thức lớn tuổi tại KGST Cà phê Văn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án không đặt ra mong muốn nghiên cứu bao quát mọi vấn đề về KGST (sự hình thành và phát triển của các KGST tại Việt Nam, các mô hình KGST, những thuận lợi, khó khăn mà các KGST đang phải đối mặt, vai trò của KGST đối với việc phát triển thành phố sáng tạo và rộng hơn là đối với công nghiệp văn hóa tại Việt Nam ) mà tập trung vào những thực hành văn hóa của các nhóm chủ thể kiến tạo Luận án chú ý tới ý nghĩa của các thực hành trong KGST, đặt các thực hành đó trong mối tương tác với bối cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế của đô thị đương đại, xem KGST như là nơi phản ánh
Trang 11Về không gian nghiên cứu: Các KGST được nói đến trong luận án đều
ở Hà Nội - trung tâm chính trị quốc gia, một trong những đầu mối phát triển kinh tế xã hội lớn, giữ vai trò quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi của Việt Nam Đây là thành phố vốn có bề dày văn hóa, lại cũng là nơi đón nhận nhiều
tư tưởng, trào lưu văn hóa mới, tồn tại nhiều điều kiện khả thể dung dưỡng cho sự ra đời và phát triển của các KGST Sự đa dạng, sống động của các KGST tại Hà Nội có thể được xem như là kết quả của quá trình đô thị hóa năng động với những thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc về văn hóa, xã hội và kinh
tế Từ Hà Nội, về sau các KGST bắt đầu được lan tỏa và nhen nhóm hình thành ở nhiều thành phố khác
Ngoài phạm vi nghiên cứu là không gian thực tế, NCS cũng tiến hành nghiên cứu KGST qua các không gian trực tuyến (mạng xã hội Facebook, website riêng của các KGST ), xem đây như là sự nối dài và mở rộng các KGST vốn hạn hữu cả về không gian lẫn thời gian Các KGST đã xây dựng nên trang cá nhân trên facebook nhằm kết nối và thông tin rộng rãi tới đông đảo người quan tâm Đó cũng là nơi họ nhận được những chia sẻ, bình luận và phản hồi về các hoạt động Các website, tương tự như vậy, cũng là nơi cung cấp, mở rộng vốn kiến thức nền hoặc chuyên sâu cho các cuộc thảo luận đã hoặc sẽ diễn ra Ngoài chức năng thông tin về sự kiện thì những bài báo, tin tức nào được chọn để đăng tải, chia sẻ và bình luận cũng là những tín hiệu cho biết về mối quan tâm, sự chú ý của các nhóm chủ thể kiến tạo nên các KGST này
4 Phương pháp nghiên cứu
NCS xác định đây là một nghiên cứu định tính Những phương pháp chính được sử dụng trong luận án bao gồm:
Trang 12ở chương viết cuối, hỗ trợ trong việc diễn giải, phân tích, bình luận về ý nghĩa của các KGST trong đời sống văn hóa đô thị đương đại
40 KGST được liệt kê trong khảo sát ban đầu của Hội đồng Anh năm 2014 chính là manh mối, là gợi ý để NCS bắt đầu quá trình nghiên cứu NCS đã tìm đọc lại những tư liệu, bài viết trên báo chí, xem phim tài liệu về tổ hợp KGST
Zone 9 2 - một trong những KGST ra đời sớm, từ năm 2013 Zone 9 từng được
xem như một hiện tượng lạ nhất trong lịch sử phát triển đô thị Hà Nội sau Đổi Mới - nơi lui tới của nhiều cá tính độc đáo, phóng khoáng, tự do biểu đạt suy nghĩ, quan điểm, yêu nghệ thuật và yêu Hà Nội theo những cách riêng - nhưng lại cũng là nơi có số phận ngắn ngủi, chỉ tồn tại trong vòng tám tháng
Zone 9 như một điểm sáng mà sau đó, khi không còn tồn tại nữa thì những dư
âm của nó tiếp tục được lan tỏa bằng việc xuất hiện hàng loạt những KGST
khác trong thành phố mà lần lượt NCS cũng đã tìm đến như: Hanoi Creative City (phố Lương Yên), Heritage Space (phố Trần Bình), Manzi (phố Phan Huy Ích), Doclab (phố Nguyễn Thái Học, sau chuyển về Thụy Khuê), Tổ chim xanh (phố Đặng Dung), Trung tâm hỗ trợ và phát triển tài năng điện
2
Phim tài liệu Zone 9 - đạo diễn Nguyễn Anh Thư, xem thêm tại
http://zone9documentary.com/
Trang 137
ảnh TPD (phố Trần Hưng Đạo), Cà phê thứ bảy (phố Ngô Quyền, sau chuyển
về Trần Xuân Soạn), Kinergie Studio (phố Nguyễn Khuyến)… Quan sát tham
dự và những tìm hiểu ban đầu giúp NCS có cái nhìn khái quát về sự đa dạng trong cách thức kiến tạo cũng như ý nghĩa của các không gian đối với từng nhóm người cụ thể Một số KGST là những ví dụ minh chứng rõ nét và thuyết phục về vai trò của KGST đã được nói đến trong các nghiên cứu, các hội thảo
do Hội đồng Anh tổ chức mà NCS nhiều lần tham dự, dưới góc nhìn quản lý văn hóa: hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp sáng tạo, là mô hình kinh doanh nhỏ và siêu nhỏ, là không gian kết nối và hỗ trợ người trẻ làm công việc sáng tạo, nơi trưng bày và bán sản phẩm hay không gian làm việc chung (co-working)… Từ việc “lê la” nhiều hơn, ngồi lâu hơn để tham dự và lắng nghe nội dung trao đổi, chia sẻ tại các sự kiện của các KGST, NCS dần dần nhận thấy, ngoài những chức năng trên, KGST còn có những ý nghĩa khác nữa, không chỉ để kinh doanh, không chỉ để sáng tạo nghệ thuật mà còn là không gian của sự tham gia, nơi bàn thảo, trao đổi về những chủ đề chung của
xã hội, phản biện chính sách, thúc đẩy tự do tư duy, tự do biểu đạt, tạo ra những tác động quan trọng trong xã hội Cũng từ giai đoạn này, NCS đã xác
định được đối tượng khảo sát chính là KGST Cà phê Văn và Giấc mơ nhỏ
+ Giai đoạn thứ hai (từ giữa năm 2018 đến năm 2020): NCS tiếp tục có mặt thường xuyên trong nhiều sự kiện tại hai KGST được lựa chọn để nghiên cứu Bối cảnh và thực tế của các KGST tại Hà Nội thời gian này có nhiều biến
động: có KGST di chuyển địa điểm hoặc đóng cửa (60s Thổ Quan - phố
Khâm Thiên), có KGST mới được thành lập, thu hút sự quan tâm của người
dân thủ đô như Ơ kìa Hà Nội (phố Hoàng Hoa Thám, sau chuyển địa điểm ra
Đê La Thành), nhiều KGST điều chỉnh, thay đổi cách thức vận hành để phù hợp hơn với bối cảnh và cũng để dễ dàng tiếp cận người tham dự Các sự kiện
mà NCS tham dự tại hai KGST được chọn là Cà phê Văn và Giấc mơ nhỏ đa
phần được tổ chức vào các ngày cuối tuần, cả ban ngày và buổi tối Có khoảng thời gian khi các KGST duy trì sinh hoạt đều đặn, thì như là một thói
Trang 148
quen, cứ cuối tuần NCS lại có mặt tại các không gian đó, dõi theo câu chuyện cùng với nhiều người tham dự khác NCS thường đến sớm hơn so với thời gian bắt đầu cũng như nán lại lúc sự kiện kết thúc để có thể quan sát và tranh thủ hỏi han thêm Ở đó, NCS gặp nhiều gương mặt quen thuộc vẫn thường xuất hiện, tham dự trong nhiều sự kiện được tổ chức tại hai KGST này Họ đến đây như một nhu cầu thiết yếu của đời sống, để được nghe thêm những câu chuyện, được gặp gỡ một nhân vật, một vài người bạn, để được cất tiếng nói, thể hiện ý kiến cá nhân của mình, cùng với nhiều những giọng nói khác
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu rõ hơn về nguyện vọng, tình cảm, động lực người đến tham dự, nói cách khác là tập trung vào ý nghĩa của các KGST đối với những người đã kiến tạo nên nó Việc tiếp cận, liên hệ và làm quen với đối tượng phỏng vấn được thực hiện theo hình thức “quả bóng tuyết” (snowball): người được phỏng vấn trước
sẽ giới thiệu những người khác - là bạn hoặc là người quen của họ - cũng thường xuyên tham dự sự kiện tại các KGST Một số trường hợp khác do NCS chủ động bắt chuyện, làm quen và gặp gỡ trong các KGST NCS đã tiến hành phỏng vấn sâu 2 nhóm đối tượng: 1 Người sáng lập, người đồng sáng lập ra KGST, những người chủ trì tổ chức các sự kiện (7 người); 2 Người đến tham dự, người tham gia thực hành nghệ thuật tại các KGST (15 người) Những người được chọn để phỏng vấn ở nhiều độ tuổi, nghề nghiệp, giữ vai trò khác nhau trong KGST Các cuộc phỏng vấn được tiến hành theo hình thức phỏng vấn bán cấu trúc, thường kéo dài từ 1-3 tiếng, diễn ra tại chính hai KGST được khảo sát, ở một KGST khác, tại nhà riêng hoặc các quán cà phê Một số cuộc phỏng vấn được ghi âm với sự cho phép của người được phỏng vấn Còn lại, để việc chia sẻ của người cung cấp thông tin được tự nhiên và thoải mái, NCS không thực hiện việc ghi âm mà sử dụng cách thức ghi chép nhanh Phương pháp này cũng là một thách thức với chính cá nhân NCS bởi ngay cả khi việc tranh thủ hồi cố nội dung diễn ra sau cuộc nói chuyện thì vẫn
có một số chi tiết hay thông tin bị bỏ lỡ (có thể được nhớ lại, bổ sung sau đó
Trang 15ra tại các không gian vật lý mà còn cả trên không gian mạng xã hội, nơi NCS vẫn có thể quan sát, nói chuyện, phỏng vấn NCS đã tham gia vào trang cá nhân của các KGST, trở thành thành viên của một số nhóm trên facebook, nhóm trò chuyện qua messenger, một mặt để theo dõi các hoạt động của các KGST, mặt khác cũng để tương tác, kết nối, làm quen và hỏi chuyện Nhiều cuộc phỏng vấn, đúng hơn là trò chuyện qua messenger kéo dài 2-3 giờ Vài bạn trẻ có phần ngại ngần khi giao tiếp trực tiếp nhưng lại dễ dàng bộc bạch, trải lòng bằng hình thức viết trên cửa sổ nói chuyện online Một số KGST còn
có website riêng để đăng tải nhiều bài viết của các thành viên hay của các nhà nghiên cứu khác về chủ đề liên quan đến sự kiện như một cách cung cấp hiểu biết nền, khơi mở ý tưởng cho cuộc đối thoại sắp diễn ra Cũng có khi các bài viết được tải lên sau sự kiện nhằm mở rộng thêm các chiều cạnh khác của vấn
đề mà do hạn hữu về thời gian của chương trình, chưa thể nói hết, chưa được
đề cập đến Ở đây, NCS xem các trang facebook hay các website như một hình thức để nới rộng biên giới của không gian thực, phần nào xóa đi kích thước thực tế nhỏ hẹp của KGST, giúp thành viên của nhóm có thể tương tác, kết nối xa và rộng hơn
Nghiên cứu văn hóa đô thị, không tiến hành điền dã theo theo lối truyền thống là về ở tại cộng đồng, tham gia sinh hoạt cùng với cộng đồng trong một thời gian dài, liên tục, lặp đi lặp lại mà bằng việc thường xuyên có mặt trong các sự kiện tại các KGST, NCS dần dần có thêm thông tin, làm quen và nói chuyện được với những người cùng đến tham dự Ban đầu việc tiếp cận có nhiều khó khăn vì NCS giống như rơi vào tình trạng “lỡ cỡ” giữa hai nhóm
tuổi ở hai không gian khác nhau: Giấc mơ nhỏ thường dành cho những người
Trang 1610
trẻ, độ tuổi từ 16 đến dưới 30 trong khi Cà phê Văn thường có sự góp mặt của
những trí thức từ độ tuổi trung niên Nhưng về sau sự khác biệt tuổi tác không còn bất lợi nữa khi ở không gian của những trí thức lớn tuổi, bằng sự cầu thị
và muốn lắng nghe, NCS luôn được giảng giải tận tình, kĩ lưỡng Cũng như vậy ở không gian dành cho giới trẻ, sau một thời gian ngại ngần, dè chừng ban đầu, các bạn, các em đã chia sẻ, kể những câu chuyện về họ, nhất là trong những buổi gặp gỡ bàn tròn mà NCS tham gia như là một thành viên của nhóm
- Tư liệu của luận án còn từ những ghi chép về suy nghĩ, cảm nhận của
cá nhân NCS sau mỗi sự kiện với vai trò người tham dự NCS xem đó chính
là việc “trải nghiệm các sự kiện và ý nghĩa bằng cách thức tương tự như trải nghiệm của các thành viên” (Robert M Emerson và các cộng sự, 2014) [14]
Có nhiều khi vai “người nghiên cứu” bị mờ nhòe đi, tham dự nhiều hơn quan sát khi chính NCS cũng bị cuốn vào mạch suy nghĩ và thảo luận của nhóm Thời gian đầu, việc tham dự tại các KGST là để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, về sau trở thành một thói quen, một nhu cầu cá nhân với mong muốn được nghe, được thảo luận, được cập nhật những thông tin của đời sống xã hội Những phân tích và diễn giải trong luận án, do đó, phản ánh quá trình cố gắng hòa nhập sâu hơn vào thế giới của “người khác”, nỗ lực để biết, để hiểu
về ý nghĩa thực hành văn hóa của các nhóm chủ thể trong các KGST từ góc nhìn những người trong cuộc
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên tìm hiểu những chiều kích văn hóa của các KGST
- Luận án khám phá các thực hành văn hóa và ý nghĩa của các thực hành văn hóa đó với các nhóm chủ thể trong xã hội, những người bằng cách này hay cách khác tham gia kiến tạo nên các KGST
Trang 1711
- Luận án cung cấp những luận giải về căn nguyên và động lực của các thực hành văn hóa tại các KGST, từ đó chỉ ra tác động xã hội của các KGST cũng như những thay đổi trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Ý nghĩa lý luận của luận án được thể hiện trên hai phương diện Thứ nhất, từ việc phân tích thực hành văn hóa tại các KGST, luận án mở rộng những chiều kích ý nghĩa của KGST, nhìn nhận KGST như
là những nơi chốn quan trọng đối với các nhóm chủ thể trong thành phố, góp phần kiến tạo bản sắc nhóm, bản sắc cá nhân, nơi trí thức bày tỏ mối quan tâm với nhiều vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, nơi thể hiện những nỗ lực nới rộng biên độ của tự do biểu đạt trong bối cảnh hạn hẹp của các không gian công trong đô thị Thứ hai, luận án đóng góp một quan điểm học thuật về một loại hình không gian đặt trong bối cảnh không gian đô thị đương đại: không gian sáng tạo, bổ sung thêm vào bức tranh nghiên cứu về không gian đô thị vốn đã rất bề bộn và đa dạng tại Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Qua việc nghiên cứu các thực hành văn hóa, ý nghĩa của các thực hành văn hóa trong các KGST đối với các nhóm chủ thể, luận án chỉ ra rằng KGST ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống đô thị, phản ánh mong muốn nới rộng biên độ của sự tự do, như một diễn đàn cho các thảo luận mở, là nơi thể hiện nguyện vọng của công dân, nơi thực hiện quyền tham gia của người dân với xã hội KGST như là những không gian xã hội, không gian văn hóa, nơi cùng lúc đảm nhiệm nhiều vai trò đối với đời sống hàng ngày: cung cấp thông tin, nâng cao vốn hiểu biết, mang lại cơ hội thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật, nơi gặp gỡ, trò chuyện kết nối và hơn hết là môi trường lý tưởng cho phép người dân thể hiện những mong muốn, nhu cầu của mình về nhiều vấn đề đang diễn ra trong xã hội Với ý nghĩa đó, luận án là tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu văn hóa, những người làm chính sách liên quan đến KGST, các cơ quan quản lý về văn hóa cũng như chính quyền đô thị
Trang 1812
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Bối cảnh xã hội tại các đô thị và sự ra đời của các không gian sáng tạo
Chương 3: Thực hành văn hóa tại các không gian sáng tạo
Chương 4: Không gian sáng tạo: tự do biểu đạt và kiến tạo bản sắc
Trang 1913
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về không gian đô thị
Không gian đô thị từ lâu là một chủ đề hấp dẫn, thu hút nhiều nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau Các nghiên cứu đa phần thường tập trung vào hai chiều cạnh cơ bản của không gian đô thị: không gian chức năng
và không gian xã hội Khi xem xét không gian đô thị như một không gian chức năng, các nghiên cứu thuộc ngành kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị thường đề cập đến cấu trúc không gian đô thị, coi không gian đô thị là một vùng lãnh thổ, một khu vực mà ở đó xây dựng, kiến thiết nên cơ sở vật chất phục vụ, đáp ứng nhu cầu về làm việc, nghỉ ngơi, giải trí, giao tiếp của cư dân
đô thị, hướng đến việc tạo lập đô thị sinh thái, nhân văn và phát triển bền vững Theo đó, không gian đô thị thường bao gồm khu vực xây dựng nhà ở, công trình dịch vụ đô thị, hệ thống phục vụ giáo dục (trường học), thương mại (trung tâm thương mại, chợ, siêu thị…), sản xuất (nhà máy, công xưởng, văn phòng…) Trong khi đó, các nghiên cứu của ngành xã hội học, văn hóa học, nhân học… thường xem không gian đô thị như một không gian xã hội, nơi quy tụ, tập trung của nhiều nhóm xã hội với những đặc điểm riêng về giới tính, lứa tuổi, trình độ, mối quan tâm, nhu cầu, thị hiếu… Trong luận án này,
để xây dựng cơ sở lý luận cho những phân tích sau về KGST, NCS chỉ lựa chọn tổng quan một số nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận thứ hai, coi không gian đô thị như một không gian xã hội
Với lý thuyết kiến tạo không gian xã hội (the social production of
space), công trình kinh điển The production of space (Sự sản xuất không gian)
của Henri Lefebvre (1901-1991) - nhà xã hội học và triết gia người Pháp - được viết năm 1974, bản dịch tiếng Anh năm 1991, đã đóng góp quan trọng cho lý thuyết không gian đô thị, tạo nên một “bước ngoặt về không gian” (the
Trang 20“Không gian (xã hội) là một sản phẩm xã hội… không gian sản xuất như vậy đảm nhiệm như một công cụ suy nghĩ và hành động; bên cạnh việc là một tư liệu sản xuất, nó còn là tư liệu kiểm soát, và như vậy là tư liệu cai trị, quyền lực.” [107]
Trong nghiên cứu này, Lefebvre đã thách thức các khái niệm truyền thống về không gian như một bối cảnh thụ động, cố định và đề xuất khái niệm không gian là sự thống nhất của ba phương diện: phương diện vật lí (physical space), phương diện xã hội (social space) và phương diện tinh thần (mental space) Mục tiêu của Lefebvre trong việc xây dựng bộ ba không gian này là để chứng minh không gian không phải là một đối tượng mà là kết quả của một tập hợp các mối quan hệ Không gian định hình và được định hình bởi các mối quan
hệ xã hội Lefebvre cũng cho rằng mọi xã hội đều tạo nên những không gian
xã hội khác biệt để đáp ứng cho nhu cầu của con người
Tác phẩm của Lefebvre có ảnh hưởng sâu sắc, tạo ra cả một giai đoạn không gian - những năm đầu thập niên 1990 - khi khiến cho các nhà lí thuyết nhân học hay cả các nhà địa lí hậu hiện đại nỗ lực nghĩ và hiểu về không gian theo một cách khác Không gian là năng động, là sự đan xen giữa biểu hiện và kinh nghiệm sống, chạm vào tất cả các lĩnh vực của đời sống, văn hóa, tôn giáo… Không gian dần trở thành đối tượng nghiên cứu trung tâm Những nghiên cứu về không gian ngày càng nhiều Các chiều kích ý nghĩa của không gian dần được mở ra trong mối quan hệ với con người, góp phần giải thích ý nghĩa của nhiều thực hành văn hóa Các loại không gian theo
đó cũng khá đa dạng, có nhiều loại không gian cùng tồn tại (Nguyễn Văn Sửu, 2011) [68] Setha Low và Denise Lawrence-Zuniga (2007) trong nghiên
Trang 2115
cứu “Locating Culture” đã phân thành 6 loại không gian bao gồm: không
gian hiện thân, gắn với những trải nghiệm của cơ thể (embodied space), không gian của giới và các mối quan hệ (gendered spaces), không gian ký ức (inscribed spaces), không gian tranh chấp (contested space), không gian xuyên biên giới (trannational spaces), các chiến thuật không gian (spatial tactics) [111] Victor H Matthews (2003) lại chia thành ba loại không gian: không gian vật thể (physical space), không gian tưởng tượng (imagined space) và không gian sống (lived space) [114] Hay không gian công (public space) và không gian tư (private space) trong nghiên cứu của Lisa Drummond (2000) [87] và Sandra Kurfürst (2008) [105]; không gian thiêng trong nghiên cứu của Phạm Quỳnh Phương (2010) [49] … Rất nhiều các phân tích đa dạng
về không gian đô thị sau này đều dựa trên quan niệm không gian là một kiến tạo xã hội
Trong bối cảnh đô thị tại Việt Nam, sự kiến tạo của các cộng đồng, các nhóm chủ thể văn hóa khác nhau cũng tạo ra những chiều kích không gian khác nhau, phản ánh những động năng của xã hội cũng như nhu cầu, mong muốn và mối quan tâm của con người Nhiều nhất trong số đó là những nghiên cứu về không gian công cộng (KGCC) Có thể nói, bối cảnh nghiên cứu về KGCC khá đa dạng, bề bộn, như chính thực tiễn của các KGCC trong không gian đô thị Khái niệm KGCC được đề cập và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau: kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị; xã hội học; văn hóa học; nhân học… Các nghiên cứu đều thừa nhận những đóng góp tích cực của các KGCC cho đời sống thành phố, sự đa dạng của các loại hình KGCC cũng như ý nghĩa của nó đối với từng nhóm người cụ thể, quan tâm đến kích thước KGCC qua việc tìm hiểu sự “co giãn”, nới rộng hay thu hẹp các không gian, chiến lược riêng hóa KGCC phục vụ cho mục đích cá nhân…
Các nhà kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị quan tâm tới việc quy hoạch, tổ chức không gian và phát triển đô thị, nhìn nhận KGCC như là những không gian mở, dễ tiếp cận, là nơi giao tiếp và nghỉ ngơi, thư giãn, là
Trang 2216
môi trường văn hóa xã hội - nơi diễn ra những tương tác xã hội, đáp ứng và thỏa mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân đô thị Theo đó KGCC có thể bao gồm đường sá, quảng trường, công viên, những khoảng không gian giữa các công trình kiến trúc Nhiều nghiên cứu quan tâm đến
KGCC như một trong nhiều các yếu tố để tạo nên “thành phố đáng sống”, mang lại nhiều ý nghĩa cho cấu trúc, môi trường và cuộc sống đô thị, là nơi
thể hiện sống động nhất phần hồn của đô thị hay tạo ra bản sắc riêng cho đô
thị, có thể kể đến như các bài viết trong kỷ yếu hội thảo chuyên đề Chuyển hóa đô thị và tương lai của cuộc sống đô thị tại Việt Nam năm 2005 do Trung
tâm nghiên cứu toàn cầu hóa và Giải pháp đô thị - nông thôn đồng tổ chức
[74], Không gian công cộng trong đô thị, từ lý luận đến thiết kế của Phạm Thúy Loan (2016) [37], Không gian công cộng - những vấn đề chính và biện pháp kiểm soát của Nguyễn Thanh Bình (2017) [5], Sức hấp dẫn của không gian công cộng (Doãn Minh Khôi, 2018) [33], Không gian công cộng trong quy hoạch và phát triển bền vững (Nguyễn Quang, 2018) [56]… KGCC trong
những trường hợp này để chỉ những không gian ngoài trời, không gian tự nhiên, không gian mở (như công viên, đường phố, vỉa hè, quảng trường…) hay các khoảng không gian trong nhà nhưng được phép tiếp cận tự do (nhà
ga, sân bay, trung tâm thương mại…), nơi diễn ra các hoạt động mang tính công cộng như nghỉ ngơi, giao tiếp, mua bán, đi lại… KGCC được xem là
“khoảng thở”, “những phần không gian trống” của cảnh quan đô thị nơi mà người dân bước ra khỏi những “chiếc hộp” cá nhân để tham gia vào đời sống chung Các nghiên cứu cũng lo lắng cho sự biến mất của các KGCC khi mà dường như KGCC đang không được sử dụng như mục đích ban đầu, bị lấn chiếm và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, hay sự xung đột giữa các
nhóm người sử dụng KGCC giữa các thế hệ, các tầng lớp xã hội, từ đó bàn
đến trách nhiệm quản lý hay những khuyến nghị về việc duy trì và cung cấp
KGCC cho các nhóm đối tượng Thách thức đó được nhìn nhận, lý giải và
phân tích như là kết quả của quá trình chuyển dịch đô thị, quá trình đô thị hóa
Trang 2317
diễn ra mạnh mẽ, sức ép về nhu cầu sử dụng KGCC ngày càng tăng, hạ tầng
kĩ thuật công cộng chưa theo kịp để đáp ứng nhu cầu của người dân… và từ
đó đặt ra trách nhiệm cho các nhà quản lý trong việc xây dựng khung pháp lý
để quản lý, kiểm soát, tạo dựng và đáp ứng KGCC cho người dân Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu này đều được tiếp cận với góc nhìn từ trên xuống, mong muốn thiết kế và tạo dựng nên những KGCC phục vụ cho người dân đô thị, bằng việc dựng nên hoặc mô phỏng một mô hình KGCC nào đó và
áp dụng cho các KGCC trong thành phố Trong những nghiên cứu này, người
ta khó lòng có thể tìm thấy những gương mặt con người và đời sống đa dạng, muôn màu, mà thường chỉ thấy con người dưới dạng thức những con số, tỉ số bình quân bao nhiêu người trên một mét vuông diện tích KGCC Hơn nữa, các nghiên cứu từ góc nhìn kiến trúc, thiết kế đô thị thường có xu hướng mô hình hóa, tạo ra những KGCC gọn ghẽ, văn minh, hiện đại Nhưng thực tế, KGCC tồn tại trong thế sinh động, bề bộn hơn rất nhiều
Bổ khuyết cho những hạn chế của cách tiếp cận từ trên xuống, từ góc nhìn của ngành văn hóa học, xã hội học, nhân học… với cách tiếp cận từ dưới lên lại cho thấy nhiều ý nghĩa khác của KGCC Trong những thảo luận về đời sống đô thị hàng ngày và những chuyển đổi chính trị - kinh tế - xã hội được phản ánh lên các không gian đô thị, có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những cách thức tạo dựng không gian của các nhóm chủ thể đa dạng
Các công trình như Youth-friendly public spaces in Hanoi (Không gian công cộng cho giới trẻ ở Hà Nội) năm 2015 [99], Youth-Driven Tactics of Public Space Appropriation in Hanoi: The Case of Skateboarding and Parkour (Chiến thuật chiếm đoạt không gian công cộng của thanh niên tại Hà Nội: trường hợp trượt ván và parkour) của Stephanie Geertman, Danielle
Labbé, Julie-Anne Boudreau và Olivier Jacques [91] đã tập trung vào giới trẻ - một bộ phận dân số đông đảo, giữ vai trò là thế hệ định hình tương lai của quá trình chuyển đổi đô thị Các nghiên cứu này làm sáng tỏ cách thức mà người trẻ gắn bó với thành phố, tìm cách tiếp cận không gian cho các hoạt động giải trí, thể
Trang 2418
thao, gặp gỡ bạn bè hay cho những thực hành mới như trượt ván, parkour… Để
có thể “chiếm đoạt” các KGCC, thanh niên đô thị đã áp dụng các chiến thuật quy
mô nhỏ, phi ý thức hệ và không đối đầu, đối diện với rất nhiều nguyên tắc của các bên khác nhau, từ chính sách quản lý không gian của nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp và cả người dân… Bằng các chiến thuật mềm dẻo, linh hoạt đó, họ dần được chấp nhận trong các KGCC, tạo ra được không gian cho chính mình để theo đuổi sở thích, đam mê, từ đó kiếm tìm và định hình bản sắc
Nghiên cứu Vỉa hè Hà Nội - không gian đa chiều tương tác của Nguyễn
Thị Phương Châm - Hoàng Cầm (2021) tập trung vào không gian vỉa hè, đặt
trong bối cảnh văn hóa vỉa hè nơi “tất cả các khía cạnh của đời sống văn hóa diễn ra và liên quan đến không gian vỉa hè” [7] để khám phá những những
lớp nghĩa bề bộn mà không gian vỉa hè chuyên chở Sự “bề bộn” của không gian vỉa hè trong xã hội phức tạp đa tầng, đa nghĩa gắn với thói quen, lối sống của người dân Không gian vỉa hè trở nên sống động, bề bộn công năng và các chiều kích nghĩa khác nhau: vừa là không gian kinh tế, không gian sinh hoạt, không gian nghệ thuật, không gian xã hội, không gian của ký ức Nó cũng phản ánh sự thương thỏa, co kéo, thích nghi linh hoạt và tài tình của con người trong không gian đô thị chật hẹp
Không gian vỉa hè tại đô thị nói chung, tại Hà Nội nói riêng hiện lên qua rất nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, dưới lăng kính của các khái niệm “không gian công” (public space), “không gian tư” (private spacce)
là một biến thể KGCC thú vị, sinh động, chồng chất những tầng lớp ý nghĩa
mà đời sống của người dân đô thị đã tạo nên Có thể kể đến các nghiên cứu
tiêu biểu như: Street scences: practices of public and private in urban Vietnam (Cảnh quan đường phố: những thực hành trong không gian công và không gian tư tại đô thị Việt Nam) của Lisa Drummond (2000) [87], Wards of Hanoi (Phố phường Hà Nội) của David Koh (2006) [102], The pavement as civic space: history and dynamics in the city of Hanoi (Vỉa hè như là không gian công: lịch sử và sự năng động ở thành phố Hà Nội) của David Koh
Trang 2519
(2007) [103]… Các thảo luận này tập trung vào việc làm mờ đi sự khác biệt giữa “không gian công” và “không gian tư” trong bối cảnh đô thị Việt Nam nơi mà thường xuyên diễn ra hiện tượng các hoạt động mang tính riêng tư thì được diễn ra nơi công cộng, tràn ra nơi công cộng (inside out) trong khi các không gian riêng tư lại chịu sự can thiệp từ bên ngoài, từ nhà nước (outside in) (Lisa Drummond, 2000) [87] Theo các tác giả, tại Việt Nam, không có sự phân biệt rạch ròi giữa “không gian công” và “không gian tư” như truyền thống xã hội phương Tây Các khái niệm mang tính học thuật của phương Tây, khi áp dụng vào Việt Nam cần được tính đến bối cảnh xã hội đặc thù, và
do vậy cũng cần được hiểu một cách linh hoạt
Nghiên cứu Redefiding public space in Hanoi: places, practices and meaning (Định nghĩa lại không gian công cộng ở Hà Nội: địa điểm, thực hành
và ý nghĩa) của Sandra Kurfürst (2011) [106] tập trung vào những thay đổi
trong mối quan hệ quyền lực giữa nhà nước và xã hội được phản ánh qua sự phát triển của các KGCC ở Hà Nội Các chiều cạnh khác nhau của KGCC cũng được phân tích, thể hiện qua mô hình 3 chiều: tính linh thiêng (các hoạt động tôn giáo là một phần trong các thực hành hàng ngày tại các KGCC, tính chính thức (các KGCC được thiết kế, xây dựng và quản lý bởi nhà nước, nhằm duy trì quyền lực của nhà nước, tuy nhiên sự thống trị của chính quyền cũng đang bị thách thức bởi việc tạo ra những ý nghĩa mới thông qua các thực hành hàng ngày của người dân trong KGCC) và tính riêng tư (KGCC được sử dụng để tạo ra sự riêng tư và thực hiện các hoạt động riêng tư, thể hiện quá trình tư nhân hóa các KGCC) Nghiên cứu cho thấy nhiều KGCC đang được hình thành trong lòng Hà Nội ở những mức độ công khai khác nhau, trở thành khu vực chính trị nơi diễn ra các cuộc đàm phán giữa công dân và nhà nước
Vì vậy KGCC ở Hà Nội vừa là một đấu trường cho lĩnh vực công (hay khu vực công) (public sphere), vừa là một biểu hiện của lĩnh vực công
Từ góc tiếp cận xã hội học, Lâm Thị Ánh Quyên (2011) coi KGCC là
đặc điểm chính của không gian đô thị, nơi biểu lộ bộ mặt đô thị cũng như bản
Trang 2620
sắc đô thị, làm nên những “thành phố sống tốt” (chữ dùng của Douglas,
2008) KGCC được định nghĩa qua khả năng tiếp cận và sử dụng của người dân Tác giả cho rằng KGCC có mối quan hệ với “công cộng” (pulic sphere)
theo nghĩa là “công cộng đòi hỏi phải có một không gian vật lý Không gian này được gọi là không gian công cộng” [61] Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc
Nhờ (2019) [47] lại xem xét KGCC trong việc kết nối con người, thiết lập mạng lưới cá nhân và nhờ đó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển các tiểu văn hóa trong lòng đô thị
Các nghiên cứu Không gian bán công cộng và sự hình thành dư luận
xã hội của Nguyễn Quý Thanh, Trịnh Ngọc Hà (2009) [70]; luận án Tin đồn
và sự hình thành tin đồn trong không gian bán công cộng (nghiên cứu trường hợp quán cà phê trên địa bàn Hà Nội) của Lữ Thị Mai Oanh (2019) [48] lại
xem xét một dạng đặc thù của KGCC là các không gian bán công cộng, xem
đó như là một nơi để hình thành dư luận xã hội Các nghiên cứu đã chọn bối cảnh nghiên cứu là các quán cà phê, địa điểm lí tưởng cho các cá nhân trao đổi, thảo luận về nhiều vấn đề khác nhau Các nghiên cứu đã định danh các không gian này là không gian bán công cộng, nơi kết hợp, pha trộn giữa hai yếu tố công và tư, nơi người đến tham dự được tự do thể hiện bày tỏ ý kiến nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ phải tuân thủ những quy định do chủ sở hữu không gian đặt ra như về trang phục, hành vi…) Đây cũng là không gian thuận lợi cho việc tiếp nhận thông tin, tin đồn - những thông tin chưa được kiểm chứng - từ đó hình thành, lan tỏa, khuyếch trương các tin đồn qua quá trình tương tác xã hội của các cá nhân, các nhóm khác nhau
Qua điểm luận một số công trình, có thể thấy các nghiên cứu đã chỉ ra
sự quan trọng theo những cách khác nhau của KGCC đối với các nhóm chủ thể trong không gian đô thị Các chiều kích nghĩa cũng như các dạng thức của KGCC ngày càng được mở rộng KGCC tự biến hóa mình trong nhiều hình thức, từ công viên, quảng trường, vỉa hè đến chợ, trung tâm mua sắm, các quán cà phê… và giữ những vai trò khác nhau gắn với mục đích kiến tạo: khi
Trang 2721
là không gian cho các hoạt động giải trí hay tương tác xã hội, khi là không gian duy trì tính hợp pháp của quyền lực chính trị, khi là không gian tranh chấp và thương thỏa, khi là không gian để hình thành nên dư luận xã hội… Nội hàm của khái niệm KGCC ngày càng trở nên phong phú và phức tạp hơn Trong đô thị hiện đại ngày nay, ngoài các hình thức KGCC như trên, có những loại hình không gian khác vẫn đang được tạo ra, phản ánh nhu cầu của người dân Những phân tích ở các phần viết sau sẽ cho thấy KGST là một dạng thức không gian khác trong không gian đô thị, được hình thành nên trong bối cảnh đô thị hiện đại, một mặt gắn với sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa tại Việt Nam, mặt khác thể hiện nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật, trao đổi, tương tác, tự do biểu đạt và mong muốn được tham gia giải quyết những vấn đề chung của xã hội
1.1.2 Nghiên cứu về không gian sáng tạo
Không gian sáng tạo từ góc nhìn của ngành công nghiệp sáng tạo
Ngành công nghiệp sáng tạo trong nhiều năm qua đã trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế trên toàn thế giới Công nghiệp sáng tạo phát triển khá nhanh chóng với sự gắn kết và giao thoa giữa các “trụ cột” như văn hóa, kinh doanh và công nghệ, mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia Được xem là quốc gia tiên phong trong nền công nghiệp sáng tạo, từ cuối những năm 90 của thế kỉ XX, Vương quốc Anh đã nhìn thấy rõ vai trò của các ngành công nghiệp sáng tạo đối với tăng trưởng kinh tế, gắn kết cộng đồng và an sinh xã hội Các KGST là một phần của nền kinh tế sáng tạo, có vai trò như là
động lực, đòn bẩy hay thậm chí còn được nhấn mạnh như “ngọn hải đăng”
của nền kinh tế mới ở các đô thị Trong bối cảnh toàn cầu, KGST dần trở thành tâm điểm trong nền kinh tế của Vương quốc Anh, của nhiều nước châu
Âu và cả ở châu Á Rất nhiều báo cáo cho thấy sự quan tâm nghiên cứu, tổng
kết của các quốc gia về KGST, có thể kể đến báo cáo: Needs analysis on culture and creative hubs in Asia and Europe (Phân tích nhu cầu về tổ hợp
không gian văn hóa và sáng tạo ở châu Á và châu Âu) năm 2005 [84],
Trang 2822
Cultural and creative hubs network Asia-Europe: a project for kick - starting
a new network between Asia and Europe (Mạng lưới không gian văn hóa sáng
tạo Á - Âu: một dự án để khởi động một mạng lưới mới giữa châu Á và châu Âu) năm 2015 của Cultural and creative hubs network Asia - Europe (Mạng
lưới không gian văn hóa sáng tạo Á - Âu) [85], Creative hubs: understanding the new economy (Không gian sáng tạo: hiểu biết về nền kinh tế mới) của British Council [83],… và hàng loạt các nghiên cứu vẽ bản đồ KGST tại nhiều
quốc gia trên thế giới KGST trở thành mối quan tâm có tính toàn cầu, kết nối các nền kinh tế sáng tạo, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa
Trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về KGST tại Việt Nam, Hội đồng Anh
- tổ chức văn hóa và giáo dục quốc tế của Vương quốc Anh đã có nhiều đóng góp quan trọng, mang tính tiên phong nhằm hướng tới mục tiêu hỗ trợ Việt Nam phát triển nền kinh tế sáng tạo cũng như tối ưu hóa tác động của ngành này đến tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Từ dự án Kinh tế sáng tạo năm
20083 cho đến nay, Hội đồng Anh đã có nhiều hoạt động trên nhiều phương diện: từ việc vận động chính sách trong những năm 2014-2016 thông qua hỗ
trợ tư vấn cho công tác soạn thảo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đến tổ chức thực hiện
và công bố những nghiên cứu độc lập về KGST, tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho các KGST hay tổ chức các cuộc hội thảo nhằm kết nối, mở rộng
3
https://www.britishcouncil.vn/cac-chuong-trinh/nghe-thuat/du-an-kinh-te-sang-tao
4
thao-sang-tao-va-phat-trien-do-thi
Trang 29https://www.britishcouncil.vn/cac-chuong-trinh/nghe-thuat/du-an-kinh-te-sang-tao/hoi-23
việc cần làm để khuyến khích phát triển các KGST Năm 2015, Hội đồng Anh
tổ chức đào tạo chuyên gia về khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo5 Các hoạt
động kết nối đã được thúc đẩy, có thể kể đến như: Hội thảo Kiến tạo không gian sáng tạo 6 được tổ chức trong hai ngày 7,8/3/2016 tại thành phố Hồ Chí
Minh, ở đó đại diện đến từ các KGST khác nhau đã thảo luận về các vấn đề như đầu tư và nguồn thu bền vững cho KGST; hoạt động hợp tác giữa các không gian sáng tạo, lập bản đồ cũng như quản lý KGST Ngày 24/11/2016,
Hội thảo Đối thoại về vai trò của các không gian sáng tạo trong nền kinh tế sáng tạo tại Việt Nam 7 được tổ chức tại thành phố Huế do sự hợp tác giữa Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội đồng Anh tại Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Hà Nội Giữa những người làm công tác quản lý nhà nước về văn hóa và đại diện đến từ các KGST đã có những thảo luận về những vấn đề
và thách thức của các KGST trong thực tế để từ đó cùng nhau đề xuất những chính sách hợp lý nhằm nhìn nhận thỏa đáng về vai trò, khả năng đóng góp của các KGST đối với từng địa phương nói riêng và nền kinh tế cả nước nói chung
Trong chuỗi hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật và công nghiệp sáng
tạo, năm 2014, Hội đồng Anh tại Việt Nam cho ra mắt Báo cáo về các không gian sáng tạo tại Việt Nam được thực hiện bởi nhà báo Trương Uyên Ly [21]
Thuật ngữ KGST sử dụng trong báo cáo được dịch từ “creative hub” (không gian sáng tạo/ tổ hợp không gian sáng tạo) với nghĩa là sự liên kết các nhà doanh nghiệp năng động tại một không gian cụ thể để cùng thử nghiệm những
dự án hay ý tưởng kinh doanh mới, cùng kết nối để tìm cơ hội đầu tư và hỗ trợ KGST thường thu hút nhiều người xuất phát điểm từ các nền tảng khác
5
tao-chuyen-gia-ve-khoi-nghiep-trong-linh-vuc-sang-tao
https://www.britishcouncil.vn/cac-chuong-trinh/nghe-thuat/du-an-kinh-te-sang-tao/dao-6
thao-kien-tao-khong-gian-sang-tao
https://www.britishcouncil.vn/cac-chuong-trinh/nghe-thuat/du-an-kinh-te-sang-tao/hoi-7
cac-khong-gian-sang-tao-trong-nen-kinh-te-sang-tao-tai-Viet-Nam.html
Trang 30Về sau, các KGST được nói đến nhiều, nhất là sau những quan tâm của
Nhà nước (sự ra đời của một KGST từ khối nhà nước như Vicas Art Studio8
có lẽ cũng chính là sự hiện thực hóa quan niệm về KGST như cách các nghiên cứu của Hội đồng Anh định nghĩa, hội thảo của ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội về KGST9) KGST được đề cập đến trong sách10
, trên báo chí và các phương tiện truyền thông Các buổi hội thảo do Hội đồng Anh tổ chức về dự
án KGST thường có sự tham gia của các nhà báo do vậy phần lớn thông tin về KGST trên báo chí đều từ nguồn của Hội đồng Anh, phản ánh cách hiểu về KGST trong các nghiên cứu của Hội đồng Anh
Năm 2019, khi chính thức trở thành thành viên của Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO trên toàn cầu, Hà Nội cam kết xây dựng thành phố sáng tạo trong lĩnh vực thiết kế Nhiều chương trình và kế hoạch hành động dài hạn sau đó đã được đặt ra, thể hiện tầm nhìn và mong đợi kiến tạo Hà Nội với biểu tượng truyền thống “thành phố vì hòa bình” trở thành
“thành phố sáng tạo” Trọng tâm trong các kế hoạch đó là việc khuyến khích, tạo điều kiện phát triển KGST bằng rất nhiều các dự án, hoạt động thiết thực
như tổ chức cuộc thi Thiết kế không gian sáng tạo Hà Nội do Ủy ban nhân
dân thành phố Hà Nội, Hội Kiến trúc sư Việt Nam chỉ đạo; tổ chức các tọa
8
http://artstudio.vicas.org.vn/
9
Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, hội thảo Phát huy tiềm năng, thế mạnh của các không
gian sáng tạo trong phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn thủ đô trong thời kì hội nhập và phát triển, tháng 10/2018
10
Lương Hồng Quang (2018), Các ngành công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam: môi trường
thể chế, thị trường và sự tham gia, Nxb Thế giới, Hà Nội
Trang 3125
đàm về thành phố sáng tạo, thiết kế không gian sáng tạo, chuyển đổi di sản công nghiệp thành không gian sáng tạo11…
Những nghiên cứu của Hội đồng Anh tại Việt Nam, bắt đầu từ năm
2014, dưới góc nhìn của ngành công nghiệp sáng tạo, đã định danh, liệt kê nhiều KGST của Việt Nam Về sau, cũng giống như không khí hứng khởi của chính các KGST, những nghiên cứu ban đầu về KGST của Hội đồng Anh đã tạo ra cuộc thảo luận sôi nổi xoay quanh KGST, xem đây như là yếu tố then chốt hướng tới đô thị sáng tạo, xây dựng các ngành công nghiệp sáng tạo,
công nghiệp văn hóa, có thể kể đến các nghiên cứu Không gian sáng tạo với vai trò hỗ trợ khởi nghiệp của Phạm Thị Hương (2016) [26], Kiến tạo không gian sáng tạo trên địa bàn thủ đô - bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt
ra của Bùi Hoài Sơn (2018) [67], Phát triển các không gian sáng tạo ở Hà Nội của Bùi Hoài Sơn (2019) [66], Factories as studios – Một cách tiếp cận
về không gian sáng tạo của Phạm Lan Hương (2018) [28], Không gian sáng tạo - mũi nhọn tiềm năng trong phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội của
Phạm Thị Mỹ Hoa (2021) [20] …
Bên cạnh những nghiên cứu tìm hiểu về KGST tại Việt Nam, Hội đồng Anh tại Việt Nam còn nỗ lực giới thiệu những ví dụ thực tế, những kinh nghiệm hữu ích đã được thử nghiệm bởi một số KGST thành công tại Anh và châu Âu Được thực hiện bởi các KGST dành cho những KGST mới, bộ công
cụ Sổ tay không gian sáng tạo 12 hướng tới đối tượng là các cá nhân hay tổ
chức sẽ thành lập và quản lý các KGST Bộ công cụ đưa ra định nghĩa về KGST qua mục đích của KGST, mô hình các KGST và hướng dẫn khá cụ thể, chi tiết về cách thức thành lập KGST như cách cấu trúc, duy trì và phát triển bền vững qua việc kết nối với mạng lưới KGST, phát triển các mối liên hệ lâu dài với cộng đồng nhằm xây dựng sự thấu hiểu, niềm tin và mối quan hệ
tương trợ Trong bộ công cụ này, KGST được định nghĩa là “một địa điểm, có
11
https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Van-hoa/1012339/gop-suc-kien-tao-thanh-pho-sang-tao 12
https://www.britishcouncil.vn/sites/default/files/so-tay-khong-gian-sang-tao-hubkit.pdf
Trang 3226
thể là địa điểm thực hoặc địa điểm trực tuyến, là nơi đem những con người sáng tạo đến với nhau Đó là nơi tụ họp, chia sẻ không gian và hỗ trợ cho các hoạt động kết nối, phát triển kinh doanh và thu hút cộng đồng trong các lĩnh vực sáng tạo, văn hóa và công nghệ”
Các nghiên cứu độc lập của Hội đồng Anh tại Việt Nam cũng đã làm rõ
nhiều vấn đề khác nhau về KGST, có thể kể đến như Nghiên cứu ban đầu về các không gian sáng tạo tại Việt Nam [21], Nghiên cứu về chính sách và các không gian sáng tạo Việt Nam [22], Báo cáo về các không gian sáng tạo tại Việt Nam [23] Các nghiên cứu cho thấy sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn
về lĩnh vực và lan rộng về địa lý của các KGST (từ 40 KGST trong báo cáo năm 2014 đến 140 KGST - báo cáo năm 2018) như dấu hiệu chỉ báo sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế sáng tạo tại Việt Nam Định nghĩa về KGST trong các nghiên cứu độc lập này dựa trên các từ khóa như “kết nối”,
“sáng tạo”, “định hướng kinh doanh” [21] Tuy nhiên từ thực tế đa dạng của các KGST tại Việt Nam, nghiên cứu cũng cho thấy khó có thể có một định nghĩa bao quát được hết các KGST hay bản thân mỗi KGST là một định nghĩa
về KGST Các KGST có thể có địa điểm cụ thể hay không có địa điểm cố định, có thể là không gian trực tuyến, là một quán cà phê, một phòng tranh, một không gian làm việc chung, studio, một trang web…
Các nghiên cứu đề cập đến tác động xã hội của các KGST trên nhiều phương diện KGST có thể là nơi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo có thể kết nối, tương trợ lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất thông qua hỗ trợ cho thuê mặt bằng, hỗ trợ không gian cho nghệ sĩ trẻ trong việc trưng bày, truyền thông và kinh doanh các tác phẩm nghệ thuật của mình hay là không gian giải trí, đưa nghệ thuật đến gần hơn với cộng đồng Các nghiên cứu đều coi khung pháp lí là vấn đề then chốt cho tương lai của các KGST Trong sự so sánh với sự phát triển của các KGST trên thế giới, các nghiên cứu cũng cho thấy nếu như các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Âu thường có chính sách hỗ trợ cho các KGST ngay từ ban đầu
Trang 3327
hình thành, còn riêng tại Việt Nam, KGST là một hiện tượng còn khá mới, các hỗ trợ của nhà nước gần như là chưa có Sự hỗ trợ nếu có thường đến từ một số tổ chức nước ngoài tại Việt Nam như Hội đồng Anh, Trung tâm văn hóa Pháp, Viện Goethe… Hơn nữa, các KGST tại Việt Nam gặp phải nhiều rào cản từ việc cấp phép, kiểm duyệt hay sự thiếu tin tưởng của chính quyền
Không gian sáng tạo - từ góc nhìn nghệ thuật
Trong danh mục các KGST được tổng hợp bởi các báo cáo từ Hội đồng Anh, có nhiều KGST được xuất hiện trong những nghiên cứu về nghệ thuật
Từ góc nhìn của những người nghiên cứu nghệ thuật, nhiều tác giả trong, ngoài nước đã đề cập đến một số KGST tại Việt Nam và xem đây là không gian của nghệ thuật, dành cho nghệ thuật Có thể kể đến những nghiên cứu
quan trọng tiếp cận từ góc nhìn này như: Vietnamese Art and Vietnamese Artists: Experimental Performance Culture in Hanoi’s Alternative Exhibition Spaces (Phản - nghệ thuật của Việt Nam và các nghệ sĩ
Anti-phản - Việt Nam: văn hóa trình diễn thể nghiệm tại các không gian triển lãm
phá cách của Hà Nội) của Nora Taylor (2007) [119], Vietnam comes of age, a new arts complex in Hanoi reveals a generational shift của Elisabeth Rosen
(2013) [128], Nguyễn Như Huy (2013) với chuỗi bài viết và phỏng vấn trên báo Thể thao và Văn hóa [123], [124]
Từng viết rất nhiều về hội họa và nghệ thuật Việt Nam đương đại, Nora
A Taylor - giáo sư về nghệ thuật Nam Á và Đông Nam Á của Trường Mĩ thuật, Viện Mỹ thuật Chicago trong khi lập luận rằng một số nghệ sĩ Việt
Nam đang cố gắng sáng tạo ra một dạng “nghệ thuật phản dòng chính của Việt Nam” [119] thì đồng thời họ cũng đang cố gắng thử nghiệm với các
không gian mới cho nghệ thuật Các tác phẩm thuộc dòng này một mặt vừa thể hiện nội tâm của người nghệ sĩ, mặt khác diễn tả những quan điểm thẳng thắn, trực diện về những vấn đề được xem là nhạy cảm, thậm chí còn gây ra
sự xung đột với giới chức chính quyền vì những nội dung mang đậm tính chính trị Khi nói đến các tác phẩm có tính khiêu khích, đối nghịch, phá vỡ
Trang 3428
mọi định nghĩa về nghệ thuật (như nghệ thuật sắp đặt của Trương Tân tại Viện Goethe, trình diễn nghệ thuật tại nhà sàn Đào Anh Khánh, Nhà sàn Đức…), theo Nora A Taylor, những không gian cho nghệ thuật trình diễn cũng như một sự khiêu khích, thách thức các quy định chuẩn mực trưng bày thông thường tại các gallery và bảo tàng Các địa điểm trưng bày nghệ thuật theo đó không chỉ là bối cảnh đơn thuần cho tác phẩm mà cũng trở thành một yếu tố hình thức Nora A Taylor cũng nhận ra rằng tác giả có các tác phẩm nghệ thuật đương đại ở những thập niên cuối thế kỉ XX tại Việt Nam được xem là “thể nghiệm”, “tiền phong”, “phản dòng chính” thì họ cũng có xu hướng lựa chọn những nơi chốn “bên lề”, “phá cách”, “khu vực ngoại vi” làm địa điểm trưng bày hay không gian cho nghệ thuật trình diễn
Vẫn tiếp cận từ góc độ nghệ thuật, Nguyễn Như Huy (2013) [123],
[124] trong “Một báo cáo vắn tắt về không gian phá cách” chỉ rõ những đặc
trưng nổi bật của các không gian phá cách (alternative space) Theo tác giả, sự hình thành các không gian phá cách trên thế giới, nhìn từ khu Soho - cách nói tắt của South of Houston - phía nam phố Houston, New York ở những thập kỉ
70 của thế kỉ XX chính là chiếc nôi đầu tiên của dạng không gian phá cách,
được cho là xuất phát từ sự phản kháng của giới nghệ sĩ đối với “tính chất phân cấp nặng nề của hệ thống gallery, bảo tàng nghệ thuật” và “tính thương mại của thế giới nghệ thuật New York” Động cơ phản kháng này dẫn đến một
mô hình thực hành nghệ thuật kiểu mới nhấn mạnh “sự sáng tạo, sự bất ngờ, tính tiền phong” đồng thời mở đầu cho một sự thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa tác phẩm và công chúng mà ở đó công chúng thay vì thưởng thức thụ động thì được mời gọi tham gia tích cực hơn vào quá trình tạo ra tác phẩm Mối quan hệ giữa nghệ sĩ, tác phẩm và công chúng vì vậy có tính động, đa chiều, có sự tương tác mạnh mẽ để cùng tạo nghĩa cho tác phẩm
Cũng bởi tính phản kháng nên “đặc trưng quan trọng nhất về mặt khái niệm của mọi không gian phá cách luôn nằm ở sự đối nghịch với mọi dạng
Trang 3529
không gian truyền thống” [123] Nguyễn Như Huy đã tóm tắt sự đối nghịch
đó qua 4 đặc tính: tính trực tiếp, phi thương mại, sự tương tác với các vấn đề địa phương bằng các tư duy và hành động tầm toàn cầu, là một cầu nối và có các chương trình trao đổi với các không gian phá cách khác trong khu vực Sự
ra đời của các không gian phá cách ở Việt Nam, theo Nguyễn Như Huy, cũng giống như sự hình thành các không gian phá cách trên thế giới Ngoài lí do bối cảnh mở cửa và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì còn xuất phát từ
việc “một số ít nghệ sĩ muốn có một không gian để thực hiện dạng nghệ thuật
“khác” với dạng nghệ thuật cũ” Salon Natasha, Nhà sàn Đức, Không gian Ryllega (Hà Nội); Bảo tàng văn hóa Mường (Hòa Bình); New Space Gallary (Huế); Sàn Art, Ga 0, Nhóm Ba hoa Chích chòe (thành phố Hồ Chí Minh) là những ví dụ được kể đến để chứng minh cho “một làn sóng mới các không gian phá cách tại Việt Nam” (các không gian này đều nằm trong danh mục
các KGST trong báo cáo của Hội đồng Anh) Nét khác biệt của không gian phá cách Việt Nam là “tính chất du kích”, hàm ý các hoạt động của các không gian này phần lớn được diễn ra ở các địa điểm không cố định, tạm thời như quán cà phê, các địa điểm cộng cộng nhằm giảm chi phí, để dễ gần hơn với công chúng và đặc biệt là tránh được các nhiêu khê từ việc xin cấp phép cho các loại hình nghệ thuật còn quá mới mẻ vào thời kì đó Nguyễn Như Huy
cho rằng “Ở Việt Nam, theo nghĩa rộng, về mặt hình thức, tất cả các không gian nghệ thuật phi chính thống, và không có mục tiêu lợi nhuận, đều có thể coi là các không gian phá cách” [123], [124]
Qua việc nhìn nhận sự hình thành, lớn mạnh của Zone 9 và trò chuyện với một số người là chủ của KGST nằm trong Zone 9 (hay còn được gọi là “tổ
hợp không gian sáng tạo Zone 9” hay “hợp tác xã Zone 9” - một khu đất bỏ hoang sau khi một công ty dược phẩm dời đi để lại những đổ nát, cũ kĩ, hoang tàn, nhiều nghệ sĩ đã tới đây, tập hợp nhau lại dựng thành một tổ hợp KGST phong cách, mang dấu ấn cá nhân mạnh mẽ), Rosen Elisabeth (2013) cho thấy sức hấp dẫn của tổ hợp không gian này không chỉ giới hạn trong phạm vi
Trang 3630
cộng đồng nghệ thuật mà còn mở rộng kết nối nhiều cá nhân khác trong thành phố Những cuộc phỏng vấn, trò chuyện với chủ các KGST, với người đến tham dự cho thấy “khác biệt”, “cảm giác tự do”, “sáng tạo”, “không có ranh giới” là cách họ nói về các không gian như vậy Đặt câu chuyện về sức hấp dẫn của một khu tổ hợp nghệ thuật sáng tạo nhỏ bé nhưng có ảnh hưởng rộng lớn trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của xã hội Việt Nam, tác giả tìm
kiếm và lí giải những động lực cho hiện tượng này Theo đó, nó phản ánh “sự chuyển đổi mang tính thế hệ”, ở đó con người đô thị, đặc biệt là giới trẻ
dường như đang vô cùng hứng thú với việc tìm kiếm một phong cách sống mới sau thời kì hậu chiến khao khát tiêu dùng Họ bộc lộ một lối tư duy khác trước, độc lập và thực tế hơn Tác giả cho rằng Việt Nam dường như đang
“chạm đến ngưỡng tiếp theo của sự phát triển” [128] Bài viết này đã phát
hiện, lí giải những động thái khác của xã hội Việt Nam và xem đó là căn nguyên, nội lực cho sự ra đời của hàng loạt các KGST, chứ không chỉ là những câu chuyện về nghệ thuật
Có thể thấy, những nghiên cứu trên đây không sử dụng thuật ngữ
“không gian sáng tạo” mà thay vào đó là “không gian phá cách” (alternative space), nhấn mạnh tính phá cách như một đặc trưng tiêu biểu nhất cho các loại không gian này Điểm chung của tất cả các nghiên cứu từ góc nhìn nghệ thuật là đều xem các không gian như một địa điểm dành cho nghệ thuật, trên
đó diễn ra các thực hành nghệ thuật mới mẻ, độc đáo, thể hiện những suy tư hay cả sự phản kháng của các nghệ sĩ đối với nhiều vấn đề trong đời sống Các nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của các không gian này trong việc kết nối các chủ thể sáng tạo, đưa nghệ thuật tới gần hơn với cuộc sống
Như vậy, KGST đã được nghiên cứu từ những góc nhìn khác nhau ở cả các nghiên cứu trong nước và trên thế giới, trong đó chủ yếu tập trung vào vai trò của KGST với công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa, với sự phát triển của nghệ thuật đương đại Tuy nhiên, các lý do này dường như chưa thể giải thích hết những nét riêng biệt của các thực hành tại các KGST cũng như
Trang 3731
lý do của người kiến tạo và người sử dụng KGST trong bối cảnh đô thị Việt Nam đương đại Và nếu chỉ coi KGST như là thành tố cốt lõi để phát triển công nghiệp sáng tạo, từ góc nhìn văn hóa có lẽ ý nghĩa của các KGST đã bị đơn giản hóa, lược bỏ đi nhiều lớp nghĩa khác KGST là khái niệm được chuyển ngữ từ một thuật ngữ nước ngoài (creative hub) nhưng khi được sử dụng, được nói đến ở đây lại mở ra nhiều chiều kích ý nghĩa khác nhau gắn với những động năng riêng có của đô thị Việt Nam
Đặt trong bối cảnh không gian đô thị, nghiên cứu về KGST - nơi diễn
ra những trao đổi, thảo luận tự do, cởi mở, nơi thực hành các giá trị dân chủ,
vì vậy sẽ góp phần nhìn nhận một dạng thức không gian của đô thị, qua đó
phản ánh những thay đổi năng động của bối cảnh đô thị Việt Nam
1.2 Cơ sở lý luận
Luận án tập trung khám phá các thực hành văn hóa và ý nghĩa của các thực hành văn hóa đó trong KGST Câu hỏi nghiên cứu chính được đặt ra trong toàn bộ luận án là KGST có ý nghĩa như thế nào với đời sống văn hóa
đô thị Hà Nội trong bối cảnh đương đại? Xoay quanh câu hỏi nghiên cứu chính, một số câu hỏi nhỏ được đưa ra trong luận án: 1 Những điều kiện kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội nào của đô thị Hà Nội đã góp phần hình thành và dung dưỡng các KGST? 2 Các thực hành văn hóa nào đang diễn ra tại các KGST? Nói cách khác, những thực hành văn hóa nào đã và đang tạo nghĩa cho các KGST? 3 Các thực hành văn hóa trong các KGST có ý nghĩa như thế nào với các nhóm chủ thể kiến tạo Những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nào của đô thị đương đại góp phần hình thành nên các KGST?
Để trả lời cho những câu hỏi trên, luận án sử dụng một số khái niệm và
lý thuyết liên quan:
1.2.1 Một số khái niệm
Không gian sáng tạo
Ở Việt Nam, không gian sáng tạo (creative hub) là khái niệm khá mới, được nói đến nhiều trong khoảng gần 10 năm trở lại đây Khái niệm này được
Trang 3832
xuất hiện kể từ năm 2014 trong một nghiên cứu đầu tiên về KGST của Hội đồng Anh [21] Có thể nói chính Hội đồng Anh là tổ chức tiên phong đưa khái niệm KGST - vốn là một mô hình phát triển quan trọng và quen thuộc trong nền kinh tế sáng tạo phát triển mạnh mẽ ở Vương quốc Anh - vào Việt Nam với mong muốn thúc đẩy công nghiệp sáng tạo Đặt trong bối cảnh sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của nền kinh tế sáng tạo, sự gia tăng các sản phẩm sáng tạo của tầng lớp sáng tạo có thể mang lại doanh thu lớn cho các quốc gia, giải quyết vấn đề việc làm, thay đổi cảnh quan đô thị cũng như góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa Từ kinh nghiệm và thực tiễn của Vương quốc Anh, KGST - với tư cách là các tổ chức và doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật - được coi là yếu tố chủ chốt của nền công nghiệp sáng tạo, góp phần định hình nền kinh tế sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật Theo đó, KGST tồn tại dưới nhiều
mô hình khác nhau như studio (nơi một tập thể các cá nhân hoặc các doanh nghiệp nhỏ cùng là việc trong một không gian), tổ hợp hay trung tâm (bao gồm sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau như quán cà phê, quán bar, rạp chiếu phim, cửa hàng, không gian triển lãm…), lab (phòng thí nghiệm), co-working (các không gian làm việc chung), các không gian trực tuyến (hoạt động theo hình thức online như các trang web hay sử dụng mạng xã hội để kết nối công chúng) Họ xem KGST là nơi kết nối, tụ hội của mạng lưới các doanh nghiệp năng động, những người trẻ sáng tạo và đổi mới, họ kết nối, cùng hỗ trợ và tìm những cơ hội đầu tư, cam kết hướng tới những viễn cảnh tốt đẹp hơn Với tính pha trộn, cởi mở, thích ứng, KGST được coi là những
mô hình kinh doanh mới, hỗ trợ, kết nối cộng đồng kinh doanh, thực hành nghệ thuật và sáng tạo Nhận thấy hiệu quả lớn lao từ mô hình năng động này, Hội đồng Anh đã có nhiều nỗ lực để nới rộng mạng lưới các KGST bằng việc tham gia thiết lập nên Diễn đàn Không gian sáng tạo châu Âu để cùng chia sẻ kiến thức, công cụ và nguồn lực nhằm phát triển các KGST trên thế giới Tại Việt Nam, Hội đồng Anh đã thực hiện hàng loạt dự án trong lĩnh vực công
Trang 39sự hứng khởi của các KGST như là kết quả của những tác động bên ngoài (xu hướng toàn cầu hóa và sự thâm nhập của những hiện tượng văn hóa trên thế giới vào Việt Nam, sự thúc đẩy của bối cảnh phát triển của công nghiệp sáng tạo trên thế giới) và cả những lý do nội tại (như người trẻ tiếp thu cái mới trên thế giới, nhu cầu sáng tạo và kinh doanh…) Điều này hoàn toàn đúng cho các
mô hình KGST theo định nghĩa của Hội đồng Anh, xem KGST là nơi “kết nối”, “sáng tạo” và “có định hướng kinh doanh”
Những nghiên cứu của Hội đồng Anh tại Việt Nam cho thấy KGST là một khái niệm mở và dường như khó có một định nghĩa nào bao quát hết sự
đa dạng của các loại hình không gian hay thậm chí “mỗi không gian là một ví
dụ độc đáo cho khái niệm KGST” [21] Từ chỗ được nhận diện qua ba tiêu chí
“kết nối”, “sáng tạo” và “có định hướng kinh doanh”, đến năm 2018, KGST được định nghĩa rõ ràng, cụ thể hơn: “KGST là một địa điểm, có thể là địa điểm thực hoặc địa điểm trực tuyến, là nơi đem con người sáng tạo đến với nhau Đó là nơi tụ họp, chia sẻ không gian và hỗ trợ cho các hoạt động kết nối, phát triển kinh doanh và thu hút cộng đồng trong các lĩnh vực sáng tạo, văn hóa và công nghệ” [23] Theo đó phạm vi khái niệm KGST thực sự mở
rộng Xét theo địa điểm, KGST có thể có địa điểm cố định hoặc thường xuyên
di chuyển, thuê mượn không gian để tổ chức sự kiện, có thể là địa điểm thực hay không gian trực tuyến Xét về hình thức thì còn đa dạng hơn, có thể là một quán bar, quán cà phê, một không gian làm việc chung (co-working), một
Trang 40có thể sẽ đồng nghĩa với việc giản lược đi tính phong phú, đan xen phức tạp
mà diện mạo đời sống văn hóa đô thị được hình dung từ các KGST nên được phô bày ra một cách tự nhiên trong tính đa dạng, bề bộn
Ở đây khi nói về KGST, điều cần làm rõ chính là tính “sáng tạo” của không gian - đặc điểm khiến cho KGST khác với các loại hình không gian khác Tính sáng tạo của không gian tất nhiên không phải là một đặc điểm sẵn
có, tồn tại trước khi con người hiện diện ở đó cùng với các thực hành văn hóa
mà là một sản phẩm kiến tạo xã hội Khi nghiên cứu về không gian công
cộng, Mitchell (2003) đã cho rằng: “Cái làm cho một không gian trở thành công cộng thường không nằm ở tính công cộng được xác định trước của nó Tính công cộng của không gian được tạo ra khi nó đáp ứng những nhu cầu nhất định, khi một số nhóm này hay nhóm khác sử dụng không gian và hoạt động ở đó làm cho nó trở thành công cộng” (dẫn theo Phạm Quỳnh Phương)
[51] Khi bàn về không gian công, David Koh cho rằng không gian công không chỉ là một không gian vật chất cố định với các chức năng sẵn có, cụ thể
mà là không gian do người sử dụng tạo ra [102] Cũng như vậy trong một nghiên cứu khác về không gian thiêng, Phạm Quỳnh Phương (2010) lập luận rằng không gian thiêng là những không gian được kiến tạo mà ở đó con người đặt cái thiêng vào không gian, định vị nó trong mối tương quan với sự trải nghiệm của cá nhân hay của cộng đồng Không gian gắn với những lớp ý