Ăngghen đã khái quát: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”, giữa ý thức và vật chất, giữa con người với giới tự nh
Trang 1Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khoa Kinh tế & Quản lý nguồn nhân lực
BÀI TẬP LỚN Môn học: Triết học Mác-Lênin
Đề 3: Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức Từ quan điểm này, hãy giải quyết vấn đề về mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay
GVHD: TS Nguyễn Thị Lê Thư
Họ và tên: Trần Khánh Linh
Mã sinh viên: 11218131
Lớp: THMLN_CQ_21
Trang 2Hà Nội – 2022
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
I, MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 4
1, Vật chất 4
2, Ý thức 5
3, Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 7
4, Ý nghĩa phương pháp luận 9
II, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ MÂU THUẪN GIỮA VIỆC KIẾM TIỀN VÀ VIỆC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 10
1, Hiện trạng sinh viên đi làm thêm 10
2, Phân tích vấn đề 10
3, Mâu thuẫn giữa việc đi làm thêm và học tập ở sinh viên 11
4, Giải pháp cân bằng giữa việc làm thêm và học tập của sinh viên 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, triết học có đối tượng nghiên cứu khác nhau Song, tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph Ăngghen đã khái quát:
“Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”, giữa ý thức và vật chất, giữa con người với giới tự nhiên Đây là những vấn đề nền tảng xuyên suốt mọi thuyết triết học trong lịch sử, quyết định sự tồn tại và phát triển của triết học Trong đó, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề mà mọi nhà triết học, mọi học thuyết triết học ở tất cả thời kỳ lịch sử đều phải giải quyết, dù trực tiếp hay gián tiếp Từ đây, các nhà triết gia có thể đưa ra cái nhìn chính xác về sự hình thành thế giới quan, phương pháp luận, xác định bản chất của các trường phái và các hệ thống triết học
Ứng dụng vào thực tiễn, vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức luôn là phương hướng cho mọi hoạt động, là cơ sở cho công cuộc xây dựng và phát triển xã hội và cũng góp phần giải quyết vấn
đề cụ thể đó là: mâu thuẫn giữa việc kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay Vì vậy, để tìm ra biện pháp giải quyết vấn đề phát sinh trong đời sống như mâu thuẫn trên, tìm ra cách thức đạt được những mục tiêu đã đề ra, đồng thời hạn chế căn bệnh chủ quan duy ý chí, không bám sát vào thực tế, tô hồng hiện thực để rồi có cái nhìn lệch lạc và phương hướng phát triển sai lệch, chúng ta cần phải hiểu rõ bản chất về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Từ những lý do nêu trên, trong quá trình học tập và tìm hiểu về bộ môn Triết học Mác – Lênin, em quyết định chọn đề tài: “Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Từ quan điểm này, hãy giải quyết vấn đề về mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay” Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng bởi vì vốn hiểu biết còn hạn hẹp nên bài làm khó có thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của
cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4I, MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1, Vật chất
1.1, Quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ về vật chất
Trước sự ra đời của triết học Mác – Lênin, nhiều trường phái triết học đã đưa ra những quan niệm khác nhau về vật chất Trong triết học cổ đại, vật chất đơn giản xuất phát từ những quan sát về thế giới tự nhiên Những quan niệm bước đầu này về khái niệm vật chất đã làm rõ tính khách quan của phạm trù này, đặt nền móng cho các nhà triết học duy vật về sau phát triển thêm quan điểm về vật chất; tuy vậy, những quan niệm này bó hẹp vật chất trong các dạng cụ thể, được suy luận bằng các giả định khoa học mang tính trực quan và chưa được khoa học kiểm chứng Tiến đến triết học cận đại, khi tư duy con người phát triển và mở rộng hơn nhiều, khái niệm vật chất cũng có nhiều thay đổi đáng kể Tuy nhiên, dưới cái nhìn siêu hình, các nhà triết học cận đại đã không đưa ra được sự khái quát trong khái niệm vật chất; không chỉ vậy, nhiều mâu thuẫn cũng đã nảy sinh trong việc định nghĩa vật chất trong thời kì này
1.2, Quan điểm về vật chất trong Triết học Mác-Lênin
a, Định nghĩa vật chất
Ph Ăngghen cho rằng để có được quan điểm đúng đắn và đầy đủ nhất về vật chất, trước hết ta phải xem nó như một phạm trù triết học độc lập chứ không chỉ là một sản phẩm chủ quan của tư duy; ông cũng đưa ra quan điểm về tính vật chất: đó chính là đặc tính chung, thống nhất của các sự vật, hiện tượng, và tính tồn tại độc lập, thống nhất mà không phụ thuộc vào ý thức
Kế thừa quan điểm này, V.I Lênin đã tổng hợp và định nghĩa vật chất đầy đủ như sau:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Định nghĩa của V.I.Lênin đã bao hàm các nội dung cơ bản:
- Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên
ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức
Trang 5- Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con
người thì đem lại cho con người cảm giác
- Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của
nó
b, Phương thức tồn tại của vật chất
Vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy Nguồn gốc của vận động đến từ bên trong sự vật, hay là “tự thân vận động” và mang tính phổ biến Có năm hình thức vận động cơ bản: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội Ngoài ra, sự vận động không ngừng của vật chất còn bao hàm sự đứng im trong tương đối Ở đây đứng im mang tính tương đối, còn vận động lại mang tính tuyệt đối Đứng im còn là một hình thức vận động đặc biệt
c, Hình thức tồn tại của vật chất
Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động; trong
đó không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình
2, Ý thức
Theo triết học Mác- Lênin: “Ý thức là một phạm trù được quyết định bởi
phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo” Ý thức có mối
quan hệ biện chứng với vật chất
2.1, Nguồn gốc của ý thức
a, Nguồn gốc tự nhiên
- Hoạt động của bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật
chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức con người càng phong phú và sâu sắc
Trang 6- Giới tự nhiên: Trái đất hình thành trải qua quá trình tiến hoá lâu dài
dẫn đến sự xuất hiện con người Đó cũng là lịch sử phát triển năng lực phản ánh của thế giới vật chất từ thấp đến cao và cao nhất là trình độ phản ánh - Ý thức Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi bộ óc con người Đó là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ
có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất
b, Nguồn gốc xã hội
- Nhân tố lao động : Ý thức được hình thành không phải do tác động
thuần túy của thế giới khách quan vào bộ óc người mà chủ yếu là
do hoạt động thực tiễn của con người cải tạo thế giới khách quan làm biến đổi thế giới Nhờ tác động vào thế giới mà con người khám phá ra những bí mật của thế giới, ngày càng làm phong phú
và sâu sắc ý thức của mình về thế giới
- Nhân tố ngôn ngữ: Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn
đối với sự tồn tại và phát triển của ý thức Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là “vỏ vật chất” của tư duy; là hiện thực trực tiếp của ý thức; là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội - lịch sử Ý thức là một hiện tượng có tính xã hội, do
đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được
2.2, Bản chất của ý thức
Theo Mác thì “ Ý thức chỉ là các vật chất được di chuyển vào đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong đó” Còn Lênin thì cho rằng “Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan” Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội Đó còn là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, mục đích rõ rệt Từ kết quả
nghiên cứu cho thấy: “Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có
của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử.”
2.3, Kết cấu của ý thức
Trang 7- Các cấp độ của ý thức bao gồm: tự ý thức, tiềm thức và vô thức.
Trong đó tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình
trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài, là yếu tố quan
trọng của ý thức, đánh dấu trình độ phát triển của ý thức Tiềm
thức là những hoạt động tâm lý diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của
ý thức, những tri thức của chủ thể gần như đã trở thành bản năng
Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều
khiển, nằm ngoài phạm vi của lý trí mà ý thức không thể kiểm soát được trong một lúc nào đó
- Các lớp cấu trúc của ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, lý trí Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất, ý thức mà không bao hàm tri
thức thì ý thức chỉ là sự trừu tượng trống rỗng, không giúp ích
được gì Tình cảm là một hình thái đặc biệt phản ánh quan hệ giữa
người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan Muốn vượt qua khó khăn để đạt tới mục đích, chủ thể nhận thức
phải có ý chí, quyết tâm cao Ý chí là những cố gắng, nỗ lực, khả
năng huy động mọi tiềm năng trong mỗi con người vào hoạt động
để có thể vượt qua mọi trở ngại, đạt mục đích đề ra
3, Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, “Vật chất và ý thức có mối
quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.”
3.1, Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Vật chất “sinh” ra ý thức, vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người cách đây từ 3 đến 7 triệu năm, mà con người
là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thửc - một thuộc tính của bộ phận con người - cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh
Trang 8ra Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức
Ý thức dưới bất kỳ hình thức nào, suy cho cùng, đều là phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người Hay nói cách khác, có thế giới hiện thực vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó, được phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn có tính xã hội - lịch sử của loài người là yếu
tố quyết định nội dung mà ý thức phản ánh Sự phát triển của hoạt động thực tiễn cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua các thời đại từ mông muội tới văn minh, hiện đại
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức
Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Sự phản ánh của con người là phản ánh tích cực,
tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn Khác với chủ nghĩa duy vật
cũ, xem xét thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa là phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động phát triển của ý thức.
Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo Sự vận động, biến đổi không ngừng của thế giới vật chất, của thực tiễn là yếu tố quyết định sự vận động, biến đổi của tư duy, ý thức của con người Cùng với mỗi bước phát triển của sản xuất, tư duy, ý thức của con người cũng ngày
Trang 9càng mở rộng, đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú
Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được biểu hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sổng vật chất đối với đời sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Trong xã hội, sự phát triển của kinh tế xét đến cùng quy định sự phát triển của văn hóa; đời sống vật chất thay đổi thì sớm muộn đời sống tinh thần cũng thay đổi theo
3.2, Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức
là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất Vì vậy, ý thức một khi ra đời thì có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất
- Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua
hoạt động thực tiễn của con người Hoạt động thực tiễn đó không phải là hoạt động bản năng như loài vật mà là hoạt động xã hội và
là hoạt động có sự tham gia và chi phối của nhân tố ý thức, đặc biệt là nhân tố tri thức Nó quyết định sự thành công hay thất bại, quyết định tính hiệu quả hay không hiệu quả của các hoạt động thực tiễn làm cải biên khách quan
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực và tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức; còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại với các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan
4, Ý nghĩa phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng
Trang 10thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn
của con người Nguyên tắc đó là: Trong việc giải quyết mọi vấn đề của
nhận thức và thực tiễn cần phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch, mục tiêu ta đều phải thực tế khách quan từ những điều kiện, tiền
đề vật chất hiện có Phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, nếu không phải gánh chịu những hậu quả tai nạn khôn lường Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ và phải biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với tập thể; phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi trong nhận thức
và hành động của mình
II, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ MÂU THUẪN GIỮA VIỆC KIẾM TIỀN VÀ VIỆC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
1, Hiện trạng sinh viên đi làm thêm
Theo nghiên cứu, đối tượng lao động tại Việt Nam chiếm số lượng đông đảo là các bạn trẻ trong độ tuổi từ 18-23 tuổi, đặc biệt là các bạn sinh viên đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học trên toàn quốc Nhóm tuổi sinh viên cũng phải dành thời gian để học tập trên lớp tuy nhiên nhiều bạn lựa chọn việc đi làm thêm ngoài giờ họ, xen kẽ để có thể tích lũy thêm kinh nghiệm, va chạm bên ngoài xã hội để rèn luyện kĩ năng hay chỉ đơn giản là muốn tự kiếm thêm thu nhập để trang trải cuộc sống tự lập Vì thế mà có khá nhiều hình thức việc làm xuất hiện như làm việc part time, làm theo giờ, theo buổi, công việc trả lương theo từng đơn vị sản phẩm, giúp các bạn sinh viên có thể dễ dàng lựa chọn việc làm thêm phù hợp với thời gian biểu của bản thân
Thế nhưng, mọi vấn đề đều có hai mặt, mặt lợi của việc làm thêm là những điều kể ở trên, còn mặt hại thì sao? Không ít sinh viên đã nhận thức sai về việc vừa kiếm tiền vừa đi học; không biết cách sắp xếp thời