1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Một cách tiếp cận Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam: Phần 1 - PGS. TS Trương Minh Dục

298 10 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một cách tiếp cận Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam
Tác giả Trương Minh Dục, Lê Văn Định
Người hướng dẫn ThS. Doan Tuan Anh, ThS. Do Van Bien, TS. Nguyen Khac Canh, TS. Nguyen Anh Dung, TS. Vu Truong Giang, TS. Nguyen Duy Hanh, PGS. TS. Nguyen Minh Hoa, ThS. Luu Khung Hoa, TS. Truong Quang Khai, PGS. TS. Nguyen Van Manh, PGS. TS. Nguyen Huu Minh, ThS. Quach Van Nghiem, Tran Thi Cam Nhung, PGS. TS. Ho Tan Sang, ThS. Do Hung Thao, ThS. Luu Trung Thuy, PGS. TS. Nguyen The Tram, ThS. Phan Van Trinh, ThS. Nguyen Thi Trieu, TS. Pham Ngoc Trung, Nguyen Truong, PGS. TS. Le. Van Yen, ThS. Nguyen Thi Yen
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam
Thể loại Sách tham khảo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 298
Dung lượng 46,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam một cách tiếp cận phần 1 cung cấp cho người học những kiến thức như: tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu văn hoá và lối sống đô thị; các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển văn hoá và lối sống đô thị Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

PGS, TS TRUONG MINH DUC -TS LE VAN ĐỊNH

(Dong chit bien)

VAN HOA VA LOI SONG

ĐÔ THI VIET NAM

ol aon lidp can

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 2

VĂN HOA VA LOI SONG

ĐÔ THỊ VIỆT NAM

Met cách bếp cận

Trang 3

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam

Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam - Một cách tiếp cận

Trương Minh Dục (ch.b.), Lê Văn Định, Trương Minh Hòa - H :

Trang 4

PGS, TS TRUGNG MINH DUC - TS LÊ VĂN ĐỊNH

(Đông chủ biên)

VĂN HÓA VÀ LỐI SỐNG

ĐÔ THỊ VIỆT NAM

Met các lidp can

TRUONG DB’ HOC THY ` MOT

TRUNG TAM THONG TW-THU VEN

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIÁ

HÀ NỘI - 2010

Trang 5

DONG CHU BIEN:

PGS, TS TRUONG MINH DUC

TS LE VAN DINH

TAP THE TAC GIA:

ThS DOAN TUAN ANH

ThS DO VAN BIEN

TS NGUYEN KHAC CANH

TS NGUYEN ANH DUNG

TS VŨ TRƯỜNG GIANG

TS NGUYEN DUY HANH

PGS, TS NGUYEN MINH HOA ThS LUU KHUGNG HOA

TS TRUONG QUANG KHAI

PGS, TS NGUYEN VAN MANH PGS, TS NGUYEN HUU MINH

ThS QUACH VAN NGHIEM

TRAN TH] CAM NHUNG

PGS, TS HO TAN SANG

ThS DO HUGNG THAO

ThS LUU TRUNG THUY

PGS, TS NGUYEN THE TRAM ThS PHAN VAN TRINH

ThS NGUYEN THI TRIEU

TS PHAM NGOC TRUNG

NGUYEN TRUONG

PGS, TS LE VAN YEN

ThS NGUYEN THI YEN

Trang 6

|

|

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Cùng với sự hình thành và phát triển của lịch sử, đô thị hóa ra

đời là một tất yếu khách quan Đô thị hóa ra đời kéo theo sự hình thành văn hóa và lối sống đô thị Một lối sống năng động, linh hoạt, nhạy bén, phong phú, độc lập, hiệu quả nhưng vẫn chịu ảnh hưởng một phần của truyền thống dân tộc

Sự hình thành, phát triển văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam

được vun đắp thông qua các hoạt động lao động sản xuất, chiến

đấu, học tập, giao tiếp xã hội trong nội bộ quốc gia, trong đó có sự giao lưu văn hóa và lối sống với các dân tộc khác

Trải qua quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa nói chung, lối

sống đô thị nói riêng được phát triển và ngày càng phong phú đa

đạng Với bản sắc văn hóa và lối sống truyền thống qua quá trình tiếp xúc với văn hóa và lối sống phương Đông, phương Tây và văn

hóa xã hội chủ nghĩa, những nét đặc sắc của văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam được nâng cao trên nền văn hóa dân tộc và tính nhân văn của thời đại

Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, để nhìn nhận chính

xác về thực trạng và góp phần xây dựng văn hóa và lối sống đô thị

Việt Nam theo hướng hiện đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

xuất bản cuốn sách Văn hóa 0è lối sống đô thị Việt Nam - một

cách tiếp cận của tập thể tác giả do PGS, T8 Trương Minh Dục -

TS Lê Văn Định đồng chủ biên Nội dung cuốn sách được chat lọc

từ Đề tài nghiên cứu khoa học KX.03/06-10 thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước của Học viện Chính trị - Hành

chính khu vực III triển khai nghiên cứu từ năm 2009.

Trang 7

Nội dung bao gồm năm phần chính:

Phân thứ nhất, trình bày tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu văn hóa và lối sống đô thị

Phân thứ hai, trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển văn hóa và lối sống đô thị ở Việt Nam

Phần thứ ba, dễ cập đến văn hóa và lối sống đô thị Thủ đô Hà Nội và các đô thị vùng Bắc Bộ

Phần thứ tư, đề cập đến văn hóa và lối sống đô thị vùng Trung

Bộ và Tây Nguyên

Phần thứ năm, phân tích văn hóa và lối sống đô thị thành phố

Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ

Cuốn sách đi sâu phân tích sự hình thành, phát triển văn hóa

và lối sống trong xã hội đô thị hiện đại; tác động của đô thị hóa

cùng các ảnh hưởng của kinh tế, chính trị, giáo dục - đào tạo đối với

quá trình hình thành và biến đổi văn hóa và lối sống đô thị Việt

Nam, đồng thời đi sâu phân tích những đặc trưng về văn hóa, lối

sống ở một số đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí

Minh, Hạ Long, Đà Nẵng, Hội An và các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ,

Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 9 năm 2010 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 8

LOI GIGI THIEU

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đô thị hóa mang tính tất yếu khách quan, là kết quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đó là quá trình biến đổi xã hội mang tính đa điện, không chỉ là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực phì nông nghiệp mà còn là quá trình biến đổi sâu sắc trong đời

sống văn hóa và lối sống của người dân Sự biến đổi môi

trường sống của các cộng đồng dân cư, dẫn đến những thay đổi trong văn hoá và lối sống của họ Như vậy, đô thị hóa bao

giờ cũng kéo theo sự hình thành, phát triển của uăn hóa va lối sống đô thị trong các cộng đồng cư dân Thực chất, đó là

quá trình chuyển đổi uăn hóa uè lối sống nông thôn sang uăn

hóa uò lối sống đô thị

Trong hơn 20 năm đổi mới và phát triển kinh tế thị trường vừa qua, nhất là dưới tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã diễn ra nhanh và sôi động hơn Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định trong một thời gian đài, công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP, kết cấu hạ tầng đô thị đã được đầu tư nâng cấp, mở rộng, hiện đại hóa; sự mở rộng quy mô, địa giới hành chính của nhiều đô thị, sự xuất hiện của các đô thị mới, các khu công nghiệp, khu kinh tế, v.v

7

Trang 9

đã tăng tốc quá trình đô thị hoá làm cho tỷ trọng dân cư đô

thị ở Việt Nam tăng nhanh hơn nhiều so với các nước thời kỳ

trước Đô thị ở nước ta không những phát triển nhanh về số lượng mà ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn đối với sự phát triển của đất nước, điển hình là các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hê Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ

Sự tăng tốc, mở rộng quá trình đô thị hóa trong thời gian

gần đây đã có tác động nhiều chiều đến văn hóa và lối sống ở

các đô thị Việt Nam, đặc biệt là ở các đô thị lớn Sự thay đổi

của đời sống đô thị đang tác động mạnh đến đời sống văn hóa

và lối sống của người dân đô thị Những biến đổi này đang

chứa đựng trong nó cả những nhân tố tích cực lẫn tiêu cực

Vấn để đặt ra là phải nhận thức đúng thực trạng văn hóa và

lối sống đô thị hiện nay để định hướng, phát huy các mặt tích cực, giảm thiểu các mặt tiêu cực của nó, hướng tới mục tiêu

phát triển đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Vì vậy, để xây dựng uăn hóa 0ò lối sống đô thị theo hướng uăn mình, tiến bộ trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay, một yêu câu bức thiết là phải đánh giá đúng thực trạng uăn hóa uò lối sống đô thị Việt

Nam để có giải pháp phù hợp

Trong khuôn khổ Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX 03/06 - 10, từ năm 2009 Học viện Chính trị - Hành chính khu vực HI triển khai để tài nghiên cứu

"Văn hóa uò lối sống đô thị trong giai đoạn đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay" (mã số: KX

03 20/ 06 - 10) nhằm đánh giá lại thực trạng văn hóa và lối

sống đô thị trong quá trình đô thị hóa, tìm ra những nguyên

nhân của thành công, tồn tại của quá trình xây dựng văn hóa

và lối sống đô thị thời gian qua, rút ra những bài học kinh

Trang 10

nghiệm và để ra những giải pháp nhằm xây dựng văn hóa và

lối sống đô thị Việt Nam theo hướng văn minh, tiến bộ

Văn hóa và lối sống đô thị là một vấn để chưa được

nghiên cứu nhiều, cuốn sách Văn hóa uè lối sống đô thị Việt Nam - một cách tiếp cận chỉ mới là kết quả nghiên cứu bước đầu của nhóm tác giả để tài Mặc dù đã có nhiều cố

gắng, song cuốn sách chắc chắn còn nhiều hạn chế Hy vọng, đây là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách trong quá trình xây dựng văn hóa, lối sống đô thị giai đoạn đẩy mạnh

công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH KX.03/06 -10

GS, TS Duong Phi Hiép

Trang 11

Phần thứ nhất

VĂN HÓA VÀ LỐI SỐNG ĐÔ THỊ -

CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP

TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU

11

Trang 12

ị |

|

TONG QUAN CO SO LY LUAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU

VĂN HÓA VÀ LỐI SỐNG ĐÔ THỊ

TS LÊ VĂN ĐỊNH"

Có thể khẳng định, chưa có thời đại nào mà văn hóa, lối

sống của con người lại thường xuyên biến đổi nhanh, mạnh như hiện nay Và không ở đâu, sự biến đổi về văn hóa, lối sống lại diễn ra nhanh chóng, phức tạp, nhiều chiều như ở

khu vực đô thị Một mặt, sự biến đổi đó là kết quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ trong thời đại công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa vốn xuất phát và

vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị; nhưng mặt khác,

những sự biến đổi đó lại đang có những tác động nhiều chiều, phức tạp lên sự phát triển các lĩnh vực đời sống không chỉ của các đô thị mà của cả những khu vực xung quanh, của các quốc gia, dân tộc, nhân loại Chính những tác động đó đã, đang và sẽ khiến rất nhiều người, ở nhiều nơi trên thế giới quan tâm nghiên cứu văn hóa, lối sống theo nhiều góc độ nhằm phục vụ nhiều mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội khác

” Học viện Chính trị - Hành chính khu vue HI

18

Trang 13

nhau Trong thời gian qua, ở nước ta cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, lối sống nói chung, văn hóa, lối sống đô thị nói riêng với các góc độ tiếp cận khác

nhau như: văn hóa học, đạo đức học, sử học, xã hội học, tâm

lý học, triết học, nhân loại học, Mỗi công trình nghiên cứu

và mỗi góc độ tiếp cận đều có những đóng góp nhất định vào

việc định dạng, định hướng sự biến đổi - phát triển của văn

hóa, lối sống Việt Nam nói chung, văn hóa, lối sống đô thị Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nói riêng

1 Khái niệm văn hóa và văn hóa đô thị

a) Văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến các mặt đời sống vật chất

và tỉnh thần của con người

Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào

thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm

lĩnh quyền lực siêu nhiên Theo bộ 7 Hải (xuất bản năm 1989) thì văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa'

Nếu hiểu theo nghĩa gốc từ Hán Viét: Van 1a dep, hoa 1a

quá trình biến đối thì văn hóa là quá trình con người vươn tới

cái đẹp, vươn tới sự hoàn thiện theo bản chất người

Theo gốc từ Latinh, văn hóa.(eulture) có nghĩa ban đầu là trồng trọt, gieo cấy gợi cho chúng ta biết ngay từ đầu, văn

1 Xem Lương Văn Kế: Thế giới đa chiều, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2007

Trang 14

Trải qua quá trình phát triển, cùng với sự gia tăng mức

độ quan tâm của nhân loại đối với văn hóa, các định nghĩa về

văn hóa cũng ngày càng nhiều thêm Cho đến nay, nhân loại

đã có hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn định nghĩa khác nhau về văn hóa Sự đa dạng trong quan niệm, trong cách diễn đạt này thể hiện sự khác nhau của con người trong cách

tiếp cận, trong mục tiêu nghiên cứu văn hóa Tuy nhiên, tùy

theo mục đích, phương pháp, góc độ tiếp cận, mỗi định nghĩa

thường chỉ nhấn mạnh một phương điện nào đó của văn hóa Một số nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới đã phân các định nghĩa về văn hóa thành 10 nhóm như sau:

Nhóm 1, tiếp cận văn hóa chủ yếu ở góc độ nhân loại học cho rằng, văn hóa là tổng thể kết quả các loại hoạt động, các phong tục, tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng, được xem như

là tổng hợp tất cả những gì con người sáng tạo ra cũng như phương thức sử dụng chúng nhằm thỏa mãn các nhu cầu sống của con người và xã hội loài người

Nhóm 2, tiếp cận văn hóa chủ yếu từ góc độ lịch sử văn hóa, cho rằng văn hóa là tất cả những gì con người đã sáng

tạo ra, được con người lưu giữ và truyền bá từ thế hệ này

sang thế hệ khác

Nhóm 3, tiếp cận văn hóa từ góc độ xã hội học cho rằng,

văn hóa là cách sống của mỗi cá nhân, cộng đồng do hoàn

cảnh sống (tự nhiên - xã hội) xung quanh quy định

Nhóm 4, định nghĩa văn hóa từ góc độ giá trị học cho rằng,

văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tỉnh thần của một nhóm người, một cộng đồng, một dân tộc và toàn thể xã hội loài người

Trang 15

Nhóm õ, tiếp cận văn hóa chủ yếu từ góc độ tâm lý học cho

rằng, văn hóa là một trong những phương thức thích nghi chủ

yếu của con người với môi trường xã hội

Nhóm 6, tiếp cận văn hóa chủ yếu ở góc độ tâm lý xã hội học cho rằng, văn hóa là cái mà con người học được trong quá

trình sống, là sự "tập nhiễm xã hội" chứ không phải là một đi

sản mang tính di truyền

Nhóm 7, tiếp cận văn hóa ở góc độ cấu trúc học khi nhấn

mạnh, văn hóa như là một hệ thống những nhân tố tác động lẫn nhau thông qua những nhân cách khác nhau

Nhóm 8, tiếp cận văn hóa chú ý chủ yếu đến khía cạnh tư

tưởng cá nhân, xem văn hóa là dòng tư tưởng chuyển từ cá nhân sang cá nhân bằng phương tiện đặc biệt như lời nói hoặc sự bắt chước

Nhóm 9, tiếp cận văn hóa từ góc độ thiết chế văn hóa, coi văn hóa là sự tổ chức, sắp xếp những hoạt động văn hóa theo

các ý tưởng quản lý của con người

Nhóm 10, tiếp cận văn hóa theo quan niệm của Tổ chức văn hóa - khoa học - giáo dục Liên Hợp quốc (UNESCO) xem văn hóa là yếu tố nội sinh của sự phát triển xã hội, là động lực

và là hệ điều chỉnh nhận thức, hoạt động sống của con người Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau Khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất trong nhân loại học và xã hội học, trong đó, văn hóa bao gồm không chỉ

là những gì liên quan đến đời sống tỉnh thần mà gồm cả mặt vật chất trong đời sống con người

Với cách nhìn khoa học, biện chứng, đa chiều về văn hóa, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã có

16

Trang 16

những quan điểm thuyết phục về văn hóa Ngay trong những tác phẩm đầu tay, C Mác, Ph Ăngghen đã khẳng định, bản

chất “cố hữu” của con người là văn hóa, mọi hoạt động của con người đều hướng đến văn hóa Ngay trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất nhằm đảm bảo sự sinh tổn, con người cũng đã sáng tạo ra văn hóa bởi bản chất con người luôn sáng tạo theo quy luật của cái đẹp

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã rất quan tâm

đến vấn đề van hóa Người đã viết: “Vì lẽ sinh tổn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát

minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn

giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ

những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là

sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đời hỏi của sự sinh tên”

Rõ ràng, đó là cách tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất - tiếp cận thiên về nhân loại học và xã hội học Theo đó, văn hóa không chỉ bao gồm những sản phẩm vat chat va tinh

thần do con người sáng tạo ra mà còn bao gồm cả "phương thức sử dụng" những sản phẩm đó nhằm thích ứng nhu cầu

đời sống và đòi hỏi của sự sinh tôn Từ đó, Người nhấn mạnh

“Năm điểm lớn xây dựng nên uăn hóa dân tộc

1- Xây dựng tâm lý: tỉnh thần độc lập tự cường

2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho

quần chúng

1.`Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

IRÙIG810C THỦ LUẾT ` [TR Ta HOW TH “HUE 17

Trang 17

3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội

4- Xây dựng chính trị: đân quyền

5- Xây dựng kinh tế”

Không dừng lại ở quan niệm văn hóa theo nghĩa rộng, về

sau nay, Hồ Chí Minh thường dé cập đến văn hóa với nghĩa hẹp hơn, đó là đời sống tính thần của xõ hội, thuộc uê kiến trúc thượng tầng Trong đó, văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội tạo thành bốn vấn để lớn của sự

phát triển đất nước Theo quan điểm của Người, bốn vấn để

đó có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau, cái này

là cơ sở của cái kia, Người còn nói: "Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” Nói cách khác, văn hóa phải thẩm thấu và định hướng các hoạt động kinh tế, chính trị theo các mục tiêu: do con người và vì con người, vì sự phát triển của con người hướng tới “chân”, “thiện”, “mỹ”, Đây là quan điểm đúng đắn, có giá trị thiết thực trong thời đại ngày nay, bởi trong thực tế, nhiều lúc, nhiều nơi, có người đã tuyệt đối hóa vai trò của các yếu tố kinh tế và chính trị, xem nhẹ, thậm chí coi thường các nhân tố văn hóa - tỉnh thần, nhất là các giá trị đạo đức nhân văn, Vì vậy mà, phát triển kinh tế

không đi cùng với phát triển văn hóa - xã hội, những thành

tựu kinh tế đạt được không đi cùng với những tiến bộ xã hội, phát triển kinh tế nhưng môi trường sống (xã hội và tự nhiên) bị ô nhiễm, mức độ an ninh, an toàn xã hội không cao;

phát triển kinh tế nhưng đời sống chính trị phức tạp, thiếu

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr 431

2 Hê Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr 368-369

18

Trang 18

ổn định, đời sống dân chủ chưa được thiết lập, đến lượt

mình, những nhân tố này tạo nên những nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững

Như vậy, nếu khái quát tất cả các định nghĩa trên, ở

những nét chung nhất, có thể thấy rằng, nói đến uỡn hóa là nói đến các giá trị uột chất uà tỉnh thần uà cách thức mà con

người sáng tạo ra trong quá trình sống, hoạt động, phát triển của minh Văn hóa là kết quả của sự phát triển những năng

lực bản chất nhất của con người trong những điêu biện sống nhất định, được lưu truyền qua nhiêu thế hệ Đến lượt chúng,

thông qua sự tác động đến định hướng giá trị, đến phương

thức, hiệu quủ hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân mò uăn hóa lại đóng udi trò điều chỉnh, định hướng, thúc đẩy sự phát

triển của con người uà xã hội

Với ý nghĩa như vậy, văn hóa có thể được xem xét như

một phức hợp bao gồm nhiều yếu tố như:

Biểu tượng và hệ thống tri thức của con người về tự nhiên, xã hội Biểu tượng là bất cứ cái gì mang một ý nghĩa

cụ thể được các thành viên của một cộng đồng người nhận , biết Âm thanh, hình ảnh, hành động của con người, hệ

thống những ký tự - chữ viết đều là biểu tượng văn hóa

Biểu tượng văn hóa thay đổi theo thời gian và cũng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong những nền văn hóa khác nhau Ý nghĩa tượng trưng là nền tắng của mọi nền văn hóa, nó tạo cơ sở thực tế cho những cá nhân trải nghiệm trong các tình huống xã hội và làm cuộc sống trở nên có ý nghĩa Khi thâm nhập vào một nền văn hóa với những biểu tượng văn hóa có nhiều khác biệt người ta có thể thấy rõ vai trò te lớn của biểu tượng văn hóa Trong mọi nền văn hóa, con người đều sắp xếp biểu tượng thành ngôn ngữ, đó là hệ

19

Trang 19

thống các ký hiệu có ý nghĩa chuẩn giúp cho các thành viên trong xã hội có thể truyền đạt được với nhau Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất để chuyển giao văn hóa, làm cho văn hóa có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngôn ngữ cũng là nền tảng cho trí tưởng tượng của con người do nó được liên kết bởi các ký hiệu một cách gần như

vô hạn và giúp cho con người có khả năng sáng tạo Ngôn

ngữ ảnh hưởng đến những cảm nhận, suy nghĩ của con người

về thế giới đồng thời truyền đạt cho cá nhân những chuẩn tắc, giá trị quan trọng của một nền văn hóa

Các giá trị và chuẩn mực văn hóa dưới dạng biểu tượng,

khuôn mẫu, truyền thống chi phối đời sống thường nhật

của cá nhân, cộng dồng Trong quá trình trưởng thành, con người học hỏi hệ thống các giá trị và chuẩn mực văn hóa từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội và thông qua đó xác định cách thức suy nghĩ và hành động theo những giá trị và chuẩn mực của nền văn hóa Giá trị và chuẩn mực văn hóa cũng luôn thay đổi do những xung đột trong hệ thống các giá trị, chuẩn mực giữa các cá nhân hoặc giữa các

nhóm trong xã hội, hoặc xung đột ngay trong chính bản thân

từng cá nhân

Cách thức biểu hiện của văn hóa thông qua hành vi và

lối sống của cá nhân, nhóm, cộng đồng người; qua các loại hình sinh hoạt văn hóa gồm các hoạt động sáng tạo, truyền

bá, hưởng thụ và phát triển văn hóa (các hoạt động sáng tạo

và hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, các lễ hội, các thiết chế

văn hóa, các sản phẩm chứa đựng những giá tri van héa )

Ngoài các yếu tố phi vật thể “vô hình” như các giá trị, chuẩn mực, văn hóa còn bao gồm những sản phẩm sáng tạo 20

Trang 20

hữu hình của con người, như các quần thể kiến trúc, hệ thống phương tiện giao thông, hệ thống máy móc thiết bị,

Văn hóa vật thể “hữu hình” và phi vật thể “vô hình” có tương quan chặt chế với nhau: trong khuôn khổ một nền văn hóa, văn hóa vật thể “hữu hình” phản ánh những giá trị văn hóa

phi vật thể “vô hình” (hay văn hóa tình thần) nhất là phản

ánh những giá trị mà nền văn hóa đó coi là quan trọng Ngược lại, văn hóa hữu hình không những chuyển tải văn bóa “vô hình” mà cồn có thể làm thay đổi những văn hóa hữu hình

Tính đa dạng uăn hóa: Trong một nền văn hóa, những kbác biệt về địa bàn cư trú, giai tầng xã hội, điều kiện sống,

tuổi tác, đặc trưng dân tộc, đã làm hình thành những mẫu

hình văn hóa khác nhau như văn hóa nông thôn, văn hóa đô

thị, văn hóa các nhóm tuổi, văn hóa các cộng đồng dân tộc,

các cộng đồng theo đức tin, Có thể nói rằng, tính đa dạng của con người trong đời sống cá nhân là cơ sở quan trọng đầu tiên tạo ra tính đa dạng và tính thống nhất trong văn hóa

Văn hóa va uốn mình: Thông thường, văn mình được

dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất - tỉnh thần của

nhân loại ở một thời kỳ lịch sử nào đó Chẳng hạn, nhà tương lai học Alvin Tofler đã sử dụng khái niệm văn minh như vậy

để phân chia lịch sử thành păn mình tiền nông nghiệp, van

mình nông nghiệp, uăn mình công nghiệp 0à uăn mình hậu

công nghiệp Có người lại cho rằng, văn mình là sự thể hiện

những hình thức cụ thể của văn hóa trong các lĩnh vực khác

nhau của đời sống xã hội như lao động sản xuất, lối sống, hệ

chuẩn mực ứng xử và khuôn mẫu hành vi, Trong thực tế,

người ta đã chứng kiến có những tộc người tuy chưa đạt đến trình độ của một nền văn mình nhưng vẫn cố nền văn hóa

21

Trang 21

văn hóa đã viết: Khi nghiên cứu văn hóa không nên đặt mục tiêu là xác định nó lớn hay bé, mà nên xem nó có độc đáo hay không, có lạ lẫm hay không, có những sáng tạo gì, có đóng góp gì và đặc biệt là nó có đóng góp gì cho văn hóa chung của nhân loại'

b) Văn hóa đô thị

Để hiểu uăn hóa đô thị, trước hết phải hiểu đô thị lò gì?

Trước khi có loại hình tổ chức xã hội đô thị, xã hội loài

người đã trải qua hàng triệu năm sống hòa lẫn với thiên nhiên, kiếm sống những loại sản vật có sẵn trong tự nhiên thông qua săn bắt và hái lượm Trong một thời gian dài như vậy, con người chưa biết trồng trọt, chăn nuôi mà chỉ trực

tiếp sử dụng những sẵn vật có sẵn trong tự nhiên Vì vậy, văn hóa xã hội người lúc đó phổ biến gắn với các cộng đồng

thân tộc, thị tộc, bộ lạc với kiểu văn hóa phổ biến là du canh,

du cư Trong giai đoạn phát triển tiếp theo của lịch sử loài

người, khi nghề trồng trọt, chăn nuôi ra đời và ngày càng trở nên phổ biến thì con người từ bỏ dần cuộc sống du canh, du

cư Phương thức sản xuất nông nghiệp (trồng trọt và chăn

nuôi) đã định hình phương thức sống định cư trong các điểm dân cư gợi là nông thôn Khi đó, văn hóa nông thôn trở nên

phổ biến

1 Xem Nguyễn Trân Bạt: Văn hóa uà con người, Nxb Hội Nhà văn, 2005 22

Trang 22

Kinh tế nông nghiệp phát triển đến một giai đoạn, một

bộ phận dân cư tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp, lấy các

hoạt động thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, quản lý xã hội, làm nghề chính của mình Phương thức

sống tập trung tại các địa điểm trung tâm, đầu mối hệ thống

giao thông vốn phù hợp hơn với nghề của họ Tính từ thời

điểm đó, xã hội đô thị đã ra đời

Như vậy, xã hội đô thị ra đời là kết quả của phát triển kinh tế - xã hội, phân công lao động xã hội gắn với quá

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp /

Theo nghĩa chung nhất, đô thị là một xố hội có dân cư

đông đúc, sống tập trung, không đồng nhất uê thành phần

dân cư uò dựa trên nên kinh tế phi nông nghiệp là chủ

yếu Quan niệm đô thị như vậy sẽ dễ phân biệt với các kiểu tổ chức định cư khác không phải là đô thị (chẳng hạn như cư trú của bộ tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc hay làng, xã nông thôn)

Tuy nhiên, việc xác định đô thị tại các quốc gia khác nhau

là không giống nhau Ở các nước Âu, Mỹ, thông thường đô thị

là điểm dân cư có mật độ dân số tối thiểu cần thiết là 400

người trên một cây số vuông hay 1.000 người trên một dam

vuông Anh Tại nhiều quốc gia đang phát triển, ngoài tiêu

chuẩn mật độ dân số, một điểm tụ cư được coi là đô thị thì

khoảng 75% dân số trở lên phải làm các nghề phi nông nghiệp

Ở Việt Nam, Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5-10-2001

1 G.Endruweit và G.Trommsdorf: Ti điển xã hội học, Nxb Thế

giới, Hà Nội, 2002, tr 151

23

Trang 23

của Chính phủ xác định đô thị là các điểm dân cư tập trung với các tiêu chí cụ thể sau:

- Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ

nhất định

- Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là

4.000 người

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ

65% trỏ lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi

có sản xuất, dịch vụ, thương mại phát triển

- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ các hoạt động của dân

cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định đối với từng loại đô thị (ít nhất là bước đầu xây dựng một

số công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật cơ bản)

- Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô,

tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2.000 người/kmỶ trở lên

Đô thị hóa uà những đặc điểm của xã hội đô thị:

Đô thị hóa (Urbanization) có nguồn gốc từ từ cổ latinh

“Urbanus” có nghĩa là thuộc tính của đô thị Theo nghĩa đơn

giản nhất, đô thị hóa là quá trình thiết lập những điều kiện

để chuyển cư dân sống tập trung trong những không gian đô thị Đô thị hóa là quá trình không những làm thay đổi phân

bố, cách tổ chức dân cư mà còn làm thay đổi các khuôn mẫu,

mô thức, tập tục, sinh hoạt của cộng đồng xã hội, trong đó

có sự thay đổi lối sống Bởi vậy, £heo cách tiếp cận đa diện, đô thị hóa chính là quá trình tăng trưởng cua đô thị uề dân số, diện tích uà cùng uới điều đó là sự mở rộng của uăn héa va

24

Trang 24

lối sống đô thi’ Theo quan niém nay, đô thị hóa được đặc trưng ít nhất bởi hai dấu hiệu: thứ nhất là sự tăng lên của dân số, diện tích đô thị; và thứ hai là sự mở rộng của văn

hóa, lối sống đô thị

Đô thị hóa là một quá trình, nghĩa là nó liên quan tới phạm trù thời gian, nhưng gắn liền với phạm trù không gian,

vì đô thị hóa, suy cho cùng chính là quá trình hình thành, mở

rộng không gian đô thị và cùng với điều đó là sự mở rộng văn hóa, lối sống đô thị Quá trình đô thị hóa bao gồm nhiều phương diện, trong đó hai phương diện phổ biến nhất là đô

thị hóa uê kết cấu hạ tầng kỹ thuật uà đô thị hóa uê lối sống

của cư dân “Đô thị hóa là quá trình phát triển va mở rộng

mạng lưới đô thị, phổ biến lối sống thành thị, tập trung dân

cư trên phạm vi lãnh thổ của một vùng, một quốc gia hoặc

liên quốc gia Quá trình đô thị hóa gắn với quá trình tăng trưởng và phát triển đô thị về mặt không gian, dân số và kinh tế Các chỉ số: đất đô thị, quy mô và tỷ lệ dân số đô thị, các ngành kinh tế phi nông nghiệp và lối sống đô thị là thước

đo mức độ đô thị hóa”

Về bản chất, đô thị hóa không chỉ có những đặc trưng như đã liệt kê trên mà là một quá trình biến đổi nhiều mặt,

nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa - xã hội, biến một

vùng dân cư (nông thôn hoặc vùng không có dân) không có

1 Xem G.Endruweit và G.Trommasdorff: Từ điển xã hội học,

Sdd, tr.151

2 PGS, TS, KTS Trần Trọng Hanh: Một số uấn đề uê đường lối đô thị hóa ở Việt Nam Tham luận tại Hội thảo quốc tế "Đô thi héa va cae uấn đề phát sinh từ thành phố Đà Nẵng" tổ chức ngày 28-4-2005 tại

Thành phố Đà Nẵng

25

Trang 25

cuộc sống đô thị thành một vùng dân cư có những thuộc tinh của một xã hội đô thị Trọng tâm của đô thị hóa về mặt kinh

tế chính là quá trình chuyển dân cư lao động nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp, là quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và

dịch vụ Về mặt xã hội, đô thị hóa gắn với quá trình biến đổi

sâu sắc trong văn hóa, lối sống của cộng đồng dân cư: dân cư

chuyển dần từ uăn hóa, lối sống nông thôn sang uăn hóa, lối

sống đô thị trong môi trường dân cư mật tập với kết cấu hạ tầng hiện đại

Vậy, xã hội đô thị hình thành từ quá trình đô thị hóa

được cấu thành từ những thành tố chủ yếu nào và có những

thuộc tính nào? Mọi đô thị đều được cấu tạo từ hai nhóm thành tố chủ yếu là:

Một là, các thành tố không gian - vat chat Đó chính là môi trường không gian cảnh quan, kiến trúc, kết cấu hạ tầng

kỹ thuật và các điều kiện sống khác do con người tạo ra Có thể nói trong đô thị “cái” nhân tạo do con người tạo ra “đậm đặc” hơn trong nông thôn, do đó cuộc sống của người đô thị tiện nghi và ít phụ thuộc vào môi trường tự nhiên hơn

Hai lò, các thành tố tổ chức - xã hội Đó chính là các kiểu

tổ chức cộng đồng dân cư sống trong không gian lãnh thổ đô

thị với tất cả những thiết chế, thể chế và luật lệ hiện hành, bao gồm những yếu tố hữu hình và vô hình Do không gian

sống mật tập, do thành phần dân cư phức tạp, đa dạng, do hoạt động kinh tế khác với nông thôn, nên kiểu tổ chức xã hội đô thị cũng có nhiều điểm khác với nông thôn

Trong thực tế, hai nhóm thành tố này hòa quyện trong

một thể thống nhất không tách rời nhau và chỉ có thể được

hiểu trong mối quan hệ chặt chẽ giữa một bên là môi trường

Trang 26

sống, điểu kiện sống với một bên là những con người hoạt động trong đó Xã hội đô thị chính là sự kết hợp giữa hai

nhóm thành tố cấu thành kể trên

Vậy, so sánh với nông thôn, trong môi trường sống đô thị,

văn hóa - lối sống của một cá nhân, một cộng đồng mang những đặc trưng gì và khác gì với văn hóa, lối sống nông thôn

Trong công trình Đặc trưng đô thị như là một lối sống

(Urbanism as the way of life), xuất bản năm 1938, Louis

Wirth, một nhà xã hội học Mỹ đã đưa ra những mô tả về đô

thị Mỹ đương thời Theo Louis Wirth, do dân số quá đông, mật độ cư trú quá cao với một môi trường sống khác biệt, đô

thị Mỹ thời đó là một xã hội đặc thù có các đặc trưng cơ bản

như sau:

- Sự phân công lao động chuyên môn hóa cao; -

- Sự phân tầng rất rõ nét theo chức năng, vai trò và vị thế xã hội;

- Sự gia tăng các hình thức tổ chức xã hội tự nguyện và

loại hình tổ chức này có ảnh hưởng lớn trong đời sống đô thị;

- Trong xã hội tổn tại nhiều hệ thống chuẩn mực, giá trị bên cạnh nhau;

- Các loại xung đột xã hội đa dạng và phong phú hơn;

- Các phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò đặc

biệt quan trọng trong đời sống cư dân đô thị

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng, đô

thị là một môi trường xã hội đặc thù trong một không gian địa lý đặc thù với những đặc trưng như:

- Đô thị là một xã hội có mật độ dân số cao hơn nông thôn

và khồng thuần nhất

- Xã hội đô thị có lao động được chuyên môn hóa cao,

27

Trang 27

trong đó bộ phận lam các nghề phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ

áp đảo

- Đô thị thường nắm giữ những chức năng kinh tế - chính

trị - xã hội nhất định đối với một vùng và có một hệ thống

quản lý mang những nét đặc trưng riêng

- Trong xã hội đô thị, các quan hệ theo chức năng - vai

trò được xác lập bởi hệ thống pháp luật đóng vai trò chủ yếu

trong hệ thống quan hệ giữa các cá nhân

Những đặc trưng của xã hội đô thị quy định những đặc

trưng của uăn hóa - lối sống đô thị

Văn hóa đô thị chủ yếu là sự tập trung số đông dân cư

phi nông nghiệp, quan hệ cư trú - ứng xử có kết cấu giản đơn

hơn ở nông thôn: gia đình - đường phố - xã hội Ở nông thôn

quan hệ cư trú kết cấu phức tạp hơn, theo kiểu: gia đình -

dòng họ - làng xóm, láng giềng - xã hội Điều này có nghĩa:

người đân ở thành thị khi bước chân ra khỏi nhà đã hoà

mình với xã hội còn ở nông thôn để hoà mình vào xã hội mỗi

cá nhân phải trải qua tuần tự các kết cấu ứng xử giao tiếp

đặc trưng của nó Ngoài quan hệ gia đình, dòng tộc, hàng

xóm người dân ở đô thị còn có nhiều mối quan hệ khác như

quan hệ đồng nghiệp, đồng hương, đối tác Văn hóa ứng xử

của người dân đô thị có phần thiên về quan hệ trên cơ sở luật

pháp và thị trường nhiều hơn, mang đậm văn hóa, xã hội

công dân hơn Tuy vậy, văn hóa đô thị có mối quan hệ mật

thiết với văn hóa nông thôn, nó được hình thành trên cơ sở

văn hóa nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, hội nhập và phát triển Xét ở bình diện chung, nếu văn

hóa nông thôn gắn liền với nông dân, nông nghiệp thì văn

hóa đô thị gắn liển với công nghiệp, công nhân và đội ngũ trí

thức Bởi vậy, văn hóa nông thôn thường In đậm nét truyền

Trang 28

4

thống văn hóa dân tộc còn văn hóa đô thị lại in đậm yếu tố hiện đại của nền văn hóa dân tộc Văn hóa đô thị có mối

quan hệ hữu cơ với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội

đô thị, nó bị tác động, chi phối, ảnh hưởng của kinh tế thành

thị Cho nên, tuỳ thuộc vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà

các phương thức sinh hoạt văn hóa và sự biểu hiện của nó cũng có sự phát triển tương ứng Chang hạn, cơ cấu kinh tế

chủ yếu của các đô thị nước ta hiện nay là công nghiệp - dịch

vụ - nông nghiệp và trong tương Ìai có thể sẽ là dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp thì sự phát triển của văn hóa cũng theo

sự chuyển dịch ấy, đó là: văn hóa dịch vụ, văn hóa công nghiệp và văn hóa nông nghiệp

Căn cứ vào quan niệm nêu trên về văn hóa, có thể hiểu

uăn hóa đô thị là các giá trị uật chất - tỉnh thần cùng cách

thức con người sáng tạo ra chúng cũng như phương thức sử dụng chúng trong quá trình con người sống, hoạt động va phát triển ở môi trường đô thị Hay nói ngắn gọn hơn, văn

hóa đô thị là văn hóa của con người mà sự hình thành và

phát triển của nó gắn bó chặt chẽ với môi trường đô thị

Văn hóa đô thị hình thành một cách khách quan trong

mối liên hệ với đời sống cư dân thành thị, và môi trường sống

đô thị Nó bao gồm đây đủ các thành tố văn hóa (hệ thống

biểu tượng, hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa, hệ thống văn hóa vật chất, ) được hình thành trong môi trường đô thị với

nhiều đặc trưng khác biệt với môi trường nông thôn, như: mật độ dân cư dày đặc, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng

xã hội có trình độ cao, lao động làm các nghề phi nông là chủ

yếu, vai trò cá nhân thường ưu trội hơn, quan hệ xã hội chủ

yếu là theo địa vực hoặc theo nơi làm việc, các quan hệ theo pháp luật phổ biến hơn các mối quan hệ tình cảm cá nhân,

29

Trang 29

thu nhập và mức sống của người dân đô thị thường cao và

biến đối nhanh hơn,

Như vậy, so với môi trường xã hội nông thôn, môi trường

xã hội đô thị có tính nhân tạo cao hơn rất nhiều Chính vì lẽ

này, ở nhiều người, khái niệm văn hóa đô thị dễ được đồng

nhất với khái niệm văn minh đô thị Trong thực tế, hai khái

niệm này có sự khác biệt tương đối Cụ thể: văn mình đô thị

được dùng để chỉ cấp độ phát triển về vật chất và tinh thần

của đô thị, trong đó, bao gồm những tiến bộ về khoa học, kỹ

thuật công nghệ, những tiện nghi đời sống, sinh hoạt mà đô thị đạt được nhằm giúp cho con người tổ chức cuộc sống vật

chất và tinh thần tốt hơn Còn văn hóa đô thị là những giá

trị văn hóa, chuẩn mực văn hóa, lối sống, hệ thống tri thức, biểu tượng, cho đến cách ứng xử, các khuôn mẫu hành vị,

mà xã hội đô thị có được trong quá trình hình thành, phát

triển của đô thị Văn hóa đô thị gắn bó chặt chế với khoa học,

kỹ thuật, công nghệ, hệ thống quản lý xã hội chủ yếu dựa trên nền tảng pháp luật Văn hóa đô thị gắn với nền sản xuất

công nghiệp, dịch vụ (thường phát triển năng động hơn sản

xuất nông nghiệp) Trong văn hóa đô thị, văn hóa bác học

phát triển mạnh hơn văn hóa dân gian,

Từ đó có thể thấy rằng, trong phát triển đô thị cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và văn minh thì đô thị mới có thể phát triển bền vững Văn hóa đô thị phải

tương thích với văn minh đô thị để văn hóa đô thị có thể luôn vừa là động lực, bệ đỡ, vừa là định hướng giá trị cho sự phát

triển bền vững của văn minh đô thị; đến lượt mình, văn minh

đô thị là điều kiện để cư dân đô thị có cơ hội phát huy, sáng

tạo và được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn các giá trị văn hóa vật chất và tình thần

Trang 30

Sự phân biệt giữa văn hóa đô thị và văn minh đô thi

cũng chỉ mang tính tương đối, giả tưởng; văn hóa đô thị chứa

đựng các giá trị văn hóa mang tính bền vững cao, các đặc trưng trong đời sống tỉnh thần, trong lối sống của con người,

chịu sự chỉ phối của các đặc điểm tự nhiên, lịch sử kinh tế -

xã hội của môi trường đô thị Trong giai đoạn biện nay, theo

nhận thức chung của thế giới, các nhà hoạch định chính sách

và tổ chức thực tiễn ở nước ta đã ngày càng coi trọng nguyên

tắc kết hợp hài hòa giữa văn hóa và văn minh trong phát triển đô thị Con người ngày nay luôn nhận thức đẩy đủ

rằng, chỉ có coi trọng sự đồng bộ, hài hòa trong phát triển

văn hóa và văn minh thì mới đảm bảo sự phát triển bền vững của đô thị, nhất là trong bối cảnh hiện nay

9 Quan niệm lối sống và lối sống đô thị

a) Quan niệm lối sống Cũng giống như văn hóa, cho đến nay có nhiều cách diễn

đạt khác nhau cũng như có khá nhiều quan niệm khác nhau

về lối sống Trong đời sống thường ngày cũng như trong khoa

học có những khái niệm gần đồng nghĩa với lối sống như: nếp sống, phương thức sống, nếp sinh hoạt, v.v Tuy có những điểm chung, nhưng đó là những khái niệm không đồng nhất Trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhiều lần để cập đến khái niệm phương thức sống, nếp sinh hoạt, Chẳng bạn, trong tác

phẩm Hệ ¿ư tưởng Đức, C Mác và Ph Ăngghen đã nhận xét

một cách sâu sắc rằng, phương thức sản xuất không chỉ là

“sự tái sản xuất ra sự tổn tại của chính con người” mà “trên một trình độ lớn hơn nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân đó, một phương thức nhất định biểu

31

Trang 31

hiện đời sống của ho, một phương thức sinh sống nhất định” của họ' Như vậy, có thể nói rằng, quan niệm về phương thức

sinh sống mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác nêu ra trong tác phẩm này chính là một cách biểu đạt một nội dung quan

trọng của lối sống” Tuy nhiên, điều giá trị hơn cả chứa đựng trong những tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về lối sống là cách tiếp cận duy vật đầy khoa học của họ

về lối sống Theo cách tiếp cận này, lối sống của một con người, một xã hội người không hoàn toàn đồng nhất với phương thức

sản xuất, tức là với cách thức mà con người và xã hội người sản xuất ra của cải vật chất, nhưng lối sống này lại bị phương

thức sản xuất quy định một cách trực tiếp và mạnh mẽ Lối

sống con người, xã hội người không hoàn toàn đồng nhất với ý thức, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, hệ chuẩn giá trị, của họ Những yếu tố này chỉ là sự phản ánh của lối sống được biểu

đạt trong ý thức và bằng ý thức của con người mà thôi

Như vậy, theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ

nghĩa Mác, lối sống không phải là ý thức, là tư tưởng, là suy

nghĩ của một người hay xã hội người mà chính là những biểu đạt hành vi và hoạt động của họ trong đời sống, hình thành dưới tác động trực tiếp của phương thức sản xuất và

các điều kiện sinh hoạt vật chất khác trong đời sống kinh

Trang 32

một con người, một cộng đông người chính là kiéu hanh vi ứng xử uà hoạt động của họ trong môi trường tự nhiên, xã hội

nhất định uè bao giờ cũng bị quy định bài môi trường đó!

Như vậy, lối sống là khái niệm liên quan trực tiếp đến đời sống của con người thể hiện trong cuộc sống hằng ngày của từng cá nhân hay cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên - lịch sử - xã hội cụ thể Về thực chất, khái niệm lối sống chỉ phương thức sống của con người trong những điêu

kiện tự nhiên, xã hội nhất định Nó biểu hiện qua phương

thức ứng xử da dụng, phong phú của con người trong đời

sống xã hội của mình

Để tổn tại và phát triển, hằng ngày con người phải sống

trong rất nhiều mối quan hệ khác nhau mà khái quát nhất,

có thể quy về ba mối quan hệ căn bản: quan hệ với công việc,

quan hệ với người khác và quan hệ với chính bản thân mình

Phương thức sống cũng chính là phương thức ứng xử trong

ba mối quan hệ đó Chẳng hạn, mục đích, thái độ, cách thức lao động của mỗi người không chỉ quyết định đến hiệu quả

1 Chúng tôi để xuất khái niệm này trên cơ sở tham khảo khái niệm lối sống của Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa (nay là Khoa Văn hóa và phát triển), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Lối sống là một phạm trù xã hội học bao quát toàn bộ hoạt động sống của

các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân, trong những

điêu kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định uà biểu hiện trên các lĩnh uực của đời sống: trong lao động uò hưởng thụ, trong

quan hệ giữa người uới người, trong sinh hoạt tỉnh thần uà uăn hóa"

(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Văn hóa xã hội chủ

nghĩa: Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2000) Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, định nghĩa này chưa thật khái

quát và cô đọng

33

Trang 33

lao động, năng suất, chất lượng, của mỗi người mà còn phản

ánh phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực của anh ta Cũng

như vậy, một người luôn đối đãi trọng thị, bao dung, nhân từ

với người khác đồng thời biết nghiêm khắc với bản thân sẽ

luôn là một người cầu tiến, có ý thức trách nhiệm cao trong

mọi công việc Anh ta không chỉ có khả năng hòa nhập, thích

nghi xã hội tốt mà còn là người biết đem lại hạnh phúc cho

nhiều người khác Đó là những người có lối sống lành mạnh,

với phương thức ứng xử luôn hướng tới các giá trị Chân,

Thiện, Mỹ, tới văn hóa

Khi nói đến lối sống, người ta hay nói nhiều đến lẽ sống

Nếu như lối sống là phương thức sống thể hiện qua phương

thức ứng xử mang tính ổn định của mỗi cá nhân, mỗi cộng

đồng thì lẽ sống lại thiên uê định hướng giá trị, về sự xác

định ý nghĩa của cuộc sống, ý nghĩa của mỗi hành vi, hay

cách thức hoạt động Chẳng hạn, đối với người Việt Nam, yêu

nước luôn được coi là một lẽ sống chi phối phương thức ứng

xu, hành vi trong những tình huống cụ thể: “Thà làm quỷ

nước Nam còn hơn làm vương dat Bac” hay hàng loạt tấm

gương sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, trong

nhiều thời kỳ cách mạng của dân tộc ta đã chỉ rõ điều đó

Hoặc như Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời chỉ có “một ham

muốn, ham muốn tột bậc” là mang lại độc lập, tự do cho dân

tộc, cơm áo, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam “Ham muốn”

đó chính là lẽ sống cao đẹp chi phối mọi hành vi ứng xử, mọi

lựa chọn trong cuộc đời của Người

Như vậy, lối sống và lẽ sống là hai khái niệm khác nhau

nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau Có thể coi lẽ sống là

nội dung bên trong, là định hướng giá trị của lối sống, và

thông qua lối sống, qua phương thức ứng xử, lẽ sống của cá

Trang 34

nhân, cộng đồng mới được bộc lộ ra bên ngoài, phát huy vai trò của nó trong hiện thực

Nếp sống cũng là một khái niệm có quan hệ gần gũi với

lối sống Nếu như lẽ sống liên quan đến định hướng giá trị

của mỗi người, mỗi cộng đồng nên hàm chứa ít nhiều những

yếu tố có thể biến đổi nhanh cùng với quá trình phát triển xã

hội, với hoàn cảnh, điều kiện, môi trường sống thì nếp sống

lại là cái tương đối ổn định Đó là những hành vi, phương

thức ứng xử có độ ổn định cao, được lưu truyền qua nhiều thế

hệ nên đã trở thành nền nếp, thành phong tục, tập quán khó

thay đổi có giá trị chi phối các hành vi ứng xử hằng ngày của con người Để có thể xây dựng, hoàn thiện lối sống mới, người

ta buộc phải khắc phục những biểu hiện của nếp sống cũ, lạc hậu phản khoa học, và tìm cách hình thành, phát triển

những nền nếp, phong cách sống mới Chẳng hạn, nền sản xuất tiểu nông, lạc hậu phong kiến đã để lại nếp sống (bao

gồm cả nếp nghĩ, nếp làm) nặng tính gia trưởng, quan liêu,

tự do vô tổ chức ảnh hưởng rất xấu đến việc xây dựng nếp

sống lành mạnh dựa trên cơ sở dân chủ, coi trọng quyển tự

do cá nhân trên cơ sở kỷ cương, pháp luật của Nhà nước

Từ cách nhìn nhận trên đây, lối sống có thể được định nghĩa là phương thức ứng xử của cá nhân hay cộng đồng nào

đó theo một hệ thống giá trị, chuẩn mực nhất định trong

những điều kiện, hoàn cảnh xã hội cụ thể Thông thường, lối sống thể hiện trong tất cả các hoạt động sống của con người trong phạm vì từng hình thái kinh tế - xã hội, bởi vì chúng là

sự tổng hoà những tính chất cơ bản các mối quan hệ giữa vật chất và tỉnh thần, cá nhân và xã hội, dân tộc và quốc tế Tuy

nhiên; đặc trưng bản chất của lối sống lại trực tiếp gắn liển

với nội dung bên trong, chiều sâu của mỗi hành vi ứng xử, đó

35

Trang 35

là hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội: tức văn hóa Theo đó,

khái niệm lối sống theo đúng nghĩa và đầy đủ là lối sống có

văn hóa Vì vậy, nó cần được xem xét một cách thống nhất

với văn hóa

b) Lối sống đô thị

Như trên đã nói, lối sống là phương thức sống, phương

thức ứng xử của con người trong những điều kiện, hoàn cảnh

cụ thể Lối sống đô thị vì thế là phương thức sống của cá

nhân hay cộng đồng nhất định trong điều kiện, hoàn cảnh đô

thị eụ thể Nó là một trong những biểu hiện đầy đủ nhất sự

gắn kết hài hòa giữa văn hóa và văn mỉnh đô thị Ở khía

cạnh văn hóa, lối sống “lờ sự uận dụng, thực hành uà cũng là

sự đúc kết bảng giá trị đã đạt được của uăn hóa dưới dang

các khuôn mẫu”; ở khía cạnh văn minh, lối sống là phương

thức ứng xử của con người trong sản xuất và đời sống tương

ứng với điều kiện, hoàn cảnh cùng với vốn hiểu biết xã hội và

những trình độ khoa học, kỹ thuật mà cá nhân hay cộng

đồng đạt được

Với tư cách là biểu hiện của văn hóa đô thị, lối sống đô

thị mang nội dung chủ yếu là văn hóa bác học khác biệt với

lối sống nông thôn vốn bị chi phối bởi nội dung là nền văn

hóa dân gian Biểu hiện bên ngoài của nó là nếu như trong

lối sống nông thôn, lối sống thường bị chi phối bởi những

phong tục, tập quán, dư luận xã hội thì ở đô thị, lối sống

thường bị chi phối bởi hệ thống giá trị xã hội mang tính

chính thống, bởi những hiểu biết khoa học về tự nhiên, xã hội

được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông

đại chúng Mặt khác, do trong môi trường đô thị, sự giao lưu,

tiếp biến văn hóa diễn ra rất mạnh mẽ, bảng giá trị, khuôn

36

Trang 36

mẫu ứng xử, vì vậy thay đổi khá nhanh nên lối sống đô thị

cũng có sự biến đổi nhanh hơn so với lối sống nông thôn

Hơn nữa, là hiện thân của văn minh đô thị, phương thức

ứng xử - lối sống trong nền sản xuất trình độ cao đi cùng với những điều kiện về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu xã hội thường xuyên biến đổi đa chiều, phức tạp cũng có độ biến

thiên rất mạnh và ít thuần nhất Thông thường cư dân đô thị

có nhịp sống (sản xuất lẫn tiêu dùng) gấp gáp, bận rộn, đa dạng, phong phú hơn nhiều so với cư dân nông thôn và so với

cư dân đô thị trong những thời kỳ trước Sự gấp gap, da

chiều, phức tạp đó là sự thích ứng của con người với môi

trường sản xuất, kinh doanh và đời sống trong xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường hóa và hiện nay là

toàn cầu hóa với tốc độ ngày càng nhanh

Bên cạnh đó, do đô thị có độ tập trung dân cư cao đến từ nhiều vùng miền khác nhau, các mối quan hệ xã hội mang tính truyền thống khá lỏng lẻo, con người cá nhân mang tính

vô danh (ít chịu sự giám sát của cộng đồng cư trú, của dư

luận xã hội) nên lối ứng xử giữa người với người ở đô thị chủ yếu dựa trên các quan hệ nghề nghiệp, quan hệ địa vị bị chế ước bởi các điều luật chính thống - pháp luật Đây là điểm

khác biệt lớn so với lối sống nông thôn, nơi mà các quan hệ xã hội có độ ổn định cao, tính cộng đồng mạnh mẽ nên các phong

tục, tập quán truyền thống, dư luận xã hội vẫn có sức mạnh chi phối ứng xử của mỗi cá nhân, thậm chí mạnh hơn sức mạnh của luật pháp Chính vì vậy ở nông thôn mới có tình

trạng “phép vua thua lệ làng”

Tuy nhiên, trong thực tế, kể từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX,

thông*qua những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin và sự hình thành thị trường

37

Trang 37

thương mại mang tính đa quốc gia, đô thị hoá đã trở thành

một xu hướng phát triển quy mô rộng trên toàn thế giới Cho

đến nay, dân số đô thị đã chiếm hơn 50% dân số toàn cầu Ở

nhiều nước công nghiệp phát triển, cư dân nông nghiệp, nông

thôn chỉ còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Từ đó, khu vực văn hóa

nông thôn, đặc biệt là các loại hình văn hóa dân gian đảm

bảo lối sống mang tính truyền thống đang bị đẩy lùi dần vào

quá khứ và được thay thế bằng lối sống đô thị hiện đại với

những công nghệ và kỹ thuật của thế kỷ XX (ánh sáng, giao

thông, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt gia đình, trang

phục và trang sức, nhà hàng, khách sạn, điện thoại, tivi, các

loại hình dịch vụ công nghệ thông tin, bệnh viện và y cụ hiện

đại ) Ngày xưa, đô thị là một thế giới biệt lập hẳn với nông

thôn, nhất là về cách sống Nhưng ngày nay, lối sống ở đô thị

và nông thôn đang ngày càng có sự hòa đồng Đô thị với tư

cách là nơi khởi phát nền văn minh hiện đại, nền văn hóa

bác học đang có sức lan tỏa rất mạnh đẩy nhanh quá trình

hiện thực hóa đời sống đô thị ở khu vực nông thôn trong cùng

một quốc gia và làm thay đổi bộ mặt lạc hậu xã hội ở những

nơi đó Chính với ý nghĩa này, ở nước ta, khái niệm lối sống

đô thị đôi khi được đồng nhất với khái niệm lối sống mới Xây

dựng lối sống đô thị cũng có nghĩa là xây dựng lối sống mới

cho toàn xã hội

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng lối

sống mới là một yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp cách mạng

xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng con người mới với phong

cách ứng xử, lề lối làm việc khoa học, nhân văn thích ứng với

những điều kiện mới trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 38

CHU NGHIA MAC - LENIN,

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA,

LOI SONG VA QUAN DIEM CUA DANG TA

VỀ XÂY DỰNG VAN HOA VA LOI SONG

PGS, TS TRUONG MINH DUC"

1 Một số quan điểm của C Mac, Ph Ăngghen và V.I Lênin về văn hóa và lối sống

Khi nghiên cứu những vấn để xã hội, C Mác và Ph Ăngghen

thường nhấn mạnh, xét đến cùng, sản xuất và tái sản xuất ra

đời sống hiện thực là nhân tố quan trọng, quyết định đến sự

tôn tại và phát triển của con người Điều đó có nghĩa là,

chính quá trình sản xuất ra của cải vật chất là quá trình giải

quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người là yếu tố cơ bản quy định lối sống của cá nhân và cộng đồng C Mác viết: “Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiển để đầu tiên của mọi sự tổn tại của con người, và đo đó là tiền để của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể "làm ra lịch sử"

* Học viện Chính trị - Hành chính khu vực TH

39

Trang 39

Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức

uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy,

hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu

để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân

đời sống vật chất Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một

điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng

nghìn năm về trước) người ta phải thực hiện hằng ngày,

hằng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”,

Từ đây, C Mác cho rằng khởi điểm của hành vi lịch sử

đầu tiên là văn hóa Quá trình sản xuất vật chất, là cái để

con người khẳng định mình và do Vậy, con người cũng tạo ra

văn hóa Bản chất con người luôn sáng tạo theo quy luật của

cái đẹp Mác viết: Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và

nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất

theo kích thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận

dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng, do đó con

người cũng xây dựng theo các quy luật của cái dep”

Trong tác phẩm Hệ £/ tưởng Đức, C Mác và Ph Ăngghen

viết: Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn

thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tổn tại thể

xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt

động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất

định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống

nhất định của họ” Như vậy, C Mác đã khẳng định, sản xuất

là yếu tố quyết định sự tổn tại của cá nhân và phương thức

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn đập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2000, t.3, tr 39-40

2.Xem € Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t 42

ở Xem C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t 3

40

Trang 40

sản xuất là hình thức hoạt động cơ bản của con người, là mặt

cơ bản của lối sống

Theo C Mác, lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt

động của con người, nó chịu sự quyết định của phương thức

sản xuất Tuy chịu sự quyết định của phương thức sản xuất nhưng lối sống không phải là-sản phẩm thụ động của lực

lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và những điều kiện sống khác Bởi lẽ, phạm vi của lối sống rộng hơn phương thức sản xuất Ngoài những hoạt động vật chất, con người còn có các hoạt động chính trị, xã hội, nghệ thuật Phạm vi của lối sống tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội Lối sống phản ánh hoạt động chủ thể, bao gồm: nhận thức, tình cảm, động

cơ, hành vi ứng xử, thể chế xã hội và cả những mối liên hệ giữa chúng Có thể nói, lối sống là sự khúc xạ hình thái kinh

tế - xã hội trong nhận thức, tình cảm, thái độ và hoạt động xã

hội, tổ chức đời sống và sinh hoạt cá nhân của con người

C Mác cho rằng, ở những hình thái kinh tế - xã hội khác

nhau, sẽ có lối sống khác nhau Đặc biệt, trong những hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp, lối sống mang tính gial cấp

Quan niệm của C Mác, Ph Ăngghen về văn hóa đã được

V.I Lênin kế thừa và phát triển Với V.I Lênin, văn hóa

luôn gắn liền với phát triển và hoàn thiện con người, hoàn

thiện xã hội Qua thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã

hội, V.I Lênin cho rằng, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân đồng thời phải tiến hành những hoạt động cách mạng để xây dựng nền văn hóa mới - văn hóa

xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở, nền tảng cho công cuộc phát

triển kinh tế Việc chuyển từ "Chính sách cộng sản thời

chiến" sang thực hiện "Chính sách kinh tế mới" (NEP), theo

V.I Lênin là sự thay đổi căn bản từ đấu tranh chính trị để

41

Ngày đăng: 20/12/2022, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm