1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giản yếu văn hoá đô thị: Phần 2 - Trần Ngọc Khánh

386 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giản yếu văn hoá đô thị: Phần 2 - Trần Ngọc Khánh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hoá đô thị
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 386
Dung lượng 15,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp nội dung phần 1, Văn hoá đô thị giản yếu: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: sự kiện thành thị; đặc trưng văn hoá các đô thị cổ Hy-La; các quá trình đô thị hoá trên thế giới; thành thị và chất lượng sống; đặc trưng đô thị hoá các đô thị lớn trên thế giới; không gian tự nhiên; không gian kỹ thuật; không gian nhân văn. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Phần thứ ba THỜI GIAN VĂN HÓA ĐÔ THỊ

187

Trang 2

Chương 6

SU KIEN THANH TH

CÁC THÀNH THỊ ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Thành thị xuất hiện đồng loạt ở nhiều nền văn minh: Lưỡng Hà, Ai Cập, Ba Tư, Bắc Ấn Độ (Pakistan ngày nay), Bắc Trung Hoa Đặc điểm chung ở các vùng này là

có bình nguyên rộng, nhiều nước, tiến bộ nông nghiệp cho

phép tăng gia sản xuất lương thực, giải phóng một phần

dân số lao động khỏi đất đai, hình thành nên các đô thị đầu

tiên, thường nằm gần cạnh con sông lớn hoặc hải cảng"3,

Nền văn minh Lưỡng Hà

(Mésopotamie) gắn với vùng châu thổ

hai con sông Euphrate, Tigre và vùng »

đất nằm giữa hai con sông theo cách

gọi bằng tiếng Hy Lạp hoặc Ả Rập, Babytone® %

33 Người ta cho rằng trên thể giới cỏ bốn nền văn mình nổi tiếng phát sinh đọc

các con sông, ngoài Lưỡng Hà còn có: châu thổ sông Nile ở Ai Cập, sông

Tndus (còn gọi là sông Ấn, nay thuộc Pakistan), lớn thứ hai sau sông Hằng ở

Án Độ vả châu thổ sông Hoang Hà ở Trung Quốc

188

Trang 3

Văn hóa đô thị

nay chủ yếu nằm trên lãnh thổ nước Iraq Van minh LuGng

Hà xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ 4 trước CN, nơi ra đời

nhiều thành thị nổi tiếng như Ur, Umk, Nippur, Babylone

Nông nghiệp Lưỡng Hả canh tác bằng cày, phát triển hệ

thống đập, kênh đẫn nước đề tưới tiêu

Nền văn minh Ai Cập nỗi tiếng với các vị vua Pharaon huyền thoại, kỹ thuật tớp xác và các kim tự tháp không

lồ, nơi có kênh Suez nối Biển Đỏ và Địa Trung Hài

(1869) Ai Cập cô đại ở vùng Bắc châu Phi ia một trong các nền văn mỉnh sớm nhất trên thế giới, nằm trong lưu

vực sông Nie Sông Nile dai khoảng 6.500 km, gdm bảy

nhánh lớn để ra vịnh Địa Trung Hải Phần hạ lưu sông

Nile r6ng lớn, có nơi rộng từ 10 — 50 km Hàng năm nước 1ũ sông Nile dâng lên từ tháng 6 — 9, làm tràn ngập cá vùng

đồng bằng màu mỡ Từ 7.000 năm trước Công nguyên,

cư dân vùng sông Nile đã biết canh tác, trồng lúa mạch trên vùng đất đen nhiều phù sa Họ biết tính lịch dương

từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên, chia mỗi năm

thành 365 ngày; biết sử đụng kim loại từ thiên niên kỷ thứ

4 trước Công nguyên

34 Vương triều Ai Cập đầu tiên bắt đầu khoảng năm 3.100 trước Công nguyên,

kinh đô ở thành Memphis Trái qua 30 vương triều, kéo dài cho đến năm 332

trước Công nguyên, cuối cùng bị vua nước Macédonie là Alexandre Dai Dé

thôn tinh, đông đôở Alexandria của Ai Cập, Pharaon tức là ngồi nhà lớn dùng

để chỉ triều đỉnh, đuợc các vua Ai Cập sử dụng kể từ vương triểu thứ 12 vào cuối thiên niên kỷ II trước CN Kim tự tháp cia vua Khufu ở Giza, khoảng

2.700 năm trước CN, được coi là lớn nhất và là một rong bảy kỳ quan thể

giới, đã xây cất trong 20 năm, sử dụng 300.000 nhân công

189

Trang 4

Trần Ngọc Khánh

Các thành thị của nền văn minh Lưỡng Hà khác với

nén van minh Ai Cap

6 Luéng Ha: vua không tự coi mình là thiên tử; con

người đối nghịch tự nhiên; thần đữ tợn; nhà nước độc đoán; dân cư bị cai quản trong các vòng thành; xuất hiện nhiều nhà thông thái và triết gia

Ö Ai Cập: các pharaons được ví với thượng để, là con cháu các vị thần linh, nên tự phong mình là va vỡ rrụ,

vua vĩ đại đồng thời còn gọi là người chăn dat, cai quan

than dan Thanh thi trước hết là trung tâm tôn giáo, nơi

quyền lực tối cao; sa mạc, biển và đổi núi là các tường

thành “tự nhiên” bảo vệ; xuất hiện kiểu thành thị dành cho người chết; có nhiều tư tế, các tư tưởng tôn giáo

Thành thị phương Tây xuất hiện đầu tiên khoảng

8.500 năm trước Công nguyên, ở vùng Trung Đông (nay

thuộc Irak, Liban, Syrie, Jordanie, Israél va Palestine) Cu dân vùng Lưỡng Hà thuộc lưu vực sông Tigre và sông Euphrate làm 2 vụ lúa/năm, nhờ đó có sản phẩm thừa đễ

trao đổi Ở Jéricho, con người đã biết tưới đất ít nhất từ 7.000 năm trước CN [Nicholson, 1973:182]

Đầu tiên là các thành thị độc quyền về thương mại của nước Phénicie ở vùng vịnh Địa Trung Hải (khoảng năm

3000 trước CN, nay thuộc lãnh thổ nước Lebanon, một phần

35 Phân biệtđô › thị phương Tây (Occidend), khác với châu Âu (Europe) có nghĩa

là “xứ sở buổi chiều t3”, phân đất nằm phía tây Hy Lạp và Địa Trung Hải, Khi

thành thị xuất hiện phổ biến ở vùng đất này thì châu Âu hầu như vẫn chưa có thành thị

190

Trang 5

Văn hóa đô thị

Syrie va Palestine) gồm có: Tyr, Byblos, Sidon (nay thuộc

Lebanon) Khác với các thành thị Hy Lạp gắn với vùng

đất dai phì nhiêu để trong trot, hầu hết các thành thị Phénéxi đều nằm dọc bờ biển, cạnh các hải cảng, với các cư dân chuyên nghề hàng hải, trong đó nỗi tiếng là thành Carthage (thành lập năm 814 trước CN, nay thuộc Tunisie) sau jay là đối trọng của thành Rome Các tường thành chưa xuất hiện trong các thành thị Phénicie (ngoại trừ thành Sardaigne), vi

biển được coi là “thành trì” phòng thủ vững chắc nhất,

Sau khi Phénicie suy tàn và biến mắt (năm 332 trước CN), đến lượt các thành thị Hy Lạp nối tiếp từ năm 700

trước Công nguyên ở Ý, Sicile, rồi Gaule (Nice, Antibes,

Marseille Ds Tay Ban Nha; và từ thế kỹ V trước Công nguyên ở Bắc Âu và Anh, tạo nên /ấm bản l thành thị

giữa Trung Đông và phương Tây

Phân biệt bốn thời kỳ phát triển của các thành thị cổ

trung đại ở phương Tây:

1 Thành thị Hy Lạp: có cấu trúc Poiis - nông thôn

nhập vào thành thị để quản lý về chính trị, hình

thành không gian công đân Polis là biểu hiện về

đạo đức, chính trị và tôn giáo

2 Thành thị La Mã: phát triển quy hoạch đô thị của để

quốc nhằm chiếm hữu đô thị, đồng hóa các thành

phần cư dân về chính trị và văn hóa

3 Thành thị Trung đại: do tác động xâm chiếm của

người Barbares - du nhập vào châu Âu văn minh

191

Trang 6

Trần Ngọc Khánh

đô thị có nguồn gốc phương Đông ~ đô thị thương

mại phát triển

4, Thanh thị s ứÿ: Từ TK X, có phạm vỉ không gian

riêng, ngày càng khác với môi trường phong kiến

CÁC ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA THÀNH THỊ

Theo quan điểm mác-xít, thành thị xuất hiện đo các

tiến bộ về phân công lao động xã hội, cùng với sự tách

ra khỏi nông nghiệp của tầng lớp thợ thủ công rồi thương

nhân (kiểm soát sản xuất, sử đụng tiền tệ, phát triển giao

thông vận tải ) Theo Valquin [1977], “Dù nói gì thì nói,

điển tệ là quyền lực kinh tế xây dựng đô thị 4

Theo Beaujeu-Gamier [1995:51-53], thành thị ra đời

từ ba nguyên do: kinh tế, chính trị và phòng thủ, trong đó phòng thủ có thể coi là một mặt của chính trị, nhằm bảo vệ

các quyền lợi về kinh tế, bảo đảm các hoạt động kinh tẾ

Tất cả các nền văn minh lớn đều bắt nguồn từ thành thị Pirenne gọi thành thị là “con gái của thương mai”

Thành thị xuất hiện và phát triển chủ yêu ở các ngã tư, cảng sông hoặc cảng biển Tập trung dân số tạo nên các

nhu cầu về địch vụ cho cư dân Một thế hệ thành thị khác

ra đời do phát triển công nghiệp từ cuối thế kỷ XVII

Các phương tiện kỹ thuật được cải thiện; xuất hiện nhiều

thành thị chuyên môn hóa: khai mỏ, luyện kim, đệt v vải Hàng trăm thành thị ở Bắc Mỹ và nước Úc được hình

36 _ Dẫn theo Jacqueline Beaujeu-Garnier, sdd., tr 29

192

Trang 7

Văn hóa đô thị

thành nhờ dân nhập cư vào khai thác các giá trị lãnh thổ,

với hai nhân tổ lớn là thương mại và công nghiệp trên phạm vi toàn cầu

Chính trị kết hợp với kinh tế đưới nhiều hình thức

nhằm quản lý quyền sở hữu tài nguyên, đất đai lãnh thổ

và dan cư Ở Liên Xô sau cách mạng 1917 cũng bùng nỗ

đô thị công nghiệp, thường gọi là “các thành phố công nhân” do Nhà nước đứng ra tô chức Cũng vì các lý đo

chính trị mà xuất hiện các thủ đô mới, như: Ankara ở Thổ

Nhĩ Kỳ, Canberra ở Úc, Abuja ở Nigeria, Yamoussoukro

ở Bờ Biển Ngà

Chính trị còn kết hợp với xã hội là công thức hình thành nhiều “thành phố mới”, để người dân ở đô thị có đời sống dễ dàng và hạnh phúc: nhà ở mới, trang bị thích hợp, việc làm gân nơi ở, có không gian xanh, giao thông

thuận lợi và hữu hiệu

Mặt khác, vì lý do quân sự mà nhiều điểm bảo vệ chiến

lược ở biên giới trở thành đô thị (Besancon, Metz ), hoặc

các thành lũy (bastides) do các vua Pháp xây dựng ở vùng Tây Nam làm cứ điểm đương đầu với quân đội của vua Anh

Tóm lại, thành thị ra đời đo sự kết hợp của nhiều nhân

tố chủ yếu bao gồm: kinh tế, xã hội, dân số và tổ chức

1 Về kinh tế: xuất hiện các hoạt động trao đôi, thương mại nhờ có sản phẩm làm vật trao đổi Theo Harvey [1973], nhiều thành thị được khai sinh có nguồn gốc la

do “sy thing du phat xuất từ kinh tế chợ” Cuộc cách

mạng đá mới, chế tác các vật dụng thủ công và phát triển

193

Trang 8

gian, trong đó có thương lNRMẬNG aan

nhân lưu chuyển hàng Tăng trưởng đô thị ở Tây Phi

Thành Babylone bên dòng Euphrate, là thành thị- đế

quốc hùng mạnh vùng Mésopotamie kể từ năm 1.700

trước CN, dân số 300.000 người, có hoạt động thương mại phát triển mạnh

3 Về đân số: đạt mức nhất định, bình quân khoảng

15 nghìn dân (ở Pháp, ngưỡng thành thị từ 2.000 dân, ở

Mỹ là 2.500, trong khi ở Nhật trên 30.000 dân)

4 Về rổ chức: có bộ máy quyền lực dé quản lý, diều

hành các hoạt động trên phạm vi lành thố Do đó, thành thị còn được coi là ung tâm chính trị Các thành thị-nhà nước (states-cities) thành lập tử thiên niên kỷ 2 trước CN

tại Phénicie, kế đó là Hy Lạp và châu Âu thời trung đại giữa thế kỷ X và XII, từ Ý đến Bắc Âu Ở Địa Trung Hải

(kể cả ở bờ biển Bắc châu Phi) và lục địa chau A, thành

thị đã xuất hiện hàng nghìn năm hoặc có từ rất lâu đời

194

Trang 9

Văn hóa đô thị

Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm và không hoàn toàn

giống với phương Tây, song các đế quốc thảo nguyên

và các nền văn minh vườn aược đều đã xuất hiện thành

thị từ hàng chục thế kỷ Bên ngoài kinh đô Bắc Kinh là vườn tược mênh mông của các thành phố vườn cây; xung quanh các công trình kiến trúc ở Ả Rập và Ấn Độ, làng mạc chiếm nhiều ưu thế hơn so với thành thị

Trước khi sự kiện thành thị lan tỏa ở châu Âu TK XIX,

lục địa đen (châu Phi) là nơi duy nhất có rất ít thành thị

Ngoại trừ vùng rừng Tây Phi (Soudan) đã xuất hiện các

đô thị nông nghiệp, ở lưu vực Công-gô và phần lớn Đông

Phi, Nam Phi đều không có thành thị Theo P George [1952:3], nguyên nhân của hiện tượng này là do:

1 Chưa có các tổ chức chính trị - xã hội ổn định;

2 Quan trọng nhất là do khối lượng sản phẩm trao đổi

còn quá Ít ỏi

Ngày nay, 62,1% dân số châu Phi còn ở nông thôn, song

, tỷ lệ phát triển đô thị lại nhanh nhất thể giới, đạt gần 4% /

nim, gan gap doi so với mức tăng trung bình của thế giới Trong khi đó, các nền văn minh cổ đại của người Inđiens

ở Trung Mỹ và Nam Mỹ, xuất phát từ nền vin minh thudn nông, vẫn có truyền thống thành thị phát triển liên tục

CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG ĐẦU TIÊN VỀ THÀNH THỊ

HIPPODAMOS

Hippodamos (năm 498-408 trước CN), sinh trưởng ở

thành Milet thời Hy Lạp cô đại, là nhà kiến trúc, quy hoạch,

195

Trang 10

Trần Ngọc Khánh

vật lý, toán học, khí tượng và triết học Hippodamos được

coi là ông tổ của ngành quy hoạch đô thị Ông chủ trương

xây dựng thành thị trật tự và dều đặn

Theo Hippodamos, thành thị lý tưởng gồm 10.000

công dân tự do, cộng thêm phụ nữ, trẻ em và nô lệ có thể

đạt 50.000 người Ông chia công dân thành thị gồm ba tằng

lớp: các chiến binh, thợ thủ công và các nông dân, tương

ứng với ba chế độ đất đai dành cho: thiêng, công và từ

So dé ké 6 (grilles, tiếng Anh là grids) thường được

gán cho ông gồm một loạt các con đường thẳng và rộng,

cắt nhau thành góc vuông Ở khu vực trung tâm có một

quảng trường rộng, là trung tâm của đô thị và xã hội như Agora

Hippodamos còn là người đưa ra khái niệm luật sáng

chế từ rất sớm, theo đó ông đề xuất xã hội nên tưởng thưởng

cho các cá nhân làm ra điều gì hữu ích cho xã hội, sau này được Aristote nhắc đến nhiều trong công trinh Politics

HIPPOCRATES

Hippocrates (khoảng năm 470-370

trước CN) không chỉ là ông tổ của nghề y (sáng lập trường Y ở đảo Kos, Hy Lạp), mà

được coi là người đầu tiên đưa ra những ý tưởng mới mẻ về quy hoạch đô thị

Trên cơ sở quan sát và nghiên cứu

cơ thê con người, ông cho răng cơ thê

Hippocrates

196

Trang 11

Văn hóa đô thị

không phài là một tập hợp rời rạc của các bộ phận mà phải

được coi là một tổng thé

Hippocrates quan niệm bệnh tật không phải do nguyên

nhân từ các sức mạnh siêu nhiên, xuất phát từ những ý

nghĩ tội lỗi hoặc do báng bổ thần thánh Ông định ra các

nguyên tắc căn bán để chọn lựa địa điểm xây đựng thành

thị đàm bảo các điều kiện vệ sinh Công trình nỗi tiếng

của Hippocrates là “Nước, không khí và địa hình” Theo ông, thành thị nẻn thiết lập ở nơi có nguồn nước đự trữ trong lành, tránh nơi đầm lay Ong định Ta các con dường phù hợp để giảm tác động của ánh nắng mặt trời và để có gió mát lưu chuyển

PLATON

Platon (năm 428-348 trước CN) xuất thân từ dòng dõi

quý tộc thành Athènes, học trò ruột của Socrate” Ông

sáng lập ra trường phái triết học kinh viện (acađémie) lớn

nhất thời cỗ đại

37 _ Socrate (khoáng năm 470-399 trước CN), nhà triết học Hy Lạp chủ trương

không dùng chữ viết xơ cứng mà bằng lời nói, đối thoại sinh động để truyền

đạt tư tưởng hoặc đạo đức Khác với các nhà thông thái trước đó, Socrate

không quan tâm đến thể giới tự nhiên mà tự bạch về con người Câu nói được khắc trước ngôi đền Delphes “Hay te nhận biết chính mình” trở thành vẫn đề

trung tâm của tiết học bấy giờ Triết học của Socrate không phục vụ chính

trị THết học về mặt ngữ nguyên là tình yêu, tìm kiếm sự khôn ngoan, hơn là

sở hữu chân lý Công thức nỗi i tiéng cla Socrate: “Tot biết là tôi không bidt gi cd”, Ong bj toa an Athénes két fn tie hinh, vi khéng thừa nhận các thần linh

của thành thị, làm thanh niên hư hỏng, quay lưng với đời sống chính trị Các học trỏ xúi ông bỏ trốn, nhưng ông tỏ ý kiên quyết tuân giữ luật pháp, dù bị đối

xử bất công (Dẫn theo Jean-Frangois Braunstein va Bemard Phan, Manuel de

culture générale, Armand Colin, Paris, 1999, 2006, tr 30, 32)

197

Trang 12

Trần Ngọc Khánh

Với công trình République”°, Platon đưa ra mô hình

thành thị không tưởng đầu tiên về chính trị, trong đó nghệ thuật và thi ca bị gạt bỏ để người dân tránh khỏi ủy mị; tư

hữu tư nhân bị cắm đoán; phụ nữ và trẻ em là của chung

Trong các công trình Crias, La République và nhất

là Les Lois, Platon đưa ra các nguyên tắc thiết lập thành

thị như: lựa chọn địa hình

bảo đảm điều kiện trong

gia, mà theo ông tương ứng

với ba phần của linh hồn là:

dụng toán học để mô tả các hiện tượng

tự nhiên), kêu gọi khám phá các thực thể

ở trên thế giới sinh vật; còn Aristote chi tay xuống đất như muốn nói cứ từ từ, vì chính

ở đây là nơi mà thế giới này đang diễn ra

38 - Tù công trình không tưởng đầu tiên về chính trị này của Platon, về sau trở

thành cảm hứng cho các công trình của Thomas More (Utopie, 1516) hoặc 1.1 Rousseau (Contrat social; Emile, 1762)

198

Trang 13

Văn hóa đô thị

Sau khi dựng đền thờ Acropole cho các vị thần Vesta, Zeus va Athéna có tường thành bao quanh, thành thị được

chia thành 12 phần đều nhau, tày theo đất tốt xấu, dành

cho 12 vị thần, mang tên của 12 thị tộc

Ông chủ trương thành thị không nên có tường thành

bao quanh, vì sẽ ảnh hưởng lòng can đảm của chiến bình;

tải sản công đân là của chung; dân chúng phải ngoan ngoãn như loài vật nuôi đối với tầng lớp trên; thuộc địa và chiến tranh sẽ kích thích con người tiễn bộ!

Theo Platon, thành thị lý tưởng nhờ nông nghiệp Ông chủ trương không mở cửa buôn bán với bên ngoài Trong

công trình “République”, Platon đưa ra quan niệm dân

số lý tưởng của thành thị gồm 5.040 công dân tự do, để

họ có thể tự nuôi sống bằng sản phẩm địa phương Đất

đai thành thị được chia thành các mảnh bằng nhau cho

các gia đình công dân, nhưng không được chia nhau hoặc chuyển nhượng để chống đầu cơ Cũng trong công trình

này, Platon đề xuất nếu bán một mảnh đất với giá cao gấp

4 lần giá trị của nó, thì người bán phải nộp phần dư ấy

cho Nhà nước Ông nhận thấy cần thiết lập quan hệ giữa con người, gia đình của họ và đất đai sở hữu Để cân bằng

trong đời sống, ông khuyên mỗi công dân nên có nhà ở thành thị và ở nông thôn [Chambon, 1975: I5]

199

Trang 14

Trần Ngọc Khánh

ARISTOTE

Aristote (năm 384-322 trước CN), học trò của Platon,

được coi là lý thuyết gia quy hoạch đô thị của Hy Lạp cỗ

đại Trái với Socrate, ông quan niệm nhà triết học phải

sở hữu “toàn bộ tri thức, nhiều nhất có thể” Trong công trinh Ethique a Nicomaque, 6ng cho rằng chỉ có ở thành

thị con người mới thực hiện đạo đức đầy đủ Aristote

đưa ra định nghĩa nổi tiếng: con người “về cơ bản là con vật chính trị” Aristote lập ra trường học #ycée đầu tiên ở Athénes??, Ông quan niệm linh hồn gồm có ba bộ phận: thực vật (như cây cối), cảm tính (như loài vật) và trí năng (chỉ có ở con người)

Aristote nghiên cứu sự hình thành của 158 thành thị

Hy Lạp, đặc biệt là liên minh chính trị giữa các thành thị

Theo ông, các thành thị Hy Lạp hình thành hai chế độ

chính trị: chính trị ngang nhau (isopolitie) giữa các thành thị độc lập và chính trị cùng nhau (sympoliie) liên kết giữa các thành thị trong toàn thể quyền lực

Trong Politique, ông dự kiến thành thị có 10 nghìn

công dân, gồm ba tang lớp: the thi công, nông dân và

chiến bình Đất đai lãnh thé của thành thị được chia làm

ba phần:

*_ Phẩn thiêng có lợi tức dùng đễ thờ cúng thần linh;

* Phan công để bảo đảm lương thực cho quân đội; và

39 Aristote ở lại 20 nắm trong Académie cho đến khi Platon mất Ông vừa đi vừa

giáo huấn đệ từ, nên đệ tử của ông được gọi là péripatéticierns

200

Trang 15

Văn hóa đô thị

* Phan tư của nông dân,

Aristote quan niệm có thể thiết lập thành thị ở vùng

biển và nông thôn Tuy nhiên, cần chọn địa điểm và

chọn hướng thuận lợi cho sức khỏe người dân và tạo nên các điều kiện sống tốt hơn Ngoài yêu cầu môi trường

trong lành, thành thị cần dễ dàng cung cấp thực phẩm

Ông quan tâm chất lượng tường thành bảo vệ ở các địa

hình; phân biệt nguồn nước uống và nước sử dụng thông thường Ông chủ trương xây dựng đường sá theo hệ thống

Hippodamos, thắng và đều

Cấu trúc thành thị theo các phân khu chức năng, gồm: khu thương mại hoặc thủ công; khu ở; khu hành chính và tôn giáo Trong đó, Aristote đặc biệt chú ý lập hai quảng trường công cộng: chợ dành cho các hoạt động mua bán

và nơi hội họp chính trị Ông còn muốn xây dựng một

phòng tập thể dục, để người lớn tuổi có thế tập luyện tại

chỗ, khói ra ngoài trung tâm thành thị

So sánh tư tưởng về thành thị giữa Platon và Aristote:

* Quan niệm của cả hai nhà tư tưởng Platon và

Aristote đều thiên về cấu trúc thành thị nh, ít phụ

thuộc vào các yêu cầu phát triển

* Trong Les Lois, Platon thừa nhận lợi ích của việc

thám gia rực riếp: “Điều tốt nhất ở một Nhà nước

là cá nhân mọi công dân đều có thể nhận biết”

Trong khi Aristote đưa ra giải pháp thỏa hiệp giữa

201

Trang 16

Trần Ngọc Khánh

tham gia và hệ thống đại diện, cùng với việc đặt ra giới hạn kích cỡ của thành thị

Tuy nhiên, các thành thị Hy Lạp đã theo đuổi chính

sách bóc lột đề quốc, để tìm kiếm bánh mì và việc làm cho dân chúng ngày càng trở nên đông đảo

202

Trang 17

Chương ?

DAC TRUNG VAN HOA CAC DO THI GO HY-LA

THÀNH THỊ HY LẠP

“Thành thi Hy Lạp làm nên châu Âu, mặc đù thể giới

Hy Lap khéng han là thế giới châu Âu” [Lucien Fèbvre,

1999]

Thành thị Hy Lạp là một cộng đồng (polis), gim

các công dân ở thành thị và cả ở nông thôn Ngoài tính chất tôn giáo như các nền văn minh nguyên thủy khác, thành thị Hy Lạp còn là một hành vị chính trị, thông qua hình thức Hên hiệp giữa các làng, gọi là synœcismes (cộng đồng các ngôi nhà) Đó là sự tuân phục theo ý muốn của

tập thể, biểu hiện bằng luật pháp

Ngoại trừ các thành thị lớn gồm Athènes, Milet và

Corinthe, còn lại đa số có quy mô không quá 10 nghìn dân,

40 Phân biệt polís và civifas: polis có từ lâu đời, chỉ công dân, là một thực

thể trừu tượng Thanh vién polis được soi, la polites, politikos, civitas ob

từ nguyên tiếng latinh là civis, chỉ người đẳng hương (khác với công dân)

203

Trang 18

Trần Ngọc Khánh

do điện tích trồng trọt ít, cung cấp nước khó khăn Hầu hết

các thành thị Hy Lạp chưa có tường thành bao quanh, kế cả

Athénes; thương nhân không được coi là công dân

Theo _Wycherley, thành Athẻnes thời kỳ phát triển nhất có gẦn 40.000 công dân là đàn ông, cùng với khoảng

150, 000 người là kiều dan, phụ nữ và trẻ con không có quyền công dân và khoảng chừng 100.000 nô lệ Nói cách khác, chỉ có khoảng 1/7 dân số Athénes được hưởng các

đặc quyền công dân, trong đó số lượng công nhân và thợ tiểu thủ công không ngừng tăng lên

Theo Hérodote, văn hóa Hy Lạp chịu ảnh hưởng văn

mninh Ai Cập Song gần đây, thông qua thế giới các vị thần

và huyền thoại, F.M Comford đã chứng minh Hy Lạp chịu ảnh hưởng nhiều hơn của thành Babylone thuộc văn

minh Luéng Ha

Từ thế kỷ VII trước CN, thành thị Hy Lạp phát triển

theo hai hướng:

Nhóm 4cropole: ở bán đảo lục địa, trung thành với

truyền thống cũ; phát triển chậm

Nhóm 4gơra: ở các thuộc dia phương Đông, nơi có các hoạt động thương mại chiếm ưu thế hơn so với nông

nghiệp: phát minh tiền kim loại, sử dung bang chit cdi

Trong nền dân chủ Hy Lạp, thượng đề - thành thị và công dân hòa lẫn vào nhau, nhằm khẳng định “cái tôi”

(ego) theo nghĩa triết học; yếu tố duy lý xuất hiện và hùng biện trở thành công cụ chủ yếu của chính trị

204

Trang 19

Văn hóa đô thị

Ba trung tâm văn hóa lớn của nền văn minh Hy Lạp

thu hút khách viếng thăm và hành hương là: Ólympie,

Cos: nỗi tiếng là

trung tâm y tế, nơi có

trường y và xuất hiện nhà hiền triết Hippocrate (năm 460-

375 trước CN)

Ba cơ sở văn hóa quan trọng trong các thành thị của

nền văn minh Hy Lạp là: "Trường tập thể dục (trước đó là

sân chơi palestre), nhà điều dưỡng và sân khấu ngoài trời

(thường nằm trên các ngọn đổi ở bên ngoài thành thị)

Đền Apollon - Delphes

MẤY CỘT MỐC

* Nam 3000 - 1700 trước CN: khởi đầu hình thành

cư dân Hy Lạp

Khoảng năm 1250 trước CN, xảy ra cuộc chiến

thành Troie

205

Trang 20

Trần Ngọc Khánh

* Năm 1200— 800 trước CN: được gọi là “Những thé

ky tăm tối” khi đế quốc Hy Lạp vươn qua chau A

* Nam 800 — 500 trước CN: thời cỗ Hy Lạp với sự

bảnh trưởng các thuộc địa Hy Lạp ở Địa Trung Hải;

đô thị phát triển; năm 776 trước CN, lần đầu tiên tổ

chức các trò chơi Olympiques

+ Năm 500— 336 trước CN: thời cỗ điễn, sự kiện chiến

thắng của Hy Lạp năm 490 trước CN ở Marathon + Nam 336 — 146 trước CN: thời kỳ Hellénistique,

các thành thị đặt đưới quyền vua Alexandre nước

Macédoine, song vẫn dược quyền tự trị; thành lập

nước Alexandrie ở Ai Cập; năm 146 trưởc CN để

chế La Mã thiết lập quyền bính ở Hy Lạp

THÀNH ATHÈNES

Khoảng giữa thế kỷ X và VII trước CN, thành

Athènes được khai sinh từ symœcisme, kết hợp cư dân

giữa các làng và thị trấn, không phân biệt giữa nông thôn

và thành thi

41 Tương truyền có sự cạnh tranh giữa hai vị thần Athéna và Poseidon đặt tên

gọi cho thánh thị, bằng cách mỗi vị tặng cho thành thị một món quả Poseidon sản xuất ra con suối biển nốn lượn bằng cách đừng cây đính ba đập đắt, thể

hiện quyển lực biển; trong khi A théna tạo ra cây ô lìu, biểu trưng cho hòa bình

và thịnh vượng Người dân thành Athènes, dưới quyền cai trị của Cecrops, đã chấp nhận cây ô lu và từ đó đặt tên thành thị là 4/lẻnes

42 Ngoài Athènes còn nhiều đô thị cổ Hy Lạp khác theo mô hình này, kéo đài cho

đến thể kỷ VI trước CN, nhu: Megalopolis (năm 369 trước CN) ở vùng Arcadie, Cos (nam 365 trước CN) và nhiều đô thị Hy Lạp khác ở khắp vùng, từ Macédoine đến Tiểu Á Theo Thucydide, sử gia người Hy Lạp, các ngôi lảng nằm rải rác

và phòng thủ kém cần liên kết với nhau trong synœcisne không ngoài mục đích chống lại nạn cướp bóc

2%

Trang 21

Văn hóa đô thị

Acropole, với cổng đền cổ bên trái, Nữ thần Athéna của

điện thờ thần ở giữa các thành thị Hy Lạp

Trong thành Athènes gồm có ba loại người: công

đân (từ 18 tuổi, có đăng ký và ở các tông — thị trấn của

Athénes), kiéu dan (người tự do, sinh ra nơi khác và ở trong vùng Attique; không được sở hữu đất đai hoặc kết

hôn và phải có người đại diện hợp pháp) và các nô /¿ là nhân lực cho thành thị vận hành Để trở thành công dân Athènes,phải có cha là người ở Athènes; từ sau năm 451

trước CN phải có cả cha lẫn mẹ

- Công dân có quyền tự đo cá nhân tuyệt đối (trừ phụ

nữ, nô lệ và các kiều dân);

207

Trang 22

Trần Ngọc Khánh

~- Được quyền ngôn luận rộng rãi và tham gia với số

lượng lớn nhất vào hội đồng công dân (ecclesia)

Mỗi bộ lạc tổ chức rút thăm để cử ra 50 vị đại diện;

500 đại điện của 10 bộ lạc tham gia vào hội đồng, gọi là boulé Boulé la cơ quan hành chính, tài chính và tư pháp, hội họp hàng ngày, trừ ngày lễ; mỗi cuộc họp đều chỉ định ra một vị làm chủ tịch Các vị đại điện của mỗi bộ lạc chịu trách nhiệm 36 ngày/năm (# 1/10 năm), khi đi họp được trả tiền bồi thường (mithos), qua đó đề khuyến khích công dân nghèo đều có thế tham gia sinh hoạt

chính trị

CẤU TRÚC THÀNH THỊ

Đến thé ky VI trước CN, thành thị Hy Lạp kết hợp giữa hai yếu tố: (hành ở Acropole va thi 6 phần thấp là

Agora, không có tường thành, các hoạt động thương mại

phát triển

* ACROPOLE (tiếng Anh là

Acropolis) theo tir nguyén tiéng

Hy Lap 1a thanh phé trén cao

(akros = top; polis = city) Dé

là khu vực đền thờ, nằm ở chân

hoặc sườn đổi đốc đứng Đó vừa

là trung tâm tôn giáo, vừa là biểu

trưng quyền lực chính trị của

thành thị Acropole

208

Trang 23

Văn hóa đô thị

chính mang tên gọi gốc là

prytaneion, noi 6 hoang gia,

và một ngọn lửa thiêng được i

đốt ở đó để vinh danh nữ th :

than Hestia Lối lên cổng đền cổ Hy Lạp

Mỗi vị thần Hy Lạp biểu trưng một loại đạo đức hoặc

phẩm chất: công lý, sự hiểu biết, lòng đam mê, tỉnh yêu

* AGORA, nằm ở vùng thấp, trong các thành thị Hy

Lạp là địa điểm tập hợp; nơi có quảng trường công cộng

để dân chúng tụ họp Đó là phần chủ yếu và quan trọng

nhất của thành thị, được coi là không gian tự do; có các hoạt động thương mại và thủ công; tổ chức các hoạt động

vui chơi, biểu diễn, duyệt binh

Agora gồm có hai chức năng chính: chính trị và thương mại Agora dần chiếm lĩnh vai trò chính trị và tôn giáo của Acropole, trở thành trung tâm chỉnh trị và hành

chính của poiis Agora dần đần tập trung các hoạt động tôn giáo, nơi đặt các đền thờ, tượng, xung quanh có các

dinh thự và công trình kiến trúc Mặc dù vậy, tất cả các

hoạt động buôn bán ở Agora đều nằm trong tay các kiều dan (météques) Agora duge coi là tương đương với các forum thời đễ quốc La Mã về sau

209

Trang 24

Trần Ngọc Khánh

Thị dân Hy Lạp được hưởng các điều kiện sống tốt

hơn, nhờ xây dựng hệ thống đường sá, các nhà hát mới và

nhờ các cống dẫn nước từ trên núi về nên có nhiều bể tắm

công cộng Mặc dù vậy, đường sá còn hẹp, rộng không

quá 4— 5m, được lát đá, chủ yếu dành cho người đi bộ và

súc vật thổ

Các nhà hát và phòng tập đặt bên ngoài thành thị Đến

thế kỷ II - IV trước CN, các phòng tập được đưa vào nội

thành, trở thành các trung tâm tri thức, gồm có thư viện, bao tang và giảng đường Đáng chú ý nhất là khu Đại học

Acad¿mie (Academy) của Platon, trường Trung học Lycée

(Lyceum) của Aristote và trường tập thể dục Cynosargue

của Antisthène® sáng lập, noi tiếp nhận những người chỉ

có tư cách bán công dân

43 Antisthéne (444 ~ 365), nha triết học Hy Lạp theo thuyết độc thân, học trò của

Socrate, là người sáng lập trường phái œymique khoảng năm 390 trước CN, chủ trương tách khỏi các tập tục xã hội, kêu gọi thực hành đời sống đơn giản, phù hợp với tự nhiên

210

Trang 25

Văn hóa đô thị

thống chủ yếu là ứrực giao và phân 6 bản cờ

- Hệ thống rực giao (orthogonal), xuất hiện từ nửa

đầu thế kỷ V trước CN, bắt nguồn từ việc xây dựng lại

thành Miket (bị người Ba Tư phá hủy năm 494) Hệ thống

nảy tạo nên khối hình chữ nhật kẻ ô vuông, liên kết các công trình kiến trúc Hầu hết thành thị Hy Lạp đều theo

hệ thống trực giao với hai đặc điểm: đường sá có bề rộng

đồng nhất; kích cỡ các khối nhà cân đối, đều đặn

nhà triết học và kiến trúc sư ở thành Milet, Khi xâm chiếm

các thuộc địa, vì không có nhiều thời gian nghiên cứu các

điều kiện địa hình, việc sử dụng sơ đồ phân ô (quadrillage)

21

Trang 26

CHỨC NĂNG THÀNH THỊ

Theo Platon, thành thị Hy Lạp là trung tâm chính trị, không còn là nơi biểu hiện quyền lực của các vị thần linh như Zeus hoặc Athéna, Các cuộc họp của Hội đồng boulé trước đó diễn ra ngoài trời, nay được đưa vào họp trong nhà vuông, nơi được coi là công trình mang tính thế tục

đầu tiên

Athènes là thủ đô của Hy Lạp, được coi là cái nôi phát

sinh nền dân chủ và triết học, nơi đầu tiên đưa ra quan niệm

về cái đẹp và cái tốt, có tác động không chỉ trong thế giới

Hy Lạp mà còn La Mã và phương Tây cho đến sau này

Clisthẻne đã tiếp tục công cuộc hoàn thiện nền dân chủ

Hy Lạp, bắt đầu từ cuối thế kỷ VI trước CN (509-506), với

những cải cách triệt để như: kiểm soát quyền lực và đất đai của giới đại quý tộc; công nhận quyển bình đẳng chính trị của các tầng lớp thị dân trong pois Clisthène chủ trương

phân chia các công dân thành 10 bộ lạc theo các tiêu chí

dia lý, bất kể nguồn gốc và điều kiện xuất thân, Mọi thiết

chế đều phải phù hợp theo hệ thống thập phân của các bộ

lạc Mỗi bộ lạc luân phiên giữ vai trò thưởng trực của hội đồng boulé trong 1/10 năm Ngoài giới quý tộc, tầng lớp

thi đân còn bao gồm các thành phần dân tự đo: thợ thủ

212

Trang 27

Văn hóa đô thị

công, thương nhân, nô lệ được giải phóng, kể cả các kiều dân đến lưu trú ở thành thị Các kiều dân này gốc Hy Lạp, Phénicie, Ai Cập hoặc A Rập, đến thế ky V trước CN có

khoảng 20.000 người, chiếm một nửa số lượng công dân

của thành thị Hy Lạp Sau Clisthène, đến lượt Ephialtés

và Périclès hoàn thành thiết lập chế độ đân chủ trong các thành thị ở khắp Hy Lạp

Lap Etrusque còn gọi

là Toscane, vốn là dân tộc xâm chiếm và khai hóa vùng Bắc Ý, mang theo các mê tín và tín ngưỡng tôn giáo

Theo truyền thống, La Mã được hình thành từ nhiều

bộ lạc, đặt dưới quyền lãnh đạo của một bộ lạc gọi là gens

romana, ở trên núi Palatin Theo Lavedan, việc xác định

một nơi buôn bán chung, gọi là Forum, trở thành biểu

tượng của liên minh

Đền thờ thần Panthéon của La Mã

213

Trang 28

Trần Ngọc Khánh

Thành thị La Mã đạt đến thời hoàng kim ở hai thé ky dau công nguyên Cho đến thế kỷ V, trước khi đế quốc La

Mã sụp đổ, từ một trung tâm thành thị ban đầu, người La

Mã đã thành lập ít nhất 5.627 đô thị kết nối, được hưởng

quy chế thành thị riêng Dưới sự bảo hộ của đế quốc La

Mã, các tường thành cũ trở nên hoang phế, các thành phố

mới được xây dựng thông thoáng Cơ sở của quyền lực La

Mã là người dân biết tuân thủ &ÿ luật và trật tự

Vào thế kỷ VI trước CN, Athènes có khoảng 300.000

dân; trong khi thành Rome năm 189 trước CN có khoâng

1.100.000 dân, trong đó 275.000 dân sinh sống trong nội

thành (“intra-muros”) Một vài thành thị tiêu biểu khác như: thành Babyione có 700.000 đân đưới thời tri vi cha Semiramis, đường sá mở rộng lên dén 10m, nha cao ba bốn tầng, có sân thượng và có nước đưa lên tới nơi; thành Ninive có khoảng 800.000 — 900.000 dan

Các thành thị La Mã chú ý phát triển về chất lượng sống, song không phải ở thành Rome rộng lớn, nơi được mệnh danh là “Bà hoàng thành thị”, mà ở các thành thị có dân số không vượt quá vài nghìn người Thành thị La Mã , quan tâm nhiều nhất đến việc lát đường, cống dẫn nước và ˆ cống lớn thoát nước (cloaca maxima)

MAY COTMOC

* Nam 753 truée CN: Romulus lap thanh Rome

* Nam 509 trade CN: thành lập nền Cộng hòa

214

Trang 29

Văn hóa đô thị

+ _ Năm 146 trước CN, La Mã thiết lập quyền bính ở

Hy Lạp

+ _ Năm 27 trước CN: chấm đứt nền Cộng hòa; thiết

lập dé ché Auguste (năm 14 sau CN), bắt đầu bành

trướng lãnh thô đề quốc

+ _ Thế kỷ II: bị áp lực từ người Barbares và Ba Tư

° - Năm 395: đế quốc La Mã chia đôi: phương Tây

(nông thôn hóa, thành thị thu hẹp hoặc biến mắt) và

phương Đông (đô thị hóa, theo Kitô giáo)

* Nam 476: để quốc La Mã phương Tây suy tàn

LỄ THỨC THÀNH LẬP

Sự ra đời của thành thị La Mã là một hành vi thiêng,

trải qua 4 giai đoạn:

1 Bói điểm: nhằm bảo đảm thượng đế không chống

lại ý muốn thiết lập thành thị

2 ORIENTATIO: xác định hai trục đường chinh giao nhau, gồm:

* Decumanus (hướng Đông-Tây)

Các đường này đẫn đến bốn cửa thành ở bốn phương,

vì người ta tin rằng như vậy thành thị sẽ sáp nhập vào trật

tự chung của vũ trụ

3 LIMITATIO: cày một huiống rãnh, đừng lại ở nơi

dự kiến sẽ làm cổng thành Người ta tin rằng như

215

Trang 30

Trần Ngọc Khánh

vậy sẽ tạo ra tuyến Pomerium, nơi xây dựng tường

thành bảo vệ, đê ngăn chận ma quỷ vượt qua

4 Tế lễ: đặt thành thị dưới sự bảo hộ của các vị thần

Đó là bộ ba ở điện than Capitole 1a: Jupiter (thin

trời, Zeus), Junon (vợ thần trời, Héra) va Minerve

(nữ thần thông thái, hộ mệnh thành La Mã, còn gọi

là Athéna)*

CẤU TRÚC THÀNH THỊ

Đế quốc La Mã phân biệt hai thứ bậc thành thị:

EX NIHILO - thành thị mới thành lập ở thuộc địa; MUNICIPES - thành thị có từ trước được nâng cấp lên

Chính quyền La Mã có các quy định về xây dựng, đo

đạc phân ra từng vùng, có các dịch vụ thị chính quan trọng

Các thành thị thuộc địa do các đơn vị quân đội La Mã xây

dựng theo một đồ án giống nhau hình chữ nhật, có bốn cửa,

được phân chia đo vẽ địa hình bên trong rất đặc trưng

Thành thị La Mã chú ý mở rộng không gian công

nhằm tiển hành chính sách đông hóa: đối với dân chứng,

thông qua các hoạt động giải trí, đỗi với trí thức, thông qua các trường học đạy tiếng latinh, các trí thức luật

học, để tuyển chọn thành phan ưu tú quân lý các hoạt động công

44 Ban đầu ở điện thần Capitol gồm: Jupffer, Mars (thần chiến tranh) và Quiri-

nus (thần sản xuất), về sau này mới thay đổi đo chịu ảnh hưởng Étrusque vùng,

Trung Ý Theo Georges Dumézil (1898-1986), bộ ba các vị thắn đầu tiên ở

điện Copitol biểu hiện ba chức năng chủ yến được tôn vinh của các dân tộc

Ấn-Âu thời cổ đại là: quyển uy, chiến tranh và sản xuất

216

Trang 31

Văn hóa đô thị

Ở thành thị La Mã, các nhu cầu chủ yếu như bánh mì,

điều kiện vệ sinh, trò chơi ở nhà xiếc đều miễn phí hoặc

với giá cả không đáng kế khi vào nhà tắm công cộng

Thành tựu đáng kinh ngạc của thành thị La Mã là cống ngầm thoát nước, cống dẫn nước và đường sá được

lát Các cống dẫn nước từ thời La Mã cho đến nay vẫn tồn

tại như cống Ségovie, cầu Gard thường được gắn với

tên tuối nhà kiến trúc La Mã Vitruve

* TƯỜNG THÀNH: ít được gia cỗ, có nơi phá bỏ để

mở rộng thành thị, do nền hòa bình của đề chế La Mã (pax

romana) kéo dài Tường thành có giá trị tồn giáo kết hợp

với ý nghĩa ma thuật khi tiến hành lễ thức phân chia ranh

giới thành thị

* ĐƯỜNG SÁ: Năm 312 trước CN, Appius Clauđius

cho xây dựng con đường đầu tiên của La Mã, gọi là vía

Appia Theo Jérome Carcopino, thành Rome thời Cộng hòa chỉ có hai đường xứng đáng gọi là vía, tức là có chiều rộng đủ cho hai xe ngựa chạy ngược chiều nhau: via S$acra, dùng cho các đám rước; via Nova, mới hơn như tên gọi của nó

Hầu hết đường sá đều có lề đường, được lát đan, xây

đựng theo các hệ thống bản cờ (échiquier), cờ ô vuông (damier), vuông góc (€querre), trực giao (orthogonal), kẻ

ô vuông hay chữ nhật (quadra) hoặc ô vuông kiểu Mỹ

(gridiron) Chiều rộng đường sá La Mã không đồng nhất,

các đường quan trọng có từ 4 — 8 m, trung bình là 5 m

217

Trang 32

Trần Ngọc Khánh

Đến đầu Công nguyên, đường sá có quy chuẩn ưa

thích là: trục Decwmanus rộng khoảng 20m; trục Cardo

rộng bằng một nửa Nhiều cửa hiệu đặt dưới các dãy cột

tráng lệ, bảo vệ người đi bộ khỏi mưa nắng, biến các trục

lộ thành nơi hoạt động thương mại sam wat

Khi César lên cầm quyền, một trong các quyết định

đầu tiên là cắm xe cộ lưu thông ban ngày trong thành phố

(ngoại trừ xe của các xưởng xây dựng)

* FORUM: Forum vén là chợ, trung tâm sinh hoạt

công cộng, nơi tụ họp, gặp gỡ các thành phần cư dân, thường nằm ở điểm giao nhau cua hai truc Decumanus va

Cardo, cũng là nơi cắm xe cộ lưu thông Kích cỡ Forum

được tỉnh toán tùy theo số dan Chiều rộng có tỉ lệ bằng

2/3 chiều đài Ngoài Forum còn có các Fora đành cho các hoạt động thương mại

Bên cạnh các hoạt động thương mại, ờ Forum côn có: + _ Các công trình đồn giáo: đền CAPITOLE nơi thờ ba

vị thần Jupiter, Junon va Minerve

« - Các công trình thé đục: điện BASILIQUE nơi hội

hop và tư pháp; CƯRJE của hội đồng thành phế và

PRAETORIUM dinh téng tran

Forum được coi là trung tâm dân sự, thuộc về đời

sống cộng đồng của thành thị La Mã Đối với người La

Mã, Forum là một phức hợp toàn thể, gồm có các đền thờ,

ban thờ, các sân tư pháp và các phòng hội nghị, các đỉnh 218

Trang 33

Văn hóa đô thị

Chợ Trajan thời La Mã Chợ Trajan, từ tầng 3

thự, được bao quanh bằng các dãy cột và không gian trỗng rộng nơi diễn giả có thể nói chuyện với đám đông

Mỗi thời hoàng để đều cố làm đẹp Forum, xây dựng

thêm một tòa nhà hoặc tiện ích nào đó

* NHÀ Ở: gồm 2 loại, gọi là DOMUS và INSULAE

Domus: chiếm vị trí quan trọng, thường là nhà ở dành cho sinh hoạt gia đình, chỉ có 1 tang, hoặc có khi là lâu đài to lớn

Insulae: nha 6 nhiều tầng, cô khi 6 — 7 tầng, gồm

nhiều căn hộ Một số ít Insulae có đầy đủ tiện nghỉ, dành cho giới thượng lưu Hầu hết các Insulae đều là nơi ở zÂm

thường, thiểu tiện nghỉ; kể cả phần đưới mái cũng được

dùng làm nơi ở, giống loại nhà ổ chuột

219

Trang 34

Trần Ngọc Khánh

Thành Rome có khoảng 4.600 tòa nhà, mỗi căn chứa

trung bình 200 người luvénal ở thé kỷ II từng kêu lên:

“Hãy nhìn chiều cao các tòa nhà kỳ vĩ này, mỗi nhà ít nhất

có mười tang” [Mumford] Qua đó cho thấy, mật độ dân

số thành Rome khá cao Tuy nhiên, Auguste phải giới hạn chiều cao nhà mặt tiền là 70 bộ romains'®, vì thời đó xây

cát bằng vật liệu nhẹ, nhiều nhà bị sụp đổ, làm chết hàng

tram người

Để giải phóng đất đai canh tân đô thị, Neron (37-68)

đã cho châm lửa đốt thành Rome, gây ra vụ Đại hỏa hoạn

vào năm 64 sau CN, làm cháy § khu phố, sau đó ông cho

lập sơ đồ tổng thể dé xây dựng lai (Domus aurea)

Công trình “Nhà vàng” của Neron được coi là “kỳ

quan tối thượng của thành La Mã” Các tòa nhà bao phủ 300.000 m?, có công viên rộng bao quanh lâu đài, với các vườn tược, bãi có, bể nuôi các loài thủy sinh, kho chứa thịt thú săn, gà vịt, rượu nho, nước uống, giếng

nước, thác nước, hỗ, các đường hành lang trong cung

Một số bức tường được khảm ngọc trai và nhiều loại đá

quý Phòng ăn có trần hình tròn bằng ngà voi, trên đó vẽ

bầu trời và các vì sao, có đặt máy giấu bên đưới sản nhà

để nó quay vòng thường xuyên và một dãy phòng cho

các địch vụ nhà tắm, nóng, lạnh, nước biển, hơi hoặc

lưu huỳnh

45 Một bộ romain bằng 29,64em Đơn vị đo lường nhỏ nhất của người La Mã

tính bằng ngón tay (18,525mm)

220

Trang 35

Văn hóa đô thị

CÁC THIẾT CHẾ

Dưới thời hoàng dé Claude (-10 — 54), vi hoang dé

thứ tư của đế quốc La Mã, một năm có 159 ngày được

coi là ngày lễ, trong đó

ngày dành cho biểu diễn các trò chơi, gần gấp đôi thời

Claude Như vậy, tổng số ngày nghỉ lên đến 200, tức là

hơn một nửa năm

Khoảng năm 300 sau CN, thành La Mã có § khu vườn

lớn và công viên sử dụng cho các trò chơi và tập thể dục,

và chừng 30 cái nhỏ hơn phân bố trong thành thị

Theo Lewis Mumford, hai thiết chế thành thị Hy Lạp

là trường tập thể dục và nhà hát có nguồn gốc thiêng tử

các trò BHÒNG sáp ma và lễ tin tein mới ii cây cối và

Đấu trường Arles thời La Mã

và nhà t tắm của thành thị La Mã cũng có nguồn gốc tương

tự, biểu hiện nhiều đặc điểm về kiến trúc của thành thị

La Ma

221

Trang 36

Trần Ngọc Khánh

* HÍ TRƯỜNG (đấu trường, nhà bậc, trường xiếc,

nha hat)

Các cuộc biểu điễn ở đấu trường là thiết chế tiêu biểu

của người La Mã Thực ra, đó là sự tái điễn tập quán cũ

về hiến tế của con người đưới hình thức thuần túy thế tục

Người La Mã mê đua xe, các trận thủy chiến mô phỏng trên

các bể vịnh lớn nhân tạo và thể loại kịch câm phóng đãng

'Năm 234 trước CN, nhân lễ tang cha mình, toàn quyền

Decimus Junius Brutus khai trương các cuộc giác đầu đầu

tiên Ban đầu, người tham gia là những tội phạm bị kết án, với ý nghĩa cho họ có cơ hội sống sót, song thực tế đây là

“đây chuyền chết chóc” Các đội quân La Mã tổ chức các

cuộc chỉnh chiến còn nhằm cung cấp đội ngũ người và thú vật cho trường xiếc

Hi trường thường xây dựng nơi vùng dat tring hep, giữa các ngọn đồi, có các thềm bậc cấp bao quanh, với

đường băng đài dành đua xe ngựa Các cuộc biểu diễn

đua xe ngựa hai bánh không hiếm khi bị bé xe, hat tung

người lái và bị vo ngựa giẫm đạp Hi trường đầu tiên là

Flaminius, xây năm 22 Ì -

trước CN ở Champ de

Mars, cạnh sông Tibre,

nơi tổ chức các cuộc

Đấu trường Arles thời La Mã

222

Trang 37

- Văn hóa đô thị

sâu sắc vào lối sống của xã hội La Mã Đến năm 326,

việc đưa các tội đồ vào hồ sư tử được hủy bỏ; còn các trận giác đấu mãi đến năm 404 mới được hoàng đề Honorius

ra lệnh cấm

Có thể hình dung ít nhất có đến một nửa đân số thành Rome đặt chỗ trong các đấu trường hoặc nhà bậc Trường xiếc Maximus được cho là cổ xưa nhất, duge César xây dựng lạ có it nhất 385.000 chỗ (Jéréme Carcopino đưa ra con số 255.000; còn Curtius đánh giá phải chứa it nhất là 80.000 người) Biểu diễn xiếc thường bắt đầu từ buổi sáng,

không ít người ở lại đó để xem suốt ngày Thành Arles có

15.000 dân, song đầu trường nhà bậc có sức chứa 25.000

chỗ; nhà hát thành Pompéi có sức chứa 20.000 người

Nhà xiếc được sắp đặt để dùng vào nhiều mục đích

khác nhau Sân khấu hình bán nguyệt khép lại theo hình vòng cung: các buổi diễn kịch Hy Lạp được thay bằng

opéra trên sân khấu lớn; còn hát opéra nhường chỗ cho kịch câm, có lẽ vì diễn ngoài trời, trước hàng chục nghìn

khán giả nên khó nghe lời thoại

223

Trang 38

Trần Ngọc Khánh

Nhà hát được xây bằng đá, nơi đất bằng, dành cho

các đấu sĩ, khác với thành thị Hy Lạp thường khoét vào

sườn đồi

Nhà hát Colisée ở thành La Mã, hoàn tất xây dựng

dưới triều hoàng để Titus, có thể tiếp nhận 45.000 khán giả

* NHÀ TẮM CÔNG CỘNG

Là khu nhà sang trọng dành cho mọi thị dân, có thể sánh ngang với các trung tâm mua sắm hiện đại ngày nay

Ngoài quan niệm vệ sinh cơ thể, các nhà tắm công cộng

còn được ví như đền thờ - thần thể xác có vị trí danh dự

trong điện thờ Panthéon của người La Mã

Nhà tắm có các hoạt động đa chức năng, gồm: các sảnh đi dạo, thư viện, phòng đọc, phòng tập TDTT, nhà

hàng Bộ phận chính của nhà tắm gồm hai phòng kích

thước lớn, nơi có các hỗ tắm nước nóng, lạnh và ấm, một dãy phòng dành cho massage, thư giãn hoặc dùng bữa tập thể, các trường thể dục để huấn luyện các môn thể thao và các thư viện cho người thích đọc sách hoặc nghiên cứu

Nhà tấm rất nỗi tiếng, có thể phục vụ cùng lúc cho

60.000 công dân Nhà tắm công cộng Caracalla cần

70.000 m° nước mỗi ngày Do đó, cần có hệ thống đường

và cống dẫn nước Số lượng nước tiêu thụ khoảng 1.000 lít mỗi ngày tính trên đầu người dân

224

Trang 39

Chương 8

CAG QUA TRINH 0 THI HOA

TREN THE GIG

THANH THI TRUNG DAI

Thuật ngữ “Trung đại” xuất hiện từ giữa thế ky XVIII

để chỉ thời kỷ từ lúc đế quốc La Mã sụp đỗ năm 476 cho

đến khi người Thổ chiếm đóng Constantinople năm 1453

hoặc theo cách dùng phỗ biến kéo dài đến lúc tim ra châu

Mỹ năm 1492

Có xu hướng coi thời Trung đại diễn ra chậm chạp,

thậm chí đen tối trong các thành thị bất động Nhưng dần dần người ta khám phá thời kỳ này có nhiều biến đổi tích

cực, phong phú

225

Trang 40

Trần Ngọc Khánh

Từ thế kỷ II, trước

những cuộc xâm lăng

của người BarbaresS,

hoặc theo cách nói của

Thành thị Trung đại ay Y (tranh)

Barbares “người Germains” sống bằng nghề chăn

nuôi và trồng trọt; theo tín ngưỡng đa thần, thờ thảo mộc, sông suối và đá; giỏi thuật luyện kim và kim hoàn Họ

đưa vào châu Âu kỹ thuật luân canh 3 năm/lần Họ tiếp biến ngôn ngữ Latinh và theo Cơ Đốc giáo, nhờ đó giữ được tính liên tục giữa đề quốc La Mã với các triều đại Barbares thông qua Nhà thờ (nhập civias vào polis)

Cho đến năm 406, chưa có đân tộc Barbares nào vượt qua được sông Rhin và thượng nguồn sông Danube Từ năm 407, quyền lực La Mã ở vùng Bretagne lơi lỏng đần Đến giữa thế kỹ V, ở vùng Gaule chỉ còn các khu phô La

Mã ngăn cách nhau bởi các cơ sở của người Barbares Ở

Tây Ban Nha, người Barbares chiếm đóng 3/4 lãnh thổ, dân dân hình thành các vương quốc Barbares, danh dẫu sự

khởi đầu thời đại phong kiến ở châu Âu từ cuối thé ky IX

46 “Barbares” theo cách gọi của người Hy Lạp để chỉ người Ba Tư và người

phương Đông không nói tiếng Hy Lạp, hàm nghĩa đã man, không có văn héa(!)

226

Ngày đăng: 20/12/2022, 20:30