Tiếp nội dung phần 1, Văn hoá đô thị giản yếu: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: sự kiện thành thị; đặc trưng văn hoá các đô thị cổ Hy-La; các quá trình đô thị hoá trên thế giới; thành thị và chất lượng sống; đặc trưng đô thị hoá các đô thị lớn trên thế giới; không gian tự nhiên; không gian kỹ thuật; không gian nhân văn. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Phần thứ ba THỜI GIAN VĂN HÓA ĐÔ THỊ
187
Trang 2Chương 6
SU KIEN THANH TH
CÁC THÀNH THỊ ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI
Thành thị xuất hiện đồng loạt ở nhiều nền văn minh: Lưỡng Hà, Ai Cập, Ba Tư, Bắc Ấn Độ (Pakistan ngày nay), Bắc Trung Hoa Đặc điểm chung ở các vùng này là
có bình nguyên rộng, nhiều nước, tiến bộ nông nghiệp cho
phép tăng gia sản xuất lương thực, giải phóng một phần
dân số lao động khỏi đất đai, hình thành nên các đô thị đầu
tiên, thường nằm gần cạnh con sông lớn hoặc hải cảng"3,
Nền văn minh Lưỡng Hà
(Mésopotamie) gắn với vùng châu thổ
hai con sông Euphrate, Tigre và vùng »
đất nằm giữa hai con sông theo cách
gọi bằng tiếng Hy Lạp hoặc Ả Rập, Babytone® %
33 Người ta cho rằng trên thể giới cỏ bốn nền văn mình nổi tiếng phát sinh đọc
các con sông, ngoài Lưỡng Hà còn có: châu thổ sông Nile ở Ai Cập, sông
Tndus (còn gọi là sông Ấn, nay thuộc Pakistan), lớn thứ hai sau sông Hằng ở
Án Độ vả châu thổ sông Hoang Hà ở Trung Quốc
188
Trang 3Văn hóa đô thị
nay chủ yếu nằm trên lãnh thổ nước Iraq Van minh LuGng
Hà xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ 4 trước CN, nơi ra đời
nhiều thành thị nổi tiếng như Ur, Umk, Nippur, Babylone
Nông nghiệp Lưỡng Hả canh tác bằng cày, phát triển hệ
thống đập, kênh đẫn nước đề tưới tiêu
Nền văn minh Ai Cập nỗi tiếng với các vị vua Pharaon huyền thoại, kỹ thuật tớp xác và các kim tự tháp không
lồ, nơi có kênh Suez nối Biển Đỏ và Địa Trung Hài
(1869) Ai Cập cô đại ở vùng Bắc châu Phi ia một trong các nền văn mỉnh sớm nhất trên thế giới, nằm trong lưu
vực sông Nie Sông Nile dai khoảng 6.500 km, gdm bảy
nhánh lớn để ra vịnh Địa Trung Hải Phần hạ lưu sông
Nile r6ng lớn, có nơi rộng từ 10 — 50 km Hàng năm nước 1ũ sông Nile dâng lên từ tháng 6 — 9, làm tràn ngập cá vùng
đồng bằng màu mỡ Từ 7.000 năm trước Công nguyên,
cư dân vùng sông Nile đã biết canh tác, trồng lúa mạch trên vùng đất đen nhiều phù sa Họ biết tính lịch dương
từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên, chia mỗi năm
thành 365 ngày; biết sử đụng kim loại từ thiên niên kỷ thứ
4 trước Công nguyên
34 Vương triều Ai Cập đầu tiên bắt đầu khoảng năm 3.100 trước Công nguyên,
kinh đô ở thành Memphis Trái qua 30 vương triều, kéo dài cho đến năm 332
trước Công nguyên, cuối cùng bị vua nước Macédonie là Alexandre Dai Dé
thôn tinh, đông đôở Alexandria của Ai Cập, Pharaon tức là ngồi nhà lớn dùng
để chỉ triều đỉnh, đuợc các vua Ai Cập sử dụng kể từ vương triểu thứ 12 vào cuối thiên niên kỷ II trước CN Kim tự tháp cia vua Khufu ở Giza, khoảng
2.700 năm trước CN, được coi là lớn nhất và là một rong bảy kỳ quan thể
giới, đã xây cất trong 20 năm, sử dụng 300.000 nhân công
189
Trang 4Trần Ngọc Khánh
Các thành thị của nền văn minh Lưỡng Hà khác với
nén van minh Ai Cap
6 Luéng Ha: vua không tự coi mình là thiên tử; con
người đối nghịch tự nhiên; thần đữ tợn; nhà nước độc đoán; dân cư bị cai quản trong các vòng thành; xuất hiện nhiều nhà thông thái và triết gia
Ö Ai Cập: các pharaons được ví với thượng để, là con cháu các vị thần linh, nên tự phong mình là va vỡ rrụ,
vua vĩ đại đồng thời còn gọi là người chăn dat, cai quan
than dan Thanh thi trước hết là trung tâm tôn giáo, nơi
quyền lực tối cao; sa mạc, biển và đổi núi là các tường
thành “tự nhiên” bảo vệ; xuất hiện kiểu thành thị dành cho người chết; có nhiều tư tế, các tư tưởng tôn giáo
Thành thị phương Tây xuất hiện đầu tiên khoảng
8.500 năm trước Công nguyên, ở vùng Trung Đông (nay
thuộc Irak, Liban, Syrie, Jordanie, Israél va Palestine) Cu dân vùng Lưỡng Hà thuộc lưu vực sông Tigre và sông Euphrate làm 2 vụ lúa/năm, nhờ đó có sản phẩm thừa đễ
trao đổi Ở Jéricho, con người đã biết tưới đất ít nhất từ 7.000 năm trước CN [Nicholson, 1973:182]
Đầu tiên là các thành thị độc quyền về thương mại của nước Phénicie ở vùng vịnh Địa Trung Hải (khoảng năm
3000 trước CN, nay thuộc lãnh thổ nước Lebanon, một phần
35 Phân biệtđô › thị phương Tây (Occidend), khác với châu Âu (Europe) có nghĩa
là “xứ sở buổi chiều t3”, phân đất nằm phía tây Hy Lạp và Địa Trung Hải, Khi
thành thị xuất hiện phổ biến ở vùng đất này thì châu Âu hầu như vẫn chưa có thành thị
190
Trang 5Văn hóa đô thị
Syrie va Palestine) gồm có: Tyr, Byblos, Sidon (nay thuộc
Lebanon) Khác với các thành thị Hy Lạp gắn với vùng
đất dai phì nhiêu để trong trot, hầu hết các thành thị Phénéxi đều nằm dọc bờ biển, cạnh các hải cảng, với các cư dân chuyên nghề hàng hải, trong đó nỗi tiếng là thành Carthage (thành lập năm 814 trước CN, nay thuộc Tunisie) sau jay là đối trọng của thành Rome Các tường thành chưa xuất hiện trong các thành thị Phénicie (ngoại trừ thành Sardaigne), vi
biển được coi là “thành trì” phòng thủ vững chắc nhất,
Sau khi Phénicie suy tàn và biến mắt (năm 332 trước CN), đến lượt các thành thị Hy Lạp nối tiếp từ năm 700
trước Công nguyên ở Ý, Sicile, rồi Gaule (Nice, Antibes,
Marseille Ds Tay Ban Nha; và từ thế kỹ V trước Công nguyên ở Bắc Âu và Anh, tạo nên /ấm bản l thành thị
giữa Trung Đông và phương Tây
Phân biệt bốn thời kỳ phát triển của các thành thị cổ
trung đại ở phương Tây:
1 Thành thị Hy Lạp: có cấu trúc Poiis - nông thôn
nhập vào thành thị để quản lý về chính trị, hình
thành không gian công đân Polis là biểu hiện về
đạo đức, chính trị và tôn giáo
2 Thành thị La Mã: phát triển quy hoạch đô thị của để
quốc nhằm chiếm hữu đô thị, đồng hóa các thành
phần cư dân về chính trị và văn hóa
3 Thành thị Trung đại: do tác động xâm chiếm của
người Barbares - du nhập vào châu Âu văn minh
191
Trang 6Trần Ngọc Khánh
đô thị có nguồn gốc phương Đông ~ đô thị thương
mại phát triển
4, Thanh thị s ứÿ: Từ TK X, có phạm vỉ không gian
riêng, ngày càng khác với môi trường phong kiến
CÁC ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA THÀNH THỊ
Theo quan điểm mác-xít, thành thị xuất hiện đo các
tiến bộ về phân công lao động xã hội, cùng với sự tách
ra khỏi nông nghiệp của tầng lớp thợ thủ công rồi thương
nhân (kiểm soát sản xuất, sử đụng tiền tệ, phát triển giao
thông vận tải ) Theo Valquin [1977], “Dù nói gì thì nói,
điển tệ là quyền lực kinh tế xây dựng đô thị 4
Theo Beaujeu-Gamier [1995:51-53], thành thị ra đời
từ ba nguyên do: kinh tế, chính trị và phòng thủ, trong đó phòng thủ có thể coi là một mặt của chính trị, nhằm bảo vệ
các quyền lợi về kinh tế, bảo đảm các hoạt động kinh tẾ
Tất cả các nền văn minh lớn đều bắt nguồn từ thành thị Pirenne gọi thành thị là “con gái của thương mai”
Thành thị xuất hiện và phát triển chủ yêu ở các ngã tư, cảng sông hoặc cảng biển Tập trung dân số tạo nên các
nhu cầu về địch vụ cho cư dân Một thế hệ thành thị khác
ra đời do phát triển công nghiệp từ cuối thế kỷ XVII
Các phương tiện kỹ thuật được cải thiện; xuất hiện nhiều
thành thị chuyên môn hóa: khai mỏ, luyện kim, đệt v vải Hàng trăm thành thị ở Bắc Mỹ và nước Úc được hình
36 _ Dẫn theo Jacqueline Beaujeu-Garnier, sdd., tr 29
192
Trang 7Văn hóa đô thị
thành nhờ dân nhập cư vào khai thác các giá trị lãnh thổ,
với hai nhân tổ lớn là thương mại và công nghiệp trên phạm vi toàn cầu
Chính trị kết hợp với kinh tế đưới nhiều hình thức
nhằm quản lý quyền sở hữu tài nguyên, đất đai lãnh thổ
và dan cư Ở Liên Xô sau cách mạng 1917 cũng bùng nỗ
đô thị công nghiệp, thường gọi là “các thành phố công nhân” do Nhà nước đứng ra tô chức Cũng vì các lý đo
chính trị mà xuất hiện các thủ đô mới, như: Ankara ở Thổ
Nhĩ Kỳ, Canberra ở Úc, Abuja ở Nigeria, Yamoussoukro
ở Bờ Biển Ngà
Chính trị còn kết hợp với xã hội là công thức hình thành nhiều “thành phố mới”, để người dân ở đô thị có đời sống dễ dàng và hạnh phúc: nhà ở mới, trang bị thích hợp, việc làm gân nơi ở, có không gian xanh, giao thông
thuận lợi và hữu hiệu
Mặt khác, vì lý do quân sự mà nhiều điểm bảo vệ chiến
lược ở biên giới trở thành đô thị (Besancon, Metz ), hoặc
các thành lũy (bastides) do các vua Pháp xây dựng ở vùng Tây Nam làm cứ điểm đương đầu với quân đội của vua Anh
Tóm lại, thành thị ra đời đo sự kết hợp của nhiều nhân
tố chủ yếu bao gồm: kinh tế, xã hội, dân số và tổ chức
1 Về kinh tế: xuất hiện các hoạt động trao đôi, thương mại nhờ có sản phẩm làm vật trao đổi Theo Harvey [1973], nhiều thành thị được khai sinh có nguồn gốc la
do “sy thing du phat xuất từ kinh tế chợ” Cuộc cách
mạng đá mới, chế tác các vật dụng thủ công và phát triển
193
Trang 8gian, trong đó có thương lNRMẬNG aan
nhân lưu chuyển hàng Tăng trưởng đô thị ở Tây Phi
Thành Babylone bên dòng Euphrate, là thành thị- đế
quốc hùng mạnh vùng Mésopotamie kể từ năm 1.700
trước CN, dân số 300.000 người, có hoạt động thương mại phát triển mạnh
3 Về đân số: đạt mức nhất định, bình quân khoảng
15 nghìn dân (ở Pháp, ngưỡng thành thị từ 2.000 dân, ở
Mỹ là 2.500, trong khi ở Nhật trên 30.000 dân)
4 Về rổ chức: có bộ máy quyền lực dé quản lý, diều
hành các hoạt động trên phạm vi lành thố Do đó, thành thị còn được coi là ung tâm chính trị Các thành thị-nhà nước (states-cities) thành lập tử thiên niên kỷ 2 trước CN
tại Phénicie, kế đó là Hy Lạp và châu Âu thời trung đại giữa thế kỷ X và XII, từ Ý đến Bắc Âu Ở Địa Trung Hải
(kể cả ở bờ biển Bắc châu Phi) và lục địa chau A, thành
thị đã xuất hiện hàng nghìn năm hoặc có từ rất lâu đời
194
Trang 9Văn hóa đô thị
Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm và không hoàn toàn
giống với phương Tây, song các đế quốc thảo nguyên
và các nền văn minh vườn aược đều đã xuất hiện thành
thị từ hàng chục thế kỷ Bên ngoài kinh đô Bắc Kinh là vườn tược mênh mông của các thành phố vườn cây; xung quanh các công trình kiến trúc ở Ả Rập và Ấn Độ, làng mạc chiếm nhiều ưu thế hơn so với thành thị
Trước khi sự kiện thành thị lan tỏa ở châu Âu TK XIX,
lục địa đen (châu Phi) là nơi duy nhất có rất ít thành thị
Ngoại trừ vùng rừng Tây Phi (Soudan) đã xuất hiện các
đô thị nông nghiệp, ở lưu vực Công-gô và phần lớn Đông
Phi, Nam Phi đều không có thành thị Theo P George [1952:3], nguyên nhân của hiện tượng này là do:
1 Chưa có các tổ chức chính trị - xã hội ổn định;
2 Quan trọng nhất là do khối lượng sản phẩm trao đổi
còn quá Ít ỏi
Ngày nay, 62,1% dân số châu Phi còn ở nông thôn, song
, tỷ lệ phát triển đô thị lại nhanh nhất thể giới, đạt gần 4% /
nim, gan gap doi so với mức tăng trung bình của thế giới Trong khi đó, các nền văn minh cổ đại của người Inđiens
ở Trung Mỹ và Nam Mỹ, xuất phát từ nền vin minh thudn nông, vẫn có truyền thống thành thị phát triển liên tục
CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG ĐẦU TIÊN VỀ THÀNH THỊ
HIPPODAMOS
Hippodamos (năm 498-408 trước CN), sinh trưởng ở
thành Milet thời Hy Lạp cô đại, là nhà kiến trúc, quy hoạch,
195
Trang 10Trần Ngọc Khánh
vật lý, toán học, khí tượng và triết học Hippodamos được
coi là ông tổ của ngành quy hoạch đô thị Ông chủ trương
xây dựng thành thị trật tự và dều đặn
Theo Hippodamos, thành thị lý tưởng gồm 10.000
công dân tự do, cộng thêm phụ nữ, trẻ em và nô lệ có thể
đạt 50.000 người Ông chia công dân thành thị gồm ba tằng
lớp: các chiến binh, thợ thủ công và các nông dân, tương
ứng với ba chế độ đất đai dành cho: thiêng, công và từ
So dé ké 6 (grilles, tiếng Anh là grids) thường được
gán cho ông gồm một loạt các con đường thẳng và rộng,
cắt nhau thành góc vuông Ở khu vực trung tâm có một
quảng trường rộng, là trung tâm của đô thị và xã hội như Agora
Hippodamos còn là người đưa ra khái niệm luật sáng
chế từ rất sớm, theo đó ông đề xuất xã hội nên tưởng thưởng
cho các cá nhân làm ra điều gì hữu ích cho xã hội, sau này được Aristote nhắc đến nhiều trong công trinh Politics
HIPPOCRATES
Hippocrates (khoảng năm 470-370
trước CN) không chỉ là ông tổ của nghề y (sáng lập trường Y ở đảo Kos, Hy Lạp), mà
được coi là người đầu tiên đưa ra những ý tưởng mới mẻ về quy hoạch đô thị
Trên cơ sở quan sát và nghiên cứu
cơ thê con người, ông cho răng cơ thê
Hippocrates
196
Trang 11Văn hóa đô thị
không phài là một tập hợp rời rạc của các bộ phận mà phải
được coi là một tổng thé
Hippocrates quan niệm bệnh tật không phải do nguyên
nhân từ các sức mạnh siêu nhiên, xuất phát từ những ý
nghĩ tội lỗi hoặc do báng bổ thần thánh Ông định ra các
nguyên tắc căn bán để chọn lựa địa điểm xây đựng thành
thị đàm bảo các điều kiện vệ sinh Công trình nỗi tiếng
của Hippocrates là “Nước, không khí và địa hình” Theo ông, thành thị nẻn thiết lập ở nơi có nguồn nước đự trữ trong lành, tránh nơi đầm lay Ong định Ta các con dường phù hợp để giảm tác động của ánh nắng mặt trời và để có gió mát lưu chuyển
PLATON
Platon (năm 428-348 trước CN) xuất thân từ dòng dõi
quý tộc thành Athènes, học trò ruột của Socrate” Ông
sáng lập ra trường phái triết học kinh viện (acađémie) lớn
nhất thời cỗ đại
37 _ Socrate (khoáng năm 470-399 trước CN), nhà triết học Hy Lạp chủ trương
không dùng chữ viết xơ cứng mà bằng lời nói, đối thoại sinh động để truyền
đạt tư tưởng hoặc đạo đức Khác với các nhà thông thái trước đó, Socrate
không quan tâm đến thể giới tự nhiên mà tự bạch về con người Câu nói được khắc trước ngôi đền Delphes “Hay te nhận biết chính mình” trở thành vẫn đề
trung tâm của tiết học bấy giờ Triết học của Socrate không phục vụ chính
trị THết học về mặt ngữ nguyên là tình yêu, tìm kiếm sự khôn ngoan, hơn là
sở hữu chân lý Công thức nỗi i tiéng cla Socrate: “Tot biết là tôi không bidt gi cd”, Ong bj toa an Athénes két fn tie hinh, vi khéng thừa nhận các thần linh
của thành thị, làm thanh niên hư hỏng, quay lưng với đời sống chính trị Các học trỏ xúi ông bỏ trốn, nhưng ông tỏ ý kiên quyết tuân giữ luật pháp, dù bị đối
xử bất công (Dẫn theo Jean-Frangois Braunstein va Bemard Phan, Manuel de
culture générale, Armand Colin, Paris, 1999, 2006, tr 30, 32)
197
Trang 12Trần Ngọc Khánh
Với công trình République”°, Platon đưa ra mô hình
thành thị không tưởng đầu tiên về chính trị, trong đó nghệ thuật và thi ca bị gạt bỏ để người dân tránh khỏi ủy mị; tư
hữu tư nhân bị cắm đoán; phụ nữ và trẻ em là của chung
Trong các công trình Crias, La République và nhất
là Les Lois, Platon đưa ra các nguyên tắc thiết lập thành
thị như: lựa chọn địa hình
bảo đảm điều kiện trong
gia, mà theo ông tương ứng
với ba phần của linh hồn là:
dụng toán học để mô tả các hiện tượng
tự nhiên), kêu gọi khám phá các thực thể
ở trên thế giới sinh vật; còn Aristote chi tay xuống đất như muốn nói cứ từ từ, vì chính
ở đây là nơi mà thế giới này đang diễn ra
38 - Tù công trình không tưởng đầu tiên về chính trị này của Platon, về sau trở
thành cảm hứng cho các công trình của Thomas More (Utopie, 1516) hoặc 1.1 Rousseau (Contrat social; Emile, 1762)
198
Trang 13Văn hóa đô thị
Sau khi dựng đền thờ Acropole cho các vị thần Vesta, Zeus va Athéna có tường thành bao quanh, thành thị được
chia thành 12 phần đều nhau, tày theo đất tốt xấu, dành
cho 12 vị thần, mang tên của 12 thị tộc
Ông chủ trương thành thị không nên có tường thành
bao quanh, vì sẽ ảnh hưởng lòng can đảm của chiến bình;
tải sản công đân là của chung; dân chúng phải ngoan ngoãn như loài vật nuôi đối với tầng lớp trên; thuộc địa và chiến tranh sẽ kích thích con người tiễn bộ!
Theo Platon, thành thị lý tưởng nhờ nông nghiệp Ông chủ trương không mở cửa buôn bán với bên ngoài Trong
công trình “République”, Platon đưa ra quan niệm dân
số lý tưởng của thành thị gồm 5.040 công dân tự do, để
họ có thể tự nuôi sống bằng sản phẩm địa phương Đất
đai thành thị được chia thành các mảnh bằng nhau cho
các gia đình công dân, nhưng không được chia nhau hoặc chuyển nhượng để chống đầu cơ Cũng trong công trình
này, Platon đề xuất nếu bán một mảnh đất với giá cao gấp
4 lần giá trị của nó, thì người bán phải nộp phần dư ấy
cho Nhà nước Ông nhận thấy cần thiết lập quan hệ giữa con người, gia đình của họ và đất đai sở hữu Để cân bằng
trong đời sống, ông khuyên mỗi công dân nên có nhà ở thành thị và ở nông thôn [Chambon, 1975: I5]
199
Trang 14Trần Ngọc Khánh
ARISTOTE
Aristote (năm 384-322 trước CN), học trò của Platon,
được coi là lý thuyết gia quy hoạch đô thị của Hy Lạp cỗ
đại Trái với Socrate, ông quan niệm nhà triết học phải
sở hữu “toàn bộ tri thức, nhiều nhất có thể” Trong công trinh Ethique a Nicomaque, 6ng cho rằng chỉ có ở thành
thị con người mới thực hiện đạo đức đầy đủ Aristote
đưa ra định nghĩa nổi tiếng: con người “về cơ bản là con vật chính trị” Aristote lập ra trường học #ycée đầu tiên ở Athénes??, Ông quan niệm linh hồn gồm có ba bộ phận: thực vật (như cây cối), cảm tính (như loài vật) và trí năng (chỉ có ở con người)
Aristote nghiên cứu sự hình thành của 158 thành thị
Hy Lạp, đặc biệt là liên minh chính trị giữa các thành thị
Theo ông, các thành thị Hy Lạp hình thành hai chế độ
chính trị: chính trị ngang nhau (isopolitie) giữa các thành thị độc lập và chính trị cùng nhau (sympoliie) liên kết giữa các thành thị trong toàn thể quyền lực
Trong Politique, ông dự kiến thành thị có 10 nghìn
công dân, gồm ba tang lớp: the thi công, nông dân và
chiến bình Đất đai lãnh thé của thành thị được chia làm
ba phần:
*_ Phẩn thiêng có lợi tức dùng đễ thờ cúng thần linh;
* Phan công để bảo đảm lương thực cho quân đội; và
39 Aristote ở lại 20 nắm trong Académie cho đến khi Platon mất Ông vừa đi vừa
giáo huấn đệ từ, nên đệ tử của ông được gọi là péripatéticierns
200
Trang 15Văn hóa đô thị
* Phan tư của nông dân,
Aristote quan niệm có thể thiết lập thành thị ở vùng
biển và nông thôn Tuy nhiên, cần chọn địa điểm và
chọn hướng thuận lợi cho sức khỏe người dân và tạo nên các điều kiện sống tốt hơn Ngoài yêu cầu môi trường
trong lành, thành thị cần dễ dàng cung cấp thực phẩm
Ông quan tâm chất lượng tường thành bảo vệ ở các địa
hình; phân biệt nguồn nước uống và nước sử dụng thông thường Ông chủ trương xây dựng đường sá theo hệ thống
Hippodamos, thắng và đều
Cấu trúc thành thị theo các phân khu chức năng, gồm: khu thương mại hoặc thủ công; khu ở; khu hành chính và tôn giáo Trong đó, Aristote đặc biệt chú ý lập hai quảng trường công cộng: chợ dành cho các hoạt động mua bán
và nơi hội họp chính trị Ông còn muốn xây dựng một
phòng tập thể dục, để người lớn tuổi có thế tập luyện tại
chỗ, khói ra ngoài trung tâm thành thị
So sánh tư tưởng về thành thị giữa Platon và Aristote:
* Quan niệm của cả hai nhà tư tưởng Platon và
Aristote đều thiên về cấu trúc thành thị nh, ít phụ
thuộc vào các yêu cầu phát triển
* Trong Les Lois, Platon thừa nhận lợi ích của việc
thám gia rực riếp: “Điều tốt nhất ở một Nhà nước
là cá nhân mọi công dân đều có thể nhận biết”
Trong khi Aristote đưa ra giải pháp thỏa hiệp giữa
201
Trang 16Trần Ngọc Khánh
tham gia và hệ thống đại diện, cùng với việc đặt ra giới hạn kích cỡ của thành thị
Tuy nhiên, các thành thị Hy Lạp đã theo đuổi chính
sách bóc lột đề quốc, để tìm kiếm bánh mì và việc làm cho dân chúng ngày càng trở nên đông đảo
202
Trang 17Chương ?
DAC TRUNG VAN HOA CAC DO THI GO HY-LA
THÀNH THỊ HY LẠP
“Thành thi Hy Lạp làm nên châu Âu, mặc đù thể giới
Hy Lap khéng han là thế giới châu Âu” [Lucien Fèbvre,
1999]
Thành thị Hy Lạp là một cộng đồng (polis), gim
các công dân ở thành thị và cả ở nông thôn Ngoài tính chất tôn giáo như các nền văn minh nguyên thủy khác, thành thị Hy Lạp còn là một hành vị chính trị, thông qua hình thức Hên hiệp giữa các làng, gọi là synœcismes (cộng đồng các ngôi nhà) Đó là sự tuân phục theo ý muốn của
tập thể, biểu hiện bằng luật pháp
Ngoại trừ các thành thị lớn gồm Athènes, Milet và
Corinthe, còn lại đa số có quy mô không quá 10 nghìn dân,
40 Phân biệt polís và civifas: polis có từ lâu đời, chỉ công dân, là một thực
thể trừu tượng Thanh vién polis được soi, la polites, politikos, civitas ob
từ nguyên tiếng latinh là civis, chỉ người đẳng hương (khác với công dân)
203
Trang 18Trần Ngọc Khánh
do điện tích trồng trọt ít, cung cấp nước khó khăn Hầu hết
các thành thị Hy Lạp chưa có tường thành bao quanh, kế cả
Athénes; thương nhân không được coi là công dân
Theo _Wycherley, thành Athẻnes thời kỳ phát triển nhất có gẦn 40.000 công dân là đàn ông, cùng với khoảng
150, 000 người là kiều dan, phụ nữ và trẻ con không có quyền công dân và khoảng chừng 100.000 nô lệ Nói cách khác, chỉ có khoảng 1/7 dân số Athénes được hưởng các
đặc quyền công dân, trong đó số lượng công nhân và thợ tiểu thủ công không ngừng tăng lên
Theo Hérodote, văn hóa Hy Lạp chịu ảnh hưởng văn
mninh Ai Cập Song gần đây, thông qua thế giới các vị thần
và huyền thoại, F.M Comford đã chứng minh Hy Lạp chịu ảnh hưởng nhiều hơn của thành Babylone thuộc văn
minh Luéng Ha
Từ thế kỷ VII trước CN, thành thị Hy Lạp phát triển
theo hai hướng:
Nhóm 4cropole: ở bán đảo lục địa, trung thành với
truyền thống cũ; phát triển chậm
Nhóm 4gơra: ở các thuộc dia phương Đông, nơi có các hoạt động thương mại chiếm ưu thế hơn so với nông
nghiệp: phát minh tiền kim loại, sử dung bang chit cdi
Trong nền dân chủ Hy Lạp, thượng đề - thành thị và công dân hòa lẫn vào nhau, nhằm khẳng định “cái tôi”
(ego) theo nghĩa triết học; yếu tố duy lý xuất hiện và hùng biện trở thành công cụ chủ yếu của chính trị
204
Trang 19
Văn hóa đô thị
Ba trung tâm văn hóa lớn của nền văn minh Hy Lạp
thu hút khách viếng thăm và hành hương là: Ólympie,
Cos: nỗi tiếng là
trung tâm y tế, nơi có
trường y và xuất hiện nhà hiền triết Hippocrate (năm 460-
375 trước CN)
Ba cơ sở văn hóa quan trọng trong các thành thị của
nền văn minh Hy Lạp là: "Trường tập thể dục (trước đó là
sân chơi palestre), nhà điều dưỡng và sân khấu ngoài trời
(thường nằm trên các ngọn đổi ở bên ngoài thành thị)
Đền Apollon - Delphes
MẤY CỘT MỐC
* Nam 3000 - 1700 trước CN: khởi đầu hình thành
cư dân Hy Lạp
Khoảng năm 1250 trước CN, xảy ra cuộc chiến
thành Troie
205
Trang 20Trần Ngọc Khánh
* Năm 1200— 800 trước CN: được gọi là “Những thé
ky tăm tối” khi đế quốc Hy Lạp vươn qua chau A
* Nam 800 — 500 trước CN: thời cỗ Hy Lạp với sự
bảnh trưởng các thuộc địa Hy Lạp ở Địa Trung Hải;
đô thị phát triển; năm 776 trước CN, lần đầu tiên tổ
chức các trò chơi Olympiques
+ Năm 500— 336 trước CN: thời cỗ điễn, sự kiện chiến
thắng của Hy Lạp năm 490 trước CN ở Marathon + Nam 336 — 146 trước CN: thời kỳ Hellénistique,
các thành thị đặt đưới quyền vua Alexandre nước
Macédoine, song vẫn dược quyền tự trị; thành lập
nước Alexandrie ở Ai Cập; năm 146 trưởc CN để
chế La Mã thiết lập quyền bính ở Hy Lạp
THÀNH ATHÈNES
Khoảng giữa thế kỷ X và VII trước CN, thành
Athènes được khai sinh từ symœcisme, kết hợp cư dân
giữa các làng và thị trấn, không phân biệt giữa nông thôn
và thành thi
41 Tương truyền có sự cạnh tranh giữa hai vị thần Athéna và Poseidon đặt tên
gọi cho thánh thị, bằng cách mỗi vị tặng cho thành thị một món quả Poseidon sản xuất ra con suối biển nốn lượn bằng cách đừng cây đính ba đập đắt, thể
hiện quyển lực biển; trong khi A théna tạo ra cây ô lìu, biểu trưng cho hòa bình
và thịnh vượng Người dân thành Athènes, dưới quyền cai trị của Cecrops, đã chấp nhận cây ô lu và từ đó đặt tên thành thị là 4/lẻnes
42 Ngoài Athènes còn nhiều đô thị cổ Hy Lạp khác theo mô hình này, kéo đài cho
đến thể kỷ VI trước CN, nhu: Megalopolis (năm 369 trước CN) ở vùng Arcadie, Cos (nam 365 trước CN) và nhiều đô thị Hy Lạp khác ở khắp vùng, từ Macédoine đến Tiểu Á Theo Thucydide, sử gia người Hy Lạp, các ngôi lảng nằm rải rác
và phòng thủ kém cần liên kết với nhau trong synœcisne không ngoài mục đích chống lại nạn cướp bóc
2%
Trang 21Văn hóa đô thị
Acropole, với cổng đền cổ bên trái, Nữ thần Athéna của
điện thờ thần ở giữa các thành thị Hy Lạp
Trong thành Athènes gồm có ba loại người: công
đân (từ 18 tuổi, có đăng ký và ở các tông — thị trấn của
Athénes), kiéu dan (người tự do, sinh ra nơi khác và ở trong vùng Attique; không được sở hữu đất đai hoặc kết
hôn và phải có người đại diện hợp pháp) và các nô /¿ là nhân lực cho thành thị vận hành Để trở thành công dân Athènes,phải có cha là người ở Athènes; từ sau năm 451
trước CN phải có cả cha lẫn mẹ
- Công dân có quyền tự đo cá nhân tuyệt đối (trừ phụ
nữ, nô lệ và các kiều dân);
207
Trang 22Trần Ngọc Khánh
~- Được quyền ngôn luận rộng rãi và tham gia với số
lượng lớn nhất vào hội đồng công dân (ecclesia)
Mỗi bộ lạc tổ chức rút thăm để cử ra 50 vị đại diện;
500 đại điện của 10 bộ lạc tham gia vào hội đồng, gọi là boulé Boulé la cơ quan hành chính, tài chính và tư pháp, hội họp hàng ngày, trừ ngày lễ; mỗi cuộc họp đều chỉ định ra một vị làm chủ tịch Các vị đại điện của mỗi bộ lạc chịu trách nhiệm 36 ngày/năm (# 1/10 năm), khi đi họp được trả tiền bồi thường (mithos), qua đó đề khuyến khích công dân nghèo đều có thế tham gia sinh hoạt
chính trị
CẤU TRÚC THÀNH THỊ
Đến thé ky VI trước CN, thành thị Hy Lạp kết hợp giữa hai yếu tố: (hành ở Acropole va thi 6 phần thấp là
Agora, không có tường thành, các hoạt động thương mại
phát triển
* ACROPOLE (tiếng Anh là
Acropolis) theo tir nguyén tiéng
Hy Lap 1a thanh phé trén cao
(akros = top; polis = city) Dé
là khu vực đền thờ, nằm ở chân
hoặc sườn đổi đốc đứng Đó vừa
là trung tâm tôn giáo, vừa là biểu
trưng quyền lực chính trị của
thành thị Acropole
208
Trang 23Văn hóa đô thị
chính mang tên gọi gốc là
prytaneion, noi 6 hoang gia,
và một ngọn lửa thiêng được i
đốt ở đó để vinh danh nữ th :
than Hestia Lối lên cổng đền cổ Hy Lạp
Mỗi vị thần Hy Lạp biểu trưng một loại đạo đức hoặc
phẩm chất: công lý, sự hiểu biết, lòng đam mê, tỉnh yêu
* AGORA, nằm ở vùng thấp, trong các thành thị Hy
Lạp là địa điểm tập hợp; nơi có quảng trường công cộng
để dân chúng tụ họp Đó là phần chủ yếu và quan trọng
nhất của thành thị, được coi là không gian tự do; có các hoạt động thương mại và thủ công; tổ chức các hoạt động
vui chơi, biểu diễn, duyệt binh
Agora gồm có hai chức năng chính: chính trị và thương mại Agora dần chiếm lĩnh vai trò chính trị và tôn giáo của Acropole, trở thành trung tâm chỉnh trị và hành
chính của poiis Agora dần đần tập trung các hoạt động tôn giáo, nơi đặt các đền thờ, tượng, xung quanh có các
dinh thự và công trình kiến trúc Mặc dù vậy, tất cả các
hoạt động buôn bán ở Agora đều nằm trong tay các kiều dan (météques) Agora duge coi là tương đương với các forum thời đễ quốc La Mã về sau
209
Trang 24Trần Ngọc Khánh
Thị dân Hy Lạp được hưởng các điều kiện sống tốt
hơn, nhờ xây dựng hệ thống đường sá, các nhà hát mới và
nhờ các cống dẫn nước từ trên núi về nên có nhiều bể tắm
công cộng Mặc dù vậy, đường sá còn hẹp, rộng không
quá 4— 5m, được lát đá, chủ yếu dành cho người đi bộ và
súc vật thổ
Các nhà hát và phòng tập đặt bên ngoài thành thị Đến
thế kỷ II - IV trước CN, các phòng tập được đưa vào nội
thành, trở thành các trung tâm tri thức, gồm có thư viện, bao tang và giảng đường Đáng chú ý nhất là khu Đại học
Acad¿mie (Academy) của Platon, trường Trung học Lycée
(Lyceum) của Aristote và trường tập thể dục Cynosargue
của Antisthène® sáng lập, noi tiếp nhận những người chỉ
có tư cách bán công dân
43 Antisthéne (444 ~ 365), nha triết học Hy Lạp theo thuyết độc thân, học trò của
Socrate, là người sáng lập trường phái œymique khoảng năm 390 trước CN, chủ trương tách khỏi các tập tục xã hội, kêu gọi thực hành đời sống đơn giản, phù hợp với tự nhiên
210
Trang 25Văn hóa đô thị
thống chủ yếu là ứrực giao và phân 6 bản cờ
- Hệ thống rực giao (orthogonal), xuất hiện từ nửa
đầu thế kỷ V trước CN, bắt nguồn từ việc xây dựng lại
thành Miket (bị người Ba Tư phá hủy năm 494) Hệ thống
nảy tạo nên khối hình chữ nhật kẻ ô vuông, liên kết các công trình kiến trúc Hầu hết thành thị Hy Lạp đều theo
hệ thống trực giao với hai đặc điểm: đường sá có bề rộng
đồng nhất; kích cỡ các khối nhà cân đối, đều đặn
nhà triết học và kiến trúc sư ở thành Milet, Khi xâm chiếm
các thuộc địa, vì không có nhiều thời gian nghiên cứu các
điều kiện địa hình, việc sử dụng sơ đồ phân ô (quadrillage)
21
Trang 26CHỨC NĂNG THÀNH THỊ
Theo Platon, thành thị Hy Lạp là trung tâm chính trị, không còn là nơi biểu hiện quyền lực của các vị thần linh như Zeus hoặc Athéna, Các cuộc họp của Hội đồng boulé trước đó diễn ra ngoài trời, nay được đưa vào họp trong nhà vuông, nơi được coi là công trình mang tính thế tục
đầu tiên
Athènes là thủ đô của Hy Lạp, được coi là cái nôi phát
sinh nền dân chủ và triết học, nơi đầu tiên đưa ra quan niệm
về cái đẹp và cái tốt, có tác động không chỉ trong thế giới
Hy Lạp mà còn La Mã và phương Tây cho đến sau này
Clisthẻne đã tiếp tục công cuộc hoàn thiện nền dân chủ
Hy Lạp, bắt đầu từ cuối thế kỷ VI trước CN (509-506), với
những cải cách triệt để như: kiểm soát quyền lực và đất đai của giới đại quý tộc; công nhận quyển bình đẳng chính trị của các tầng lớp thị dân trong pois Clisthène chủ trương
phân chia các công dân thành 10 bộ lạc theo các tiêu chí
dia lý, bất kể nguồn gốc và điều kiện xuất thân, Mọi thiết
chế đều phải phù hợp theo hệ thống thập phân của các bộ
lạc Mỗi bộ lạc luân phiên giữ vai trò thưởng trực của hội đồng boulé trong 1/10 năm Ngoài giới quý tộc, tầng lớp
thi đân còn bao gồm các thành phần dân tự đo: thợ thủ
212
Trang 27Văn hóa đô thị
công, thương nhân, nô lệ được giải phóng, kể cả các kiều dân đến lưu trú ở thành thị Các kiều dân này gốc Hy Lạp, Phénicie, Ai Cập hoặc A Rập, đến thế ky V trước CN có
khoảng 20.000 người, chiếm một nửa số lượng công dân
của thành thị Hy Lạp Sau Clisthène, đến lượt Ephialtés
và Périclès hoàn thành thiết lập chế độ đân chủ trong các thành thị ở khắp Hy Lạp
Lap Etrusque còn gọi
là Toscane, vốn là dân tộc xâm chiếm và khai hóa vùng Bắc Ý, mang theo các mê tín và tín ngưỡng tôn giáo
Theo truyền thống, La Mã được hình thành từ nhiều
bộ lạc, đặt dưới quyền lãnh đạo của một bộ lạc gọi là gens
romana, ở trên núi Palatin Theo Lavedan, việc xác định
một nơi buôn bán chung, gọi là Forum, trở thành biểu
tượng của liên minh
Đền thờ thần Panthéon của La Mã
213
Trang 28Trần Ngọc Khánh
Thành thị La Mã đạt đến thời hoàng kim ở hai thé ky dau công nguyên Cho đến thế kỷ V, trước khi đế quốc La
Mã sụp đổ, từ một trung tâm thành thị ban đầu, người La
Mã đã thành lập ít nhất 5.627 đô thị kết nối, được hưởng
quy chế thành thị riêng Dưới sự bảo hộ của đế quốc La
Mã, các tường thành cũ trở nên hoang phế, các thành phố
mới được xây dựng thông thoáng Cơ sở của quyền lực La
Mã là người dân biết tuân thủ &ÿ luật và trật tự
Vào thế kỷ VI trước CN, Athènes có khoảng 300.000
dân; trong khi thành Rome năm 189 trước CN có khoâng
1.100.000 dân, trong đó 275.000 dân sinh sống trong nội
thành (“intra-muros”) Một vài thành thị tiêu biểu khác như: thành Babyione có 700.000 đân đưới thời tri vi cha Semiramis, đường sá mở rộng lên dén 10m, nha cao ba bốn tầng, có sân thượng và có nước đưa lên tới nơi; thành Ninive có khoảng 800.000 — 900.000 dan
Các thành thị La Mã chú ý phát triển về chất lượng sống, song không phải ở thành Rome rộng lớn, nơi được mệnh danh là “Bà hoàng thành thị”, mà ở các thành thị có dân số không vượt quá vài nghìn người Thành thị La Mã , quan tâm nhiều nhất đến việc lát đường, cống dẫn nước và ˆ cống lớn thoát nước (cloaca maxima)
MAY COTMOC
* Nam 753 truée CN: Romulus lap thanh Rome
* Nam 509 trade CN: thành lập nền Cộng hòa
214
Trang 29Văn hóa đô thị
+ _ Năm 146 trước CN, La Mã thiết lập quyền bính ở
Hy Lạp
+ _ Năm 27 trước CN: chấm đứt nền Cộng hòa; thiết
lập dé ché Auguste (năm 14 sau CN), bắt đầu bành
trướng lãnh thô đề quốc
+ _ Thế kỷ II: bị áp lực từ người Barbares và Ba Tư
° - Năm 395: đế quốc La Mã chia đôi: phương Tây
(nông thôn hóa, thành thị thu hẹp hoặc biến mắt) và
phương Đông (đô thị hóa, theo Kitô giáo)
* Nam 476: để quốc La Mã phương Tây suy tàn
LỄ THỨC THÀNH LẬP
Sự ra đời của thành thị La Mã là một hành vi thiêng,
trải qua 4 giai đoạn:
1 Bói điểm: nhằm bảo đảm thượng đế không chống
lại ý muốn thiết lập thành thị
2 ORIENTATIO: xác định hai trục đường chinh giao nhau, gồm:
* Decumanus (hướng Đông-Tây)
Các đường này đẫn đến bốn cửa thành ở bốn phương,
vì người ta tin rằng như vậy thành thị sẽ sáp nhập vào trật
tự chung của vũ trụ
3 LIMITATIO: cày một huiống rãnh, đừng lại ở nơi
dự kiến sẽ làm cổng thành Người ta tin rằng như
215
Trang 30Trần Ngọc Khánh
vậy sẽ tạo ra tuyến Pomerium, nơi xây dựng tường
thành bảo vệ, đê ngăn chận ma quỷ vượt qua
4 Tế lễ: đặt thành thị dưới sự bảo hộ của các vị thần
Đó là bộ ba ở điện than Capitole 1a: Jupiter (thin
trời, Zeus), Junon (vợ thần trời, Héra) va Minerve
(nữ thần thông thái, hộ mệnh thành La Mã, còn gọi
là Athéna)*
CẤU TRÚC THÀNH THỊ
Đế quốc La Mã phân biệt hai thứ bậc thành thị:
EX NIHILO - thành thị mới thành lập ở thuộc địa; MUNICIPES - thành thị có từ trước được nâng cấp lên
Chính quyền La Mã có các quy định về xây dựng, đo
đạc phân ra từng vùng, có các dịch vụ thị chính quan trọng
Các thành thị thuộc địa do các đơn vị quân đội La Mã xây
dựng theo một đồ án giống nhau hình chữ nhật, có bốn cửa,
được phân chia đo vẽ địa hình bên trong rất đặc trưng
Thành thị La Mã chú ý mở rộng không gian công
nhằm tiển hành chính sách đông hóa: đối với dân chứng,
thông qua các hoạt động giải trí, đỗi với trí thức, thông qua các trường học đạy tiếng latinh, các trí thức luật
học, để tuyển chọn thành phan ưu tú quân lý các hoạt động công
44 Ban đầu ở điện thần Capitol gồm: Jupffer, Mars (thần chiến tranh) và Quiri-
nus (thần sản xuất), về sau này mới thay đổi đo chịu ảnh hưởng Étrusque vùng,
Trung Ý Theo Georges Dumézil (1898-1986), bộ ba các vị thắn đầu tiên ở
điện Copitol biểu hiện ba chức năng chủ yến được tôn vinh của các dân tộc
Ấn-Âu thời cổ đại là: quyển uy, chiến tranh và sản xuất
216
Trang 31Văn hóa đô thị
Ở thành thị La Mã, các nhu cầu chủ yếu như bánh mì,
điều kiện vệ sinh, trò chơi ở nhà xiếc đều miễn phí hoặc
với giá cả không đáng kế khi vào nhà tắm công cộng
Thành tựu đáng kinh ngạc của thành thị La Mã là cống ngầm thoát nước, cống dẫn nước và đường sá được
lát Các cống dẫn nước từ thời La Mã cho đến nay vẫn tồn
tại như cống Ségovie, cầu Gard thường được gắn với
tên tuối nhà kiến trúc La Mã Vitruve
* TƯỜNG THÀNH: ít được gia cỗ, có nơi phá bỏ để
mở rộng thành thị, do nền hòa bình của đề chế La Mã (pax
romana) kéo dài Tường thành có giá trị tồn giáo kết hợp
với ý nghĩa ma thuật khi tiến hành lễ thức phân chia ranh
giới thành thị
* ĐƯỜNG SÁ: Năm 312 trước CN, Appius Clauđius
cho xây dựng con đường đầu tiên của La Mã, gọi là vía
Appia Theo Jérome Carcopino, thành Rome thời Cộng hòa chỉ có hai đường xứng đáng gọi là vía, tức là có chiều rộng đủ cho hai xe ngựa chạy ngược chiều nhau: via S$acra, dùng cho các đám rước; via Nova, mới hơn như tên gọi của nó
Hầu hết đường sá đều có lề đường, được lát đan, xây
đựng theo các hệ thống bản cờ (échiquier), cờ ô vuông (damier), vuông góc (€querre), trực giao (orthogonal), kẻ
ô vuông hay chữ nhật (quadra) hoặc ô vuông kiểu Mỹ
(gridiron) Chiều rộng đường sá La Mã không đồng nhất,
các đường quan trọng có từ 4 — 8 m, trung bình là 5 m
217
Trang 32Trần Ngọc Khánh
Đến đầu Công nguyên, đường sá có quy chuẩn ưa
thích là: trục Decwmanus rộng khoảng 20m; trục Cardo
rộng bằng một nửa Nhiều cửa hiệu đặt dưới các dãy cột
tráng lệ, bảo vệ người đi bộ khỏi mưa nắng, biến các trục
lộ thành nơi hoạt động thương mại sam wat
Khi César lên cầm quyền, một trong các quyết định
đầu tiên là cắm xe cộ lưu thông ban ngày trong thành phố
(ngoại trừ xe của các xưởng xây dựng)
* FORUM: Forum vén là chợ, trung tâm sinh hoạt
công cộng, nơi tụ họp, gặp gỡ các thành phần cư dân, thường nằm ở điểm giao nhau cua hai truc Decumanus va
Cardo, cũng là nơi cắm xe cộ lưu thông Kích cỡ Forum
được tỉnh toán tùy theo số dan Chiều rộng có tỉ lệ bằng
2/3 chiều đài Ngoài Forum còn có các Fora đành cho các hoạt động thương mại
Bên cạnh các hoạt động thương mại, ờ Forum côn có: + _ Các công trình đồn giáo: đền CAPITOLE nơi thờ ba
vị thần Jupiter, Junon va Minerve
« - Các công trình thé đục: điện BASILIQUE nơi hội
hop và tư pháp; CƯRJE của hội đồng thành phế và
PRAETORIUM dinh téng tran
Forum được coi là trung tâm dân sự, thuộc về đời
sống cộng đồng của thành thị La Mã Đối với người La
Mã, Forum là một phức hợp toàn thể, gồm có các đền thờ,
ban thờ, các sân tư pháp và các phòng hội nghị, các đỉnh 218
Trang 33Văn hóa đô thị
Chợ Trajan thời La Mã Chợ Trajan, từ tầng 3
thự, được bao quanh bằng các dãy cột và không gian trỗng rộng nơi diễn giả có thể nói chuyện với đám đông
Mỗi thời hoàng để đều cố làm đẹp Forum, xây dựng
thêm một tòa nhà hoặc tiện ích nào đó
* NHÀ Ở: gồm 2 loại, gọi là DOMUS và INSULAE
Domus: chiếm vị trí quan trọng, thường là nhà ở dành cho sinh hoạt gia đình, chỉ có 1 tang, hoặc có khi là lâu đài to lớn
Insulae: nha 6 nhiều tầng, cô khi 6 — 7 tầng, gồm
nhiều căn hộ Một số ít Insulae có đầy đủ tiện nghỉ, dành cho giới thượng lưu Hầu hết các Insulae đều là nơi ở zÂm
thường, thiểu tiện nghỉ; kể cả phần đưới mái cũng được
dùng làm nơi ở, giống loại nhà ổ chuột
219
Trang 34Trần Ngọc Khánh
Thành Rome có khoảng 4.600 tòa nhà, mỗi căn chứa
trung bình 200 người luvénal ở thé kỷ II từng kêu lên:
“Hãy nhìn chiều cao các tòa nhà kỳ vĩ này, mỗi nhà ít nhất
có mười tang” [Mumford] Qua đó cho thấy, mật độ dân
số thành Rome khá cao Tuy nhiên, Auguste phải giới hạn chiều cao nhà mặt tiền là 70 bộ romains'®, vì thời đó xây
cát bằng vật liệu nhẹ, nhiều nhà bị sụp đổ, làm chết hàng
tram người
Để giải phóng đất đai canh tân đô thị, Neron (37-68)
đã cho châm lửa đốt thành Rome, gây ra vụ Đại hỏa hoạn
vào năm 64 sau CN, làm cháy § khu phố, sau đó ông cho
lập sơ đồ tổng thể dé xây dựng lai (Domus aurea)
Công trình “Nhà vàng” của Neron được coi là “kỳ
quan tối thượng của thành La Mã” Các tòa nhà bao phủ 300.000 m?, có công viên rộng bao quanh lâu đài, với các vườn tược, bãi có, bể nuôi các loài thủy sinh, kho chứa thịt thú săn, gà vịt, rượu nho, nước uống, giếng
nước, thác nước, hỗ, các đường hành lang trong cung
Một số bức tường được khảm ngọc trai và nhiều loại đá
quý Phòng ăn có trần hình tròn bằng ngà voi, trên đó vẽ
bầu trời và các vì sao, có đặt máy giấu bên đưới sản nhà
để nó quay vòng thường xuyên và một dãy phòng cho
các địch vụ nhà tắm, nóng, lạnh, nước biển, hơi hoặc
lưu huỳnh
45 Một bộ romain bằng 29,64em Đơn vị đo lường nhỏ nhất của người La Mã
tính bằng ngón tay (18,525mm)
220
Trang 35Văn hóa đô thị
CÁC THIẾT CHẾ
Dưới thời hoàng dé Claude (-10 — 54), vi hoang dé
thứ tư của đế quốc La Mã, một năm có 159 ngày được
coi là ngày lễ, trong đó
ngày dành cho biểu diễn các trò chơi, gần gấp đôi thời
Claude Như vậy, tổng số ngày nghỉ lên đến 200, tức là
hơn một nửa năm
Khoảng năm 300 sau CN, thành La Mã có § khu vườn
lớn và công viên sử dụng cho các trò chơi và tập thể dục,
và chừng 30 cái nhỏ hơn phân bố trong thành thị
Theo Lewis Mumford, hai thiết chế thành thị Hy Lạp
là trường tập thể dục và nhà hát có nguồn gốc thiêng tử
các trò BHÒNG sáp ma và lễ tin tein mới ii cây cối và
Đấu trường Arles thời La Mã
và nhà t tắm của thành thị La Mã cũng có nguồn gốc tương
tự, biểu hiện nhiều đặc điểm về kiến trúc của thành thị
La Ma
221
Trang 36Trần Ngọc Khánh
* HÍ TRƯỜNG (đấu trường, nhà bậc, trường xiếc,
nha hat)
Các cuộc biểu điễn ở đấu trường là thiết chế tiêu biểu
của người La Mã Thực ra, đó là sự tái điễn tập quán cũ
về hiến tế của con người đưới hình thức thuần túy thế tục
Người La Mã mê đua xe, các trận thủy chiến mô phỏng trên
các bể vịnh lớn nhân tạo và thể loại kịch câm phóng đãng
'Năm 234 trước CN, nhân lễ tang cha mình, toàn quyền
Decimus Junius Brutus khai trương các cuộc giác đầu đầu
tiên Ban đầu, người tham gia là những tội phạm bị kết án, với ý nghĩa cho họ có cơ hội sống sót, song thực tế đây là
“đây chuyền chết chóc” Các đội quân La Mã tổ chức các
cuộc chỉnh chiến còn nhằm cung cấp đội ngũ người và thú vật cho trường xiếc
Hi trường thường xây dựng nơi vùng dat tring hep, giữa các ngọn đồi, có các thềm bậc cấp bao quanh, với
đường băng đài dành đua xe ngựa Các cuộc biểu diễn
đua xe ngựa hai bánh không hiếm khi bị bé xe, hat tung
người lái và bị vo ngựa giẫm đạp Hi trường đầu tiên là
Flaminius, xây năm 22 Ì -
trước CN ở Champ de
Mars, cạnh sông Tibre,
nơi tổ chức các cuộc
Đấu trường Arles thời La Mã
222
Trang 37- Văn hóa đô thị
sâu sắc vào lối sống của xã hội La Mã Đến năm 326,
việc đưa các tội đồ vào hồ sư tử được hủy bỏ; còn các trận giác đấu mãi đến năm 404 mới được hoàng đề Honorius
ra lệnh cấm
Có thể hình dung ít nhất có đến một nửa đân số thành Rome đặt chỗ trong các đấu trường hoặc nhà bậc Trường xiếc Maximus được cho là cổ xưa nhất, duge César xây dựng lạ có it nhất 385.000 chỗ (Jéréme Carcopino đưa ra con số 255.000; còn Curtius đánh giá phải chứa it nhất là 80.000 người) Biểu diễn xiếc thường bắt đầu từ buổi sáng,
không ít người ở lại đó để xem suốt ngày Thành Arles có
15.000 dân, song đầu trường nhà bậc có sức chứa 25.000
chỗ; nhà hát thành Pompéi có sức chứa 20.000 người
Nhà xiếc được sắp đặt để dùng vào nhiều mục đích
khác nhau Sân khấu hình bán nguyệt khép lại theo hình vòng cung: các buổi diễn kịch Hy Lạp được thay bằng
opéra trên sân khấu lớn; còn hát opéra nhường chỗ cho kịch câm, có lẽ vì diễn ngoài trời, trước hàng chục nghìn
khán giả nên khó nghe lời thoại
223
Trang 38Trần Ngọc Khánh
Nhà hát được xây bằng đá, nơi đất bằng, dành cho
các đấu sĩ, khác với thành thị Hy Lạp thường khoét vào
sườn đồi
Nhà hát Colisée ở thành La Mã, hoàn tất xây dựng
dưới triều hoàng để Titus, có thể tiếp nhận 45.000 khán giả
* NHÀ TẮM CÔNG CỘNG
Là khu nhà sang trọng dành cho mọi thị dân, có thể sánh ngang với các trung tâm mua sắm hiện đại ngày nay
Ngoài quan niệm vệ sinh cơ thể, các nhà tắm công cộng
còn được ví như đền thờ - thần thể xác có vị trí danh dự
trong điện thờ Panthéon của người La Mã
Nhà tắm có các hoạt động đa chức năng, gồm: các sảnh đi dạo, thư viện, phòng đọc, phòng tập TDTT, nhà
hàng Bộ phận chính của nhà tắm gồm hai phòng kích
thước lớn, nơi có các hỗ tắm nước nóng, lạnh và ấm, một dãy phòng dành cho massage, thư giãn hoặc dùng bữa tập thể, các trường thể dục để huấn luyện các môn thể thao và các thư viện cho người thích đọc sách hoặc nghiên cứu
Nhà tấm rất nỗi tiếng, có thể phục vụ cùng lúc cho
60.000 công dân Nhà tắm công cộng Caracalla cần
70.000 m° nước mỗi ngày Do đó, cần có hệ thống đường
và cống dẫn nước Số lượng nước tiêu thụ khoảng 1.000 lít mỗi ngày tính trên đầu người dân
224
Trang 39Chương 8
CAG QUA TRINH 0 THI HOA
TREN THE GIG
THANH THI TRUNG DAI
Thuật ngữ “Trung đại” xuất hiện từ giữa thế ky XVIII
để chỉ thời kỷ từ lúc đế quốc La Mã sụp đỗ năm 476 cho
đến khi người Thổ chiếm đóng Constantinople năm 1453
hoặc theo cách dùng phỗ biến kéo dài đến lúc tim ra châu
Mỹ năm 1492
Có xu hướng coi thời Trung đại diễn ra chậm chạp,
thậm chí đen tối trong các thành thị bất động Nhưng dần dần người ta khám phá thời kỳ này có nhiều biến đổi tích
cực, phong phú
225
Trang 40Trần Ngọc Khánh
Từ thế kỷ II, trước
những cuộc xâm lăng
của người BarbaresS,
hoặc theo cách nói của
Thành thị Trung đại ay Y (tranh)
Barbares “người Germains” sống bằng nghề chăn
nuôi và trồng trọt; theo tín ngưỡng đa thần, thờ thảo mộc, sông suối và đá; giỏi thuật luyện kim và kim hoàn Họ
đưa vào châu Âu kỹ thuật luân canh 3 năm/lần Họ tiếp biến ngôn ngữ Latinh và theo Cơ Đốc giáo, nhờ đó giữ được tính liên tục giữa đề quốc La Mã với các triều đại Barbares thông qua Nhà thờ (nhập civias vào polis)
Cho đến năm 406, chưa có đân tộc Barbares nào vượt qua được sông Rhin và thượng nguồn sông Danube Từ năm 407, quyền lực La Mã ở vùng Bretagne lơi lỏng đần Đến giữa thế kỹ V, ở vùng Gaule chỉ còn các khu phô La
Mã ngăn cách nhau bởi các cơ sở của người Barbares Ở
Tây Ban Nha, người Barbares chiếm đóng 3/4 lãnh thổ, dân dân hình thành các vương quốc Barbares, danh dẫu sự
khởi đầu thời đại phong kiến ở châu Âu từ cuối thé ky IX
46 “Barbares” theo cách gọi của người Hy Lạp để chỉ người Ba Tư và người
phương Đông không nói tiếng Hy Lạp, hàm nghĩa đã man, không có văn héa(!)
226