- Dữ liệu bản đồ địa chính được lập để mô tả các yếu tố tự nhiên có liên quan đến việc sử dụng đất bao gồm các thông tin: thể hiện vị trí, ranh giới, diện tích các thửa đất và các đối t
Trang 1PHÙNG MINH HOÀNG
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH
XÃ ĐÔNG QUAN, HUYỆN LỘC BÌNH,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin đảm bảo rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Phùng Minh Hoàng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường đại học Nông - Lâm Thái Nguyên
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đàm Xuân
Vận, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên
cứu, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý tài nguyên, Phòng Đào tạo đã giảng dạy, đóng góp ý kiến, tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Văn phòng Đăng ký đất đai, thuộc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lạng Sơn; Ủy ban nhân dân
xã Đông Quan và các cơ quan, đơn vị khác có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này
Tác giả luận văn
Phùng Minh Hoàng
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải nghĩa
CSDLĐC : Cơ sở dữ liệu địa chính
ELIS: Hệ thống thông tin đất đai và môi trường GIS: Hệ thống thông tin địa lý
VPĐKĐĐ: Văn phòng Đăng ký đất đai
XML: Xtensible Markup Language
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Đông Quan 43
Bảng 3.2 Kết quả cấp GCN trên địa bàn xã Đông Quan năm 2015 44
Bảng 3.3 Thực trạng hồ sơ địa chính xã Đông Quan 44
Bảng 3.4 Các trường thông tin thuộc tính 53
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL địa chính 10
Hình 1.2: CSDL địa chính đa mục tiêu (mô hình của Australia) 14
Hình 1.3: Mô tả phân tích nhu cầu của các đối tượng liên quan đến việc sử dụng và xây dựng CSDL 21
Hình 1.4: Định hướng mô hình kiến trúc tổng thể CSDL đất đai đa mục tiêu ở Việt Nam 22
Hình 1.5: Định hướng khai thác thông tin trong CSDL đất đai đa mục tiêu 23
Hình 1.6 Trang web cung cấp thông tin đi ̣a chính trên mạng Internet xã Đông Thành, huyê ̣n Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 24
Hình 1.7 Tra cứu thông tin đất đai trên ma ̣ng Internet của tỉnh Vĩnh Long 24
Hình 2.1 : Sơ đồ quy trình tổng quát xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 36
Hình 3.1 Vị trí địa lý xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 40
Hình 3.2 Công tác chuẩn hóa bản đồ địa chính 50
Hình 3.3 Chuyển đổi dữ liệu không gian địa chính 54
Hình 3.4 Các tham số chuyển đổi dữ liệu không gian 55
Hình 3.5 Các tham số chuyển đổi dữ liệu từ excel 56
Hình 3.6 Các tham số chuyển đổi thuộc tính thửa đất 57
Hình 3.7 Định dạng bộ hồ sơ cấp GCN dạng số 58
Hình 3.8 Nhập thông tin hồ sơ quét 59
Hình 3.9 Rà soát dữ liệu không gian các thửa đất trong CSDL 60
Hình 3.10 Rà soát dữ liệu thuộc tính các thửa đất trong CSDL 60
Hình 3.11 Cập nhật thông tin trực tiếp trên CSDL địa chính xã Đông Quan 61
Hình 3.12 Xuất dữ liệu thuộc tính trên CSDL địa chính xã Đông Quan 62
Hình 3.13 Cơ sở dữ liệu địa chính xã Đông Quan – huyện Lộc Bình 63
Hình 3.14 Phân quyền quản trị và quyền người sử dụng 64
Hình 3.15 Nhập thông tin đăng ký sử dụng đất 65
Trang 7Hình 3.16 In Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 66
Hình 3.17 Chức năng xuất bộ Hồ sơ địa chính 66
Hình 3.18 Chức năng chỉnh lý biến động 67
Hình 3.19 Chỉnh lý biến động một thửa đất 67
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỤC LỤC vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái quát hệ thống hồ sơ địa chính 3
1.1.1 Hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính [16] 3
1.1.2 Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính 4
1.1.3 Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính 4
1.2 Tổng quan về cơ sở dữ liệu địa chính 6
1.2.1 Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính [15] 6
1.2.2 Nội dung cấu trúc của dữ liệu địa chính 8
1.2.3 Nguyên tắc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 10
1.2.4 Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu địa chính phải bảo đảm các yêu cầu 11
1.2.5 Lộ trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 12
1.3 Hồ sơ địa chính của một số nước trên thế giới [1] 12
1.3.1 Hồ sơ địa chính của Australia 12
1.3.2 Hồ sơ địa chính của Malaysia 17
1.3.3 Những kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu hồ sơ địa chính các nước 18
1.4 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 18
1.4.1 Về ứng dụng và phát triển công nghệ: 18
Trang 91.4.2 Kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư và kết quả đạt được trong xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính ở nước ta trong thời gian qua 20
1.4.3 Định hướng về CSDL đất đai đa mục tiêu [5]: 21
1.5 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở Việt Nam 23
1.5.1 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính một số địa phương trong nước 23
1.5.2 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính tại tỉnh Lạng Sơn 27
1.6 Một số phần mềm quản lý Hồ sơ địa chính đang áp dụng tại Việt nam hiện nay 28
1.6.1.Phần mềm Famis – CaddB [9] 28
1.6.2 Phần mềm CiLIS [9] 29
1.6.3 Phầm mềm VILIS2.0 [9] 29
1.6.4 Phầm mềm ELIS [18] 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.2.1 Điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế xã hô ̣i và kết quả công tác quản lý nhà nước về đất đai tại xã Đông Quan 33
2.2.2 Thực tra ̣ng hồ sơ đi ̣a chính xã Đông Quan 33
2.2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính xã Đông Quan 33
2.2.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu liên quan 34
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 34
2.3.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 35
2.3.4 Phương pháp ứng dụng các phần mền tin học chuyên ngành để thiết kế, mô hình hóa và chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu 35
2.3.5 Phương pháp kiểm nghiệm thực tế 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế xã hô ̣i và kết quả công tác quản lý nhà nước về đất đai tại xã Đông Quan 39
Trang 103.1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế - xã hội 39
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Đông Quan năm 2015 43
3.1.3 Tình hình và kết quả công tác đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn xã Đông Quan 43
3.2 Thực tra ̣ng hồ sơ đi ̣a chính xã Đông Quan 44
3.2.1 Tình hình hồ sơ địa chính 44
3.2.2 Đánh giá chung về tình hình hồ sơ địa chính phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính xã Đông Quan 45
3.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 46 3.3.1 Lựa chọn phần mềm ứng dụng để thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 46 3.3.2 Kết quả công tác chuẩn bị, thu thập tài liệu, số liệu 48
3.3.3 Chuẩn hóa dữ liệu đầu vào phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 50
3.3.4 Xây dựng dữ liệu không gian địa chính xã Đông Quan 53
3.3.5 Xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính xã Đông Quan 55
3.3.6 Xây dựng bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận dạng số 57
3.3.7 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chính 59
3.3.8 Thử nghiệm quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu địa chính 63
3.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 69
3.4.1 Đánh giá kết quả đạt được 69
3.4.2 Đánh giá về những thuận lợi, khó khăn, hạn chế 70
3.4.3 Đề xuất các giải pháp 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần tất yếu không thể thiếu để hình thành nên quốc gia, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng [6]
Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống quản lý đất đai là sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý và hiệu quả nhất nhằm đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế và công bằng xã hội, tài nguyên đất được bảo vệ tốt Vì vậy việc xây dựng một hệ thống quản lý đất đai hiện đại là một nhiệm vụ cần thiết nhằm mang lại lợi ích thiết yếu cho phát triển kinh tế, tạo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Trong công nghệ quản lý hệ thống tư liệu địa chính, nhiều nghiên cứu phát triển công nghệ đã được ứng dụng, nhiều hệ thống phần mềm trợ giúp cho công tác quản lý đất đai đã ra đời Trong đó nổi lên là phần mềm ELIS với mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống quản lý trên cơ sở dữ liệu đất đai hoàn chỉnh phục vụ công tác đăng ký cấp GCNQSD đất, đồng thời phục vụ trực tiếp công tác quản lý Nhà nước
về đất đai trên toàn địa bàn huyện Lộc Bình Để triển khai được, cần hình thành một
hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ từ bản đồ địa chính số, hệ thống dữ liệu thông tin hồ
sơ địa chính số, thống nhất tích hợp từ bản đồ địa chính chính quy Tích hợp thành
hệ thống CSDL bản đồ và hồ sơ địa chính Việc ứng dụng triển khai hệ thống phần mềm đồng bộ, chuẩn hóa theo định hướng
Lộc Bình là một huyện nằm ở phía đông tỉnh Lạng Sơn, phía bắc giáp huyện Cao Lộc, phía tây giáp huyện Chi Lăng, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Nam giáp huyện Đình Lập, phía đông bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc) Cơ sở dữ liệu bản đồ, HSĐC và công tác quản lý tư liệu địa chính giữ vai trò quan trọng trong công tác Quản lý nhà nước về đất đai Tuy nhiên, thực trạng hệ thống này ở Lạng Sơn nói chung, của huyện Lộc Bình và xã Đông Quan nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế và cần phải giải quyết [19]
Trang 12Với mong muốn làm tốt công tác quản lý đất đai trên địa bàn hoạt động góp
phần giải quyết vấn đề thực tiễn, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số, phục vụ công tác quản lý
đất đai tại xã Đông Quan và đề xuất giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống HSĐC
tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước
về đất đai tại xã Đông Quan
- Đánh giá thực trạng hệ thống bản đồ và HSĐC của xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính dạng số và ứng dụng phần mềm ELIS phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai Thử nghiệm vận hành quản lý, khai thác sử dụng CSDL
- Đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế nhằm nâng cao năng lực công tác hoàn thiện hồ sơ, hoàn thiện hệ thống CSDL địa chính số tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
3 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá thực tiễn, giải quyết nhu cầu quản lý đất đai tại địa phương: Xây dựng và vận hành hệ thống bản đồ và các thuộc tính hồ sơ địa chính số trên địa bàn xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát hệ thống hồ sơ địa chính
1.1.1 Hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính [16]
Hồ sơ địa chính có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý đất đai Hồ
sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của cá nhân, tổ chức có liên quan
Theo thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về Hồ sơ địa chính, thành phần HSĐC gồm: Bản đồ địa chính; Sổ địa chính; Sổ mục kê đất đai; Sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu GCNQSD đất được lập dưới dạng giấy và dạng số
- Bản đồ địa chính; Sổ địa chính; Sổ mục kê đất đai; Sổ theo dõi biến động đất đai có nội dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng số (sau đây gọi là CSDL địa chính) để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện và được in trên giấy để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã Địa phương chưa xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính thì được tiếp tục sử dụng HSĐC dạng giấy
CSDL địa chính bao gồm dữ liệu Bản đồ địa chính và các dữ liệu thuộc tính địa chính
- Dữ liệu bản đồ địa chính được lập để mô tả các yếu tố tự nhiên có liên quan
đến việc sử dụng đất bao gồm các thông tin: thể hiện vị trí, ranh giới, diện tích các thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất; được lập để đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận và các nội dung khác của quản lý nhà nước về đất đai
+ Vị trí, hình dạng, kích thước, tọa độ đỉnh thửa, số thứ tự, diện tích, mục đích sử dụng của các thửa đất;
+ Vị trí, hình dạng, diện tích của hệ thống thủy văn gồm: sông, ngòi, kênh, rạch, suối; Hệ thống thủy lợi gồm: hệ thống dẫn nước, đê, đập, cống; Hệ thống đường giao thông gồm: đường bộ, đường sắt, cầu và các khu vực đất chưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín;
Trang 14+ Vị trí, tọa độ các mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc giới
và chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc giới và ranh giới hành lang bảo vệ an toàn công trình;
+ Điểm tọa độ địa chính, địa danh và các ghi chú thuyết minh
- Các dữ liệu thuộc tính địa chính được lập để thể hiện nội dung: Sổ mục kê
đất đai, Sổ địa chính và Sổ theo dõi biến động đất đai quy định tại “Điều 47 của Luật Đất đai’’ [6] bao gồm các thông tin:
+ Thửa đất gồm: mã thửa, diện tích, tình trạng đo đạc lập BĐĐC;
+ Các đối tượng có chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất (không có ranh giới khép kín trên bản đồ) gồm tên gọi, mã đối tượng, diện tích của hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi, hệ thống đường giao thông và các khu vực đất chưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín;
+ Người sử dụng đất hoặc người quản lý đất gồm tên, địa chỉ, thông tin về chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, văn bản về việc thành lập tổ chức;
+ Tình trạng sử dụng của thửa đất gồm hình thức sử dụng, thời hạn sử dụng, nguồn gốc sử dụng, những hạn chế về quyền sử dụng đất, số hiệu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, mục đích sử dụng, giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa
vụ tài chính về đất đai;
+ Những biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng gồm những thay đổi về thửa đất, về người sử dụng đất
1.1.2 Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính
- Hồ sơ địa chính được lập theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
- Việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính phải theo đúng trình tự, thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật đất đai
- Nội dung thông tin trong hồ sơ địa chính phải bảo đảm thống nhất với Giấy chứng nhận được cấp (nếu có) và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất
1.1.3 Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đầu tư và chỉ đạo việc lập, chỉnh
lý HSĐC theo thông tư thông tư số 24/2014/TT-BTNMT;
Trang 15- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đo vẽ bản đồ địa chính và chỉ đạo việc xây dựng CSDL địa chính, lập và chỉnh lý HSĐC ở địa phương;
- Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
+ Quản lý và vận hành CSDL địa chính;
+ Chỉnh lý dữ liệu bản đồ địa chính và cập nhật, chỉnh lý dữ liệu thuộc tính địa chính đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp, chỉnh lý Giấy chứng nhận của cấp tỉnh;
+ In Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã sử dụng;
+ Trong thời gian chưa xây dựng được CSDL địa chính thì thực hiện việc lập, chỉnh lý, quản lý HSĐC trên giấy và sao hai (02) bộ, một (01) bộ gửi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, một (01) bộ gửi UBND cấp xã để phục vụ yêu cầu quản
lý đất đai tại địa phương nơi có đất
- Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
+ Cập nhật, chỉnh lý bản đồ địa chính và dữ liệu thuộc tính địa chính đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp mới hoặc chỉnh lý Giấy chứng nhận của cấp huyện;
+ Trong thời gian chưa xây dựng được CSDL địa chính thì thực hiện việc cập nhật, chỉnh lý HSĐC trên giấy theo quy định của Thông tư thông tư số 24/2014/TT-BTNMT
- UBND cấp xã chịu trách nhiệm hỗ trợ người dân trong kê khai hồ sơ, Tra cứu vào HSĐC trên giấy đang quản lý đối với tất cả các trường hợp biến động về sử dụng đất
- Các cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc đo đạc lập bản đồ địa chính và xây dựng CSDL địa chính, được phép thuê dịch vụ tư vấn để thực hiện các nhiệm
vụ được giao
Trang 161.2 Tổng quan về cơ sở dữ liệu địa chính
1.2.1. Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính [15]
Cơ sở dữ liệu địa chính là một CSDL địa lý chuyên ngành; đối tượng quản lý của nó là thửa đất, thuộc tính của thửa đất, các đối tượng chiếm đất trên bề mặt tự nhiên nhưng không hình thành thửa đất
Như vậy, một hệ thống Cơ sở dữ liệu địa chính nếu xét dưới góc độ công
nghệ thì hệ thống bao gồm:
- Thiết bị phần cứng và thiết bị ngoại vi
- Hệ thống phần mềm và các thủ tục cần thiết để xây dựng và phân tích
- Cơ sở dữ liệu
- Con người vận hành
1.2.1.1 Phần cứng - Máy tính và các thiết bị ngoại vi
Về cơ bản hệ thống thiết bị phần cứng của một hệ thống thông tin địa lý bao gồm các phần chính là Bộ xử lý trung tâm (CPU), các thiết bị đầu vào như bàn số hoá, máy quét, các thiết bị thu nhận thông tin điện từ các thiết bị lưu trữ (bộ nhớ ngoài), thiết bị hiển thị (màn hình), thiết bị in (máy vẽ) v.v
Máy tính còn gọi là bộ xử lý trung tâm (CPU) được nối với thiết bị chứa bộ nhớ ngoài (ổ đĩa) để chứa không gian lưu trữ số liệu và các chương trình
Máy số hoá hoặc thiết bị chuyên dụng khác có nhiệm vụ chuyển hoá các số liệu từ bản đồ và các tư liệu thành dạng số rồi đưa vào máy tính
Máy vẽ (Plotter) hoặc các loại thiết bị tương tự khác được sử dụng để xuất
dữ liệu ở dạng số trên màn hình hoặc trên nền vật liệu in
Sự liên hệ nội bộ bên trong máy tính giữa các cấu thành của phần cứng cũng
có thể được thực hiện thông qua hệ thống mạng với các đường dẫn dữ liệu đặc biệt
Người sử dụng các thiết bị máy tính và liên kết với các thiết bị ngoại vi khác như máy in, máy vẽ, máy số hoá và các thiết bị ngoại vi khác thông qua một thiết bị
hiển thị hình ảnh (Video Display Unit - VDU) để cho phép các sản phẩm đầu ra
được hiển thị nhanh chóng
Trang 171.2.1.2 Hệ thống phần mềm và các thủ tục cần thiết để xây dựng và phân tích
Hệ thống phần mềm bao gồm: phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng Các phần mềm trong lĩnh vực hệ thống thông tin địa chính phải bảo đảm được chức năng sau:
Các dữ liệu không gian thu thập từ các nguồn dữ liệu khác nhau như bản đồ,
tư liệu địa chính số liệu đo ngoại nghiệp phải có được chức năng liên kết và xử
lý đồng bộ
Có khả năng lưu trữ, sửa chữa đồng bộ các nhóm dữ liệu địa chính phục vụ các phân tích tiếp theo và còn cho phép biến đổi nhanh và chính xác các dữ liệu không gian Đảm bảo các khả năng phân tích ở các trạng thái khác nhau, có khả năng thay đổi cấu trúc dữ liệu phục vụ người dùng, các nguyên tắc để kết nạp các sản phẩm, các biện pháp đánh giá chất lượng sản phẩm và các nguyên tắc xử lý chuẩn các thông tin theo không gian, thời gian cũng như theo các kiểu mẫu thích hợp khác
Các dữ liệu phải có khả năng hiển thị toàn bộ hoặc từng phần theo thông tin gốc, các dữ liệu nếu đã qua xử lý cần phải thể hiện tốt hơn bằng các bảng biểu hay các loại bản đồ địa chính Chính vì vậy, có thể định nghĩa phần mềm như sau:
1.2.1.3 Cơ sở dữ liệu địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa
chính, bao gồm
* Dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Phần trung tâm của hệ thống là CSDL, nó là một hệ thống các thông tin được lưu trữ dưới dạng số Vì CSDL có mối liên quan với các điểm đặc trưng trên bề mặt trái đất nên nó gồm hai yếu tố:
Trang 18- CSDL không gian: Mang tính địa lý thể hiện hình dạng, vị trí, kích thước
và các nét đặc trưng của bề mặt trái đất
- CSDL thuộc tính: Không mang tính địa lý, thể hiện đặc tính hay chất
lượng các nét đặc trưng của bề mặt trái đất
Ví dụ: Trên bản đồ Hiện trạng sử dụng đất thì hình dạng, vị trí, kích thước và toạ độ các điểm đặc trưng của lô đất, thửa đất chính là CSDL không gian, còn diện tích, loại đất, mục đích sử dụng và tất cả các đặc điểm tính chất thuộc lô đất đó đều
là CSDL thuộc tính Trong đó có những dữ liệu thuộc tính có thể được tính trực tiếp
từ CSDL không gian như diện tích, chu vi, còn đại đa số các thuộc tính khác thì phải trực tiếp điều tra, phân loại chúng
* Nhập dữ liệu và kiểm tra dữ liệu
Nhập dữ liệu là biến đổi các dữ liệu dưới hình thức bản đồ, các quan trắc đo đạc ngoại nghiệp và các máy cảm nhận ( bao gồm các máy chụp ảnh hàng không,
vệ tinh và các thiết bị ghi) thành dạng số
Hiện nay, đã có một loạt các công cụ máy tính dùng cho mục đích này, bao gồm đầu tương tác và thiết bị hiện hình (VDU), bàn số hóa (Digitizer), danh mục các tập số liệu trong tập văn bản, các máy quét (Scanner) và các thiết bị cần thiết cho việc ghi số liệu đã viết tên phương tiện từ như băng hoặc đĩa từ Việc nhập dữ liệu và kiểm tra dữ liệu là rất cần thiết cho việc xây dựng CSDL địa lý
1.2.1.4 Con người vận hành
Một hệ thống CSDL đương nhiên quan hệ mật thiết với Người sử dụng các thiết bị từ hệ thống phần cứng, phần mềm điều khiển các thiết bị Con người xây dựng tạo ra hệ thống dữ liệu tổ thức và phân tính dữ liệu hiển thị hình ảnh tạo ra các sản phẩm đầu ra…
Tất cả các yếu tố trên có liên kết và quan hệ chặt chẽ tạo nên một tổ chức hệ thống CSDL
1.2.2 Nội dung cấu trúc của dữ liệu địa chính
a) Nội dung dữ liệu địa chính: Dữ liệu địa chính gồm các nhóm dữ liệu:
Trang 19- Nhóm dữ liệu về người: gồm dữ liệu người quản lý đất đai và tài sản gắn liền với đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người có liên quan đến các giao dịch về đất đai, tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu về thửa đất: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính của thửa đất;
- Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính của nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu về quyền: gồm dữ liệu thuộc tính về tình trạng sử dụng của thửa đất, tài sản gắn liền với đất; hạn chế quyền, nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất; giao dịch về đất, tài sản gắn liền với đất;
- Nhóm dữ liệu về thủy hệ: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính về
hệ thống thủy văn và hệ thống thủy lợi;
- Nhóm dữ liệu về giao thông: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
về hệ thống đường giao thông;
- Nhóm dữ liệu về biên giới, địa giới: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính về mốc và đường biên giới quốc gia, mốc và đường địa giới hành chính các cấp;
- Nhóm dữ liệu về địa danh và ghi chú: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính về vị trí, tên của các đối tượng địa danh sơn văn, thuỷ văn, dân cư, biển đảo và các ghi chú khác;
- Nhóm dữ liệu về điểm khống chế tọa độ và độ cao: gồm dữ liệu không gian
và dữ liệu thuộc tính về điểm khống chế tọa độ và độ cao trên thực địa phục vụ đo
vẽ lập bản đồ địa chính;
- Nhóm dữ liệu về quy hoạch: Gồm dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính về đường chỉ giới, mốc giới quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch xây dựng; quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác; chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình
b) Cấu trúc và kiểu thông tin của dữ liệu địa chính:
Mỗi nhóm thông tin trong nội dung dữ liệu địa chính được thể hiện cụ thể thông qua cấu trúc và kiểu thông tin của dữ liệu
Trang 20CSDL Địa chính
Nhóm dữ liệu về giao thông
Nhóm dữ liệu về biên giới, địa giới
Nhóm dữ liệu về địa danh và ghi chú
Nhóm dữ liệu về quy hoạch
Nhóm dữ liệu
về điểm khống chế toạ độ và
độ cao
Nhóm dữ liệu về thủy hệ
Hình 1.1: Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL địa chính 1.2.3 Nguyên tắc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
- Được cập nhật, chỉnh lý đầy đủ theo đúng yêu cầu đối với các nội dung thông tin của bản đồ địa chính và dữ liệu thuộc tính địa chính theo quy định [16],
+ Dữ liệu không gian địa chính được xây dựng trên cơ sở thu nhận kết quả của quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính và các nguồn dữ liệu không gian địa chính khác có liên quan
+ Dữ liệu thuộc tính địa chính được xây dựng trên cơ sở thu nhận kết quả đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và các nguồn dữ liệu thuộc tính địa chính khác có liên quan;
- Từ cơ sở dữ liệu địa chính in ra được:
Trang 21+ Biểu thống kê, kiểm kê đất đai, các biểu tổng hợp kết quả cấp Giấy chứng nhận và đăng ký biến động về đất đai theo mẫu do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định;
- Trích lục bản đồ địa chính, trích sao HSĐC của thửa đất hoặc một khu đất (gồm nhiều thửa đất liền kề nhau);
+ Tìm được thông tin về thửa đất khi biết thông tin về người sử dụng đất, tìm được thông tin về người sử dụng đất khi biết thông tin về thửa đất; tìm được thông tin về người sử dụng đất trong dữ liệu thuộc tính địa chính thửa đất khi biết vị trí thửa đất trên bản đồ địa chính, tìm được người sử dụng đất trong dữ liệu thuộc tính địa chính thửa đất;
+ Tìm được các thửa đất, người sử dụng đất theo các tiêu chí hoặc nhóm các tiêu chí về tên, địa chỉ của người sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất; vị trí, kích thước, hình thể, mã, diện tích, hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, nguồn gốc sử dụng, thời hạn sử dụng của thửa đất; giá đất, tài sản gắn liền với đất, những hạn chế về quyền của người sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; những biến động về sử dụng đất của thửa đất; số phát hành và số vào sổ cấp Giấy chứng nhận;
+ Dữ liệu trong CSDL địa chính được lập theo đúng chuẩn dữ liệu đất đai do
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
1.2.4 Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu địa chính phải bảo đảm các yêu cầu
- Bảo đảm nhập liệu, quản lý, cập nhật được thuận tiện đối với toàn bộ dữ liệu địa chính theo quy định tại Thông tư số 04 [14] ;
- Bảo đảm yêu cầu bảo mật thông tin trong việc cập nhật, chỉnh lý dữ liệu địa chính trên nguyên tắc chỉ được thể hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
và chỉ do người được phân công thực hiện; bảo đảm việc phân cấp chặt chẽ đối với quyền truy nhập thông tin trong CSDL;
- Bảo đảm yêu cầu về an toàn dữ liệu;
- Thể hiện thông tin đất đai theo hiện trạng và lưu giữ được thông tin biến động về sử dụng đất trong lịch sử;
- Thuận tiện, nhanh chóng, chính xác trong việc khai thác các thông tin đất
Trang 22đai dưới các hình thức tra cứu trên mạng; trích lục bản đồ địa chính đối với từng thửa đất; trích sao Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất hoặc từng chủ sử dụng đất; tổng hợp thông tin đất đai; sao thông tin đất đai vào thiết bị nhớ;
- Bảo đảm tính tương thích với các phần mềm quản trị CSDL khác, phần mềm ứng dụng đang sử dụng phổ biến tại Việt Nam
1.2.5 Lộ trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
- Việc xây dựng CSDL địa chính trên phạm vi cả nước được ưu tiên thực hiện theo thứ tự dưới đây:
+ Đối với các phường, thị trấn phải được thực hiện trước năm 2010;
+ Đối với các xã ở đồng bằng, trung du phải được thực hiện trước năm 2015;
+ Đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn thì có thể thực hiện sau khi đã hoàn thành cho các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng, trung du;
- Trong thời gian chưa xây dựng CSDL địa chính thì thực hiện như sau:
+ Trường hợp địa phương chưa lập HSĐC trên giấy thì khi thực hiện cấp GCN, đăng ký biến động về sử dụng đất phải lập, chỉnh lý HSĐC trên giấy ở cả cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã theo quy định [16]
+ Trường hợp địa phương đã lập HSĐC trên giấy theo quy định trước ngày Thông tư 24 có hiệu lực thi hành thì tiếp tục sử dụng, cập nhật và chỉnh lý biến động
về sử dụng đất trong quá trình quản lý đất đai theo hướng dẫn tại Thông tư số 24
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành có liên quan lập và tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng CSDL địa chính bảo đảm theo đúng lộ trình hướng dẫn tại Thông tư số 24 để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai của địa phương
1.3 Hồ sơ địa chính của một số nước trên thế giới [1]
1.3.1 Hồ sơ địa chính của Australia
Trong suốt quá trình lịch sử từ khi còn là thuộc địa của Ạnh cho đến khi là một quốc gia độc lập năm 1901, những quy định về pháp luật nói chung cũng như
về quản lý đất đai nói riêng của Australia đều mang tính kế thừa và phát triển một
Trang 23cách liên tục, không có sự chuyển tiếp hay gián đoạn do sự thay đổi của các chế độ chính trị khác nhau Đây cũng là một điều kiện khách quan thuận lợi khiến cho luật pháp, chính sách, quy định về quản lý, sở hữu đất đai của nước này có tính nhất quán, kế thừa lịch sử và ngày càng hoàn thiện Đồng thời ý thức tôn trọng pháp luật của người dân, các tổ chức cũng được nâng cao
Ngay từ năm 1958 trên toàn liên bang, Australia đã áp dụng thống nhất hệ thống kê khai đăng ký Torren Việc áp dụng sớm và thống nhất một hình thức kê khai đăng ký đã giúp cho hệ thống hồ sơ địa chính của Ôxtralia đến thời điểm hiện tại đảm bảo tính thống nhất và hoàn thiện Khi đã được cấp giấy chứng nhận thì chủ
sở hữu sẽ được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu vĩnh viễn Dưới đây là một số hệ thống đang được áp dụng tại các bang của Australia:
a) Bang Tây Úc:
Hệ thống thông tin đất đai Tây Úc WALIS (West Australia Land
Information System) được thiết lập từ năm 1981, đã trở thành HTTT đất đai sớm nhất tại Úc sử dụng công nghệ HTTT địa lý trong việc xây dựng HTTT đất đai Để xây dựng một HTTT đất đai hiện đại và hiệu quả, một số nguyên tắc chính đã được
đề ra khi tiến hành xây dựng hệ thống, bao gồm: Thông tin là tài sản có giá trị; hệ thống phải đáp ứng mục tiêu đề ra và người khai thác hệ thống trở thành mục tiêu quan tâm; thông tin thu thập một lần, sử dụng nhiều lần; phải có sự kết hợp thông tin, chia sẻ tài nguyên với giá trị gia tăng; chi phí duy trì, bảo dưỡng hợp lý, hiệu quả; có đăng ký phân quyền, bảo mật, duy trì mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý thông tin
Với lịch sử trên 30 năm, WALIS đã đạt được nhiều thành công trong việc xử
lý các vấn đề liên quan đến quản lý thông tin địa lý cũng như thông tin đất đai, hỗ trợ tích cực cho cơ chế truy cập thông tin đất đai Điều này được thể hiện qua mối quan hệ giữa công tác quản lý, lưu trữ thông tin, thương mại, siêu dữ liệu và phân quyền truy cập thông tin của hệ thống
Trung bình trong một ngày hệ thống này đã giúp xử lý khoảng 4500 trường hợp tra cứu giấy chứng nhận quyền sở hữu đất và tài sản gắn liền với đất Hình 1.2
Trang 24là khái niệm cung cấp thông tin của CSDL địa chính đa mục tiêu ở Australia Như
đã nêu ở trên mô hình này rất phù hợp cho các nước đang phát triển vì hầu hết các nước này đang từng bước xây dựng và phát triển CSDL địa chính, hoàn thiện dần CSDL quản lý đất đai; dạng mô hình này phù hợp và thích ứng về cả hai mặt tích tụ thông tin và trình độ công nghệ thông tin
Hình 1.2: CSDL địa chính đa mục tiêu (mô hình của Australia) b) Bang Victoria:
Tại Bang Victoria, một HTTT đất đai đã được phát triển với mô hình hiện đại nhằm cung cấp dịch vụ đăng ký đất đai, bất động sản trực tuyến qua mạng Internet Theo thống kê, chỉ có khoảng 10% lượng giao dịch hàng năm được thực hiện theo hình thức “mặt đối mặt” giữa cán bộ thực hiện giao dịch và người dân, tổ chức có nhu cầu; khoảng 90% số giao dịch còn lại được thực hiện trong vòng 24h qua hệ thống cung cấp dịch vụ HTTT đất đai
Trung tâm thông tin đất đai: Là một đơn vị dịch vụ của ngành quản lý đất
đai Bang Victoria, cung cấp các dịch vụ truy cập thông tin và các dịch vụ có liên quan như thực hiện các giao dịch đất đai và bất động sản, quy hoạch và phát triển quỹ đất Ngoài ra, Trung tâm cũng là đơn vị cung cấp các dịch vụ về ảnh hàng
Trang 25không, ảnh viễn thám nhằm các mục đích từ thương mại đến kiểm soát ô nhiễm, chống khủng bố và các dịch vụ khác
Hệ thống đăng ký đất đai Bang Victoria được thực hiện dựa trên nguyên tắc bảo hộ của nhà nước về những gì nhà nước đã chứng nhận trên giấy chứng nhận quyền sở hữu Hệ thống đăng ký có vai trò và chịu trách nhiệm về quản lý giấy chứng nhận sở hữu đất đai theo Bộ Luật chuyển nhượng đất đai năm 1958, được sửa đổi, bổ sung năm 1998
Hệ thống cung cấp dữ liệu đất đai LANDATA ® là dịch vụ trực tuyến cung cấp thông tin về đất đai ở tiểu bang Victoria Các lĩnh vực hoạt động của LANDATA® bao gồm: tìm kiếm thông tin về GCN quyền sở hữu đất và các giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật, các chỉ số liên quan, GCN về tài sản, thông tin về tài sản, GCN quy hoạch và chất lượng dữ liệu
Trong những năm vừa qua, đã có những gia tăng đáng kể trong hoạt động
từ 10% tương đương với 0,8 triệu lượt tìm kiếm năm 1998 tăng lên 100% tương đương với 2,2 triệu lượt tìm kiếm gần đây
Hệ thống giao dịch đất đai điện tử tại Victoria đã được xây dựng và vận
hành trong nhiều năm với các thành tựu đặc biệt Theo thống kê, có trên 90% các giao dịch đất đai được thực hiện thông qua công cụ điện tử trực tuyến, chỉ có dưới 10% giao dịch được thực hiện thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa người giao dịch với các cán bộ của ngành quản lý đất đai Victoria Hệ thống giao dịch đất đai điện tử cho phép việc tổ chức các giao dịch được minh bạch, hiệu quả, tăng cường cải cách thủ tục hành chính của chính quyền
Mục tiêu chính của hệ thống là cung cấp các dịch vụ đăng ký giao dịch bất động sản thông qua việc giải quyết các giao dịch bất động sản, các dịch vụ về đăng
ký định cư cũng như tái định cư
Các thành phần chính của hệ thống giao dịch đất đai điện tử gồm:
Trang 26Quy trình xử lý nghiệp vụ, nhằm xác định xem một giao dịch bất động sản
phải qua những bước xử lý nào, đồng thời gán trách nhiệm của từng cá nhân, nhóm
cá nhân trong các bước giao dịch đó Quy trình xử lý nghiệp vụ được xác định cho từng loại giao dịch bất động sản như chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế
chấp, góp vốn liên danh trong thương mại
Dịch vụ khách hàng, xác định các nhóm dịch vụ được gắn với các nhóm
khách hàng của hệ thống, gồm người thực hiện giao dịch, các luật sư và các đo đạc viên được cấp phép Hệ thống cũng cung cấp dịch vụ cho các đối tượng khác có quan tâm gồm các công tư kinh doanh bất động sản, cấp chính quyền địa phương, các trường đại học Sản phẩn bao gồm có sản phẩm bản đồ và sản phẩm giao dịch từ
các giao dịch
Các giải pháp đối với các vấn đề phức tạp, được xác định cho từng trường
hợp cụ thể và thông thường cần phải có ý kiến tư vấn của một hội đồng tư vấn được thành lập khi vấn đề xuất hiện
Phân phối sản phẩm: sản phẩn bản đồ, sản phẩn của các giao dịch điện tử
được cung cấp từ hệ thống sau khi các giao dịch được thực hiện như giấy chứng nhận sở hữu, các hợp đồng giao dịch được xác lập
c) Bang New South Wales:
Hệ thống đăng ký đất đai và cấp GCN quyền sở hữu Torrens được quản lý
toàn bộ qua mạng, là một phần cơ bản của HTTT đất đai của bang
Hệ thống thông tin đất đai tại New South Wales có các đặc điểm và chức năng, nhiệm vụ như sau:
- Quản lý và cập nhật dữ liệu không gian và phi không gian;
- Chuẩn bị và chia sẻ các sản phẩm và dịch vụ dữ liệu không gian chất lượng cao từ các ứng dụng dữ liệu không gian;
- Đảm bảo dữ liệu không gian và phi không gian tương thích và có thể tích hợp với các hệ thống khác;
- Quản lý, xây dựng và phát triển các ứng dụng dữ liệu không gian;
- Cung cấp tư vấn kỹ thuật, hướng dẫn, hỗ trợ người dùng hệ các thống dư liệu không gian khác nhau;
Trang 27- Thiết kế, thực thi và hỗ trợ các giải pháp trên thiết bị di động và các ứng dụng Web;
- Xây dựng, duy trì các tiêu chuẩn, chính sách và quy trình của tổ chức liên quan tới việc vận hành hệ thống dữ liệu không gian và phi không gian
1.3.2 Hồ sơ địa chính của Malaysia
Hệ thống quản lý đất đai của Malaysia dựa trên cơ sở hệ thống Torrent của Ôxtralia
Bộ máy quản lý đất đai duy trì các loại hồ sơ khác nhau, các loại hồ sơ này được chia thành 2 loại: Hồ sơ theo yêu cầu của luật pháp, Hồ sơ dùng để quản lý
- Hồ sơ theo yêu cầu của luật pháp: Các loại hồ sơ khác nhau cần được duy trì theo các văn bản pháp lý đất đai tương ứng và các văn bản pháp lý phụ trợ như sau:
+ Sổ đăng ký Bằng khoán; sổ đăng ký giao dịch; sổ ghi chép thẩm vấn; sổ ghi chép chỉnh sửa
+ Các quy định về đất đai của Bang: Hồ sơ về đơn từ đất đai; Số hiệu của công trình định cư; hồ sơ yêu cầu cho đo đạc; hồ sơ yêu cầu cho Bằng khoán; sổ bán đấu giá
+ Các sổ đăng ký Bằng khoán theo các đạo luật trước đây vẫn còn đang sử dụng
- Các hồ sơ dùng để quản lý; những hồ sơ này được duy trì để tạo thuận lợi cho công tác quản lý đất đai, loại hồ sơ này gồm: Hồ sơ bán theo sơ đồ; bản đồ in litô và bản đồ theo tiêu chuẩn; số hiệu thửa; hồ sơ quá trình chuẩn bị, đăng ký và cấp Bằng khoán; hồ sơ các thông báo về đất đai trong Quận; hồ sơ về đất bảo tồn;
sổ xác định ranh giới ngoại nghiệp; số hiệu Bằng khoán đăng ký; hồ sơ về việc gửi các thông báo; hồ sơ địa chỉ các chủ sở hữu; hồ sơ về đơn thư xin cấp Bằng khoán;
hồ sơ văn bản bị trả lại
Malaysia đã xây dựng hệ thống thông tin đất đai quốc gia (NaLIS) nhằm hiện đại hóa quản lý thông tin đất đai, HSĐC phục vụ cho công tác quản lý đất đai
và các nhu cầu khác Những đặc điểm cơ bản của hệ thống gồm:
- NaLIS được xây dựng trên một nền hệ thống mở để trong tương lai có thể
dễ dàng nâng cấp, phát triển theo nhu cầu của người sử dụng và các tiến bộ khoa
Trang 28học kỹ thuật
- NaLIS được xây dựng trên cơ sỏ mô hình phân tán dữ liệu, tức là các thông tin được lưu giữ tại các cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc các cơ quan khác nhau
mà không phải là một hệ thống tập trung
- Việc truyền dữ liệu trong hệ thống được thực hiện trên cơ sở mạng lưới truyền thông sẵn có của các hãng dịch vụ viễn thông (chủ yếu là mạng Internet)
1.3.3 Những kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu hồ sơ địa chính các nước
Trên thế giới, nhiều nước đã có kinh nghiệm về lập HSĐC từ nhiều năm nay, tùy vào tình hình kinh tế - xã hội của họ để chọn ra hình thức và nội dung phù hợp
Tuy có nhiều điểm khác nhau cả về nội dung và hình thức nhưng đều có thể chuyển hóa theo sự phát triển của kỹ thuật tin học hiện đại và đều lấy thửa đất làm cơ bản, làm đối tượng để lập và quản lý
Qua việc tìm hiểu hệ thống quản lý HSĐC tại một số nước đã nêu ở trên có thể rút ra nhận xét sau đây:
- Hệ thống HSĐC thiết lập ở bất ký quốc gia nào đều không tách rời mục tiêu
là quản lý chặt chẽ quỹ đất đai
- Các hệ thống tài liệu HSĐC ở các nước nghiên cứu đều đi sâu thể hiện từng thửa đất của mỗi chủ sở hữu kèm theo các thông tin cần thiết phục vụ thu thuế, các nhu cầu về thông tin đất đai và các yêu cầu về bảo vệ quyền sở hữu đất đai
- Để hiện đại hóa hệ thống HSĐC, các nước đều tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu (ngân hàng dữ liệu) về đất đai và xây dựng, vận hành hệ thống thông tin đất đai
1.4 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.4.1 Về ứng dụng và phát triển công nghệ:
Xây dựng CSDL về đất đai gắn liền với công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các ứng dụng CAD để số hóa dữ liệu địa chính Thông qua các nghiên cứu của nhiều đơn vị, các dự án đã và đang thực hiện từ năm 1992 trở lại đây, nhiều công nghệ đã được ứng dụng trong các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai từ cấp trung ương tới cấp địa phương, các doanh nghiệp đo đạc lập bản đồ, lập hồ sơ địa chính Các công nghệ được ứng dụng cơ bản là các công nghệ tiên tiến ở Việt Nam
và trên thế giới [4]
Trang 29Để bảo đảm việc tích hợp dữ liệu đồ họa về thửa đất với dữ liệu thuộc tính về chủ sử dụng và hiện trạng sử dụng đất, các nhà nghiên cứu, quản lý và sản xuất tại Trung ương và địa phương đã kế thừa thành tựu của các hãng phần mềm lớn trên thế giới cho ra đời hàng loạt phần mềm nội địa nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng CSDL địa chính số như: FAMIS & CaDDB, CILIS và sau này là ELIS, VILIS, eKLIS [5]
Các công nghệ GIS nền được sử dụng cũng rất đa dạng như: ArGIS của hãng ESRI (Mỹ), MapInfo, AutoCAD Hệ quản trị CSDL sử dụng Oracle, SQL Server, Access Hiện đã có một số nghiên cứu ứng dụng toàn bộ mã nguồn mở trong xây dựng LIS để tiết kiệm chi phí đầu tư công nghệ nền [4]
Hệ thống phần mềm thông tin đất đai được thiết kế bao gồm nhiều mô đun liên kết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau; thể hiện bằng các nhóm chức năng của hệ thống và được thiết kế theo nguyên tắc sau:
- Là một hệ thống bao gồm nhiều mô đun, được chia thành các hệ thống con;
mỗi hệ thống con bao gồm một nhóm các chức năng phù hợp với một dạng công việc trong công tác quản lý đất đai
- Hệ thống có tính phân cấp theo 3 mức: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
- Về cơ bản, phần mềm Hệ thống thông tin đất đai chia thành các hệ thống phần mềm con như sau:
+ Hệ thống quản lý điểm toạ độ, độ cao, lưới khống chế và bản đồ;
+ Hệ thống quản lý hồ sơ địa chính và đăng ký, thống kê đất đai;
+ Hệ thống hỗ trợ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, phân hạng, đánh giá, định giá đất;
+ Hệ thống hỗ trợ quản lý về thuế đất, giá trị đất và công trình trên đất;
+ Hệ thống hỗ trợ công tác thanh tra đất đai, giải quyết tranh chấp và khiếu nại tố cáo về đất đai
- Thông thường được thiết kế theo bốn phiên bản tương ứng với 4 cấp hành chính về quản lý về đất đai, gồm: HTTT đất đai cấp trung ương; HTTT đất đai cấp tỉnh; HTTT đất đai cấp huyện và HTTT đất đai cấp xã
Trang 30Nhìn chung những giải pháp này đã cung cấp cho các địa phương một công
cụ hữu ích hỗ trợ tích cực để đẩy nhanh việc lập CSDL địa chính số, góp phần đẩy nhanh tiến độ đăng ký đất đai, lập HSĐC và cấp GCN [5]
Tuy nhiên; thực tế cho thấy: Tuy có nhiều sản phẩm, nhiều ứng dụng và có nhiều đơn vị phát triển nhưng việc ứng dụng công nghệ trong công tác xây dựng CSDL đất đai còn bộc lộ một số bất cập như: Chính sách quản lý thay đổi liên tục dẫn đến các phần mềm phải thay đổi theo nhưng lại thiếu nguồn lực về kinh phí để cập nhật, nâng cấp, chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất, còn có nhiều sự khác biệt về nhu cầu quản lý cho từng địa bàn, thiếu hỗ trợ kỹ thuật từ nhà cung cấp công nghệ nền (thông thường là ở nước ngoài) và nhà phát triển HTTT đất đai do thiếu nguồn nhân lực và chính sách tài chính, còn có sự vướng mắc về vấn đề lựa chọn sản phẩm phần mềm cho từng địa phương… Về chính sách quản lý; do Việt Nam còn đang trong giai đoạn hoàn thiện chính sách về quản lý đất đai, các quy trình, chế độ quản lý, mẫu biểu báo cáo, thống kê, mẫu GCN… thay đổi nhiều trong thời gian ngắn nên các phần mềm phải cập nhật liên tục để phù hợp với chính sách mới [4]
1.4.2 Kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư và kết quả đạt được trong xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính ở nước ta trong thời gian qua:
Trong những năm đầu của thế ký 21 việc xây dựng CSDL địa chính số đã được các tỉnh chú trọng đầu tư thích đáng, như Dự án xây dựng CSDL hồ sơ địa chính số tại TP Hồ Chí Minh, các tỉnh: Bình Dương, Long An, An Giang, Đồng Nai, Bình Thuận, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định Nhiều chương trình, dự án về xây dựng CSDL đất đai đã được triển khai ở cấp Trung ương; điển hình như: Xây dựng CSDL kiểm kê đất đai từ năm 2000 đến năm 2010;
dự án xây dựng HTTT đất đai và môi trường đã xây dựng hệ thống ELIS Trong quá trình triển khai xây dựng CSDL số, chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ rất hiệu quả của các tổ chức Quốc tế như: SIDA Thụy Điển, Hiệp hội đô thị Canada, Ngân hàng thế giới …[5]
Một trong các chương trình, dự án tiêu biểu là chương trình Hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về đổi mới hệ thống địa chính - CPLAR; chương trình có nguồn vốn không hoàn lại do cơ quan phát triển quốc tế SIDA Thụy Điển tài trợ cho Tổng
Trang 31cục Địa chính thực hiện từ năm 1997 đến năm 2003 Chương trình được chia thành nhiều dự án về chính sách, nâng cao năng lực…, trong đó có hợp phần 5 về phát triển và ứng dụng HTTT đất đai ở cấp tỉnh và thử nghiệm tại một số tỉnh… Kết quả của dự án đã nâng cao nhận thức, chuyển giao công nghệ xây dựng bản đồ địa chính
số, xây dựng CSDL về đăng ký đất đai, quản lý và in GCN bằng công nghệ số thay cho việc viết tay trước đây
Gần đây là Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) với số vốn lên tới 100 triệu đô la Mỹ từ nguồn vốn vay ODA của Ngân hàng Thế giới được Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai thực hiện từ tháng 8/2008 đến 30/6/2015 tại 09 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, gồm: Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Hưng Yên, Thái Bình và thành phố Hà Nội VLAP là dự án được nghiên cứu trên 10 năm trước khi triển khai thực hiện, qua sự hợp tác của nhiều nước như Pháp, Thụy Điển, New Zealand, Phần Lan Mục tiêu của dự án là tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng với dịch vụ thông tin đất đai, bằng cách phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện tại các địa phương qua việc xây dựng hệ thống HSĐC và bản đồ địa chính dạng số [4]
1.4.3 Định hướng về CSDL đất đai đa mục tiêu [5]:
Để xây dựng được một CSDL đất đai đa mục tiêu trước hết chúng ta phải phân tích được nhu cầu của các đối tượng có liên quan đến việc sử dụng và xây dựng CSDL từ Chính phủ, đến các Bộ, ngành; từ Trung ương đến địa phương và đến người dân:
Hình 1.3: Mô tả phân tích nhu cầu của các đối tượng liên quan đến việc sử dụng
và xây dựng CSDL [5]
Trang 32Trên cơ sở nhu cầu và nhiệm vụ đề xuất một thiết kế tổng thể về thể chế, chính sách, kỹ thuật; cơ chế xây dựng, chia sẻ và cập nhật cơ sở dữ liệu Theo thiết
kế chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến trúc cơ sở dữ liệu có thể thiết kế tổng thể theo mô hình sau kiến trúc tổng thể sau:
Hình 1.4: Định hướng mô hình kiến trúc tổng thể CSDL đất đai đa mục tiêu ở
Việt Nam [5]
Trang 33Với Kiến trúc tổng thể như trên có thể cho phép sử dụng các phương pháp khác nhau để khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu
Hình 1.5: Định hướng khai thác thông tin trong CSDL đất đai đa mục tiêu [5]
Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu là một cơ sở dữ liệu lớn, chi phí cao nên cần phải có thiết kế và bước đi phù hợp Trước mắt trong giai đoạn 2010 -
2015 tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu vĩ mô ở cấp trung ương song song với việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cơ bản chi tiết đến từng thửa đất, từng loại sử dụng đất và từng chủ sử dụng đất ở địa phương (các Sở và các Phòng Tài nguyên và Môi trường)
1.5 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính một số địa phương trong nước
Trong xu hướng chung của thế giới, hê ̣ thống quản lý đất đai ở nước ta đang trong giai đoạn được tin ho ̣c hóa để đảm bảo quản lý chă ̣t chẽ, thủ tu ̣c hành chính dễ
Trong nhiều năm qua, các địa phương trên cả nước đã quan tâm, tổ chức triển khai xây dựng CSDL địa chính ở nhiều địa bàn gắn với đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất Một số tỉnh (điển hình như Đồng Nai, An Giang, Vĩnh
Trang 34Long) và một số quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh khác (Hải Phòng, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận, Hồ Chí Minh) đã cơ bản xây dựng CSDL địa chính và đã tổ chức quản lý, vận hành phục vụ yêu cầu khai thác sử dụng rất hiệu quả và được cập nhật biến động thường xuyên ở các cấp tỉnh, huyện [20]
Hi ̀nh 1.6 Trang web cung cấp thông tin địa chính trên ma ̣ng Internet xã Đông
Tha ̀nh, huyê ̣n Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long [20]
Hi ̀nh 1.7 Tra cứu thông tin đất đai trên ma ̣ng Internet của tỉnh Vĩnh Long [20]
Trang 35Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại một số những khó khăn như:
+ Hệ thống các quy định của quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta chưa đạt được một sự ổn định tương đối
Ở nước ta cứ khoảng 5 đến 10 năm là Luật đất đai lại phải thay đổi hoặc sửa đổi một lần, các Luật này ngay từ khi mới ra đời đã có những vấn đề chưa rõ ràng
và để thực thi chúng đòi hỏi phải tiếp tục ra nhiều văn bản dưới luật Các văn bản dưới luật và các thông tư hướng dẫn thì thay đổi với tốc độ chóng mặt và không lường hết trước được những tình huống có thể xảy ra trong thực tế
Trong vòng 15 năm, từ năm 1995 đến năm 2009, mẫu (và nội dung) các sổ sách hồ sơ địa chính đã thay đổi 5 lần theo quyết định 499 QĐ/ĐC ngày 27/7/1995, thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính, thông
tư 29/2004/TT-BTNMT, thông tư 17/2009/TT-BTNMT và thông tư BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Sự thay đổi nhanh chóng này dẫn đến nội dung thông tin trong hồ sơ cũ và hồ sơ mới không tương ứng, thiếu đồng bộ thông tin Việc chuyển các hệ thống sổ sách cũ sang hệ thống sổ sách mới tốn rất nhiều thời gian, kinh phí và công sức mà vẫn không thể đảm bảo độ tin cậy 100%
24/2014/TT-do các sai sót trong quá trình chuyển đổi Mặt khác, mỗi khi có quy định mới về hệ thống hồ sơ địa chính thì các phần mềm quản lý hồ sơ cũng bắt buộc phải thay đổi theo Sự thay đổi này không hề đơn giản mà là một quy trình phức tạp và tốn nhiều thời gian Thực tế này đã tạo ra một vòng luẩn quẩn dẫn đến tình trạng các phần mềm xây dựng CSDL địa chính phải liên tục được nâng cấp, chỉnh sửa mà vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu Do đó, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin là rất thấp
+ Công nghệ số mặc dù được nhắc đến nhiều nhưng chưa được khẳng định trong hệ thống quản lý nhà nước ở nước ta
Mặc dù, thông tư 24/2014/TT-BTNMT cũng đã đề cập đến chức năng của một CSDL địa chính dạng số, song cho đến thời điểm này ở Việt Nam vẫn chưa có một văn bản luật chính thức nào công nhận tính pháp lý cũng như cơ chế hoạt động của các văn bản điện tử, các chữ ký điện tử cũng mới chỉ đang trong giai đoạn
Trang 36nghiên cứu Hệ quả là CSDL địa chính được thành lập thì cũng chỉ mang tính chất
hỗ trợ cho hệ thống hồ sơ dạng giấy mà không thay thế hoàn toàn được Như vậy, ở thời điểm hiện nay CSDL có được xây dựng và hoạt động tốt thì vẫn cứ phải duy trì
2 hệ thống: hệ thống trên giấy và hệ thống trên máy tính Do đó, khối lượng công việc không được giảm đi nhiều và người sử dụng sẽ mất dần niềm tin vào các CSDL địa chính
+ Thủ tục hành chính phức tạp và người sử dụng đất không tích cực tham gia vào quá trình đăng ký
Một trong những mục đích của hệ thống đăng ký là đảm bảo quyền của chủ
sử dụng đất Song thực tế hiện nay người sử đụng đất không có xu hướng tích cực tham gia vào quá trình đăng ký do họ không thấy hết được lợi ích của việc đăng ký mang lại mà chỉ thấy trở ngại trong việc nộp thuế, lệ phí và làm các thủ tục giấy tờ dẫn đến khó khăn trong việc xây dựng CSDL địa chính do quá trình đăng ký ban đầu phải kéo dài, các biến động đất đai không được cập nhật
+ Hầu hết các tỉnh đều không cân đối hoặc bố trí đủ kinh phí
Theo chỉ đạo của Chính phủ, các tỉnh bố trí tối thiếu 10% tổng số thu từ tiền
sử dụng đất để thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp Giấy chứng nhận Song thực tế, trong ba năm qua, chỉ được tỉnh đầu tư khoảng 4% so với tiền
sử dụng đất
+ Thông tin đất đai phân tán tại nhiều nơi
Thông tin về đất đai và liên quan đến đất đai do nhiều cơ quan quản lý như ngành Địa chính, Thuế, Xây dựng,… Mỗi cơ quan quản lý chúng theo nhu cầu của mình mà người sử dụng khi có nhu cầu không thể nhận được toàn bộ thông tin mà mình mong muốn Trong khi, thông tin đất đai có đặc điểm là biến đổi nhiều, nên nếu chúng phân tán ở nhiều nơi thì sẽ dễ dàng xảy ra mâu thuẫn Vì vậy, cần quản
lý tập trung các thông tin về đất đai và có liên quan đến đất đai
+ Sự trùng lặp thông tin trong hệ thống
Các thông tin hiện thời được lưu trữ trong 4 loại sổ sách: sổ địa chính, sổ mục kê, sổ đăng ký biến động và sổ cấp GCN Để tiện theo dõi nên các thông tin
Trang 37đã được cố gắng đưa vào càng nhiều trong một cuốn sổ, chẳng hạn như thông tin
về diện tích thửa đất có trong cả 4 sổ nói trên Do đó, khi xây dựng CSDL địa chính và cập nhật thông tin thì phải rà soát kiểm tra cả ở 4 cuốn sổ sẽ làm giảm hiệu suất làm việc
1.5.2 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính tại tỉnh Lạng Sơn
Tại nhiều địa phương trên cả nước nói chung và đặc biệt là tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng việc xây dựng CSDL địa chính mới chỉ dừng lại ở việc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính dạng số cho riêng từng xã ở một số địa bàn mà chưa được kết nối, xây dựng thành CSDL địa chính hoàn chỉnh nên chưa được khai thác sử dụng hiệu quả và không cập nhật biến động thường xuyên Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nhận thức về CSDL địa chính hiện nay chưa đầy đủ, việc đầu tư xây dựng CSDL địa chính ở các địa phương chưa đồng bộ và các bước thực hiện chưa phù hợp
Hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính là 2 loại dữ liệu cơ bản để xây dựng CSDL địa chính phu ̣c vu ̣ quản lý đất đai Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu bản đồ ở địa phương còn chưa đầy đủ, độ chính xác không cao và chưa được chuẩn hóa trọn vẹn, đặc biệt với các bản đồ được lập từ những năm 90 của thế kỷ trước do những nguyên nhân khác nhau như chiến tranh, hoàn cảnh kinh tế, Với sự nỗ lực rất lớn của toàn ngành Địa chính cũng như sự áp dụng công nghệ hiện đại, từ những năm
1990 trở lại đây, công tác thành lập bản đồ địa chính tại Lạng Sơn đã có những bước tiến như đã thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính với khoảng 76% diện tích cần đo đạc tính đến tháng 11/2011 Nhưng vấn đề tồn tại trong quá trình hoàn thiện CSDL địa chính mà nước ta đang mắc phải là dữ liệu bản đồ còn nằm ở nhiều định dạng khác nhau (chủ yếu là *.dgn của Microstation và *.dwg / *.dxf của Auto CAD)
Trang 38thông tin Các dữ liê ̣u bản đồ và các dữ liê ̣u trong văn bản đươ ̣c xây dựng không đươ ̣c lưu trữ theo các nguyên tắc tổ chức của CSDL, hay nói khác đi là đươ ̣c xây
Thực tế ở nước ta nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng đã sử dụng không
ít các phần mềm khác nhau để hỗ trợ việc xây dựng CSDL địa chính như MS Access, PLIS, CILIS, VILIS,… Một trong những CSDL địa chính được triển khai thử nghiệm trong thực tế là CSDL được xây dựng bởi phần mềm ELIS ELIS là phần mềm được xây dựng một cách toàn diện và phù hợp với đặc thù quản lý đất đai tại Việt Nam, Bộ TN&MT đã có Quyết định cho phép sử dụng thống nhất phần mềm này tại VPĐKĐĐ cấp tỉnh và cấp huyện phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương Nhưng thực tế, hiệu quả áp dụng các phần mềm này vào công tác quản lý hệ thống hồ sơ địa chính ở nước ta nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng còn thấp do nhiều nguyên nhân khác nhau:
+ Hệ thống sổ sách cũ nát và không được cập nhật thường xuyên;
chưa đồng bộ đặc biệt là tại những xã miền núi;
+ Thiều nguồn đầu tư kinh phí trong quá trình xây dựng
Chính vì vậy, trong những năm tới, UBND tỉnh Lạng Sơn có sự đầu tư trọng điểm vào dự án xây dựng CSDL địa chính tại huyện mẫu Lộc Bình, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nhân rộng công tác xây dựng và vận hành CSDL địa chính trong toàn tỉnh
1.6 Một số phần mềm quản lý Hồ sơ địa chính đang áp dụng tại Việt nam hiện nay
1.6.1.Phần mềm Famis – CaddB [9]
Là phần mềm được viết chạy đồng bộ cùng Microstation có khả năng lưu trữ các thông tin cơ bản của thửa đất như: Số thửa, số tờ bản đồ, tên chủ sử dụng, địa chỉ thửa đất, loại đất cũ, loại đất mới v.v Các thông tin Famis quản lý và các chức
Trang 39năng của Famis đáp ứng được nhu cầu khai thác cơ bản của thông tin đất đai đồng thời chạy trên nền Microstation nên rất phù hợp với việc biên tập quản lý dữ liệu bản đồ Để quản lý HSĐC thì bộ phần mềm Famis - CaddB còn nhiều hạn chế do khả năng lưu trữ dung lượng thấp, không được cập nhật theo các thay đổi của pháp luật về quản lý đất đai hiện hành
1.6.2 Phần mềm CiLIS [9]
Đây là một bộ phần mềm được xây dựng bởi Viện nghiên cứu địa chính, CSDL địa chính được quản lý với định dạng dữ liệu của Microsoft Acess (định dạng *.mdb)
Ưu điểm: Phần mềm CiLIS là phương thức nhập đơn giản, dễ sử dụng như Word và Excell, người sử dụng dễ tiếp cận
Nhược điểm: Phầm mềm CiLIS có độ bảo mật dữ liệu rất yếu, dung lượng lưu trữ dữ liệu thấp (với các xã có trên 20 nghìn thửa đất rất dễ tràn dữ liệu) Nhập
dữ liệu vào phần mềm CiLIS tốn rất nhiều thời gian vì chỉ có thể nhập trên một máy, hỗ trợ xử lý phần mềm của cơ quan sản xuất phần mềm kém Khai thác dữ liệu phải thông qua cán bộ quản lý CSDL Công tác cập nhật biến động đất đai vào phần mềm rất khó khăn và tốn nhiều công sức vì bản đồ trong CSDL không thể cập nhật được mà phải cập nhật trên MicroStation sau đó mới chuyển ngược lại CiLIS
1.6.3 Phầm mềm VILIS2.0 [9]
Với sự yêu cầu từ chính thực tiến quản lý và sử dụng đất đai cũng như: cải tiến, khắc phục những tồn tại khi triển khai sử dụng VILIS1.0 đội ngũ cán bộ lập trình viên Trung tâm Viễn Thám Quốc gia đã tiến hành xây dựng phần mềm VILIS 2.0
Ưu điểm: Microsoft SQL Server 2005 quản trị CSDL đảm bảo quản lý được tối đa theo yêu cầu quản lý dữ liệu địa chính VILIS2.0 quản lý dữ liệu bản đồ địa chính đồng bộ với MicroStation, Famis và ArcGIS đảm bảo thống nhất CSDL phục
vụ tối đa cho việc quản lý CSDL địa chính Khai thác dữ liệu đơn giản, với các chủ
sử dụng đất cần khai thác các thông tin cơ bản có thể truy cập vào Website của phần mềm ViLIS2.0 để khai thác Đội ngũ cán bộ lập trình viên luôn hỗ trợ tối đa cho các tỉnh, đặc biệt là hiện nay bộ phận xây dựng VILIS2.0 đã được chuyển về trực thuộc
Trang 40Tổng Cục Quản lý đất đai
Nhược điểm: Phần mềm VILIS2.0 rất khó cài đặt và sử dụng, vấn đề chuyển giao công nghệ cho cán bộ địa phương sẽ cần rất nhiều thời gian và tốn nhiều công sức cũng như kinh phí đầu tư
1.6.4 Phầm mềm ELIS [18]
ELIS (Environment Land Information System) là hệ thống thông tin quản lý đất đai ELIS cung cấp đầy đủ các công cụ, tiện ích đáp ứng hầu hết các quy trình nghiệp vụ của công tác quản lý nhà nước về đất đai và môi trường tại Sở TNMT các tỉnh/thành trên toàn quốc
ELIS là một hệ thống phần mềm với rất nhiều phân hệ Trong đó, mỗi phân
hệ có những chức năng, mục tiêu hoạt động riêng Nhưng đều chạy trên một nền tảng công nghệ và sử dụng một cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất Nhờ thế, tất cả việc thông tin về quy hoạch đất đai, tình trạng pháp lý, diện tích của thửa đất sẽ được kiểm tra lập tức, đầy đủ, hệ thống chỉ với một yêu cầu Thời gian dành cho việc kiểm tra, thẩm định sẽ nhanh hơn hẳn các phần mềm về tra cứu, xây dựng CSDL đất đai đang sử dụng Đồng thời, việc sử dụng hệ phần mềm ELIS sẽ cho phép người dân có thể truy xuất dữ liệu trực tuyến về thửa đất, lô đất, dự án, công trình đang thi công, quy hoạch mà họ quan tâm
* Các phân hệ của hệ thống ELIS:
- ELIS-PMD: Phân hệ Quản lý nghiệp vụ và Luân chuyển hồ sơ đất đai
Hoạt động theo cơ chế một cửa, quản lý quy trình nghiệp vụ và luân chuyển
hồ sơ trong suốt quá trình xử lý theo quy trình đã thiết kế bắt đầu từ khâu tiếp nhận
hồ sơ cho đến khi trả kết quả
Cung cấp dữ liệu cho các phân hệ khác, chủ yếu là cổng thông tin điện tử ELIS-Portal
- ELIS-EIM: Phân hệ Quản lý thông tin môi trường
Mục tiêu và chức năng của phân hệ: Cho phép quản lý chỉ thông tin thuộc
tính khi chưa có thông tin đồ họa hoặc ngược lại Cung cấp dữ liệu cho các phân hệ khác, chủ yếu là cổng thông tin điện tử ELIS-Portal