1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác một số loại Rau ăn quả thích ứng với biến đổi khí hậu: Phần 1

58 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác một số loại Rau ăn quả thích ứng với biến đổi khí hậu: Phần 1
Tác giả TS. Dương Kim Thoa, TS. Ngô Thị Hạnh, TS. Nguyễn Văn Dũng, ThS. Đặng Thị Hà Giang, TS. Đào Quang Nghị, CVC. Đoàn Thị Phi Yến
Trường học Viện Nghiên cứu Rau quả
Chuyên ngành Nông nghiệp và Trồng trọt
Thể loại Sổ tay hướng dẫn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác một số loại Rau ăn quả thích ứng với biến đổi khí hậu phần 1 trình bày các nội dung như Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải sự cần thiết phải soạn thảo tài liệu hướng dẫn; những vấn đề khcn còn tồn tại, hạn chế của sản phẩm công nghệ nghiên cứu trong nước giải pháp cần giải quyết ở nhiệm vụ này; kết quả nghiên cứu và áp dụng gói kỹ thuật canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu trên một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp). Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 2

TỔ CHỨC CHỦ TRÌ:

Cục Trồng trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Viện Nghiên cứu Rau quả

TẬP THỂ BIÊN SOẠN:

TS Dương Kim Thoa - Viện Nghiên cứu Rau quả

TS Ngô Thị Hạnh - Viện Nghiên cứu Rau quả

TS Nguyễn Văn Dũng - Viện Nghiên cứu Rau quả

ThS Đặng Thị Hà Giang - Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường

TS Đào Quang Nghị - Viện Nghiên cứu Rau quả

CVC Đoàn Thị Phi Yến - Viện Nghiên cứu Rau quả

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học; suy giảm về số lượng và chất lượng nông sản do bão, lũ lụt, khô hạn, xâm nhập mặn,… làm tăng thêm nguy cơ tuyệt chủng của thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Biến đổi khí hậu sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mất an ninh lương thực

Trong những năm qua, Ngành Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được các thành tựu to lớn trong sản xuất nông sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, kỹ thuật tưới tiêu,… đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển Ngành Nông nghiệp bền vững, hiệu quả, hạn chế thiệt hại

do biến đổi khí hậu gây ra trong những năm gần đây.Sản xuất nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (gọi tắt là CSA) - là một trong những giải pháp để giảm nhẹ sự tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hiện tại chưa có một tài liệu tổng hợp hướng dẫn thực hành CSA nào đối với từng cây trồng, bao gồm áp dụng tổng hợp các quy trình kỹ thuật canh tác như ICM, IPM, một phải năm giảm, ba giảm ba tăng, tưới khô ướt xen kẽ, tưới tiết kiệm,

Từ năm 2014 - 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (VIAIP) Mục tiêu là nâng cao tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp có tưới, trong đó Hợp phần 3 của Dự án đã hỗ trợ các tỉnh vùng Dự án thiết kế và thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu gồm: Áp dụng các gói kỹ thuật

về sản xuất giống cây trồng, gói kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, đánh giá nhu cầu và áp dụng các phương pháp tưới tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng; sử dụng nước tiết kiệm và tăng hiệu ích sử dụng nước; tăng thu nhập cho nông dân; giảm tính dễ tổn thương với biến đổi khí

Trang 4

hậu, giảm phát thải khí nhà kính; tổ chức và liên kết sản xuất nông sản theo chuỗi giá trị gia tăng, giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho người dân.Cục Trồng trọt được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm

vụ phối hợp với Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi và các tỉnh tham gia Dự án triển khai các nội dung liên quan đến nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA) Trên cơ sở tổng kết các kết quả, tài liệu liên quan, Cục Trồng trọt xin giới thiệu Bộ tài liệu “Sổ tay Hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu cho một số cây trồng chủ lực như lúa, màu, rau, cây ăn quả có múi (cam, bưởi), chè, hồ tiêu, điều,

cà phê, nhãn, vải, xoài, chuối, thanh long và sầu riêng” Bộ tài liệu này được xây dựng trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp, chuẩn hóa các kỹ thuật canh tác, kỹ thuật tưới, tiêu nước, để hoàn thiện Quy trình thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu cho các cây trồng nhằm phổ biến đến các tổ chức, cá nhân và các địa phương tham khảo áp dụng rộng rãi trong sản xuất

Đây là một trong những tài liệu đầu tiên được chuẩn hóa về nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót, đơn vị chủ trì xin được lắng nghe các góp

ý của quý vị để tiếp tục hoàn thiện

Cục Trồng Trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng cảm ơn Ngân hàng Thế giới (WB) đã tài trợ Dự án VIAIP, tập thể đội dự án, tập thể biên soạn và các chuyên gia đã đồng hành trong việc xuất bản Bộ tài liệu này

CỤC TRỒNG TRỌT

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

với biến đổi khí hậu

(Good Agriculture Practices)

Trang 6

RAU ĂN QUẢ

Trang 8

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LUẬN GIẢI SỰ CẦN THIẾT PHẢI SOẠN THẢO TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình sản xuất rau và sản xuất một số loại rau ăn quả ở Việt Nam

Sản xuất rau có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong nông nghiệp Việt Nam Rau xanh vừa là nguồn thực phẩm cho mỗi bữa ăn hàng ngày với yêu cầu ngày càng tăng, vừa là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

và là mặt hàng nông sản xuất khẩu có tiềm năng và lợi thế so sánh cao.Cũng như hầu hết các nước trên thế giới, ngành sản xuất rau ở nước ta đã hội tụ rất nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, quy trình canh tác, công nghệ sau thu hoạch…là tiền đề cho sự gia tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Tỷ lệ sử dụng giống lai F1 của nhiều loại rau đạt hơn 90% (cà chua, dưa chuột, ớt ngọt, cải bắp, cải bao…); nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao trên quy mô hàng trăm héc-ta cho năng suất gấp hàng chục lần canh tác thông thường ngoài đồng ruộng; rất nhiều sản phẩm chế biến

từ rau xanh làm gia tăng giá trị dinh dưỡng và tiêu dùng

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2019, diện tích sản xuất rau cả nước là 971,322 ha với sản lượng 17.765 nghìn tấn, tăng 32% về diện tích so với 10 năm trước (năm 2009 là 735,335 nghìn ha) và tăng 49,5% về sản lượng (11.885 nghìn tấn) Đây là một trong nhóm cây trồng có tốc độ tăng diện tích gieo trồng cũng như sản lượng nhanh trong một thập kỷ qua Với thời gian gieo trồng ngắn 3 - 5 tháng/vụ, cây rau cho hiệu quả kinh tế gấp 2 - 3 lần so với trồng lúa Nghề trồng, sơ chế và chế biến rau cũng thu hút lớn lực lượng lao động vốn đang dư thừa ở nông thôn hiện nay Ngoài ra, rau xanh, rau chế biến còn tham gia xuất khẩu đóng góp phần đáng kể lượng ngoại tệ cho đất nước Kim ngạch xuất khẩu rau, quả của Việt Nam tính đến năm 2019 đã đạt 3,7 tỷ đô la Mỹ (trong

đó cây rau là 440 triệu USD) [11]

Trong ngành sản xuất rau, các loại rau ăn quả như cà chua, dưa chuột, ớt cay là những loại rau có diện tích sản xuất hàng hoá lớn, năng suất trên đơn

vị diện tích cao, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu, được xếp vào nhóm rau chủ lực

Trang 9

Cây cà chua

Cây cà chua ((Lycopersicon esculentum Mill) là cây rau ăn quả quan trọng

được trồng, tiêu thụ hầu hết các nước trên thế giới Ở Việt Nam, cây cà chua

là cây rau ăn quả được trồng với diện tích lớn Theo số liệu thống kê năm

2019, diện tích sản xuất cà chua cả nước năm 2018 đạt 25,48 nghìn ha, tăng 14,1% so với năm 2010 (21,17 nghìn ha), năng suất đạt 287,0 tạ/ha, sản lượng đạt 731,48 nghìn tấn Với sản lượng trên, tương đương bình quân đầu người khoảng 7,34 kg quả/năm Trong thời gian qua, nhờ việc chuyển giao các tiến

bộ kỹ thuật: giống mới và công nghệ canh tác tiên tiến góp phần gia tăng về năng suất, sản lượng và chất lượng cà chua của Việt Nam [11]

Do tính chất đặc trưng như cơ cấu mùa vụ và điều kiện sinh thái mà cây

cà chua phần lớn được sản xuất tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và tỉnh Lâm Đồng Diện tích và sản lượng cà chua sản xuất ở hai khu vực này chiếm trên 62% sản lượng cà chua cả nước

Với đặc điểm cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nên cà chua là đối tượng

ưu tiên được lựa chọn cho sản xuất ứng dụng công nghệ cao

Cây dưa chuột

Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại cây rau ăn quả có giá trị trao đổi

thương mại lớn, được trồng phổ biến làm thực phẩm thông dụng của nhiều nước trên thế giới Dưa chuột có hàm lượng các chất dinh dưỡng và năng lượng thấp nhưng lại có hàm lượng vitamin và chất khoáng cao nên rất được

ưa chuộng ở các nước có khẩu phần ăn giàu năng lượng

Ở Việt Nam, trong số các cây rau ăn quả, dưa chuột có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng cho năng suất cao, do vậy hiện nay dưa chuột được coi

là cây mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Thuộc nhóm cây ưa nhiệt, dưa chuột yêu cầu khí hậu ấm áp, ôn hòa, khô ráo nên yêu cầu về nhiệt độ thấp hơn so với các cây khác trong họ Bầu bí Nhiệt độ thích hợp nhất cho dưa chuột sinh trưởng phát triển dao động từ 18 - 240C, nhiệt độ tối thấp là 150C và nhiệt độ tối cao là 330C Do vậy dưa chuột chủ yếu phát triển trong vụ đông (từ tháng 9 đến tháng 11) và vụ xuân hè (từ tháng 02 đến tháng 5) ở các tỉnh đồng bằng của miền Bắc Việt Nam [7]

Trang 10

Theo số liệu thống kê năm 2019, diện tích sản xuất dưa chuột cả nước năm 2018 đạt 49,51 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 19,4 tấn, sản lượng 960,67 nghìn tấn Đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích dưa chuột phát triển hàng năm lên tới 9,69 nghìn ha với năng suất bình quân cao nhất

cả nước đạt trên 27,1 tấn/ha, cung cấp sản lượng lớn cho nội tiêu và chế biến xuất khẩu [11]

Trong những năm gần đây khi các sản phẩm dưa chuột muối, đóng lọ của Việt Nam đang dần chiếm được thị phần trong khu vực và thế giới thì diện tích trồng dưa chuột chế biến ngày được mở rộng Cùng với sự phát triển của các công ty chế biến nông sản, đã hình thành nên những vùng chuyên canh dưa chuột chế biến, tập chung tại các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng Xuất khẩu dưa chuột chế biến đem lại lợi nhận cao cho các doanh nghiệp cũng như người sản xuất Ở nhiều địa phương, do áp dụng đúng quy trình chăm sóc, năng suất dưa chuột được nâng cao nên đã thu lãi trên100 triệu đồng/ha/vụ, đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp từ 2 đến 3 lần so với cây lúa

Cây ớt cay

Ớt (Capsicum annuum L.) là cây rau ăn quả được trồng lâu đời và phổ biến

ở hầu khắp các nước trên thế giới Với xu thế gia tăng các sản phẩm giàu vi chất dinh dưỡng và dược lý trong bữa ăn hàng ngày, diện tích và sản lượng

ớt, nhất là ớt cay ngày càng gia tăng Đứng đầu về sản xuất ớt hiện nay là Trung Quốc và Mexico chiếm hơn 57% sản lượng ớt toàn thế giới

Ở nư ớc ta cây ớt đư ợc đư a vào trồng trọt từ rất lâu đời, do thích hợp

đ ược nhiều vùng đất khác nhau và có nhu cầu từ thị trường xuất khẩu nên khả năng mở rộng diện tích rất lớn Những năm gần đây, rất nhiều địa phương phía Bắc: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa, Bắc Giang, Hà Tĩnh… đã triển khai thành công mô hình trồng ớt xuất khẩu, mở ra hướng đi mới cho bà con nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để sản xuất

ra sản phẩm hàng hoá đem lại thu nhập cao Một số vùng còn xem đây là cây xóa đói giảm nghèo, điển hình là các huyện: Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Hoằng Hóa, Nga Sơn, Hậu Lộc, Yên Định (Thanh Hóa), Quỳnh Phụ (Thái Bình)… [12]

Trang 11

Theo số liệu thống kê (Tổng cục Thống kê, 2019): Năm 2018 diện tích trồng ớt của nước ta là 45,09 nghìn ha, năng suất đạt 13,53 tấn/ ha, sản lượng 609,92 nghìn tấn tăng dần hàng năm cả về diện tích và sản lượng Thống kê này chưa thật đầy đủ vì số liệu tính trên đất nông nghiệp, còn một phần ớt cay được trồng trong vườn nhà chưa được thống kê Các tỉnh phía Bắc có diện tích ớt chỉ chiếm 17% diện tích cả nước và phần lớn trồng trong vụ đông trên đất 2 vụ lúa, với thời gian sinh trưởng ngắn nên năng suất thấp hơn miền Trung và miền Nam [11].

Một số địa phương trồng ớt xuất khẩu truyền thống có diện tích lớn như Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình trong đó Thanh Hoá có diện tích và sản lượng ớt lớn nhất với hơn 2.000 ha/năm.Tại các tỉnh phía Nam, ớt được sản xuất nhiều nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang với trên 4.500 ha/năm, tỉnh Tiền Giang với hơn 3.700 ha, Sóc Trăng, Trà Vinh với khoảng 1.500 - 2.000

ha Ở hhu vực Đông Nam Bộ, tỉnh có diện tích sản xuất ớt lớn nhất là Tây Ninh với khoảng 3.500 ha Khu vực duyên hải miền Trung ớt được sản xuất tập trung tại Bịnh Định và Quảng Ngãi với diện tích canh tác khoảng 1,700 - 2000

ha Khu vực Tây Nguyên tập trung tại Lâm Đồng và Gia Lai với diện tích từ 1.600 - 1.800 ha

Trong 3 loại rau ăn quả nói trên, với đặc điểm năng suất cao, giá trị dinh dưỡng và sử dụng lớn cà chua và dưa chuột là 2 loại rau được ưu tiên lựa chọn cho sản xuất ứng dụng công nghệ cao với năng suất thu được ở các nước tiên tiến như Hà Lan, Isarael khoảng 500 tấn/ha, ở Việt Nam một số mô hình thu được năng suất khoảng 200 tấn/ha với cà chua và 100-150 tấn/ha với cây dưa chuột mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người sản xuất và mở ra hướng canh tác mới trong sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh 3 loại rau ăn quả nói trên, lặc lày (mướp Nhật) và các loại mướp khác cũng là những loại rau ăn quả bản địa dễ trồng, diện tích sản xuất lớn (24,11 nghìn ha, sản lượng 368,05 nghìn tấn) mang lại thu nhập cho bà con nông dân ở tất cả các vùng miền trên cả nước đặc biệt những vùng kinh nghiệm thâm canh rau còn ít

Trang 12

1.1.2 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp)

Cây cà chua

(1) Yêu cầu về đất trồng

Cà chua là loại cây trồng tương đối dễ tính, tuy nhiên nên sản xuất cà chua trên đất phù sa, hàm lượng hữu cơ lớn hơn hoặc bằng 1,5%, độ pH khoảng 5,5 - 7,0, tốt nhất là 6,5 - 6,8, nên chọn chân đất giàu mùn, tơi xốp, dễ thoát nước

(2) Yêu cầu về nhiệt độ

Cà chua thuộc nhóm cây ưa ấm Nhiệt độ thích hợp nhất cho nảy mầm là 18,5 - 21oC (Wittwer, 1960), còn Thompson (1974) lại cho rằng nhiệt độ tối ưu

là 26 - 32oC Nhiệt độ quá cao sẽ làm chậm sự nảy mầm của hạt, hạt dễ mất sức sống, mầm bị biến dạng (Dẫn theo Kiều Thị Thư, (1998) [10]

Cà chua sinh trưởng tốt trong phạm vi nhiệt độ 15 - 30oC, nhiệt độ tối ưu

là 22 - 24oC (Lorenz Maynard, 1988) Quá trình quang hợp của lá cà chua tăng khi nhiệt độ đạt tối ưu 25 - 30oC, khi nhiệt độ cao hơn mức thích hợp( > 35oC) quá trình quang hợp sẽ giảm dần (Dẫn theo Kiều Thị Thư, (1998) [10]

Nhiệt độ ngày và đêm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh dưỡng của cây Nhiệt độ ngày thích hợp cho cây sinh trưởng từ 20 - 25oC (Kuo và cộng sự,

1989), nhiệt độ đêm thích hợp từ 13 - 18oC Theo Claylon (1923), khi nhiệt độ trên 35oC cây cà chua ngừng sinh trưởng và ở nhiệt độ 10oC trong một giai

đoạn dài cây sẽ ngừng sinh trưởng và chết (Swiader J.M và cộng sự, 1992) Ở

giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, nhiệt độ ngày đêm xấp xỉ 25oC sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra lá và sinh trưởng của lá Tốc độ sinh trưởng của thân, chồi và rễ đạt tốt hơn khi nhiệt độ ngày từ 26 - 30oC và đêm từ 18 - 22oC Điều này liên quan đến việc duy trì cân bằng quá trình quang hoá trong cây (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8]

Nhiệt độ không những ảnh hưởng trực tiếp tới sinh truởng sinh dưỡng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự ra hoa đậu quả, năng suất và chất lượng của cà chua Khi nhiệt độ không khí trên 30oC/25oC (ngày/đêm) làm tăng số lượng đốt

Trang 13

dưới chùm hoa thứ nhất Nhiệt độ không khí lớn hơn 30oC/25oC (ngày/đêm) cùng với nhiệt độ đất trên 21oC làm giảm số hoa trên chùm Nhiệt độ còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ phấn thụ tinh Tỷ lệ đậu quả cao ở nhiệt độ tối ưu là 18 - 20oC Khi nhiệt độ ngày tối đa vượt 38oC trong vòng 5 - 9 ngày trước hoặc sau khi hoa nở 1 - 3 ngày, nhiệt độ đêm tối thấp vượt 25 - 27oC trong vòng vài ngày trước và sau khi nở hoa đều làm giảm sức sống hạt phấn, đó chính là nguyên nhân làm giảm năng suất của cà chua

(Kuo và cộng sự, 1998) (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8].

Sự hình thành màu sắc quả cũng chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ Nhiệt độ tối ưu để hình thành sắc tố là 18 - 24oC Quả có màu đỏ - da cam đậm ở 24 - 28oC

do có sự hình thành lycopen và caroten dễ dàng Nhưng khi nhiệt độ ở 30 - 36oC

quả có màu vàng đó là do lycopen không được hình thành Khi nhiệt độ lớn hơn

40oC quả giữ nguyên màu xanh bởi vì cơ chế phân huỷ chlorophyll không hoạt động, caroten và lycopen không được hình thành Nhiệt độ và độ ẩm cao còn là

nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh hại phát triển [8]

(3) Yêu cầu về ánh sáng

Cà chua thuộc cây ưa ánh sáng, cây con trong vườn ươm nếu đủ ánh sáng (5000 lux) sẽ cho chất lượng tốt, cứng cây, bộ lá to, khoẻ, sớm được trồng Ánh sáng đầy đủ thì việc thụ tinh thuận lợi, dẫn đến sự phát triển bình thường của quả, quả đồng đều, năng suất tăng

Thành phần hoá học của quả cà chua chịu tác động lớn của chất lượng ánh sáng Theo Brow (1955) và Ventner (1977) cà chua trồng trong điều kiện

đủ ánh sáng đạt hàm lượng axít ascobic trong quả nhiều hơn trồng nơi thiếu ánh sáng

(4) Yêu đầu về độ ẩm

Cà chua có yêu cầu về nước ở các giai đoạn sinh trưởng rất khác nhau,

xu hướng ban đầu cần ít về sau cần nhiều Lúc cây ra hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất Nếu ở thời kỳ này độ ẩm không đáp ứng, việc hình thành chùm hoa và tỷ lệ đậu quả giảm

Nhiều tài liệu cho thấy độ ẩm đất thích hợp cho cà chua là 60 - 65% (Barehyi, 1971) và độ ẩm không khí là 70 - 80% (Dẫn theo Kiều Thị Thư, (1998) [10]

Trang 14

Độ ẩm không khí quá cao ( > 90%) dễ làm cho hạt phấn bị trương nứt , hoa

cà chua không thụ phấn được sẽ rụng ( Tạ Thu Cúc, 1983) Tuy nhiên, trong điều kiện gió khô cũng thường làm tăng tỷ lệ rụng hoa Nhiệt độ đất và không khí phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa, đặc biệt là các thời điểm trái vụ, mưa nhiều là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây kể từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8]

(5) Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng

Theo More (1978) để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N, 0,4 kg P, 4 kg K và 0,45 kg

Mg Theo Becseev, để tạo 1 tấn quả cà chua cần 3,8 kg N, 0,6 kg P2O5 và 7,9 kg kali ( Kiều Thị Thư trích dẫn - 1998) Theo Geraldson (1957) để đạt năng suất

50 tấn/ha cần bón 320 kg N, 60 kg P2O5 và 440 kg K2O L.H Aung (1979) khuyến cáo để cà chua đạt năng suất 40 tấn/ha cần bón 150 kg N, 30 kg P2O5 và

160 kg K2O Theo Kuo và cộng sự (1998), đối với cà chua vô hạn nên bón với mức

180 kg N, 80 kg P2O5 và 180 kg K2O, còn với cà chua hữu hạn thì lượng tương ứng

là 120, 80 và 150 Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi và cộng sự (1999) thì trong

điều kiện Việt Nam lượng phân bón cho 1 ha cà chua là 25 tấn phân chuồng, 150

kg N, 90 kg P2O5 và 150 kg K2O (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8]

Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất 20 nguyên tố dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường Trong các nguyên

tố đa lượng cà chua cần nhiều kali hơn cả, sau đó là đạm và lân

Cây dưa chuột

(1) Yêu cầu về đất và dinh dưỡng

Dưa chuột có nguồn gốc ở vùng đất ẩm ven rừng nên cây đã thích nghi với điều kiện dinh dưỡng đầy đủ Do có bộ rễ kém phát triển, sức hấp thụ của

rễ lại yếu nên dưa chuột có yêu cầu nghiêm ngặt về đất hơn các cây cùng họ Đất trồng thích hợp là đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ pH thích hợp là 5,5 - 6,5

Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng khoáng của dưa chuột thấy: Dưa chuột sử dụng kali lớn nhất sau đó đến đạm và ít nhất là lân Trạm Nghiên cứu Ucraina cho biết, nếu bón phân ở mức 60 kg N : 60 kg K2O : 60 kg P2O5 thì dưa chuột

Trang 15

sử dụng 92% N, 33% P2O5 và 100% K2O Dưa chuột không chịu được nồng độ phân cao nhưng lại phản ứng rất rõ với hiện tượng thiếu dinh dưỡng.

Phân hữu cơ đặc biệt phân chuồng giúp làm tăng năng suất dưa chuột Dưa chuột là cây lấy dinh dưỡng từ đất ít hơn rất nhiều so với cây rau khác Ví

dụ tăng năng suất dưa chuột lên 30 tấn/ha thì lượng NPK cây lấy đi từ đất là

170 kg/ha, trong khi đó nếu tăng năng suất cải bắp lên 70 tấn/ha thì nó phải lấy đi từ đất là 630 kg NPK Kali thích hợp cho ra hoa đực trong khi phân đạm

có tác dụng ngược lại Bên cạnh đạm, lân, kali, các nguyên tố vi lượng như

bo, kẽm, mangan, đồng, molipden có vai trò quan trọng, làm thay đổi tỷ lệ hoa đực hoa cái

(2) Yêu cầu về nhiệt độ

Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt rất mẫn cảm với sương giá Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát triển là 25 -30oC ban ngày và 18 - 21oC về ban đêm Ở 12oC cây sinh trưởng chậm, ở nhiệt độ thấp kéo dài (15oC) các giống sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn, lá nhỏ, hoa đực màu nhạt, vàng úa, ở 5oC hầu hết các giống dưa chuột có nguy cơ bị chết rét, khi nhiệt độ lên cao 40oC cây ngừng sinh trưởng, hoa cái không xuất hiện, lá bị héo Khi nhiệt độ dưới

15oC cây mất cân bằng giữa quá trình đồng hoá và dị hoá Do nhiệt độ quá thấp phá vỡ quá trình trao đổi chất thông thường và một số quá trình sinh hoá bị ngừng trệ, toàn bộ chu trình sống bị đảo lộn dẫn đến cây tích luỹ độc

tố Nhiệt độ thấp kéo dài số lượng độc tố tăng lên làm chết các tế bào Qua nghiên cứu ở Việt Nam, trong điều kiện làm lạnh nhân tạo với nhiệt

độ 5 -10oC trong vòng 10 ngày, các giống dưa chuột Việt Nam và Trung Quốc

có sức chịu lạnh hơn các giống châu Á và châu Mỹ Tổng tích ôn từ lúc nảy mầm tới thu quả đầu tiên ở giống địa phương là 900oC, đến thu hoạch là

1650oC

Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian ra hoa, dưa chuột ra hoa khoảng 20 ngày sau khi nảy mầm, 26 ngày cho ra hoa cái Nhiệt độ càng thấp thời gian ra hoa càng chậm Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng tới sinh trưởng,

ra hoa của cây dưa chuột mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như

Trang 16

quá trình thụ phấn, thụ tinh Theo các tác giả Nhật Bản hoa bắt đầu nở ở 15oC (sáng sớm) và bao phấn mở ở 17oC Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn 17 - 24oC, nhiệt độ quá cao hay quá thấp so với ngưỡng này đều làm giảm sức sống của hạt phấn, đó cũng chính là nguyên nhân gây giảm năng suất của giống Hầu hết các giống dưa chuột đều qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ 20 - 22oC.

(3) Yêu cầu về ánh sáng

Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa sáng ngày ngắn Độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinh trưởng và phát dục là 10 - 12 giờ/ngày Nắng nhiều có tác dụng tới hiệu suất quang hợp, làm tăng năng suất, chất lượng quả, rút ngắn thời gian lớn của quả Cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa chuột trong phạm

vi 5 - 17 Klux Cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng có vai trò quan trọng trong việc hình thành màu sắc quả và thời hạn sử dụng quả dưa chuột

Theo các tác giả Hiệp hội Khoa học Trồng trọt Mỹ (1997), việc tỉa thưa và che bóng đã ảnh hưởng đến động thái tăng chiều dài quả, màu sắc quả lúc thu hoạch và phổ diệp lục của vỏ quả Trong điều kiện cường độ ánh sáng thấp cây sinh trưởng rất yếu và không thể phục hồi được khả năng này.Biểu hiện giới tính của dưa chuột phụ thuộc vào một số yếu tố như mật

độ, nhiệt độ và ánh sáng Tỷ lệ hoa cái giảm nếu trong điều kiện mật độ quá dày, ánh sáng yếu, nhiệt độ cao Hoa cái hình thành nhiều hơn trong điều kiện ngày ngắn còn hoa đực ngược lại hình thành trong điều kiện ngày dài Ánh sáng nhiều làm quả lớn nhanh, mập, chất lượng quả tốt Trong điều kiện ngày ngắn thường có nhiều lá và sai quả hơn

(4) Yêu cầu về độ ẩm

Cây dưa chuột có nguồn gốc nơi ẩm ướt ven rừng, do đất đai nơi nguyên sản màu mỡ nên bộ rễ kém phát triển hơn các cây khác (cây bí ngô, dưa hấu, dưa thơm) Dưa chuột là cây kém chịu hạn và chịu úng Hai yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến dưa chuột là lượng mưa và độ ẩm cùng với nhiệt độ cao là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhiều cây trong họ Bầu bí nhiễm bệnh ở lá và thân cành

Trang 17

Quả dưa chuột chứa tới 95% nước, tuy nhiên tỷ lệ này chưa phải là cao so với lượng nước cây bốc hơi Hệ số bốc hơi nước, hay hiệu quả sử dụng nước của cây, lượng nước cây lấy từ đất vào khoảng 4000 - 7000 Dưa chuột rất mẫn cảm với hạn đất và không khí Chủ yếu do bộ rễ kém phát triển và bộ lá rất lớn

Theo K Sumi (1974) để hình thành 100 kg quả cây dưa chuột cần 9,2 - 11

m2 nước Nhìn chung độ ẩm đất thích hợp cho dưa chuột 85 - 95%, không khí 90 - 95% Khi đất khô hạn, hạt mọc chậm, sinh trưởng thân, lá kém, đồng thời trong cây có sự tích luỹ chất Cucurbitacina gây đắng quả Khi thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả đắng, cây nhiễm bệnh virus Thời

kỳ ra hoa tạo quả là giai đoạn yêu cầu lượng nước cao nhất (xấp xỉ 80%) Hạt nảy mầm yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt Một số nghiên cứu cho thấy độ ẩm không khí có ảnh hưởng trực tiếp tới thân chính và số cấp cành trên cây Trong điều kiện ngập nước rễ cây dưa chuột bị thiếu oxy dẫn đến cây héo rũ, chảy gôm thân, có thể chết cả ruộng (Dẫn theo Ngô Thị Hạnh, (2011) [7]

Thời kỳ thân lá sinh trưởng mạnh đến ra hoa cái đầu tiên cây cần độ ẩm đất 70 - 80%, thời kỳ ra quả rộ và quả phát triển yêu cầu độ ẩm đất lớn hơn

ớt có thể nảy mầm trong điều kiện độ muối 4000 ppm và pH = 7,6 (Kaliappan và Rạagopal, 1970) (Dẫn theo Viện Nghiên cứu Rau quả, (2019) [12]

Mặc dù ớt ngọt có thể trồng ở mọi loại đất, nhưng đất thịt giữ nước và

pH = 6 - 6,5 là thích hợp nhất

Trang 18

(2) Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu quả Nhiệt độ đất

10oC làm cho ớt sinh trưởng chậm, còn ở nhiệt độ 17oC cây sinh trưởng bình thường, ở nhiệt độ >30oC phần trên sinh trưởng bình thường nhưng rễ ngừng sinh trưởng (Rylski, 1972) (Dẫn theo Viện Nghiên cứu Rau quả, (2019) [12].Nhiệt độ ngày/đêm bằng 25oC/28oC là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và số hạt/quả Nhiệt độ ban đêm thấp (8 - 10oC và 15oC) làm giảm tỷ lệ đậu quả và thường sinh ra quả không hạt, nhiệt độ ban đêm thích hợp nhất là 20oC trong giai đoạn nở hoa

Quả đạt kích thước đẹp nhất (cả 2 loại hữu thụ và bất thụ) nhận được khi nhiệt độ cao ở giai đoạn nở hoa và nhiệt độ thấp sau đó Nếu nhiệt độ ban đêm mà cao khoảng 24oC kích thích sự rụng hoa (Rylski và Spigelman, 1982) Nhiệt độ có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả Ớt là cây rất dễ nhận được quả không hạt hoặc rất ít hạt trong điều kiện nhiệt độ thấp, ngoài ra nhiệt độ thấp còn làm giảm kích thước và hình dạng quả

(3) Yêu cầu về ánh sáng

Ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn, nếu chiếu sáng 9 - 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng năng suất khoảng 21 - 24% và tăng chất lượng quả (Egorova, 1975) Theo Quanlitto (1976) nếu ánh sáng mặt trời giảm 30% thì

sẽ tăng năng suất gấp đôi ớt ngọt do tăng số quả và kích thước quả (Dẫn theo Viện Nghiên cứu Rau quả, (2019) [12]

(4) Yêu cầu về độ ẩm

Ớt rất thích hợp với thời tiết ấm, ẩm, nhưng trong điều kiện khô hạn kích thích quá trình chín của quả Ẩm độ đất thấp không ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả nhưng làm tăng tỷ lệ rụng quả Nếu ẩm độ khoảng 10% rụng 71,2%, trong khi ẩm độ 55,6 - 57,4% thì tỷ lệ rụng quả chỉ còn 20 - 30%

1.1.3 Biến đổi khí hậu (BĐKH) và tác động của BĐKH đến sản xuất một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp)

1.1.3.1 Khái niệm về BĐKH

Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra

Trang 19

những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi, sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, các hoạt động của hệ thống kinh tế - xã hội, sức khỏe và phúc lợi của con người.

BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập

kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất

Biến đổi khí hậu thường được biết đến như hiện tượng ấm lên toàn cầu, là một sự thay đổi các trạng thái thời tiết lâu dài, bao gồm các hiện tượng nhiệt độ

ấm lên và các thay đổi ở lượng mưa, gió và bão…

Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ

21 và đang tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên toàn cầu Với Việt Nam, BĐKH là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững Các lĩnh vực dễ bị tổn thương và chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là tài nguyên nước, đất, nông lâm-ngư nghiệp

1.1.3.2 Nguyên nhân BĐKH 

Nguyên nhân BĐKH là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải khí nhà kính (KNK), khai thác quá mức các bể các-bon như sinh khối, rừng, nguồn lợi thủy hải sản, hệ sinh thái Theo Nghị định thư Kyoto về BĐKH có 6 loại KNK cần phải kiểm soát: CO2, CH4, N2O, HFC, PFC và SF6 Trong đó hoạt động nông nghiệp tạo ra: CO2 do quá trình sử dụng các nguyên liệu hóa thạch trong sản xuất; CH4 từ quá trình lên men các chất thải nông nghiệp, lên men

dạ cỏ ở động vật nhai lại và N2O từ phân bón (các loại phân có chứa đạm) dùng trong trồng trọt

1.1.3.3 Nhận diện BĐKH đến sản xuất các loại rau ăn quả

Sự nóng lên toàn cầu dẫn tới hiện tượng BĐKH gây ra  các tác động trực tiếp tài nguyên khí hậu, tới tài nguyên đất và tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật (các yếu tố đầu vào của ngành sản xuất nông nghiệp) gây ra những ảnh hưởng to lớn tới tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và các loại cây rau

nói riêng Các tác động chủ yếu của BĐKH đối với cây rau bao gồm:

Trang 20

Nhiệt độ tăng quá cao, hoặc giảm quá thấp.

Lượng mưa tăng quá cao hoặc giảm quá thấp.

Cường độ ánh sáng tăng quá cao hoặc giảm quá thấp.

Ẩm độ không khí và ẩm độ đất tăng quá cao hoặc giảm quá thấp.

1.1.3.4 Tác động của BĐKH đến quá trình sản xuất các loại rau nói chung

và rau ăn quả nói riêng

BĐKH gây xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất

- Dưới tác động của mưa lớn, tập trung và kéo dài thường xảy ra hiện tượng chảy tràn, gây rửa trôi đất nếu không có biện pháp bảo vệ hữu hiệu

- Xói mòn làm cho đất mất độ màu mỡ, trai cứng, giảm khả năng giữ nước từ đó giảm sức sản xuất. 

- Xói mòn đất làm giảm chất hữu cơ trong đất, dẫn đến giảm hiệu quả

sử dụng phân bón và hoạt động của các vi sinh vật, tăng tính dễ bị xói mòn. 

- Nhiệt độ cao sẽ làm cho chất hữu cơ trong đất bị phân hủy nhanh (khoáng hóa mạnh), làm giảm hàm lượng mùn trong đất, dinh dưỡng khoáng sinh ra từ quá trình khoáng hóa dễ bị rửa trôi do mưa lớn, dẫn đến làm giảm kết cấu và chất lượng đất. 

BĐKH ảnh hưởng đến tính bền vững của nguồn nước 

BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán vào mùa khô, lũ lụt vào mùa mưa từ đó ảnh hưởng đến tính ổn định và bền vững của nguồn nước, gây ảnh hưởng nặng nề đến ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng. 

BĐKH làm tăng hoạt động của sâu bệnh hại 

BĐKH gây ra hiện tượng thời tiết nắng, mưa thất thường Trời âm u, mưa nắng xen kẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát sinh một số loại sâu hại chính trên cây trồng nói chung và các loại rau ăn quả nói riêng, sau đó kết hợp với nóng và khô hạn sẽ làm cho tình trạng sâu bệnh hại nghiêm trọng hơn như

bọ trĩ hoặc bọ phấn trắng hay nhện đỏ, nhện trắng là những loại côn trùng

Trang 21

chích hút phát sinh gây hại nặng trong điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao đã bùng phát bệnh xoăn vàng lá virus trên cà chua những năm gần đây, hút nhựa cây gây xoăn lá, xoăn ngọn cà chua, ớt cay và rau họ Bầu bí như dưa chuột, dưa lưới…Đây là những loại sâu bệnh rất khó phòng trừ.

- BĐKH kéo theo hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, làm thay đổi các điều kiện thiết yếu của môi trường sống (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn ), một số loại sinh vật có mức độ thích nghi kém sẽ bị chết, dẫn đến làm mất cân bằng sinh thái, gây phát sinh nhiều loại dịch bệnh mới trên rau

BĐKH làm giảm năng suất và chất lượng rau 

- Trong rau chứa tới hơn 90% là nước do vậy nhu cầu nước tưới cũng như chất lượng nước tưới có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển cũng như chất lượng sản phẩm Sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây trồng nói chung và các loại rau nói riêng giảm mạnh nếu cây bị thiếu nước, đặc biệt sẽ trầm trọng hơn khi kết hợp với nhiệt độ không khí cao, gió mạnh BĐKH dẫn đến tăng nguy cơ khô hạn, gây ra sự tổn thất lớn cho sản xuất rau thậm chí không sản xuất được do thiếu nước Ngược lại thừa nước hay hiện tượng ngập úng cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất Do phần lớn các loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn 30 - 90 ngày với các loại rau ăn lá và

60 - 150 ngày với các loại rau ăn quả, bộ rễ rau thuộc dạng rễ chùm, yếu do vậy khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như khô hạn đặc biệt là khả năng chống úng rất kém Thừa nước dẫn đến hiện tượng cây sinh trưởng chậm Cây bị ngập úng trong khoảng 12 - 24 giờ có thể gây chết hàng loạt gây thiệt hại kinh tế rất lớn

- Các loại rau ăn quả đặc biệt các loại rau có khả năng sản xuất hàng hoá lớn như cà chua, dưa chuột, ớt có yêu cầu khá nghiêm ngặt với điều kiện nhiệt độ và ánh sáng, do vậy có tính thời vụ rất rõ rệt BĐKH dẫn đến nhiệt

độ tăng cao hoặc giảm quá thấp ảnh hưởng đến sinh trưởng, đặc biệt khả năng ra hoa đậu quả của các loại rau do vậy làm giảm năng suất đáng kể hoặc thậm chí cây không ra hoa đậu quả được gây hiện tượng thất thu Một

số trường hợp nhiệt độ tăng cao kết hợp với cường độ ánh sáng lớn, nhất là trong điều kiện vụ hè thu làm cho quả bị cháy nắng hay bỏng do nắng nóng Hiện tượng này hay gặp đối với sản xuất cà chua vụ hè…

Trang 22

BĐKH làm giảm diện tích đất canh tác phù hợp cho rau

BĐKH làm cho thời tiết diễn biến thất thường (không tuân theo quy luật cũ), thay đổi về lượng và sự phân phối lượng mưa theo mùa, vùng nhiệt độ bình quân tăng, số ngày cực nóng và cực lạnh tăng dẫn đến những vùng trồng rau chịu tác động mạnh bởi khô hạn, rửa trôi đất bị thoái hóa không còn khả năng phục hồi, kết cấu cũng như chất lượng đất kém không còn phù hợp để trồng rau hay những hiện tượng thiên tai gần đây như mưa lớn gây xói lở đất thậm chí cả một vùng đất rộng lớn bị lở Từ đó làm cho diện tích đất canh tác rau bị giảm. 

Từ những vấn đề trên, để ứng phó với BĐKH trên cây rau một cách hiệu quả nhất, cần xây dựng Bộ tài liệu Hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp) giúp người sản xuất có được những giải pháp đồng bộ, phù hợp ứng phó với BĐKH, mang lại hiệu quả cao và phát triển sản xuất

1.1.4 Một số nghiên cứu về giải pháp ứng phó với BĐKH trên cây rau ăn quả

Hiện nay, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp thích ứng với BĐKH là một trong những giải pháp quan trọng để gia tăng hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích sản xuất; hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững đã được các nước trên thế giới cũng như Việt Nam ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng

Đối với cây rau một số giải pháp ứng phó với BĐKH được tập trung giải quyết gồm:

1.1.4.1 TBKT về chọn tạo giống

Chọn tạo giống thích ứng với BĐKH đã được các tổ chức, các cơ quan nghiên cứu từ rất lâu Các nghiên cứu chọn tạo giống tập trung vào các lĩnh vực: Nghiên cứu chọn tạo giống chịu nhiệt (Chịu nhiệt độ cao hoặc chịu lạnh); Nghiên cứu chọn tạo giống chống chịu sâu bệnh hại; Nghiên cứu chọn tạo giống chịu hạn, úng; Nghiên cứu chọn tạo giống chịu phèn, mặn Trong đó việc nghiên cứu chọn giống chịu nhiệt và chống chịu sâu bệnh hại đã được tập trung nghiên cứu và thu được nhiều thành công hơn cả

Trang 23

Với cây cà chua: Các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu

sâu bệnh hại và chịu nhiệt tốt được phổ biến trong sản xuất như các giống sản xuất trong nhà lưới được nhập từ Hà Lan, Isarael gồm: Dufour, Atiza và nhiều giống khác với năng xuất trồng ở các nước bản địa lên đến 500 tấn/ha và trồng ở Việt Nam đạt khoảng 200 - 250 tấn/ha Các giống phục vụ cho sản xuất thương mại ngoài đồng như Savior do Công ty Seminis cung cấp có khả năng chịu nhiệt độ cao và chịu bệnh xoăn vàng lá do virus; Các giống CN3500 do Ấn

Độ sản xuất có năng suất cao, chất lượng tốt; giống cà chua Montavi, Chanoka

và hàng loạt các giống do các công ty giống cung cấp giúp cà chua có thể sản xuất gần như quanh năm tại Việt Nam

Với cây dưa chuột: Các giống trồng trong nhà lưới có khả năng chịu sâu bệnh hại và chịu nhiệt độ thấp như Minikhasib do Công ty RIJK ZWAAN nhập khẩu từ Hà Lan; các giống như Hazera 55003, Tomax, Romya do các công

ty giống nhập khẩu

Các giống dưa chuột phục vụ cho sản xuất ngoài đồng như Sao xanh, PC1, Hữu nghị, Cuc71,…); các giống nhập nội từ Thái Lan, Đài Loan gồm Ninja

179, Amata 765, TN170 phục vụ cho ăn tươi

Các giống cho chế biến như giống địa phương Phú Thịnh, giống nhập nội như Marinda, Ajax, Mirabel, Troka, 266… Các giống địa phương thể hiện sinh trưởng khỏe, chịu bệnh tốt song năng suất thường không cao, không

ổn định Giống nhập nội cho năng suất cao nhưng mức độ chống chịu bệnh chưa cao

Với cây ớt: Các giống do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn tạo như: Dạng quả chỉ địa (GL1-1 và GL1-10), giống dạng quả chỉ thiên (GL1-6, GL1-12) đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống cho sản xuất thử Các giống mới chọn tạo này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, chín sớm và thu hoạch tập trung, năng suất trung bình đạt 25 - 30 tấn/ha, giống có chất lượng quả tốt, hàm lượng chất khô cao 17,5 %, quả chín đỏ đẹp, hình thức sử dụng

đa dạng: xuất khẩu quả tươi, chế biến sấy khô, chế biến muối mặn

Giống ớt cay Lai số 20 của Công ty Giống cây trồng miền Nam: Sinh trưởng mạnh, tán rộng, chống chịu tốt, trồng được nhiều vụ trong năm Cây

Trang 24

cho nhiều hoa, dễ đậu quả, thu hoạch 90 - 100 ngày sau gieo, thu hoạch kéo dài Quả to dài, thẳng, màu xanh đậm khi non và đỏ đậm khi chín, thịt dày, cay vừa, thích hợp ăn tươi và chế biến

Giống ớt chỉ thiên 25 & 27 của Công ty Giống cây trồng miền Nam: Sinh trưởng mạnh, phân cành khá, cao 60 - 95 cm Chống chịu bệnh tốt, trồng được quanh năm vùng đồng bằng Bắt đầu thu hoạch 75 - 78 ngày sau gieo Ớt 25 nặng 5 - 6 g/quả, ớt 27 nặng 3,8 - 4,0 g/quả Quả non màu xanh trung bình, chín màu đỏ tươi, bóng đẹp, thịt dày, chắc cứng, rất cay Mỗi cây cho 200 - 280 quả Năng suất 20 - 30 tấn/ha

Các giống lai của Công ty Đông Tây cũng khá đa dạng về mẫu mã và chất lượng quả: Giống ớt cay lai F1 7126 cây phát triển tốt, tán rộng, lá phân bố gọn, chiều cao cây 60 cm Năng suất trung bình 2,5 kg/cây) quả dài 15 cm, trọng lượng quả 20 - 22 g khi chín có màu đỏ tươi, cay và thơm Thu hoạch đợt đầu 80 - 85 ngày sau gieo, kháng bệnh héo xanh và bệnh thán thư

Ớt chỉ thiên Hiểm lai 207: Giống dễ trồng, cây phát triển tốt, cao 50 - 60 cm Năng suất đạt 2 - 3 kg/cây Quả chỉ thiên, thẳng dài 2 - 3 cm, khi chín có màu

đỏ tươi, rất cay và thơm Giống đặc biệt chống chịu tốt bệnh thán thư Thời gian thu hoạch 80 - 85 ngày sau gieo

Giống ớt cay Bạch lý hương 1289 của Công ty giống cây trồng Nông Hữu: Phân nhánh khỏe, nhiều quả, quả dài 14,5 cm, đường kính khoảng 1,4 mm, quả nặng 15g, rất cay, đốt ngắn, kháng bệnh virus

Các giống mướp và lặc lày

Chủ yếu là các giống địa phương có khả năng chống chịu sâu bệnh hại khá tốt Hiện công tác nghiên cứu chọn tạo giống đang dần được quan tâm

và đã có một số giống tốt cung cấp cho sản xuất như:

Giống mướp: VA16, Melo 59…

Giống lặc lày Rado248 của Công ty hạt giống Rạng Đông, Glory 01 của Công ty Tân Lộc Phát, Quý tị 03 của Công ty Phú Điền,…

Trang 25

1.1.4.2 TBKT về biện pháp kỹ thuật ứng phó với BĐKH trên cây rau ăn quả

Việc ứng dụng khoa học, tiến bộ kỹ thuật trong thay đổi các quy trình sản xuất nhằm thích ứng với BĐKH cũng đã được thực hiện tích cực Các mô hình sản xuất rau sạch, rau an toàn, rau hữu cơ trong nhà màng, nhà lưới sử dụng phương pháp thủy canh, tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước theo công nghệ của Israel ngày càng được mở rộng

Có thể nói, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là giải pháp tất yếu để giúp sản xuất nông nghiệp thích ứng tốt với BĐKH, đạt hiệu quả kinh tế cao Một số biện pháp kỹ thuật tiên tiến được áp dụng giúp sản xuất rau ứng phó tốt với BĐKH bao gồm:

(1) Sử dụng cây giống gốc ghép kháng bệnh

Sử dụng cây giống gốc ghép kháng bệnh là tiến bộ kỹ thuật của thế giới

mà các nước và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… đầu tiên phát minh và ứng dụng công nghệ này

Hiện nay sử dụng cây giống gốc ghép được đánh giá như một tiến bộ kỹ thuật về chọn giống chống bệnh vì tạo ra được cây giống hoàn toàn kháng được bệnh sinh ra trong đất mà phần ngọn là giống được lựa chọn theo những đặc tính mà người sản xuất mong muốn cả về năng suất, chất lượng… Do vậy

sử dụng cây giống gốc ghép kháng bệnh được đánh giá là biện pháp chọn giống có hiệu quả mà thời gian thành công nhanh, mức độ ứng dụng trong sản xuất lại lớn hơn rất nhiều so với chọn giống kháng đơn thuần vì chọn giống kháng có thể thu được giống có khả năng kháng bệnh nhưng năng suất và chất lượng quả lại không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, trong khi đó sử dụng giống cây gốc ghép tích hợp được đầy đủ các ưu điểm cần thiết cho một giống tốt cho sản xuất thể hiện qua giống có khả năng kháng tốt với một hoặc một số bệnh nào đó sinh ra trong đất do cây gốc ghép quyết định Giống ngọn ghép là giống được người sản xuất lựa chọn theo mục đích

sử dụng có năng suất cao, chất lượng tốt, chịu nhiệt, chịu hạn… Ngoài ra, sử dụng cây gốc ghép giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao hơn hẳn so với cây không ghép và giúp sản xuất rau trái vụ nâng cao hiệu quả kinh tế gấp 1,5 - 2,0 lần sản xuất thông thường

Trang 26

Công nghệ sử dụng cây giống gốc ghép được thực hiện thành công và phổ biến nhất trên cây cà chua, cây họ Bầu bí như dưa hấu, dưa chuột và hiện nay đang nghiên cứu trên cây ớt.

Trên cây cà chua sử dụng cây ghép giúp cây chống chịu với bệnh héo

xanh vi khuẩn do Ralstonia solanacearum gây nên: Sử dụng gốc ghép cà chua

và gốc ghép cà tím Ngoài ưu điểm như phân tích ở trên mà cả 2 gốc ghép đều có được, giống gốc ghép cà tím còn giúp chịu úng rất tốt cho cây cà chua, giúp sản xuất cà chua trái vụ ở các tỉnh miền Bắc (có thể trồng từ tháng 7 dương lịch) cho hiệu quả kinh tế rất cao Sử dụng cây giống gốc ghép hiện đang được ứng dụng rộng rãi tại nước ta, trong khi tại Lâm Đồng chủ yếu sử dụng gốc ghép cà chua thì ở miền Bắc chủ yếu sử dụng gốc ghép cà tím để sản xuất cà chua trái vụ Gần đây gốc ghép cà chua đã được nghiên cứu thành công và dần được áp dụng trong sản xuất cà chua quanh năm và trái vụ ở các tỉnh miền Bắc, đặc biệt những vùng bệnh héo xanh vi khuẩn gây hại nặng.Trên cây họ Bầu bí (dưa hấu, dưa chuột) sử dụng cây gốc ghép giúp cây

chống chịu được với bệnh do nấm Fusarium gây nên Gốc ghép chủ yếu là

gốc bí ngô, gốc mướp tuy nhiên diện tích sản xuất ứng dụng kỹ thuật này ở nước ta chưa nhiều và đang trong giai đoạn nghiên cứu hoàn thiện quy trình

(2) Sản xuất cây con giống trên khay bầu, giá thể

Đối với các cây rau, một số nhóm rau có thể gieo trực tiếp trên đồng ruộng, tuy nhiên một phần lớn các cây rau phải trải qua giai đoạn vườn ươm

và trồng bằng cây giống Hạt giống rau được gieo vãi cho tỷ lệ cây sống thấp, chất lượng không đồng đều, thời gian sinh trưởng kéo dài, chi phí hạt giống lớn, đặc biệt là đối với hạt lai F1 dẫn đến chi phí sản xuất cao, giảm hiệu quả sản xuất Việc gieo cây giống để trồng sẽ khắc phục được các hạn chế trên Tuy nhiên, trước đây, việc ươm cây giống rau đều được các hộ nông dân sản xuất trực tiếp trên luống đất ngoài đồng ruộng, có phủ trấu và rơm rạ Do vậy,

sự sinh trưởng, thời gian và chất lượng của cây giống phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết như mưa, gió, nắng nóng, đất khô hạn, đất nhiễm phèn, đất nhiễm mặn Cùng với việc gia tăng chất lượng cây giống và ứng phó với BĐKH, hiện nay, nhiều vùng sản xuất rau đã rất chú trọng tới việc ươm cây

Trang 27

giống Cây giống được sản xuất trong nhà ươm cây chuyên dụng, kết hợp với việc sử dụng khay ươm và giá thể phù hợp đã sản xuất được cây giống chất lượng cao Tại Lâm Đồng, hiện nay với diện tích trên 60 nghìn ha sản xuất rau đều sử dụng cây giống để trồng Các tỉnh/thành khác đã dần dần thay đổi tập quán sản xuất cây giống rau truyền thống sang sản xuất trong nhà ươm, trên khay bầu giá, thể, hoặc trong vòm che

Sản xuất cây con giống trên khay bầu, giá thể trong điều kiện che chắn có những ưu điểm nổi bật như sau:

• Gieo cây giống rau trong nhà lưới có mái che sẽ chủ động được thời vụ, tránh được thời tiết bất lợi Sử dụng nhà lưới cách ly côn trùng sẽ hạn chế được sâu bệnh. 

• Gieo hạt trên khay bầu sẽ tiết kiệm được lượng hạt giống, dễ dàng chăm sóc Cây giống khỏe, đồng đều, bộ rễ khỏe, không bị đứt rễ khi nhổ do vậy cây nhanh bén rễ hồi xanh sau trồng, rút ngắn được thời gian sinh trưởng

• Tỷ lệ cây xuất vườn cao nên giá thành cây giống thấp, các nguyên liệu làm giá thể có sẵn tại địa phương

• Các loại giá thể ươm cây: Xơ dừa, phân chuồng mục, đất sạch và một số loại phân đa lượng khác là những nguyên liệu sẵn có rất dễ sử dụng do vậy chủ động được các yếu tố đầu vào

(3) Kỹ thuật che phủ mặt luống 

Vật liệu che phủ mặt luống gồm: Màng phủ nông nghiệp hai mặt (mặt ánh bạc lên trên và mặt đen ở dưới), rơm rạ, trấu, vật liệu hữu cơ

Sử dụng màng phủ nông nghiệp có một số ưu điểm gồm: Hạn chế cỏ dại

và tăng cường khả năng quang hợp của rau (mặt xám bạc phản chiếu ánh sáng); Giữ ẩm, giữ ấm, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng, hạn chế sự xói mòn, giữ cho đất tơi xốp giúp cho bộ rễ cây phát triển lan rộng khắp mặt luống; Hạn chế côn trùng gây hại: Màu xám bạc của màng phủ có tác dụng xua đuổi côn trùng môi giới truyền bệnh virus, rệp, bọ phấn  Hạn chế việc cư trú của sâu trưởng thành lẩn trốn dưới đất lên cắn phá cây rau vào ban đêm; Hạn chế bệnh hại: Màng phủ cách ly mầm bệnh tấn công từ đất hay từ rơm, rạ lên

Trang 28

cây, bề mặt màng phủ khô nhanh sau khi mưa, bộ lá gốc luôn khô ráo, không thuận lợi cho nấm bệnh phát triển nên giảm được bệnh sinh ra từ đất Tuy nhiên, màng phủ nông nghiệp có nhược điểm là cần có vốn đầu tư và việc thải nylon sẽ gây ô nhiễm môi trường. 

(4) Công nghệ sản xuất rau trong nhà màng/nhà lưới

Sản xuất rau trong nhà màng/nhà lưới mang nhiều lợi ích so với phương pháp trồng thông dụng ngoài tự nhiên như: ngăn chặn sự xâm nhập của một

số loại côn trùng, bệnh hại nên ít cần sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, hoặc chỉ dùng một lượng rất ít ở giai đoạn nhất định Khắc phục sự bất lợi của thời tiết như nắng, mưa, sương muối, lạnh… Vì vậy có thể tổ chức sản xuất quanh năm, rải vụ theo kế hoạch và nhu cầu thị trường

- Sản xuất rau trong nhà màng/nhà lưới tiêu chuẩn: Thường được áp dụng

với sản xuất các loại rau có năng suất và hiệu quả kinh tế cao như cà chua, dưa chuột, dưa lưới, ớt ngọt

Thường ưu tiên ứng dụng công nghệ trồng cây trên túi bầu giá thể, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân theo hướng công nghệ cao,

do vậy có thể sản xuất được rau trong điều kiện đất xấu nhiều sỏi đá, đất cát, đất không có chất dinh dưỡng

- Sản xuất rau trong nhà Shefter (vòm che cao): Thường được áp dụng

với sản xuất các loại rau có năng suất và hiệu quả kinh tế cao như cà chua, dưa chuột, ớt ngọt với những giống sinh trưởng bán hữu hạn, có chiều cao trung bình

Với loại hình này, cây thường được trồng trực tiếp trên nền đất có phủ màng phủ nông nghiệp và sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân

Ngoài sử dụng để sản xuất rau thương phẩm, sử dụng nhà màng, nhà lưới là điều kiện lý tưởng để sản xuất hạt giống, đặc biệt sản xuất hạt giống rau lai F1, một loại hình sản xuất siêu lợi nhuận.

(5) Sử dụng phân bón, dinh dưỡng hợp lý cho cây rau

Bón phân cân đối, hợp lý, đúng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây

là rất quan trọng đặc biệt đối với sản xuất các loại rau ăn quả Bón phân quá

Trang 29

thừa làm cây phát triển bộ phận sinh trưởng sinh dưỡng quá mạnh làm giảm

tỷ lệ đậu quả thậm chí không đậu quả được, ngược lại bón quá ít phân làm cây sinh trưởng kém, năng suất giảm Tương tự cung cấp thừa hoặc thiếu một loại phân nào đó cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây.Theo Cục Khuyến nông, Khuyến lâm (1999), ”Bón phân cân đối được hiểu

là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng,

tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối tượng cây trồng, đất, mùa

vụ cụ thể, đảm bảo năng suất”, “Bón phân hợp lý là sử dụng lượng phân bón thích hợp cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại các hậu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái”. Nói cách khác, bón phân hợp lý là thực hiện 5 đúng và 1 cân đối: (i) Bón đúng phân, (ii) đúng lúc, (iii) đúng đối tượng, (iv) đúng thời tiết, mùa vụ và (v) đúng cách Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân, gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất, chất lượng cây trồng và môi trường Bón phân cân đối có các tác dụng tốt là: i) Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đất chống rửa trôi, xói mòn; ii) Tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và của các biện pháp kỹ thuật canh tác khác; iii) Tăng phẩm chất nông sản và; iv) Bảo vệ nguồn nước, hạn chế chất thải độc hại gây

ô nhiễm môi trường

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, phân bón lá được nông dân sử dụng khá phổ biến nhất là ở các vùng chuyên canh rau màu Phân bón lá có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng khả năng đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, tăng năng suất, chất lượng nông sản, kéo dài thời gian bảo quản… Nếu so với phân bón gốc thì phân bón lá có giá thành rẻ hơn, sản phẩm

đa dạng về chủng loại Sản phẩm phân bón lá tương đối đa dạng về thành phần và chủng loại, thành phần pha chế khác nhau thì hiệu quả tác dụng của sản phẩm khác nhau, có sản phẩm chuyên biệt cho từng cây trồng, có sản phẩm chỉ dùng cho từng giai đoạn sinh trưởng Do đó, cần tránh sử dụng sai loại phân, phun không đúng liều lượng, không đúng chủng loại cây trồng… không những hiệu quả phun không cao, gây lãng phí, tốn kém mà còn có thể

Ngày đăng: 20/12/2022, 20:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm