Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có nhiều hoạt động để dần đưa quan điểm giáo dục STEM tới giáo viên và học sinh, thông qua các cuộc hội thảo đưa thông tin tiếp cận giáo dục STEM: H
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
HOÀNG THỊ THANH HƯỜNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ "CÔNG, NĂNG LƯỢNG, CÔNG SUẤT"
(VẬT LÍ 10) THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM
CHO HỌC SINH DÂN TỘC NỘI TRÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
HOÀNG THỊ THANH HƯỜNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ "CÔNG, NĂNG LƯỢNG, CÔNG SUẤT"
(VẬT LÍ 10) THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM
CHO HỌC SINH DÂN TỘC NỘI TRÚ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Cao Tiến Khoa
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố, sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Hoàng Thị Thanh Hường
XÁC NHẬN CỦA KHOA VẬT LÝ
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Cao Tiến Khoa
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô giảng viên thuộc Bộ môn Giáo dục Vật lý
- khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các phòng chức năng cùng toàn thể các thầy cô giáo trong ban khoa học tự nhiên và đặc biệt các thầy cô giáo giảng dạy
bộ môn Vật lí của trường PT Vùng Cao Việt Bắc đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn này
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Hoàng Thị Thanh Hường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 3
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.2 VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC STEM 5
1.2.1 Vai trò của giáo dục STEM trong dạy học vật lí ở trường THPT 5
1.2.2 Thực trạng giáo dục STEM ở Việt Nam 6
1.2.3 Tìm hiểu thực trạng việc dạy học theo định hướng giáo dục STEM ở trường phổ thông Vùng cao Việt Bắc 6
1.2.4 Lợi thế của việc tổ chức dạy học STEM trong dạy học ở trường nội trú 9 1.3 NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH 10
1.3.1 Khái niệm năng lực 10
1.3.2 Năng lực giải quyết vấn đề là gì? 11
1.3.3 Các cấp độ của năng lực giải quyết vấn đề 11
1.3.4 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề 11
Trang 61.3.5 Các phương pháp đánh giá năng lực giải quyết vấn đề 14
1.3.6 Quy trình tổ chức dạy học chủ đề theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh DTNT 16
1.4 TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 2018 18
1.4.1 Nội dung khái quát: 18
Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí 2018 sẽ được thực hiện sau 2024 (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [3] 18
Nội dung kiến thức khái quát môn vật lí trong chương trình THPT bao gồm: 18
1.4.2 Thời lượng thực hiện chương trình: 19
1.4.3 Nội dung, yêu cầu cần đạt chủ đề “Công, năng lượng, công suất” trong chương trình vật lí 10 20
1.4.4 So sánh cấu trúc chủ đề nghiên cứu trong chương trình mới và chương trình hiện hành 21
1.5 TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ GIÁO DỤC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT DTNT 21
1.5.1 Đặc điểm về hoạt động học tập 22
1.5.2 Đặc điểm tâm lý xã hội của học sinh trường DTNT 22
1.5.3 Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh trường DTNT 24
1.6 TÌM HIỂU THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “CÔNG, NĂNG LƯỢNG, CÔNG SUẤT” Ở TRƯỜNG THPT DTNT 26
1.6.1 Mục đích điều tra 26
1.6.2 Phương pháp, nội dung điều tra 26
1.6.3 Kết quả điều tra 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 31
Chương II XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “CÔNG, NĂNG LƯỢNG, CÔNG SUẤT” (VẬT LÍ 10) THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM 32
2.1 PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHUNG, NĂNG LỰC ĐẶC THÙ 32
2.1.1 Phẩm chất, năng lực chung 32
2.1.2 Năng lực khoa học tự nhiên 32
Trang 72.2 BẢNG PHÂN TÍCH CHỦ ĐỀ 35
2.3 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 38
2.3.1 Chuỗi hoạt động và mạch nội dung 38
2.3.2 Kế hoạch dạy học 39
2.3.3 Xây dựng các tiêu chí đánh giá 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 63
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 64
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 64
3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.2.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 64
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 65
3.3 CÁC BÀI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.4 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.5.1 Các căn cứ để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 67
3.5.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 78
KẾT LUẬN CHUNG 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Phụ lục 82
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Nhóm 4 báo cáo kết quả phiếu học tập 1 68
Hình 3.2 Nhóm 2 báo cáo kết quả phiếu học tập 2 68
Hình 3.3 Nhóm 3 báo cáo kết quả phiếu học tập 3 68
Hình 3.4 Hình ảnh báo cáo thiết kết mô hình của nhóm 1 69
Hình 3.5 Một số hình ảnh trong giờ học bài “Công và năng lượng” 70
Hình 3.6 Hình ảnh trong hoạt động chế tạo và thực nghiệm mô hình vi biên trên máng trượt của nhóm 1 và nhóm 2 70
Hình 3.7 Hình ảnh trong hoạt động chế tạo và thực nghiệm mô hình con lắc Newton của nhóm 3 và nhóm 4 71
Hình 3.8 Hoạt động báo cáo sản phẩm của các nhóm 71
Hình 3.9 Một số hình ảnh học sinh hoạt động nhóm khi tham gia vào hoạt động học tập 72
Hình 3.10 Một số hình ảnh học sinh tích cực tham gia xây dựng bài 72
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ tham gia các hoạt động của HS trong giờ học Vật lí 7
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của Giáo viên 7
Bảng 1.3 Những khó khăn khi thực hiện dạy học STEM 8
Bảng 1.4 Thành tố năng lực, chỉ số hành vi, mức độ biểu hiện của NLGQVĐ 11
Bảng 2.1 Biểu hiện cụ thể của các NL thành phần của NLKHTN [17] 32
Bảng 2.2 Bảng phân tích chủ đề “Công, năng lượng, công suất” 35
Bảng 3.1 Tiêu chí đánh giá thực hiện nhiệm cụ học tập của HS trong bài học “Công và năng lượng” 55
Bảng 3.2 Tiêu chí đánh giá thực hiện nhiệm cụ học tập của HS trong bài học “Động năng và thế năng” 57
Bảng 3.3 Tiêu chí đánh giá bài trình bày báo cáo 62
Bảng 3.1 Bảng phân phối kết quả điểm bài kiểm tra 77
Trang 10DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã không ngừng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Trong đó trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học Việc thiếu sự liên kết giữa kiến thức và thực tiễn, hay việc người học thiếu kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn dựa trên kiến thức đã học không chỉ là những vấn đề riêng của giáo dục Việt Nam mà là vấn đề cần giải quyết của hầu hết các nước đang phát triển Trong xu thế phát triển của kinh tế toàn cầu, giáo dục STEM đã trở thành chủ
để quan trọng trong các cuộc thảo luận và các sự kiện giáo dục ở Việt Nam và các nước trên thế giới Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có nhiều hoạt động để dần đưa quan điểm giáo dục STEM tới giáo viên và học sinh, thông qua các cuộc hội thảo đưa thông tin tiếp cận giáo dục STEM: Hội thảo “Giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới” ngày 25 tháng 7 năm 2017 tại Hà Nội; Hội thảo Quốc tế STEM “STEM nền tảng vững chắc cho học sinh trong kỷ nguyên số” Đây là Hội thảo Quốc tế về STEM dành cho lứa tuổi học sinh lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam vào ngày 18 tháng 11 năm 2018; Hội thảo “Giáo dục STEM tại thành phố HỒ CHÍ MINH
và yêu cầu phát triển các kĩ năng thế kỉ XXI, các sáng kiến đổi mới sáng tạo vì xã hội”
tháng 11 năm 2018; Hội thảo “Giáo dục STEM và vị thế của Việt Nam” tháng 1 năm
2019 tại trường ĐHSP Hà Nội 2…[13]
“Bản chất của giáo dục STEM là thông qua việc tích hợp các môn học để trang
bị cho người học khả năng vận dụng tổng hợp những kiến thức và kĩ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học vào giải quyết các tình huống và yêu cầu của thực tiễn” [13]
Thông qua các hoạt động học tập gắn kết kiến thức với thực tiễn, công nghệ, qua thiết kế và tính toán để tạo được kết quả phù hợp nhất với nhu cầu của xã hội, giáo dục STEM vừa có ưu thế trong việc phát triển năng lực của người học một cách toàn diện, vừa giúp việc học trở nên thú vị và qua đó kích thích hứng thú học tập của người học, rất phù hợp với định hướng phát triển năng lực người học đặc biệt năng lực giải quyết vấn đề, mà chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chuẩn bị thực hiện (Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật
lí - (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm
2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)) Căn cứ vào những yêu cầu cần đạt
Trang 12của các chủ đề, nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí, tôi thấy
chủ đề “Công, năng lượng, công suất” liên quan đến những hiện tượng gần gũi
trong đời sống hàng ngày, nội dung chủ yếu là sự chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác Đồng thời với tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM, giúp học sinh hiểu biết kiến thức một cách sâu sắc qua đó vận dụng kiến thức đã học vào giải thích các hiện tượng thực tế, phát huy được tính tích cực sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
Với những lí do trên cùng với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy
học vật lí ở trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy
học chủ đề “Công, năng lượng, công suất” (vật lí 10) theo định hướng giáo dục
STEM cho học sinh dân tộc nội trú”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tổ chức dạy học chủ đề “Công, năng lượng, công suất” theo định hướng giáo dục STEM
- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh dân tộc nội trú
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tổ chức dạy học chủ đề “Công, năng lượng, công suất” theo định hướng giáo dục STEM thì sẽ phát triển được năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4.1 Khách thể: Các nội dung kiến thức cơ bản trong các bài học “Công và năng
lượng”; “Động năng và thế năng”; ở chương trình vật lý lớp 10 THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học vật lí ở trường phổ thông
dân tộc nội trú Vùng Cao Việt Bắc
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học tích hợp STEM, quan điểm giáo dục STEM
- Nghiên cứu lí luận về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
- Nghiên cứu các đặc điểm tâm lý giáo dục của học sinh dân tộc nội trú
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa hiện hành, chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí 2018 và các tài liệu tham khảo có liên quan đến chủ đề “Công, năng lượng, công suất”
Trang 13- Nghiên cứu giải pháp việc tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM
ở trường trung học phổ thông dân tộc nội trú thông qua dạy một số kiến thức trong chủ đề “Công, năng lượng, công suất” (vật lí 10)
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá tính khả thi của đề tài
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp thực nghiệm khoa học giáo dục Điều tra thực tế, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Tổ chức dạy học chủ đề “Công, năng lượng, công suất” (vật lí 10) theo định hướng giáo dục STEM cho học sinh lớp 10 trường phổ thông Vùng Cao Việt Bắc
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Trình bày có hệ thống về cơ sở lí luận dạy học tích hợp STEM
- Xây dựng được tiến trình dạy học hai bài học trong chủ đề “Công, năng lượng, công suất” – vật lí 10, theo định hướng giáo dục STEM phát triển được năng lực giải quyết vấn đề của học sinh dân tộc nội trú
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong dạy học vật lí ở các trường phổ thông dân tộc nội trú
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học theo định hướng
giáo dục STEM trong dạy học vật lí ở trường THPT dân tộc nội trú
Chương II: Xây dựng tiến trình dạy học chủ đề “Công, năng lượng, công suất”
(Vật lí 10) theo định hướng giáo dục STEM phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trường trung học phổ thông dân tộc nội trú
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
STEM có nguồn gốc từ quỹ khoa học quốc gia (NSF) vào những năm 1990 và
đã được sử dụng như một cụm từ viết tắt chung cho mọi sự kiện, chính sách, chương trình hoặc liên quan đến một số môn học thuộc bốn lĩnh vực Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Math (Toán học); còn giáo dục STEM là một quan điểm dạy học theo tiếp cận liên ngành từ hai trong số bốn lĩnh vực nêu trên trở lên, trong đó nội dung học tập được gắn với thực tiễn, còn phương pháp học tập được gắn với thực hành để học sinh làm quen với việc phát triển ý tưởng sáng tạo và nắm bắt định hướng nghề nghiệp ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường
Giáo dục STEM là cách tiếp cận liên môn trong học tập, ở đó những khái niệm học thuật chính xác được kết hợp với bài học thực tiễn khi học sinh vận dụng khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán học trong một bối cảnh cụ thể tạo nên sự kết nối giữa nhà trường, cộng đồng, việc làm và hoạt động kinh doanh toàn cầu
Có thể nói, giáo dục STEM không hướng đến mục tiêu đào tạo để học sinh trở thành những nhà toán học, nhà khoa học, kĩ sư hay kĩ thuật viên, mà chủ yếu là trang
bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng để làm việc và phát triển trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay
Giáo dục STEM không còn xa lạ với thế giới; ở Việt nam những năm gần đây cũng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều địa phương Bộ giáo dục và Đào tạo (GD – ĐT) và Sở GD – ĐT đã có những đợt tập huấn cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiếp cận Hiện nay, cả nước chưa có chương trình dạy học STEM, Bộ GD –
ĐT mới chỉ ban hành dự thảo tài liệu tập huấn xây dựng và thực hiện các chủ đề giáo dục STEM trong trường trung học để định hướng triển khai
Trong những năm gần đây đã có không ít đề tài nghiên cứu về định hướng dạy học STEM thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên Với tính chất đặc thù của bộ môn Vật lí, là môn khoa học tự nhiên gắn liền với đời sống, tự nhiên và khoa học kĩ thuật
Qua tìm hiểu tôi thấy trong những năm gần đây, đã có một số luận văn tìm hiểu về
Trang 15vấn đề tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM: Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Ánh (2019 - Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề STEM về các kiến thức “năng lượng và chuyển hóa năng lượng” nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 9); Luận văn thạc sĩ Nguyễn Minh Nguyệt (2019 – Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học các kiến thức “Dòng điện xoay chiều lớp 9” nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh); Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đức Huỳnh (2019 – Tổ chức dạy học chủ đề tích hợp STEM “Các định luật bảo toàn” nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh ở trường trung học phổ thông); Luận văn thạc sĩ Đỗ Thị Thanh Hải ( 2018 - Tổ chức hoạt động dạy học STEM về dòng điện xoay chiều (vật lí 12) nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh)…
Các luận văn nêu trên đã tổ chức được một số chủ đề theo dạy học theo định hướng giáo dục STEM cho học sinh THCS, THPT tuy nhiên đối với học sinh trường dân tộc nội trú, với một số đặc điểm mang tính chất đặc thù thì việc tổ chức dạy học theo định hướng này sẽ có ưu việt hay hạn chế gì so với học sinh trường phổ thông thông thường, đây là vấn đề cần nghiên cứu
Chủ đề “Công, năng lượng, công suất” là một chủ đề mới trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, kiến thức trong chủ đề có nhiều nội dung gắn liền với thực
tiễn đời sống Do vậy Tổ chức dạy học chủ đề “công, năng lượng, công suất” (vật
lí 10) theo định hướng giáo dục STEM cho học sinh dân tộc nội trú là một vấn đề
cần được nghiên cứu
1.2 VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC STEM
1.2.1 Vai trò của giáo dục STEM trong dạy học vật lí ở trường THPT
Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học sinh được đặt trước một tình huống
có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến thức khoa học cần dạy, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề đó (qua sách giáo khoa, học liệu, thiết bị thí nghiệm, thiết bị công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra Học sinh sẽ được học kiến thức gắn liền với những ứng dụng của nó trong công nghệ và kĩ thuật; vận dụng kiến thức học được để
tiếp tục sáng tạo về khoa học, công nghệ và kĩ thuật
Như vậy, giáo dục STEM sẽ giúp thực hiện được mục tiêu phát triển năng lực
và phẩm chất của học sinh đáp ứng yêu cầu mới
Trang 161.2.2 Thực trạng giáo dục STEM ở Việt Nam
Theo ông Đỗ Hoàng Sơn, một thành viên của Liên minh STEM, giáo dục STEM
đã được thử nghiệm ở Việt Nam từ năm học 2006-2007, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo thử nghiệm việc thành lập các nhóm nghiên cứu khoa học tại một số trường THPT để chuẩn bị tham gia cuộc thi khoa học – kỹ thuật Intel ISEF cấp tỉnh/thành phố Đến nay, cuộc thi này đã được tổ chức ở các cấp cơ sở, tỉnh/thành phố, và quốc gia để chọn ra những nhóm xuất sắc nhất đi thi quốc tế [13]
Sau đó, vào đầu những năm 2010, bắt đầu xuất hiện các doanh nghiệp nhập chương trình giáo dục STEM từ nước ngoài về và đưa vào dạy ngoại khóa tại một số trường phổ thông ở những thành phố lớn
Ngày hội STEM quy mô quốc gia được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2015 chính
là sự kiện mở đầu cho việc xã hội hóa hoạt động giáo dục STEM một cách rộng rãi
Kể từ đó, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, tổ chức trong nước và quốc tế, trường đại học, viện nghiên cứu cũng như các cá nhân, giáo dục STEM đã được triển khai ở hàng trăm trường phổ thông, phần nhiều trong số đó là ở các tỉnh nông thôn
và miền núi, trong điều kiện chưa được Nhà nước chính thức cấp ngân sách [13]
1.2.3 Tìm hiểu thực trạng việc dạy học theo định hướng giáo dục STEM ở trường phổ thông Vùng cao Việt Bắc
1.2.3.1 Mục đích điều tra
Một trong những căn cứ để soạn thảo tiến trình dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ của học sinh là những khó khăn của học sinh trong quá trình học tập Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực tế dạy học tích hợp STEM tại trường phổ
thông Vùng Cao Việt Bắc nhằm thu được một số thông tin:
- Thực tiễn về việc áp dụng dạy học theo định hướng giáo dục STEM ở trường
PTDTNT
- Những khó khăn khi triển khai thực hiện dạy học STEM ở trường PTDTNT
- Tình hình dạy học theo định hướng giáo dục STEM ở trường PT Vùng Cao
Việt Bắc
1.2.3.2 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích trên chúng tôi đã tiến hành:
+ Điều tra GV: trao đổi trực tiếp, phiếu điều tra
Trang 17+ Điều tra HS: trao đổi trực tiếp, phiếu điều tra
1.2.3.3 Kết quả điều tra
Với mục đích và phương án đã đề ra, chúng tôi tiến hành điều tra trên 45 giáo viên giảng dạy các môn Toán, Tin và các môn khoa học tự nhiên cùng với 200 học sinh (tương ứng 4 lớp) ở trường PT Vùng Cao Việt Bắc Qua điều tra chúng tôi thu
được một số kết quả sau:
Bảng 1.1 Mức độ tham gia các hoạt động của HS trong giờ học Vật lí
HS được giáo nhiệm vụ tạo ra sản
HS được học bài học tích hợp liên
HS được học bài học tổ chức theo
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của Giáo viên Phương pháp dạy học Thường
xuyên
Đôi khi Không dùng
Số lượng
Dạy học tích hợp liên môn 0 0 3 6,7 42 93,3 Dạy học theo định hướng
Trang 18Bảng 1.3 Những khó khăn khi thực hiện dạy học STEM Những vẫn đề khó khăn của dạy học
STEM
Thiết kế chủ đề STEM mất nhiều thời gian 30 66,7
Qua kết quả điều tra, chúng tôi thu được kết quả thực tiễn việc áp dụng dạy học theo định hướng giáo dục STEM và những khó khăn khi triển khai thực hiện dạy học
STEM cụ thể như sau:
- Thực tiễn về việc áp dụng dạy học theo định hướng giáo dục STEM
Đầu năm học 2019 – 2020, trong các buổi họp tổ chuyên môn, dưới sự tập huấn của giáo viên cốt cán, các giáo viên trong tổ bước đầu biết đến dạy học theo định hướng giáo dục STEM Tuy nhiên, việc thực hiện tiến trình dạy học theo định hướng
này như thế nào, hay soạn một giáo án theo tiến trình dạy học STEM như thế nào thì
hầu hết các giáo viên đều chưa rõ Từ những năm học trước đó, giáo viên được tiếp cận với dạy học tích hợp liên môn, trong trường đã có những bài giảng tích hợp liên môn: Cô Bùi Thị Thu Thủy (giáo viên Sinh học); Thầy Đoàn Minh Đức (giáo viên
hóa học); Cô Lê Thu Mai (giáo viên Vật Lí)
Khi được hỏi về dạy học STEM thì đa số các giáo viên chưa bao giờ tổ chức và thiết kế dạy học STEM, các thầy cô chưa bao giờ áp dụng định hướng giáo dục STEM vào các nội dung bài học Đã có một vài thầy cô cũng đã cho các em học sinh tiến hành tạo ra sản phẩm thực tế nhưng các thầy cô chưa hiểu về dạy học theo định hướng
giáo dục STEM là như thế nào
Về phía học sinh kết quả điều tra cho thấy: HS chưa được tiếp cận với định hướng dạy học này, mà mới chỉ có một lượng nhỏ học sinh được tiếp cận với phương pháp dạy học dự án và dạy học tích hợp liên môn
Trang 19- Những khó khăn khi thực hiện dạy học STEM ở trường PTDTNT
Qua kết quả điều tra cho thấy, khi nhắc đến khó khăn của việc thực hiện dạy học STEM đó là phương thức đánh giá thi cử chưa hoàn toàn phù hợp với phương thức dạy học ở trường phổ thông, do sự bất cập này mà xu thế chung của các trường phổ thông
là “thi gì học đó”, khiến cho các giờ học thiên về giờ bài tập và nặng tính chất truyền thụ kiến thức Cũng chính vì vậy làm cho các giáo viên “ngại” đổi mới phương pháp
dạy và học sinh “ngại” vận động tiếp nhận các phương thức học mới
Ngoài ra, do đặc thù của trường dân tộc nội trú năng lực của học sinh còn nhiều hạn chế, kinh tế gia đình của học sinh hầu hết là khó khăn, học sinh được học theo chính sách của nhà nước, do vậy việc thực hiện dạy học STEM đối với toàn bộ học sinh trong trường là tương đối khó khăn, mà chỉ có thể áp dụng đối với một lượng học
sinh nhất định
Thiết kế một giáo án dạy học theo định hướng giáo dục STEM đòi hỏi thời gian
và công sức của giáo viên và của học sinh Bởi lẽ, một phần do phương thức dạy học này còn mới lạ với hầu hết giáo viên và học sinh, phần khác do đặc thù nội dung bài học Do đó, việc vận dụng phương pháp nào vào từng bài cụ thể cũng là một nghệ thuật
của người giáo viên
1.2.4 Lợi thế của việc tổ chức dạy học STEM trong dạy học ở trường nội trú
Bên cạnh những khó khăn nêu ở trên, việc tổ chức dạy học theo định hướng giáo
dục STEM ở trường nội trú cũng có những lợi thế nhất định, cụ thế:
a Chất lượng giảng dạy
- Chương trình giảng dạy tại các trường nội trú đa dạng và toàn diện
- Số lượng học sinh trong lớp được kiểm soát tốt giúp cho sự tương tác giữa học
sinh và giáo viên được thường xuyên hơn
- Đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm và đầy tâm huyết, luôn xem trọng và tự hào
với công tác giảng dạy của mình
b Môi trường học tập và sinh hoạt
- Do tính chất của trường nội trú, các học sinh luôn sinh hoạt, học tập và rèn luyện
cùng nhau nên các hoạt động học tập theo nhóm được thực hiện dễ dàng và có hiệu quả
- Thời gian giao tiếp giữa giáo viên và học sinh nhiều hơn, tạo điều kiện cho việc giáo viên nắm bắt tâm lý, phát hiện năng lực riêng của từng học sinh
Trang 20c Trang bị tri thức và kỹ năng sống
- Các trường nội trú trang bị cho học sinh của mình không chỉ tri thức mà còn
trao truyền cho học sinh những kỹ năng sống thiết thực
- Trong môi trường nội trú, các học sinh học được cách sống thân thiện và hòa
đồng cùng bạn bè
- Các giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh thông qua những bài học trong giáo trình và những bài học bổ ích từ kinh nghiệm thực tế làm phong phú thêm cho vốn
sống của học sinh
Với những lợi thế ở trên, việc tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM
ở trường nội trú là một việc thiết thực có thể triển khai dự kiến đem lại hiệu quả, nâng
cao được chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh
1.3 NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH
1.3.1 Khái niệm năng lực
Hình thành và phát triển năng lực có vai trò to lớn trong sự phát triển của mỗi con người Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm khá phong phú, đa dạng
về năng lực tùy theo góc độ tiếp cận
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo cách khác nhau và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và
kinh nghiệm cũng như sẵn sàng hành động” [6]
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của
cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [5]
Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ…phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính
các em trong cuộc sống
Trang 21Định hướng phát triển năng lực cho học sinh có sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực với nhau và trong mỗi quá trình hình thành năng lực đó, đều ẩn chứa trong đó năng lực
giải quyết vấn đề: vấn đề được đặt ra – giải quyết vấn đề - hình thành kiến thức mới
1.3.2 Năng lực giải quyết vấn đề là gì?
Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng huy động kiến thức, kĩ năng, thái độ và các thuộc tính cá nhân khác nhằm thực hiện có hiệu quả những vấn đề nảy sinh hay những tình huống có vấn đề trong học tập, cuộc sống [2]
1.3.3 Các cấp độ của năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề có thể chia thành các cấp độ sau:
- Phát hiện và làm rõ vấn đề
- Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu
được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống
- Đề xuất, lựa chọn giải pháp, thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được
giải pháp phù hợp nhất
- Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề, suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới Nhận ra ý tưởng mới, xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông
tin khác nhau
1.3.4 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề
Bảng 1.4 Thành tố năng lực, chỉ số hành vi, mức độ biểu hiện của NLGQVĐ
Năng lực thành tố
Chỉ số hành vi
Mức độ biểu hiện
1 Tìm hiểu vấn
đề
1.1 Tìm hiểu tình huống vấn
M3: Phân tích, giải thích thông tin đã cho, mục tiêu cần
thực hiện và phát hiện vấn đề cần giải quyết
1.2 Phát hiện vấn đề
M1: Từ thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được một số câu hỏi riêng lẻ
Trang 22cần nghiên
cứu
M2: Từ thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được các câu hỏi liên quan đến vấn đề cần giải quyết
M3: Từ thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được các câu hỏi liên quan đến vấn đề và xác
định được vấn đề cần giải quyết
1.3 Phát
biểu vấn đề
M1: Sử dụng được ít nhất một phương thức (văn bản, hình vẽ, biểu bảng, lời nói,…) để diễn đạt lại vấn đề M2: Sử dụng được ít nhất hai phương thức để diễn đạt lại vấn đề
M3: Diễn đạt vấn đề ít nhất bằng hai phương thức và
phân tách thành các vấn đề bộ phận
2 Đề xuất giải pháp
2.1 Diễn đạt lại tình huống bằng ngôn ngữ của chính mình
M1: Diễn đạt lại được tình huống một cách đơn giản M2: Diễn đạt lại được tình huống trong đó có sử dụng các hình vẽ, kí hiệu để làm rõ thông tin của tình huống M3: Diễn đạt lại được tình huống bằng nhiều cách khác nhau một cách linh hoạt
2.2 Tìm kiếm thông tin liên quan đến vấn đề
M1: Bước đầu thu thập thông tin về kiến thức và phương pháp cần sử dụng để giải quyết vấn đề từ các nguồn khác nhau
M2: Lựa chọn được nguồn thông tin về kiến thức và phương pháp cần sử dụng để giải quyết vấn đề và đánh giá nguồn thông tin đó
M3: lựa chọn được toàn bộ các nguồn thông tin về kiến thức và phương pháp cần sử dụng để giải quyết vấn đề cần thiết và đánh giá được độ tin cậy của nguồn thông tin 2.3 Đề xuất
giải pháp giải quyết vấn đề
M1: Thu thập, phân tích thông tin liên quan đến vấn đề;
xác định thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề
Trang 23M2: Đưa ra phương án giải quyết vấn đề (đề xuất gải thuyết, phương án kiểm tra giả thuyết bằng suy luận lí thuyết hoặc thực nghiệm)
M3: Đưa ra phương án, lựa chọn phương án tối ưu, lập
kế hoạch thực hiện
3 Thực hiện giải pháp giải quyết vấn
đề
3.1 Lập kế hoạch cụ thể
để thực hiện giải pháp
M1: Phân tích giải pháp thành kế hoạch thực hiện cụ thể, diễn đạt các kế hoạch cụ thể đó bằng văn bản
M2: Phân tích giải pháp thành kế hoạch thực hiện cụ thể, diễn đạt các kế hoạch cụ thể đó bằng sơ đồ, hình vẽ M3: Phân tích giải pháp thành kế hoạch thực hiện cụ thể, thuyết minh các kế hoạch cụ thể đó bằng sơ đồ, hình vẽ 3.2 Thực
hiện giải pháp
M1: Thực hiện được giải pháp để giải quyết vấn đề cụ thể, giả định (vấn đề học tập) mà chỉ cần huy động một kiến thức, hoặc tiến hành một phép đo, tìm kiếm, đánh giá một thông tin cụ thể
M2: Thực hiện được giải pháp trong đó huy động ít nhất hai kiến thức, hai phép đo,… để giải quyết vấn đề M3: Thực hiện giải pháp cho một chuỗi vấn đề liên tiếp, trong đó có những vấn đề nảy sinh từ chính quá trình giải quyết vấn đề
3.3 Đánh giá và điều chỉnh các bước giải quyết cụ thể ngay trong quá trình thực hiện
M1: Đánh giá các bước trong quá trình giải quyết vấn đề, phát hiện ra sai sót, khó khăn
M2: Đánh giá các bước trong quá trình giải quyết vấn đề, phát hiện ra sai sót, khó khăn và đưa ra những điều chỉnh M3: Đánh giá các bước trong quá trình giải quyết vấn đề , phát hiện ra sai sót, khó khăn, đưa ra những điều chỉnh
và thực hiện việc điều chỉnh
4 Đánh giá việc giải quyết
4.1 Đánh giá quá trình giải quyết
M1: So sánh kết quả cuối cùng thu được với đáp án và rút ra kết luận khi giải quyết vấn đề cụ thể M2: Đánh giá
Trang 24vấn đề, phát hiện vấn đề
mới
vấn đề và điều chỉnh việc giải quyết vấn đề
được kết quả cuối cùng và chỉ ra nguyên nhân của kết quả thu được
M3: Đánh giá việc giải quyết vấn đề Đề ra giải pháp tối
ưu hơn để nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề 4.2 Phát
hiện vấn đề cần giải quyết mới
M1: Đưa ra khả năng ứng dụng của kết quả thu được trong tình huống mới
M2: Xem xét kết quả thu được trong tình huống mới, phát hiện những khó khăn, vướng mắc cần giải quyết
M3: Xem xét kết quả thu được trong tình huống mới, phát hiện những khó khăn, vướng mắc cần giải quyết và diễn đạt vấn đề mới cần giải quyết
[2]
1.3.5 Các phương pháp đánh giá năng lực giải quyết vấn đề
Đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh
có ý nghĩa Theo quan điểm giáo dục phát triển, đánh giá kết quả giáo dục phải hướng tới việc xác định sự tiến bộ của người học Vì vậy đánh giá năng lực người học được hiểu là đánh giá khả năng áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thực tiễn Theo [8] đánh giá năng lực GQVĐ của người học cũng như đánh giá các năng lực khác thì không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trọng tâm mà chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống sáng tạo khác nhau Đánh giá năng lực thông qua các sản phẩm học tập và quá trình học tập của người học, đánh giá năng lực người học được
thực hiện bằng một số phương pháp (công cụ) sau:
- Đánh giá qua quan sát: Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác, động cơ, các hành vi, kỹ năng thực hành và kỹ năng nhận thức như
là cách GQVĐ trong một tình huống cụ thể Để đánh giá qua quan sát, GV cần tiến
hành các hoạt động:
+ Xây dựng mục tiêu, đối tượng, nội dung, phạm vi cần quan sát
+ Đưa ra các tiêu chí cho từng nội dung quan sát (thông qua các biểu hiện của
các năng lực cần đánh giá) + Thiết lập bẳng kiểm phiếu quan sát
Trang 25+ Ghi chú những thông tin chính vào phiếu quan sát
+ Quan sát và ghi chép đầy đủ những biểu hiện quan sát được vào phiếu quan
sát và đánh giá
- Đánh giá qua hồ sơ học tập: Hồ sơ học tập là tài liệu minh chứng cho sự tiến
bộ của cá nhân, trong đó mỗi cá nhân tự đánh giá về bản thân, nêu những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích của mình, tự ghi kết quả học tập, tự đánh giá đối chiếu với mục tiêu đã đặt ra để nhận ra sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộ của mình, từ đó tìm nguyên nhân và cách khắc phục trong thời gian tới Hồ sơ học tập có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân, giúp người học tìm hiểu về bản thân, khuyến khích hứng thú học tập và hoạt động tự đánh giá Từ đó thúc đẩy mỗi cá nhân chú tâm và có trách nhiệm
với nhiệm vụ học tập của mình
- Tự đánh giá: Tự đánh giá là một hình thức mà người học tự liên hệ phần nhiệm
vụ đã thực hiên với các mục tiêu của quá trình học, người học sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ cá nhân, nhìn lại quá trình và phát hiện những điều cần thay đổi
để hoàn thiện bản thân
- Đánh giá qua bài kiểm tra: Đánh giá qua bài kiểm tra là một hình thức giáo viên đánh giá năng lực học sinh bằng cách giáo viên cho đề kiểm tra trong một thời gian nhất định để học sinh hoàn thành, sau đó giáo viên chấm bài và cho điểm Qua bài kiểm tra, giáo viên đánh giá được ở học sinh những kĩ năng và kiến thức, qua đó giáo viên có thể điều chỉnh các hoạt động dạy học và có biện pháp giúp đỡ đến từng
học sinh
- Đánh giá đồng đẳng: là một quá trình trong đó các nhóm người học trong lớp
sẽ đánh giá công việc lẫn nhau dựa theo tiêu chí đã định sẵn Đánh giá đồng đẳng giúp người học làm việc hợp tác, cho phép người học tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập đánh giá Qua đó phản ánh được năng lực của người đánh giá về sự
trung thực, linh hoạt, nhạy bén và khả năng tập trung
Như vậy, trong việc đánh giá năng lực GQVĐ cũng như các năng lực khác giáo viên cần sử dụng đồng bộ các công cụ đánh giá trên cùng với bài kiểm tra kiến thức kĩ năng Khi xây dựng các công cụ đánh giá cần xác định rõ mục tiêu, biểu hiện của năng lực cần đánh giá để từ đó xây dựng các tiêu chí một cách cụ
thể rõ ràng
Trang 261.3.6 Quy trình tổ chức dạy học chủ đề theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh DTNT
1.3.6.1 Một số đặc điểm của dạy học tích hợp STEM
- Là một quan niệm dạy học, bản chất là dạy học tích hợp (S, T, E, M)
- Hướng tới giải quyết vấn đề thực tiễn
- Là hoạt động định hướng thực hành và định hướng sản phẩm
- Là hoạt động nhằm hình thành xúc cảm tích cực cho người học
- Là hoạt động dạy học nhằm phát triển kết hợp trí óc và chân tay
1.3.6.2 Quy trình tổ chức dạy học chủ đề theo định hướng STEM nhằm phát
triển NLGQVĐ của học sinh
Sau khi nghiên cứu và tham khảo tài liệu tôi thấy dù tổ chức theo hình thức nào thì cũng đều hướng đến mục tiêu đưa HS vào chủ thể nhận thức, phát huy tính tính cực của học sinh trong quá trình học tập và phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Quá trình học tập tích cực bao gồm các bước chính:
- Trải nghiệm
+ Khi tổ chức dạy học, giáo viên cần dựa trên mục tiêu bài học và những kiến thức, kĩ năng đã có của học sinh mà thiết kế các hoạt động sao cho học sinh được trải nghiệm bằng cách huy động vốn học vấn đã có để tìm hướng giải quyết vấn đề
+ Cách học này khơi gợi được hứng thú trong học tập, khám phá của học sinh
+ Ở bước này, giáo viên là người hỗ trợ học sinh chuẩn hóa những điều được rút ra từ bài học
- Luyện tập, củng cố
+ Trong giai đoạn luyện tập, củng cố, phải tổ chức cho học sinh tự mình giải quyết vấn đề, đồng thời có sự chia sẻ, thảo luận với bạn về cách giải quyết
Trang 27+ Để thiết kế hoạt động luyện tập, củng cố, phải xác định được những thuận lợi, khó khăn của học sinh, dự kiến được những tình huống học sinh cần sự hỗ trợ để có thể trợ giúp kịp thời
+ Khi thực hiện các nhiệm vụ giúp củng cố kiến thức, kĩ năng mới, học sinh cũng đồng thời huy động, liên kết được với những kiến thức, kĩ năng cũ trước đó
- Vận dụng:
+ Trong hoạt động vận dụng, giáo viên hướng dẫn học sinh liên kết, sắp xếp, vận dụng các kiến thức, kĩ năng vừa được luyện tập, củng cố đồng thời kết hợp với vốn học
vấn đã có để giải quyết vấn đề học tập hoặc vấn đề thực tiễn một cách sáng tạo
+ Có thể tổ chức hoạt động này dưới hình thức những dự án học tập để học sinh thực hiện theo nhóm hoặc cá nhân; thông qua các dự án này, học sinh sẽ có cơ hội phát triển năng lực tổ chức, quản lí các hoạt động của cá nhân, của nhóm
Tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, do vậy trong quá trình xây dựng bài học, giáo viên phải căn cứ vào tiến trình giải quyết vấn đề trong học tập
Tiến trình giải quyết vấn đề trong học tập: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hưng, có thể
tóm tắt các giai đoạn của tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu dạy học phát hiện
và GQVĐ theo các bước sau:
1 Nảy sinh VĐ cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất phát: từ kiến thức cũ, kinh nghiệm, thí nghiệm (TN), bài tập, truyện kể lịch sử…
2 Phát biểu VĐ cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời)
3 Giải quyết VĐ:
- Suy đoán giải pháp GQ VĐ: nhờ khảo sát lý thuyết và/hoặc khảo sát thực nghiệm
- Thực hiện giải pháp suy đoán
4 Rút kết luận (kiến thức mới)
5 Vận dụng kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp theo
Tóm lại, để xây dựng được bài học theo mục tiêu của luận văn thì cần phối hợp giữa các bước của dạy học tích cực với tiến trình giải quyết vấn đề trong học tập
Trang 281.4 TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 2018 1.4.1 Nội dung khái quát:
Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí 2018 sẽ được thực hiện sau 2024 (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [3]
Nội dung kiến thức khái quát môn vật lí trong chương trình THPT bao gồm:
Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường x Chuyên đề 10.3
Truyền thông tin bằng sóng vô tuyến x Chuyên đề 11.2
x Chuyên đề 12.2
Trang 291.4.2 Thời lượng thực hiện chương trình:
Thời lượng dành cho cho mỗi lớp là 105 tiết trong một năm học (trong đó có
35 tiết dành cho các chuyên đề học tập) Cụ thể:
Trang 301.4.3 Nội dung, yêu cầu cần đạt chủ đề “Công, năng lượng, công suất” trong chương trình vật lí 10
Công và năng lượng
- Chế tạo mô hình đơn giản minh hoạ được định luật bảo toàn năng lượng, liên quan đến một số dạng năng lượng khác nhau
- Trình bày được ví dụ chứng tỏ có thể truyền năng lượng từ vật này sang vật khác bằng cách thực hiện công
- Nêu được biểu thức tính công bằng tích của lực tác dụng và độ dịch chuyển theo phương của lực, nêu được đơn vị đo công là đơn
vị đo năng lượng (với 1 J = 1 Nm); Tính được công trong một số trường hợp đơn giản [3]
Động năng
và thế năng
- Từ phương trình chuyển động thẳng biến đổi đều với vận tốc ban đầu bằng không, rút ra được động năng của vật có giá trị bằng công của lực tác dụng lên vật
- Nêu được công thức tính thế năng trong trường trọng lực đều, vận dụng được trong một số trường hợp đơn giản
- Phân tích được sự chuyển hoá động năng và thế năng của vật trong một số trường hợp đơn giản
- Nêu được khái niệm cơ năng; phát biểu được định luật bảo toàn
cơ năng và vận dụng được định luật bảo toàn cơ năng trong một số trường hợp đơn giản [3]
Công suất
và hiệu suất
- Từ một số tình huống thực tế, thảo luận để nêu được ý nghĩa vật
lí và định nghĩa công suất – Vận dụng được mối liên hệ công suất (hay tốc độ thực hiện công) với tích của lực và vận tốc trong một
số tình huống thực tế
- Từ tình huống thực tế, thảo luận để nêu được định nghĩa hiệu suất, vận dụng được hiệu suất trong một số trường hợp thực tế [3]
Trang 311.4.4 So sánh cấu trúc chủ đề nghiên cứu trong chương trình mới và chương trình hiện hành
Căn cứ vào nội dung, cấu trúc, thời lượng thực hiện chương trình của chương trình
Vật lí mới và nội dung, cấu trúc của chương trình sách giáo khoa hiện hành cho thấy:
Chương trình vật lý mới Chương trình hiện hành Chủ đề “Công, năng lượng, công suất”
trong chương trình vật lý mới được xây dựng trong thời lượng 10 tiết học, trên
cơ sở thực hiện các bài dạy cụ thể:
- Công và năng lượng (2 tiết)
- Động năng và thế năng (3 tiết)
- Công suất và hiệu suất (2 tiết)
- Bài tập (3 tiết) Việc phân chia số tiết cho từng bài và số tiết bài tập trong chủ đề là do tác giả (Giáo viên dạy) căn cứ vào nội dung và yêu cầu cần đạt và ý tưởng thực hiện bài dạy mà phân chia cho hợp lí
Khi biên soạn, các tác giả đã chú ý đến
cả nội dung kiến thức và nội dung kĩ năng, kết hợp hài hòa giữa truyền tải nội dung kiến thức với gợi mở phương pháp dạy và học Tạo điều kiện cho học sinh nâng cao năng lực tự học, phát triển được năng lực giải quyết vấn đề
Nội dung “Công, năng lượng, công suất”
được đưa vào đầu học kì 2, trong chương
1.5 TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ GIÁO DỤC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT DTNT
Trường phổ thông DTNT nằm trong hệ thống các trường công lập của cả nước,
là nơi tạo nguồn cho các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ văn hóa, kĩ thuật, có sức khỏe và phẩm chất tốt để
Trang 32tham gia vào công cuộc đổi mới xây dựng quê hương miền núi, vùng dân tộc Học sinh ở trường DTNT được Nhà nước bảo đảm các điều kiện cần thiết để hoạt động, học tập tập trung, được nhà trường tổ chức nuôi dạy và sinh hoạt nội trú ở trường trong quá trình học tập Do đó, đây là một loại hình nhà trường mang tính chuyên
biệt, tính chất đặc thù trõ nét với hai đặc điểm: Dân tộc và Nội trú
1.5.1 Đặc điểm về hoạt động học tập
Học tập là hoạt động chủ động của học sinh các trường DTNT Ngoài các giờ học tập chính khóa, số thời gian còn lại trong ngày được nhà trường tổ chức, hướng dẫn để học sinh tham gia vào các hoạt động nhằm giáo dục và rèn luyện cho học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường Một trong những hoạt động trọng tâm mang tính đặc thù của học sinh các trường DTNT là hoạt động tự học, tự rèn luyện Hoạt động này thể hiện tính thống nhất giữa giáo dục và tự giáo dục, giữa quá trình dạy –
học và tự học
Ở trường PT Vùng cao Việt Bắc: Buổi sáng là giờ học sinh khóa, học sinh lên
lớp theo thời khóa biểu của nhà trường, có giáo viên trực tiếp lên lớp giảng dạy Buổi chiều và buổi tối học sinh tự học tại lớp hoặc tại thư viện nhà trường, có cán bộ - giáo viên quản lý, hỗ trợ Trong giờ tự học, ngoài việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới các
em sẽ hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giáo viên giao trong giờ học chính khóa, học sinh có thể hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm Do đó, đây là một thuận lợi cho việc áp dụng các phương pháp học mới cho học sinh trường DTNT, trong đó là tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM Khi giáo viên giao nhiệm vụ học tập, học
sinh có thời gian chuẩn bị, học sinh ở tập trung nên việc hoạt động nhóm rất hiệu quả
1.5.2 Đặc điểm tâm lý xã hội của học sinh trường DTNT
Do ảnh hưởng của nền văn hóa của vùng miền, do ảnh hưởng của các quan điểm
cổ hủ của chính những người lớn trong các gia đình ở các khu vực miền núi Cho rằng, việc học là không cần thiết, chỉ cần biết chữ, biết tính toán là đủ Cùng với nhiều nguyên nhân khác như kinh tế gia đình khó khăn, khoảng cách từ nhà đến trường quá xa…dẫn đến tình trạng các em đên tuổi nhưng không được đi học hoặc bỏ học; số học sinh theo học hết cấp hoặc thi vào đại học, cao đẳng rất ít Vì vậy, đối với học sinh dân tộc miền núi nhu cầu học còn thấp Khi bước vào độ tuổi 10 – 11 tuổi là độ tuổi các em bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ về trí não và việc học sẽ tác động
Trang 33rất nhiều đến các em Song các em lại trở thành một thành viên góp phần lao động
sản suất trong gia đình và nhiều em đã lập gia đình ở độ tuổi 18
HS dân tộc cũng có đặc điểm tâm lý chung như những HS trường phổ thông
khác, song bên cạnh đó, các em cũng có những đặc điểm riêng:
- Tình cảm của các em học sinh dân tộc rất chân thực, mộc mạc, chân thành, yêu ghét rõ ràng, không có hiện tượng quanh co, đặc điểm tâm lý này không chỉ ảnh hưởng trong lối sống mà còn ảnh hưởng trong học tập Bản thân tôi đã và đang trực tiếp giảng dạy các em học sinh dân tộc miền núi _ tại trường PT Vùng cao Việt Bắc, trong quá trình giảng dạy trên lớp khi thấy một em không có biểu hiện hợp tác, không chú ý nghe giảng hay tham gia xây dựng bài, GV đến hỏi han động viên nhưng các
em chỉ trả lời rất hồn nhiên: “không hiểu đâu cô ơi, nên không chép bài”, từ cách trả lời đến trạng thái tâm lý của HS rất chân thực, rõ ràng, không cần biết nếu sau khi trả lời như vậy GV sẽ phản ứng như nào và với quan niệm rõ ràng “hiểu thì học, không thì thôi không cần học”, đặc điểm tâm lý này mang tính chất vùng miền rõ rệt, văn hóa, lối sống địa phương đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý các em Sau khi tìm hiểu được biết HS đó là Ly Kỳ Hừ người dân tộc La Hủ, trước khi đến học tập tại trường
PT Vùng cao Việt Bắc, HS Hừ học tại địa phương (Mường Tè – Lai Châu), nhưng việc học không được chú trọng bởi những quan niệm cổ hủ của gia đình chỉ cần học
để biết chữ và biết tính toán là đủ
- Tình cảm của HS dân tộc rất độc đáo, khi các em đã biết nhau, cảm thấy hợp tính hợp nết chơi với nhau rất thân, biết chia sẻ với nhau, thậm chí bảo vệ nhau, bao che cho nhau, phần nào đó cũng ảnh hưởng không tốt đến việc quản lý giáo dục các
em Song bên cạnh đó, với tinh thần tập thể cao lại mang lại tính tích cực trong các hoạt động học tập, các em có kĩ năng hơn trong các hoạt động cụ thể: khi GV giao một nhiệm vụ học tập yêu cầu hoạt động nhóm, với tinh thần đoàn kết và biết chia sẻ
đã giúp các em nhanh chóng hoàn thành được nhiệm vụ học tập
- Ngoài ra HS dân tộc còn thể hiện những cá tính rất riêng, các em có phần bảo thủ từ trong nếp sống đến học tập, do vậy việc vận dụng các phương pháp học tập mới, kết hợp giữa các phương pháp với nhau để tác động đến tâm lý HS là rất cần thiết
Trang 341.5.3 Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh trường DTNT
Sự phát triển về thể chất của học sinh các trường phổ thông DTNT có hai đối tượng, đối tượng thứ nhất là học sinh trung học cơ sở, tuổi từ 12 – 15 tuổi (học lớp 6 lên lớp 9); đối tượng thứ hai là HS trung học phổ thông, tuổi từ 16 – 18 tuổi (học lớp
10 đến lớp 12) Đây là giai đoạn học sinh phát triển về thể chất như: hệ xương, cơ bắp, tạo ra nét đẹp của người thanh niên Các tố chất về thể lực: sức mạnh, sức bền
bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sức tăng
trưởng của các hooc – môn nam và nữ
Học sinh trường phổ thông Vùng cao Việt Bắc có độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi (lớp
9 đến lớp 12 và lớp dự bị đại học) Ở các độ tuổi khác nhau thì đặc điểm tâm lý lứa tuổi, sức khở thể trạng con người khác nhau Trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhà trường luôn chú trong các hoạt động thể dục thể thao (tổ chức các câu lạc bộ bóng
rổ, câu lạc bộ bóng chuyền, câu lạc bộ cầu lông, câu lạc bộ võ thuật…) nhằm rèn luyện nâng cao sức khỏe cho học sinh Đồng thời, có các hoạt động nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho học sinh (như câu lạc bộ ghi ta, câu lạc bộ sách, chương trình
phát thanh…)
Có thể nói, ở trường DTNT ngoài việc chú trọng cho học sinh học các môn văn hóa, thì học sinh cũng được phát triển một cách toàn diện về Đức – Trí – Thể - Mĩ
Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao tinh thần học tập của
học sinh trong môi trường học tập xa gia đình
Các trường DTNT được thành lập tạo thành chiếc nôi văn hóa cho con em đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Với các chính sách ưu đãi của nhà nước, đã thu hút được rất nhiều con em đồng bào các dân tộc đến với nền văn hóa học, trong đó có các dân tộc thiểu số Khi các em hội tụ lại chung một mái trường, do đến từ nhiều vùng miền khác nhau nên nền văn hóa cũng có phần khác nhau, điều này cũng phần nào ảnh hưởng đến tâm lý các em Sự dụt dè, nhút nhát là một trong những đặc điểm của học sinh trường DTNT Tìm hiểu HS trường PT Vùng cao Việt Bắc được biết HS trong trường được phân hóa thành ba đối tượng, mỗi đối tượng có đặc điểm về học
tập, tâm lý, thể chất khác nhau:
+ Đối tượng 1: là các em HS dân tộc miền núi đã học trường nội trú từ THCS (từ lớp 6), với các em HS này đối với cuộc sống tập thể, sinh hoạt trong nội trú không còn bỡ ngỡ Sống xa gia đình từ nhỏ, các em cũng ít bị ảnh hưởng bởi các phong tục
Trang 35vùng miền Tuy nhiên, sống và học tập trong môi trường nội trú quá sớm nên các em
ít va chạm với cuộc sống thực tiễn, khả năng giao tiếp của các em bị hạn chế, việc
liên hệ giữa thực tiễn và kiến thức trong bài học gần như không có
+ Đối tượng 2: là các em HS dân tộc miền núi bắt đầu học nội trú khi bước vào cấp THPT (từ lớp 10), với các em HS này từ nhỏ sống với gia đình, ngoài việc học tập các em còn phải giúp bố mẹ các công việc gia đình, có những em còn phải lên lương, lên rẫy phụ giúp bố mẹ và chính những công việc đó đã tạo lên sức khỏe bền
bỉ deo dai cho các em đồng thời đưa các em đến gần với thiên nhiên, với cuộc sống thực tiễn hơn Do đó, những HS này khi nhìn nhận một vấn đề thường rất chân thực
và đơn giản, sự liên hệ giữa kiến thức trong bài học và thực tiễn rất tốt, song các em rất nhút nhát, khả năng giao tiếp kém, không mạnh dạn trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập Cuộc sống nội trú đối với các em cũng hoàn toàn mới mẻ, bước đầu ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các em (như nỗi nhớ nhà, chưa quen
với cuộc sống tự lập, cuộc sống tập thể…)
+ Đối tượng 3: là các em HS dân tộc hoặc dân tộc kinh nhưng sống tại thành phố, số HS này chiếm không nhiều, trung bình mỗi lớp có khoảng 5/45 HS Những
HS này không ở nội trú mà sống và sinh hoạt tại gia đình, sống tại thành phố các em
có điều kiện được tiếp xúc với xã hội hiện đại nhiều hơn, khả năng giao tiếp của các
em khá tốt và mạnh dạn trong các hoạt động phong trào Song cũng vì điều kiện kinh
tế xã hội hiện đại làm cho cuộc sống của các em xa rời thực tế, xa rời các hiện tượng
tự nhiên
Từ các phân tích trên cho thấy HS dân tộc có kỹ năng sống đặc thù vùng miền,
có kỹ năng trong các hoạt động tập thể, có những kinh nghiệm truyền thống, trong các hoạt động rất linh hoạt song năng lực giao tiếp còn kém, năng lực tính toán chậm,
kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin kém, tuy nhiên trong một lớp học với ba đối
tượng HS trên lại có thể giúp đỡ lẫn nhau, hỗ trợ nhau, bù đắp các thiếu sót của nhau
Để đạt được mục tiêu giáo dục trong thời đại công nghệ mới, cần phải áp dụng các phương pháp học tập phù hợp với đối tượng HS, qua phân tích tôi thấy việc tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM cho học sinh DTNT là rất cần thiết, khi thực hiện được sẽ phát triển được các năng lực còn thiếu hụt ở mỗi đối tượng HS
và phát huy được các năng lực vốn có
Trang 361.6 TÌM HIỂU THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “CÔNG, NĂNG LƯỢNG, CÔNG SUẤT” Ở TRƯỜNG THPT DTNT
1.6.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu được thực trạng của việc tổ chức dạy học chủ đề “ Công, năng lượng, công suất” lớp 10 cơ bản, phát hiện những nguyên nhân, khó khăn của giáo viên trong quá trình dạy học, khó khăn của học sinh trong quá trình học tập chủ đề “Công, năng lượng, công suất” Từ đó, tìm ra giải pháp và có cơ sở tổ chức hoạt động học tập phù hợp với học sinh, nâng cao hiệu quả dạy và học Vật lí nói chung và phần kiến thức
chủ đề “Công, năng lượng, công suất” Vật kí 10 cơ bản nói riêng
- Tìm hiểu cơ sở vật chất trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy học vật lí nói chung
và học chủ đề “Công, năng lượng, công suất” nói riêng
- Tìm hiểu những khó khăn và sai lầm học sinh hay mắc phải khi học các bài học trong chủ đề, từ đó tìm ra nguyên nhân của những khó khăn này, làm cơ sở để
soạn thảo hai bài học trong chủ đề theo mục đích nghiên cứu
1.6.2 Phương pháp, nội dung điều tra
Tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Thăm dò giáo viên (trao đổi trực tiếp, dự giờ)
- Điều tra học sinh ( dùng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, dự giờ)
- Trao đổi với tổ trưởng bộ môn, cán bộ cốt cán tìm hiểu về những chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường
1.6.3 Kết quả điều tra 1.6.3.1 Về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học phục vụ cho việc dạy và học vật lí
Trường tôi điều tra là trường PT Vùng Cao Việt Bắc đây là trường chuyên biệt
vì vậy cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ
- Trường có phòng thí nghiệm được trang bị khá đầy đủ dụng cụ thí nghiệm, đủ
số phòng học để học một ca, các phòng học đều có đầy đủ ổ điện, bàn học cũng như
các thiết bị khác phục vụ cho giảng dạy
- Trường đã có trang thiết bị hiện đại để phục vụ giảng dạy nhưng vẫn chưa có phòng học bộ môn Với các giờ học lí thuyết cần sử dụng thí nghiệm, giáo viên phải mất nhiều thời gian để di chuyển đồ dùng thí nghiệm lên phòng học, lắp thí nghiệm
và thiết bị dạy học, hết giờ học giáo viên lại phải di chuyển sáng lớp học khác Thiết
Trang 37bị hỗ trợ như máy chiếu cũng chưa được trang bị sẵn tại lớp học Điều này gây nhiều
khó khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy
- Về sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập của bộ môn Vật lí được cung
cấp đầy đủ, thuận tiện cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh
- Về thư viện thì trường đã có thư viện bố trí phục học sinh và giáo viên cả ba buổi sáng, chiều và tối vào tất cả các ngày trong tuần Sách tham khảo tương đối nhiều và phù hợp với xu hướng đổi mới chương trình và phương pháp dạy học Vật lí
hiện nay Đây là một thuận lợi lớn đối với cả giáo viên và học sinh
Đội ngũ giáo viên đảm bảo về chất lượng số lượng, nhiệt tình và tâm huyết với nghề (Tổ vật lí trường PT Vùng cao Việt Bắc có 10/12 giáo viên đạt trình độ
Thạc sĩ)
Khuôn viên nhà trường rộng, thoáng, đẹp tạo điều kiện thuận lợi cho các em
học tập, sinh hoạt và vui chơi
Nhận xét: Qua điều tra tôi thấy, trường đều đã trang bị tương đối đầy về cơ sở vật chất để phục vụ cho quá trính dạy và học Bản thân giáo viên đã quan tâm đến việc dạy học của mình song chưa đồng đều, một số giáo viên cần cố gắng để đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện này
1.6.3.2 Đặc điểm dạy học vật lí ở trường THPT dân tộc nội trú
Đối với giáo viên:
- Về trình độ: 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn
Tất cả các giáo viên đều có đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên, phân phối chương trình Đầu năm học 2019 – 2020 các giáo viên đều có tài liệu về chương trình giáo dục phổ thông mới Một số giáo viên đã sưu tầm được nhiều đầu
sách tham khảo hay phụ vụ cho công tác giảng dạy
- Về kế hoạch dạy học: Nhìn chung tất cả các giáo viên đều soạn bài trước khi lên lớp, thực hiện đầy đủ các bước lên lớp theo quy định Một số kế hoạch dạy học
đã có sự thay đổi chỉnh sửa bổ sung tiếp cận với các phương pháp dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm, là chủ thể nhận thức Song bên cạnh đó, vẫn có một số thầy
cô soạn bài theo phương pháp diễn giảng, ít xây dựng tình huống có vấn đề, chưa
phát huy được năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
- Về phương pháp giảng dạy: ít xây dựng tình huống học tập, giáo viên có đặt câu hỏi nhưng chỉ là những câu hỏi ở mức tái hiện kiến thức đã học Phương pháp
Trang 38dạy học chủ yếu vẫn nặng về giảng giải, thông báo về kiến thức theo trình tự sách giáo khóa, nhấn mạnh cho học sinh ghi nhớ những nội dung quan trọng trong bài học, còn vai trò tổ chức, định hướng của giáo viên chưa thể hiện rõ Việc tổ chức dạy học vật lí theo định hướng giáo dục STEM là chưa có, mới bước đầu có một số bài giảng
tích hợp, liên môn ở một số môn học: Sinh học, Hóa học, Vật lí, Địa lí
Đối với học sinh
- Học sinh nội trú phần lớn là các học sinh dân tộc miền núi, nên các em còn dụt
dè, nhút nhát, chưa chủ động trong hoạt động nhận thức Học sinh chủ yếu ngồi nghe giáo viên giảng giải, đọc cho ghi chép, chưa tích cực xây dựng kiến thức mới Rất ít khi thấy các em phát biểu xây dựng bài hay đặt câu hỏi thắc mắc Đặc biệt là học sinh
dân tộc thiểu số phần lớn các em không phát biểu và đưa ra một ý kiến gì
- Đến từ các vùng miền khác nhau, văn hóa giáo dục cũng mang tính vùng miền, khi đến với trường THPT các em lại bắt đầu được tiếp cận những phương pháp mới,
vì vậy phải mất một khoảng thời gian để các em làm quen
- Về kiến thức: học sinh chủ yếu là chấp nhận từ lời giảng của giáo viên, không
chịu khó tìm tòi, học hỏi, khi học chủ yếu học ở vở ghi và có kiểm tra thì mới học
1.6.3.3 Những khó khăn của giáo viên và học sinh
- Phần kiến thức cơ bản về các chủ đề này tương đối dài và khó, lượng kiến thức dành cho mỗi tiết học nhiều, một số kiến thức bắt học sinh công nhận Đặc biệt phần kiến thức về thế năng, mối quan hệ giữa độ biến thiên động năng, thế năng, cơ năng với công của lực Thí nghiệm dùng cho chủ đề này hiện tại trên phòng thí nghiệm là không có, hầu hết phương pháp dạy học dựa trên suy luận lý thuyết và công nhận kiến thức Việc vận dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học còn nhiều hạn chế, vì thế có
thể nói đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học
- Đồng thời một số học sinh do hoàn cảnh gia đình, điều kiện còn khó khăn nên việc học tập của các em chưa được quan tâm Vì vậy một số học sinh bị rỗng kiến thức từ các lớp dưới, không có động lực, không có phương pháp học đúng đắn, kĩ năng quan sát, kĩ năng diễn đạt yếu, khả năng tiếp nhận thông tin còn chậm Ngoài ra
học sinh dân tộc thiểu số ngoan nhưng rụt rè, nhút nhát, ngại tiếp xúc với giáo viên
1.6.3.4 Hướng khắc phục khó khăn trong việc dạy và học vật lí và kiến nghị
* Về phía giáo viên
Trang 39- Trước khi dạy phần kiến thức “Công, năng lượng, công suất” giáo viên cần kiểm tra xem học sinh có được những kiến thức cơ bản nào về nội dung công, công suất, động năng, cơ năng đã học ở trung học cơ sở Từ đó, giáo viên xây dựng giáo
án phù hợp với đối tượng học sinh
- Khi dạy phần kiến thức về chủ đề “Công, năng lượng, công suất” nên cố gắng vận dụng những tình huống thực tế, kết hợp với các phần mềm hỗ trợ dạy học trong quá trình xây dựng, hình thành kiến thức mới Đồng thời, động viên, khích lệ, tôn trọng, kịp thời, để giúp học sinh xóa tan mặc cảm, tự ti, nhút nhát, mạnh dạn bày tỏ
ý kiến riêng về một đơn vị kiến thức nào đó đang tìm hiểu giải quyết
- Với mỗi kiến thức cụ thể, bài cụ thể phải thiết kế tiến trình dạy học, lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp với nội dung, đặc điểm học sinh, cơ sở
vật chất
- Xây dựng hệ thống các câu hỏi định hướng để học sinh giải quyết vấn đề, mức
độ câu câu hỏi phù hợp với khả năng nhận thức, không quá dễ và cũng không quá khó Lúc đó mới kích thích được tính tò mò và nhu cầu nhận thức, phát triển được tư
duy, năng lực của học sinh
- Phải dành thời gian cho việc soạn thoạn giáo án với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, xây dựng những tình huống học tập cho học sinh đồng thời phải tổ chức cho học sinh hoạt động kích thích hứng thú học tập, lôi cuốn học sinh vào quá trình học tập một cách tích cực tự giác Trong mỗi bài học phải có sự liên hệ giữa các kiến thức
đã học và kiến thức mới với các tình huống thực tiễn (nếu có) để học sinh nắm được kiến thức một cách liên tục, toàn diện, không bị đứt quãng Giáo viên cần tiếp cận đổi mới phương pháp, tham gia (hoặc tham khảo) các nội dung tập huẩn về dạy học tích hợp theo định hướng giáo dục STEM để từ đó giáo viên bước đầu biết cách tiếp cận định hướng dạy học mới Sau đó trên cơ sở các kiến thức, kĩ năng cần đạt xây dựng các hoạt động học tập theo từng bước, từng phần từ đó nhằm phát triển năng lực giải
quyết vấn đề cho học sinh
- Cần quan tâm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng quan sát các hiện tượng
thực tế, rèn luyện tư duy, logic, sử dụng ngôn ngữ vật lí
* Về phía nhà trường
- Cần quan tâm đặc biệt đến việc đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức cho giáo viên các buổi tập huấn tiếp cận với chương trình giáo dục STEM trong dạy học
Trang 40ở trường phổ thông, đặc biệt đối với các bộ môn khoa học tự nhiên nói chung và môn
vật lí nói riêng
- Trang bị cho đội ngũ giáo viên thường xuyên cập nhật những tài liệu mới phục
vụ cho chuyên môn Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo chủ
đề, tổ chức dạy thử nghiệm theo phương pháp mới (dạy học theo định hướng giáo
dục STEM)