chính sách về nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và việc cho con bú ngay trong giờ đầu tiên sau sinh cũng đã được thông qua và tuyên truyền vận động, tuy nhiên những nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
VŨ HƯƠNG DỊU
THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 24 THÁNG TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI 20 XÃ THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện một cách nghiêm túc, trung thực, đúng quy trình và đảm bảo tính khoa học
Các số liệu và kết quả trong luận án không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu của tác giả nào khác trong, ngoài nước và chưa được công
bố, hoặc sử dụng ở bất kỳ đâu
Tác giả luận văn
Vũ Hương Dịu
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Y học
dự phòng, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình từ các thầy cô trường Đại học Y dược Thái Nguyên, địa phương triển khai nghiên cứu, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hạc Văn Vinh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học và các thầy cô giáo các bộ môn Y tế công cộng của trường Đại học Y dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành mục tiêu học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hồng Phương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thực địa, thu thập và xử lý số liệu nghiên cứu của đề tài này
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
VŨ HƯƠNG DỊU
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMHT : Bú mẹ hoàn toàn CSSK : Chăm sóc sức khỏe NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ SDD : Suy dinh dưỡng TCYTTG : Tổ chức Y tế thế giới
TĐHV : Trình độ học vấn TTDD : Tình trạng dinh dưỡng WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization) UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về sữa mẹ 3
1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ 3
1.1.2 Thành phần cơ bản của sữa mẹ 4
1.2 Tầm quan trọng của sữa mẹ 5
1.2.1 Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não hoàn hảo 5
1.2.2 Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng 5
1.2.3 NCBSM là điều kiện để gắn bó tình cảm mẹ con 5
1.2.4 Bảo vệ sức khỏe bà mẹ 5
1.2.5 Cho bú sữa mẹ thuận lợi và kinh tế 6
1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 6
1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tháng tuổi 6
1.3.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 6
1.3.3 Lợi ích của bú sớm sau sinh 7
1.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trang nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 8
1.5 Những yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 11
1.5.1 Yếu tố về dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn của bà mẹ 11
1.5.2 Tình trạng kinh tế, văn hóa, xã hội 13
1.5.3 Độ tuổi của bà mẹ 13
1.5.4 Phương pháp đẻ và các chính sách về thai sản 13
1.6 Tình hình ăn bổ sung trên thế giới và ở Việt Nam 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Thời gian nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 17
Trang 62.3.2 Cỡ mẫu, địa điểm nghiên cứu và cách chọn mẫu 17
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu 19
2.3.4 Tiêu chuẩn đánh giá 20
2.3.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 21
2.4 Xử lý và phân tích số liệu 21
2.5 Sai số và cách khắc phục 22
2.6 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ 23
3.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc tỉnh Thái Nguyên 23
3.2 Một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi 27
3.2.1 Các yếu tố liên quan tới việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 27
3.2.2 Các yếu tố liên quan tới việc trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay sau khi sinh 33
Chương 4 BÀN LUẬN 38
4.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ 38
4.1.1 Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 38
4.1.2 Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh 39
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 42
4.2.1 Trình độ học vấn của bà mẹ. 42
4.2.2 Nghề nghiệp của bà mẹ 43
4.2.3 Chế độ thai sản và thời gian quay trở lại làm việc của bà mẹ 44
4.2.4 Các yếu tố liên quan khác 45
KẾT LUẬN 47
KHUYẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
DANH SÁCH BỆNH NHÂN
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các thực hành nuôi con bằng sữa mẹ theo huyện nghiên cứu 23
Bảng 3.2 Tình hình cho trẻ ăn/ uống thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay sau sinh 24
Bảng 3.3 Đặc điểm chung của bà mẹ 24
Bảng 3.4 Thông tin cuộc đẻ 25
Bảng 3.5 Các đặc điểm chung của trẻ 26
Bảng 3.6 Tuổi của mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 27
Bảng 3.7 Dân tộc mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 28
Bảng 3.8 Nghề nghiệp của mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 28
Bảng 3.9 Trình độ học vấn của mẹ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 29
Bảng 3.10 Số con của bà mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 30
Bảng 3.11 Bà mẹ quay lại làm việc trước 6 tháng và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 30
Bảng 3.12 Nơi sinh trẻ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 31
Bảng 3.13 Tình trạng đẻ của mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 32
Bảng 3.14 Tình trạng đẻ non và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 32
Bảng 3.15 Cân nặng trẻ khi đẻ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 33
Trang 8Bảng 3.16 Tuổi của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau
sinh 33
Bảng 3.17 Dân tộc mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh 34
Bảng 3.18 Nghề nghiệp của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh 34
Bảng 3.19 Trình độ học vấn của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1
giờ đầu sau sinh 35
Bảng 3.20 Số con của bà mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu
sau sinh 35
Bảng 3.21 Nơi sinh trẻ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau
sinh 36
Bảng 3.22 Tình trạng đẻ của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 36
Bảng 3.23 Tình trạng đẻ non và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu
sau sinh 37
Bảng 3.24 Cân nặng trẻ khi đẻ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các thực hành nuôi con bằng sữa mẹ… 23
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh đang là một vấn đề đang nhận được quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo, đang phát triển Trong những năm qua, tỉ lệ tử vong trẻ em nói chung đã giảm mạnh nhưng tỉ lệ tử vong sơ sinh vẫn không giảm đáng kể Ước tính hàng
năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong [20]
Bú mẹ là cách tốt nhất và an toàn nhất để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Sữa mẹ là thực phẩm tốt nhất cho trẻ nhỏ đặc biệt trong 6 tháng đầu, bảo
vệ hệ miễn dịch cho trẻ, cung cấp cho trẻ nhỏ một sự khởi đầu tốt nhất trong cuộc sống [17], [74] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã khuyến cáo nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu Dù nhiều người ý thức được tầm quan trọng của sữa mẹ nhưng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu hiện nay khá thấp ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Một số kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ trên toàn thế giới không quá 35% Tại Việt Nam, tỷ lệ này được ước tính là 19.6% theo báo cáo năm 2011 của Viện Dinh dưỡng [3], [37], [38] Một trong những rào cản quan trọng chính là ảnh hưởng của những chuẩn mực xã hội như: cho trẻ ăn dặm sớm, uống thêm các loại dung dịch khác ngoài sữa mẹ như sữa bột, nước, nước trái cây [1]
NCBSM hoàn toàn không đơn giản là hành vi sức khỏe mà còn chịu nhiều tác động của văn hóa, xã hội
UNICEF ước tính hàng năm cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có thể phòng tránh được tử vong cho 1,3 triệu trẻ em dưới năm tuổi Các hoạt động thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ đã được bắt đầu ở Việt Nam từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và đã đạt được một số kết quả tích cực, cho đến nay vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để việc nuôi con bằng sữa mẹ trở thành một thực hành như mong muốn ở Việt Nam [26] Các
Trang 10chính sách về nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và việc cho con bú ngay trong giờ đầu tiên sau sinh cũng đã được thông qua và tuyên truyền vận động, tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có 19,6%
trẻ sơ sinh được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và chỉ có một phần tư các em được bú mẹ ngay trong giờ đầu sau sinh [3] Nuôi con bằng bình (bằng các sản phẩm thay thế sữa mẹ) vẫn là một thực hành rất phổ biến
và có xu hướng ngày càng tăng Cho trẻ ăn, uống quá sớm ngay trong 6 tháng đầu vẫn là một thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinh và trẻ
Nguyên, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại 20 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên”
Với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà
mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại 20 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2016
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ trong
6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về sữa mẹ
1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ
- NCBSM: là đứa trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra
- Sữa non: Vài ngày đầu tiên sau đẻ, vú mẹ tiết ra sữa non Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau Trong sữa non có rất nhiều chất đạm, Vitamin A và nhiều kháng thể hơn giúp cho trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn
và siêu vi khuẩn Sữa non chỉ tiết ra một lượng nhỏ [40]
- Bú sớm : là trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh
- Bú mẹ hoàn toàn (BMHT): là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc [40]
- Bú mẹ là chủ yếu: là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ Tuy nhiên, trẻ có thể nhận được thêm nước uống đơn thuần hoặc một số thức ăn, đồ uống dạng lỏng như nước hoa quả, ORS, nước đường hoặc các loại thức ăn lỏng cổ truyền với số lượng ít
- Ăn bổ sung: đứa trẻ vừa được bú sữa mẹ vừa được ăn thức ăn ở dạng đặc hoặc nửa đặc [40]
- Cai sữa: là ngừng không cho trẻ bú sữa mẹ, đây chính là sự chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng từ sữa mẹ (ở giai đoạn đầu) tới vai trò của các thực phẩm trong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ
bú mẹ
- Cân nặng sơ sinh thấp: Trẻ sơ sinh nhẹ cân khi có cân nặng tại lúc sinh dưới 2500 gram [40]
Trang 121.1.2 Thành phần cơ bản của sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất thích hợp nhất với trẻ vì có đủ năng lượng, đủ chất dinh dưỡng cần thiết (đạm, đường, mỡ, Vitamin, muối khoáng) với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của trẻ, tránh suy dinh dưỡng hoặc tăng cân quá mức [5]
- Protein: hàm lượng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhưng có đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ Protein của sữa mẹ gồm casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác Đặc biệt, casein là một chất đạm quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng.[2], [5]
- Lipid: sữa mẹ có các acid béo cần thiết như acid linoleic, là một acid cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ, mắt và sự bền vững của mạch máu của trẻ Lipid của sữa mẹ dễ tiêu hóa hơn vì có men lipase [2]
- Lactose: trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa công thức, cung cấp thêm nguồn năng lượng Một số lactose trong sữa mẹ vào ruột chuyển thành acid lactic giúp cho sự hấp thu calci và muối khoáng
- Vitamin: sữa mẹ có nhiều Vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ đề phòng được bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A Các Vitamin khác trong sữa mẹ cũng đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ được ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ [2], [16]
- Muối khoáng: nguồn calci và sắt trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhưng tỷ lệ hấp thu cao, do đó thỏa mãn nhu cầu hấp thu của trẻ nên trẻ được bú mẹ ít bị còi xương và thiếu máu do thiếu sắt [16]
Bú sữa mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng, giúp trẻ thông minh, không bị thiếu Vitamin, thiếu máu do thiếu sắt, không bị thiếu calci, phosphor [2]
Trang 131.2 Tầm quan trọng của sữa mẹ
1.2.1 Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não hoàn hảo
Sữa mẹ không chỉ giúp trẻ phát triển tốt về thể chất (chiều cao, cân nặng…) mà cả về trí não Trẻ bú mẹ sẽ được cung cấp Taurine là thành phần quan trọng trong các mô tế bào nói chung và tế bào não nói riêng Đồng thời, các acid béo thiết yếu như omega 3 và omega 6 là tiền tố DHA và AA sẽ tham gia vào quá trình hình thành màng tế bào não và võng mạc giúp trẻ thông minh và có thị lực tốt Ngoài ra, trẻ còn có thể hấp thu tốt sắt và vitamin C [40] Sữa mẹ rất có ích với trẻ nhẹ cân, thiếu tháng và có thể làm giảm nguy
cơ nhiễm trùng khởi phát muộn [46]
1.2.2 Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng
Trẻ bú sữa mẹ ít bị dị ứng eczema hơn một số trẻ ăn sữa công thức vì IgA tiết cùng với các đại thực bào có tác dụng chống dị ứng Ở nhiều nước Châu Âu người ta phát hiện một số trường hợp trẻ em bị dị ứng sữa công thức
có thể đe dọa đến tính mạng trẻ nhưng chưa hề gặp ở trẻ bú sữa mẹ vì sữa mẹ
có một số chất chống dị ứng [2]
1.2.3 NCBSM là điều kiện để gắn bó tình cảm mẹ con
Sữa mẹ giúp mẹ con gần gũi nhau hơn, là yếu tố tâm lý quan trọng cho
sự phát triển hài hòa của trẻ Mặt khác, chỉ có người mẹ, qua sự quan sát tinh
tế của mình sẽ phát hiện sớm nhất, đúng nhất những thay đổi bình thường hoặc bệnh lý của con [40]
1.2.4 Bảo vệ sức khỏe bà mẹ
Cho con bú sớm sau đẻ sẽ giúp tử cung mẹ co hồi sớm, cầm máu cho
bà mẹ đề phòng thiếu máu sau đẻ và nhanh hết sản dịch Cho con bú đúng, bú
đủ làm kinh nguyệt chậm trở lại và vì thế giảm bớt khả năng thụ thai
Cho con bú mẹ sẽ giảm được nguy cơ bị ung thư vú, ung thư tử cung [2], [40] Nhờ cho con bú vóc dáng người mẹ sẽ nhanh hồi phục
Trang 141.2.5 Cho bú sữa mẹ thuận lợi và kinh tế
- Thuận lợi vì không cần dụng cụ, không cần đun nấu, pha chế, không mất thời gian chuẩn bị, không phụ thuộc giờ giấc, bất kỳ lúc nào cũng có thể cho trẻ
ăn ngay
- Kinh tế vì không phải mua
- Khi người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái sẽ đủ sữa cho con bú [2], [5]
1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tháng tuổi
Nhu cầu năng lượng của trẻ đủ tháng, cân nặng lúc sinh bình thường nhìn chung được đáp ứng hoàn toàn bởi sữa mẹ trong 6 tháng đầu nếu bà
mẹ có được tình trạng dinh dưỡng tốt
Việc sản xuất sữa của người mẹ được điều chỉnh phù hợp theo nhu cầu của trẻ, bà mẹ sinh đôi sinh ba vẫn đủ sữa, khi nhu cầu của trẻ tăng thì việc sản xuất sữa cũng tăng theo trong vòng vài ngày, thậm chí trong vòng vài giờ Mức tiêu thụ sữa mẹ của trẻ bú mẹ hoàn toàn tăng vào khoảng giữa tháng 3 đến tháng thứ 6, nếu trẻ ăn bổ sung sớm thì lượng này lại giảm đi
Việc tiết sữa là linh hoạt vì vậy bà mẹ tăng sản xuất sữa thông qua việc vắt sữa thường xuyên, và có khả năng cho bú lại sau khi đã dừng [40]
1.3.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em trên toàn thế giới đã được quan tâm và cải thiện đáng kể Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm hàng đầu đó chính là chương trình nuôi con bằng sữa mẹ
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc đã coi việc NCBSM là một trong bốn biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em, nó đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu đời [2], [4] Tổ chức Y tế Thế giới cũng khẳng định: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sự tang trưởng và phát triển, kết quả học tập và thậm chí cả khả năng
Trang 15thu nhập của trẻ trong tương lai Đồng thời WHO cũng chỉ ra rằng việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tử vong cho trẻ em, ước tính có thể giảm hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế giới mỗi năm [79] Vì vậy, WHO khuyến cáo rằng các bà mẹ hãy cho con bú nhiều lần, bất kể khi nào trẻ đói, kể cả ban đêm, trẻ càng bú nhiều mẹ càng tiết nhiều sữa Đặc biệt trong 6 tháng đầu trẻ chỉ cần bú sữa mẹ hoàn toàn mà không cần ăn thêm bất cứ loại thức ăn nào khác kể cả nước [2], [79]
1.3.3 Lợi ích của bú sớm sau sinh
Khuyến nghị của TCYTTG về nuôi dưỡng trẻ nhỏ:
- Bắt đầu cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ + Thời gian bắt đầu cho trẻ bú
Mẹ nên bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ đầu sau đẻ, bú càng sớm càng tốt và không cần cho trẻ mới đẻ ăn bất kỳ thức ăn gì trước khi bú
mẹ lần đầu Một đứa trẻ đói thường bú nhiều hơn là những đữa trẻ đã no, nếu cho trẻ ăn những thức ăn khác trước khi bú, nó có thể làm cản trở sự tiết sữa
và không đủ sữa nuôi con Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt vừa ra đời của trẻ Đồng thời, qua động tác bú của trẻ sẽ kích thích sữa mẹ tiết sớm hơn và nhiều hơn qua cung phản xạ Prolactin, giúp co hồi tử cung tốt ngay sau đẻ, hạn chế mất máu [5]
+ Số lần cho bú Trẻ càng bú nhiều thì sữa mẹ càng được bài tiết nhiều, số lần cho bú tùy theo nhu cầu của trẻ, hãy cho trẻ bú bất kỳ lúc nào trẻ muốn, ban đêm vẫn
có thể cho trẻ bú nếu trẻ khóc đòi ăn [2]
+ Thời gian cai sữa Trẻ được bú mẹ càng lâu càng tốt Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Không nên cai sữa trước 12 tháng, mà nên cho trẻ bú kéo dài từ 18
Trang 16đến 23 tháng Khi trẻ bị bệnh, nhất là khi trẻ bị tiêu chảy cần cho trẻ bú nhiều hơn bình thường, không nên cai sữa vì trẻ dễ bị SDD [79], [17]
1.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trang nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Từ lâu NCBSM đã được sự quan tâm ở nhiều nước trên thế giới
Năm 1979 trong một nghiên cứu của Annie Cherian về thái độ thực hành cho trẻ ăn ở Zaria, Nigeria cho thấy hầu như tất cả các đứa trẻ đều được bú ngay sau sinh, 31% các bà mẹ tin tưởng vào sữa của mình, tuy nhiên có một tỷ lệ nhỏ các bà mẹ cho con bú muộn hơn vì họ cho rằng sữa non là không tốt cho sức khỏe sơ sinh [42]
Theo báo cáo của WHO (1993): tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 13% ở Srilanca, bú mẹ hoàn toàn ở thành thị thấp hơn ở nông thôn (7% và 14%) Ở Châu Âu đã có xu hướng tăng cường NCBSM Tỷ lệ các bà mẹ NCBSM ở các nước Bungari, Đức, Hungari và Thụy Sỹ dao động quanh 90% NCBSM ở các nước Tây Âu thấp hơn, ví dụ: 67% ở Anh, 50% ở Pháp, 35% ở Ireland [52]
Gần đây vấn đề NCBSM vẫn được nhiều nước quan tâm nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu năm 2006 ở Australia cho thấy tỉ lệ bắt đầu NCBSM là 93%, nhưng khi được 6 tháng tuổi thì chưa được một nửa số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ (45,9%) và chỉ có 12% được bú mẹ là chủ yếu [31],[60] Ở một bệnh viện của Mỹ, các nghiên cứu được tiến hành trong ba năm liên tiếp từ1999 đến 2001 cho thấy tỷ lệ cho con bú sữa mẹ sớm vẫn duy trì được ở mức cao: 87% (1999), 82% (2000), 87% (2001) Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có sự khác nhau: 34% (1999), 26% (2000), 25% (2001) [43]
Trong một nghiên cứu dọc tại Anh cũng chỉ rõ NCBSM giảm dần trong
3 tháng đầu, sang tháng thứ 4 và 5 thì giảm đột ngột: 1 tháng (54,8%), 2 tháng (43,7%), 3 tháng (31%), 4 tháng (9,6%), 5 tháng (1,6%) [67]
Trang 17Ở Trung Quốc, tỷ lệ NCBSM giảm xuống trong những năm 70, xuống đến mức thấp nhất trong những năm 80 và sau đó bắt đầu tăng trở lại trong những năm 90 Các chỉ số về NCBSM ở khu vực thành thị luôn thấp hơn so với khu vực nông thôn [53] Một nghiên cứu gần đây tại tỉnh Thượng Hải – Trung Quốc cũng cho thấy tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có sự khác nhau giữa các vùng thành phố, ngoại ô và nông thôn Đặc biệt tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn ở vùng ngoại ô và nông thôn cao gần gấp 2 lần so với ở thành phố (63,4% và 61% so với 38%) Tỷ lệ NCBSM ở cả 3 vùng trên tương ứng là 96,5%, 96,8% và 97,4% [63] Một nghiên cứu khác đã so sánh NCBSM giữa những năm 1994-1996 và 2003-2004 ở một vùng thuộc Tây Bắc của Trung Quốc cho thấy trong tháng đầu tỷlệNCBSM năm 2003-2004 giảm hơn so với năm 1994-1995 Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn ban đầu cao, nhưng sau 3 tháng thì
tỉ lệ này giảm hơn rõ rệt Mục tiêu quốc gia của Trung Quốc về NCBSM đều không đạt được trong cả hai giai đoạn nghiên cứu [53]
Một trong những chỉ số đánh giá chất lượng nuôi dưỡng trẻ nhỏ bằng sữa mẹ là thực hành cho trẻ bú sữa mẹ sớm ngay trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh Theo báo cáo của WHO (2016): tỷ lệ trẻ được bú mẹ ngay trong 1 giờ đầu là 17,7% ở Peru, 60,9 % ở Nhật Tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ bú mẹ sớm trong 1 giờ đầu ở các nước Nepal, SriLanka và Cuba dao động quanh 90%
[81] Kết quả nghiên cứu năm 2006 ở Australia cho thấy tỉ lệ bắt đầu NCBSM
là 97,7%, nhưng khi được 6 tháng tuổi thì chưa được một nửa số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ (35,6%) và có 57% được bú mẹ là chủ yếu [54]
Ở Việt Nam từ đầu năm 1980, nghiên cứu về tập quán và thực hành nuôi con của các bà mẹ đã được triển khai bởi nhiều tác giả và ở nhiều vùng trên cả nước Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự năm 1983 đã nghiên cứu trên 500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội, kết quả cho thấy hầu hết trẻ được bú mẹsau 2-3 ngày Tỷ lệ trẻ được bú mẹ lần đầu trong vòng 24 giờ chỉ đạt 15,8% ở nội thành và 35,5% ở nông thôn ở
Trang 18cả 2 nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ Từ 68 – 97% trẻ được ăn thêm trong vòng
4 tháng đầu Thời gian cai sữa trung bình là 12 tháng, trong đó 13,4% trẻ được cai sữa trước 12 tháng [9]
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang về thực hành nuôi con của bà mẹ nội thành và ngoại thành Hà Nội (1996) cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh là 30%, tỷ lệ trẻ bú muộn trong vòng 24 giờlà 20,1% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
là 20% [28] Thời gian cho con bú trung bình là 14 tháng Tỷ lệ trẻ 12 tháng tiếp tục được bú mẹ là 60% Những nghiên cứu tương tự như trên còn được triển khai ở nhiều vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số như: nghiên cứu của Phạm Văn Phú, Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự ở 2 huyện Núi Thành và Thăng Bình tỉnh Quảng Nam cho thấy chỉ có 2/816 trẻ được nuôi bằng sữa
mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu Tỷ lệ bà mẹ cho ăn, uống trước khi bú lần đầu cao (42,8%) [34]
Nguyễn Việt Dũng đã nghiên cứu trên 359 trẻ dưới 2 tuổi tại Hà Nội, kết quả cho thấy có 2/3 số bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh, từ 1 giờ đến 24 giờ là 28,7%, sau 24 giờ chiếm 4,5% [7]
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Mai Thị Tâm về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh là 87,2, tỷ lệ trẻ bú trong vòng 6 giờ là 72,6% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 32% [32] Thời gian cho con bú trung bình là
14 tháng Tỷ lệ trẻ 12 tháng tiếp tục được bú mẹ là 60% Nghiên cứu của Nguyễn Lân và Trịnh Bảo Ngọc đánh giá trên 322 trẻ tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên lại cho biết chỉ có 44,4% trẻ được bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, 15,2% bà mẹ cho con bú sau 24 giờ và hơn 50% con trẻ ăn/ uống những thức ăn khác trước khi cho trẻ bú lần đầu [14]
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy rằng việc NCBSM đã được quan tâm, tỷ lệ trẻ được bú sớm, bú mẹ hoàn toàn …có tăng lên dần theo thời gian
Trang 19nhưng vẫn còn thấp so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, đặc biệt là
các vùng sâu xa, khó khăn
1.5 Những yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc NCBSM thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan tới người mẹ, đứa trẻ và môi trường xung quanh có thuận lợi hay không Quá trình NCBSM liên quan chặt chẽ với tuổi của bà mẹ, trình độ học vấn của bà mẹ, sự khác biệt của hệ thống chăm sóc sau đẻ như tăng cường gần gũi trẻ trong 24 giờ và cho trẻ bú sớm Những yếu
tố ảnh hưởng tiêu cực đến NCBSM gồm: việc làm quen với các sản phẩm sữa bột, việc người mẹ quay trở lại làm việc sớm [32]
1.5.1 Yếu tố về dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn của bà mẹ
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực NCBSM trong 6 tháng đầu và chủng tộc được cho là có liên quan đến
bú sớm sau sinh và NCBSM, nghiên cứu trên những người phụ nữ di cư ở Tây Ban Nha cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ trong những giờ đầu tiên là khá cao
Những phụ nữ mới nhập cư thường có xu hướng cho trẻ bú ngay trong những giờ đầu và thời gian cho bú kéo dài hơn những phụ nữ nhập cư đã lâu, một
số bằng chứng cho thấy phụ nữ Mỹ da đen, phụ nữ gốc Tây Ban Nha cho con bú sớm sau sinh cao gấp 3,2 lần so với phụ nữ Mỹ da trắng [54] Nghiên cứu của McLachlan, H L trên 300 bà mẹ đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, Úc và Việt Nam sinh con tại Úc cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt về thực hành NCBSM của các bà mẹ giữa các quốc gia khác nhau, có tới 98% bà mẹ Thổ Nhĩ Kỳ cho con bú sớm sau sinh, của Úc là 84% và Việt Nam 75%, nghiên cứu cũng cho thấy có đến 40% các bà mẹ Việt Nam cho con sử dụng sữa công thức ở trong bệnh viện sau khi sinh, trong khi tỷ lệ này ở các bà mẹ người
Úc chỉ là 19% [60]
Trang 20Khu vực sống, trình độ học vấn của mẹ cũng là một trong những yếu
tố liên quan đến việc thực hành bú sớm sau sinh và NCBSM Nghiên cứu của
Lê Thị Hương và cộng sự tiến hành tại Hà Nội trên 2.690 trẻ em cho thấy những phụ nữ ở nông thôn có xu hướng cho con bú nhiều hơn ở vùng thành thị, đồng thời nghiên cứu cung chỉ ra 40% trẻ trai được bú sớm sau sinh tại thành thị so với 35% ở nông thôn, tỷ lệ trẻ gái ở thành thị và nông thôn được
bú sớm sau sinh lần lượt là 49% và 40% [12] Tuy nhiên việc NCBSMHT trong tháng đầu tiên và 3 tháng tiếp theo ở nông thôn phổ biến hơn thành thị đối với cả trẻ trai và gái [12] Phụ nữ đã hoàn thành ít nhất trung học cơ sở
có xu hướng cho con bú ít hơn so với những bà mẹ có trình độ văn hóa thấp hơn, cũng theo nghiên cứu của Lê Thị Hương ở khu vực thành thị số ngày cho con bú hoàn toàn của các bà mẹ có trình độ học vấn cao thấp hơn so với các bà mẹ có trình độ học vấn thấp, thời gian trung bình cho bú hoàn toàn của các bà mẹ học hết cấp 2 là 108 ngày, bà mẹ học hết cấp 3 là 88 ngày
và học đại học hoặc cao hơn là 82 ngày [12]
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đồng quan điểm cho rằng việc cho con bú sớm phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của mẹ và của trẻ mới sinh, tuổi của mẹ, thời gian chuyển dạ hay tư vấn của nhân viên y tế Bà mẹ ít tiết sữa hoặc có cảm giác đau và khó chịu cũng là nguyên nhân của việc không cho trẻ bú sớm [66]
Các yếu tố về nhân khẩu học, văn hóa cũng được xác định là có liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu của các
bà mẹ và đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu tại Việt Nam Theo kết quả điều tra của nghiên cứu dọc tại Quảng Xương, Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ các
bà mẹ cho con bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong tuần đầu tiên khá cao với 98,3% và 83,6%, tuy nhiên việc các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm vẫn còn rất phổ biến
Trang 211.5.2 Tình trạng kinh tế, văn hóa, xã hội
Một nghiên cứu được tiến hành để xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ NCBSM ở Mỹ cho thấy tỷ lệ NCBSM cao hơn ở các bà mẹ mù chữ và các bà
mẹ có mức kinh tế xã hội thấp Trẻ em ở các gia đình nghèo nhất được bắt đầu bú mẹ sau đẻ sớm hơn trẻ em ở các gia đình giàu nhất (89% và 7%), ngoài ra còn cho thấy tỷ lệ NCBSM đến 3 – 6 tháng ở các gia đình nghèo thấp hơn nhưng tỷ lệ trẻ được bú mẹ 12 tháng lại cao nhất ở trẻ em gia đình nghèo Các bà mẹ có địa vị, kinh tế xã hội cao hơn và với trình độ học vấn tốt hơn cho rằng trẻ cần được ăn sam sớm trước 4 tháng và cảm thấy việc NCBSM là cần thiết cho trẻ dưới 2 tuổi [48] Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận tình trạng kinh tế xã hội của gia đình ảnh hưởng đến thời gian NCBSM Các yếu tố liên quan đến việc cho trẻ bú sữa mẹ lại cho thấy những bà mẹ tiếp tục cho con bú hoàn toàn ngoài 3 tháng tuổi là nhóm có trình độ học vấn cao [66]
1.5.3 Độ tuổi của bà mẹ
Một nghiên cứu ở Australia cho thấy những trẻ sơ sinh có mẹ dưới 30 tuổi ít có xu hướng được nuôi bằng sữa mẹ ở các mức độ [54], một nghiên cứu khác ở Chile cũng chỉ ra rằng các bà mẹ không cho con bú hoàn toàn chủ yếu là các bà mẹ còn thanh thiếu niên [48]
1.5.4 Phương pháp đẻ và các chính sách về thai sản
Phương pháp đẻ (sinh thường, đẻ mổ), nơi đẻ và các yếu tố sức khỏe cũng có ảnh hưởng nhất định đến thực hành NCBSM của các bà mẹ
Nghiên cứu năm 2009 tại Bình Dương cũng cho kết quả rằng phương pháp
đẻ, niềm tin có đủ sữa mẹ, quyết định chọn loại sữa nuôi con trước khi sinh, tác động của mẹ chồng, có kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSM sau này [29] Số liệu nghiên cứu của A&T cho thấy rằng cắt tầng sinh môn và sinh mổ đều ảnh hưởng tới việc cho trẻ bú sớm sau sinh , có 67,6% sản phụ sinh thường cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau khi sinh, tỷ lệ này ở sản phụ
Trang 22bị cắt tầng sinh môn và sinh mổ tương ứng là 54% và 11,3% Các bà mẹ sinh
mổ có ít khả năng tránh cho trẻ ăn thức ăn lỏng như sữa hơn và có nhiều khả năng nhất cho trẻ ăn sữa bột cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu tiên [1] Cũng theo nghiên cứu của A&T, các bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít có khả năng cho con bú mẹ sớm ngay sau khi sinh Chỉ 45,3% những người sinh con ở bệnh viện bắt đầu cho con bú trong 1 giờ đầu tiên, so với tỷ lệ 72% ở các bà
mẹ sinh con tại trạm y tế xã và nhà hộ sinh [1] Bên cạnh đó , NCBSM còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xã hội như sự quan tâm, tham gia của người cha, bà nội, bà ngoại của trẻ, thói quen cho trẻ ăn bổ sung sớm ảnh hưởng đến hành vi NCBSMHT trong 6 tháng đầu Tổ chức dinh dưỡng Nhi khoa Châu Âu đã khuyến cáo rằng việc đưa các thực phẩm bổ sung cho trẻ không nên trước 17 tuần Trên thực tế việc cho ăn bổ sung thường được thực hiện sớm hơn khuyến cáo Chính việc tiêu thụ các thực phẩm chuyên biệt có thể dẫn tới sự thay đổi cơ chế tác động chuyển hóa gây nên việc thừa cân, béo phì sau này của trẻ [67], [76]
Sự ảnh hưởng của chính sách thai sản:
Một yếu tố liên quan khác có tác động khá nhiều đến thực hành NCBSM đó là điều kiện làm việc cũng như chế độ nghỉ thai sản của bà mẹ
Việc bà mẹ phải đi làm sớm được cho là một rào cản lớn đối với NCBSMHT, hầu hết các bà mẹ đều phải tham gia công việc bên ngoài nhà trước tháng thứ 4 Theo kết quả của một nghiên cứu định tính được tiến hành trên toàn quốc về đánh giá tác động của các chính sách đến việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách cho rằng NCBSMHT trong 6 tháng đầu là rất khó
Nghiên cứu của Skafida V tiến hành tại Scotland từ năm 2004 -
2005 cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp và thời gian nghỉ đẻ của bà
mẹ tới việc NCBSM trong 6 tháng đầu, những bà mẹ làm việc toàn thời gian có nguy cơ cho con dừng bú cao gấp 1,6 lần so với những bà mẹ không
Trang 23phải làm việc; người mẹ có thời gian nghỉ đẻ dài sẽ NCBSM trong thời gian dài hơn [70]
Một số nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản với sự gia tăng tỷ lệ NCBSM, kết quả nghiên cứu đã phân tích một cách chi tiết ảnh hưởng của 3 yếu tố: thời gian nghỉ thai sản, độ dài nghỉ thai sản có lương và thời điểm đi làm trở lại đến việc cho con bú sớm và thời gian cho con bú Các nghiên cứu cũng cho thấy số phụ nữ đi làm lại trong thời gian từ 3 đến 6 tháng sau sinh có khả năng ngừng cho con bú trước khi trẻ được 6 tháng cao gấp 3 lần so với những bà mẹ không phải đi làm sớm trở lại Chế độ nghỉ thai sản có tác động rất nhiều đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, nhiều bằng chứng từ các quốc gia khác cho thấy chính sách nghỉ thai sản dài, có hưởng lương sẽ thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa
mẹ Một nghiên cứu gần đây ở Đài Loan cho thấy người mẹ đi làm lại sớm, đặc biệt trước khi trẻ được 6 tháng, là rào cản đối với việc cho con bú sớm
và tiếp tục cho bú [53]
1.6 Tình hình ăn bổ sung trên thế giới và ở Việt Nam
Thời gian bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung thường rất sớm Trong số 23 nước
ở Châu Phi, ăn bổ sung thường bắt đầu trong vòng 2-4 tháng tuổi [64]
Ở Lagos (Nigeria) 87% phụ nữ ở thành thị bắt đầu cho con ăn bổ sung vào cuối tháng thứ nhất [30] Ở phần lớn các vùng nông thôn Thái Lan, trẻ thường được ăn bột quấy, cháo hoặc chuối rất sớm, sau khi sinh vài ngày
Nhưng các thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, dầu, mỡ cần cho sự phát triển của trẻ lại thường cho ăn muộn Khi trẻ bị ốm, chúng có thể chỉ được ăn cơm với muối bởi vì các bà mẹ đều tin rằng thịt, trứng và các thức ăn khác làm tăng nhiệt độ cơ thể [42]
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về thực hành ăn bổ sung cho trẻ, Nguyễn Lân cho thấy lý do chủ yếu khiến các bà mẹ phải cho con ăn bổ sung thêm là mẹ bận đi làm xa (54,9%), mẹ không đủ sữa cho con bú (16,9%), còn
Trang 24lại là các lí do khác (trẻ cứng cáp hơn, sợ không đủ chất cho trẻ [19] Tỷ lệ các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm rất cao: có tới 4,5% số trẻ ăn bổ sung trong tháng đầu, 13,5% ăn trong thời gian 1-2 tháng tuổi, trong 4 tháng đầu có tới 88,9% số trẻ đã ăn bổ sung Chỉ có 2/322 bà mẹ (0,7%) cho con ăn bổ sung trong thời gian từ 5-6 tháng tuổi [19] Theo nghiên cứu của Từ Ngữ và cộng
sự về thực hành cho ăn bổ sung ở trẻ tại Phú Thọ thì đến tháng thứ 4, đã có 73,3% trẻ được cho ăn bổ sung, và đến 6 tháng tuổi thì hầu hết trẻ đã ăn bổ sung (98,7%) Trên thực tế, đa số các bà mẹ đều cho rằng thời điểm cho ăn bổ sung như vậy theo họ là sớm (73,3%), chỉ có 24,3% cho là đúng thời gian và 2% cho là muộn Phân tích kỹ hơn thì những bà mẹ cho rằng trẻ đã ăn bổ sung sớm thì thời điểm trung bình là 3,25 tháng; đúng thời gian khi độ tuổi trung bình là 5,05 tháng và muộn là 6 tháng; tính chung thì trung bình, trẻ bắt đầu
ăn bổ sung khi được 3,75 tháng tuổi (±1,4) và các bà mẹ có nhận biết tương đối đúng về thời điểm ăn bổ sung, chỉ là họ không thực hiện được Sở dĩ các
bà mẹ quyết định thời điểm cho ăn bổ sung của trẻ như vậy là do một số lý do sau: mẹ phải đi làm (63,1%), trẻ khóc/đói/mẹ không đủ sữa (63,8%), đúng thời điểm (19,5%) và một số ít là theo lời khuyên của họ hàng/hàng xóm (2,6%) Trong số 95 bà mẹ phải đi làm sớm nên phải cho trẻ ăn bổ sung sớm thì có 29% phải cho trẻ ăn từ tháng thứ 2 và 78% phải cho trẻ ăn trước 4 tháng Thực tế ở nông thôn bà mẹ phải trở lại công việc đồng áng sớm sau khi sinh là một trở ngại chính khiến trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 (6) tháng đầu Việc cho bú bị gián đoạn do công việc của mẹ làm cho trẻ bị cắt nguồn cung thực phẩm, khiến trẻ đói và khóc, đồng thời việc sản xuất sữa của mẹ theo cơ chế sinh lý cũng bị giảm sút Tất cả những yếu tố đó khiến người mẹ phải quyết định cho trẻ ăn bổ sung dù biết đó chưa phải thời điểm đúng [25]
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi hiện đang sinh sống ở 20 xã thuộc 4 huyện nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu + Bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu, sống trên địa bàn liên tục từ 6 tháng trở lên
+Tham gia chính trong việc chăm sóc trẻ ở 6 tháng đầu tiên
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những bà mẹ không có khả năng hoặc hạn chế trong giao tiếp, bà mẹ tự nguyện không tham gia trong quá trình nghiên cứu
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt dọc Nghiên cứu tại 2 thời điểm lúc trẻ được 3 tháng tuổi, lúc trẻ được 6 tháng tuổi của những trẻ dưới 24 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu
2.3.2 Cỡ mẫu, địa điểm nghiên cứu và cách chọn mẫu
- Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức tính cỡ mẫu mô tả cho một tỷ lệ Theo công thức:
21 2 2
.
Trang 26Để khắc phục nhược điểm của việc chọn độ chính xác tuyệt đối d, ta sử dụng công thức với độ chính xác tương đối ε Trong nghiên cứu này, ε được lựa chọn =0,1
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu trên thì được
n = 816 Ước tính cỡ mẫu cho quần thể điều tra sàng lọc là: 816
- Địa điểm nghiên cứu và cách chọn mẫu Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở phía Đông bắc cách Hà Nội khoảng 80km Với dân cư khoảng hơn một triệu người (70% sống ở khu vực nông thôn), Thái nguyên là địa bàn sinh sống của 8 dân tộc; nhóm dân tộc Kinh chiếm khoảng 81%, các dân tộc thiểu số khác bao gồm Tày, Nùng, Sán Dìu, Hmong, Sán Cháy, Hoa và Dao chiếm khoảng 19% tổng số dân cư Dựa vào đặc điểm dân số, tỷ lệ sinh con, số phụ nữ phù hợp được lựa chọn từ 20 xã thuộc 4 huyện của địa bàn tỉnh Thái Nguyên Đây là những xã mang tính đặc trưng tiêu biểu về tình hình địa lý, dân cư, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đảm bảo tính ngẫu nhiên cho nghiên cứu
Dựa vào đặc điểm địa lý, dân số lựa chọn những phụ nữ thích hợp cho nghiên cứu sinh sống tại 20 xã thuộc 4 huyện của tỉnh Thái Nguyên
- Huyện Phú Lương ( Động Đạt, Phấn Mễ, Vô Tranh, Yên Lạc, Yên Đổ)
- Huyện Định Hóa (Lam Vỹ, Trung Lương, Bình Thành, Sơn Phú, Phú Đình)
- Huyện Võ Nhai (Dân Tiến, La Hiên, Bình Long, Lâu Thượng, Tràng Xá)
- Huyện Đại Từ (An Khánh, Hùng Sơn, Bản Ngoại, Hoàng Nông, Khôi Kỳ)
Trang 27Với cỡ mẫu là 816 cặp mẹ con, để có được số trẻ trên cần điều tra sang lọc từ một quần thể Ước tính cỡ mẫu cho quần thể sàng lọc là:
- Dân số trung bình của một xã là 7000 người
- Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (18-40 tuổi) khoảng 15%, như vậy 1
xã có khoảng 1050 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
- Ước tính khoảng 35% số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có con nhỏ dưới 24 tháng tuổi
Trong quá trình theo dõi được 1600 ca đẻ, sau khi loại bỏ những đối tượng không phù hợp với chỉ tiêu nghiên cứu thì số đối tượng còn lại là 1382 cặp mẹ con, vậy cỡ mẫu này hoàn toàn đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
* Biến số
- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, học vấn
số con,
- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ:
+ Bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ + Bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu + Ăn/ uống các thức ăn khác ngày sau khi sinh
+ Tỷ lệ trẻ trẻ ăn bổ sung sớm theo đặc điểm của bà mẹ: độ tuổi, học vấn, dân tộc
Trang 28- Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ:
+ Các yếu tố về nhân khẩu học của bà mẹ: tuổi, tuổi kết hôn, nghề nghiệp, dân tộc, trình độ học vấn, số con
+ Các yếu tố kinh tế hộ gia đình + Thông tin của cuộc đẻ: cách sinh, nơi sinh + Các yếu tố của trẻ: Giới tính, đẻ non, cân nặng trẻ khi sinh,
2.3.4 Tiêu chuẩn đánh giá
Xác định một số tỷ lệ đánh giá thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong
6 tháng đầu
Tỷ lệ trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đâu sau đẻ =
Số trẻ < 6 tháng được bú mẹ
Tổng số trẻ dưới 6 tháng điều tra
Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh được xác định dựa vào số trẻ được
bà mẹ cho bú trong vòng một giờ đầu sau khi đẻ Thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu được đánh giá là đạt khi bà mẹ chỉ cho trẻ bú sữa mẹ mà không cho ăn thêm bất kỳ thức ăn đồ uống nào khác theo đúng định nghĩa trong 179 ngày đầu Tỷ lệ NCBSMHT được tính toán dựa trên việc hỏi về thực hành cho trẻ ăn/ uống của trẻ dưới 6 tháng trong 24h qua
Xác định tuổi (theo tháng) của trẻ theo Tổ chức Y tế Thế giới [50]
- 0 tháng tuổi: kể từ khi mới sinh đến trước ngày tròn tháng (từ 1 đến
29 ngày)
- 1 tháng tuổi: Kể từ ngày tròn một tháng đến trước ngày tròn 2 tháng (từ 30 ngày đến 59 ngày)
Trang 292.3.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được lấy từ dự án “Bổ sung vi chất dinh dưỡng từ trước khi mang thai” của văn phòng dự án Emory- Đh Y dược Thái Nguyên Bản thân học viên tham gia nghiên cứu ngay từ những ngày đầu tiên
+ Cân trẻ: Sử dụng cân lòng máng SECA để cân nặng trẻ sơ sinh
- Các bước thu thập số liệu + Lập danh sách các bà mẹ có con đến đúng độ tuổi cần thu thập số liệu Báo cho y tế thôn bản mời bà mẹ đến trạm y tế để tham gia phỏng vấn
+ Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi để thu thập các thông tin về việc cho trẻ bú sữa mẹ trong
6 tháng đầu
2.4 Xử lý và phân tích số liệu
- Các bộ câu hỏi sau khi đã phỏng vấn xong sẽ được kiểm tra tính phù
hợp, sự hoàn tất của bộ câu hỏi, những phiếu không đầy đủ những chi tiết hoặc không phù hợp sẽ được phỏng vấn lại hoặc loại bỏ những câu hỏi không đúng đối tượng chọn mẫu
- Dữ liệu được mã hóa và nhập vào máy tính sử dụng phần mềm EPIDATA 3.1 Số liệu được nhập 2 lần để tránh sai số trong quá trình nhập số liệu, các biến số được kiểm tra các giá trị tối đa, tối thiểu và các số liệu trống
để kiểm tra lại từ bộ phiếu điều tra gốc
- Phân tích số liệu được thực hiện trên phần mềm STATA 10
Trang 302.5 Sai số và cách khắc phục
Sai số nhớ lại: Khắc phục bằng cách gợi lại một số mốc liên quan đến quá trình chăm sóc trẻ
2.6 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Được sự cho phép triển khai nghiên cứu Hội đồng đạo đức Viện nghiên cứu Y- Xã hội học, được sự nhất trí của chính quyền địa phương
Đối tượng điều tra là con người nên đạo đức nghiên cứu luôn được đặt
ra để làm giảm thiểu nhất những rủi ro và làm tăng cao nhất những lợi ích cho đối tượng Luôn tôn trọng và tuyệt đối giữ thông tin riêng của đối tượng
Những thông tin về danh tính đối tượng được giữ bí mật
Trước mỗi cuộc phỏng vấn, người được phỏng vấn đã được giải thích
về mục đích của cuộc điều tra để có được sự đồng ý của đối tượng
Đối tượng được quyền từ chối tham gia mà không bị ảnh hưởng gì về chăm sóc y tế tại địa phương
Kết quả nghiên cứu là cần thiết cho cơ quan y tế để phục vụ cho công tác theo dõi tình trạng chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ, nhờ đó sẽ giúp nâng cao được hiệu quả của các can thiệp truyền thông dinh dưỡng trong tương lai
Giải thích rõ với các bà mẹ về ý nghĩa và mục tiêu cuộc điều tra là nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân chứ không nhằm mục đích nào khác
Sẵn sàng trả lời mọi thông tin liên quan đến cách chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ khi bà mẹ cần biết sau cuộc phỏng vấn
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ
có con dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc tỉnh Thái Nguyên
51.99
45.58
60.27
0 10 20 30 40 50 60 70
Cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ
Thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay sau khi sinh
Cho bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Nhận xét: Số trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chiếm tỷ lệ khá
cao là 60,27% Tỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ là 51,99%, số trẻ được cho ăn uống các thức ăn ngoài sữa mẹ ngay sau khi sinh là 45,58%
Bảng 3.1 Các thực hành nuôi con bằng sữa mẹ theo huyện nghiên cứu
61,35 (154)
44,51 (219)
52,31 (170)
Cho ăn/ uống các thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay sau sinh
40,58 (125)
33,60 (84)
50,73 (244)
52,04 (166)
(183)
74,60 (188)
65,04 (320)
43,56 (142)
Nhận xét: Không có sự khác biệt trong việc thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ tại 4 huyện của địa bàn nghiên cứu
Trang 32Bảng 3.2 Tình hình cho trẻ ăn/ uống thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay
sau sinh
Nhận xét: Tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ sử dụng sữa công thức/ sữa bò ngay
sau khi sinh chiếm tỷ lệ khá cao 40,09% Rất ít các bà mẹ cho uống nước trắng hay các thức uống khác
Bảng 3.3 Đặc điểm chung của bà mẹ
Trang 33Nhận xét:
- Trong tổng số 1382 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu,tuổi trung bình của bà mẹ là 26 tuổi, trong đó bà mẹ lớn tuổi nhất là 41 tuổi, bà mẹ trẻ nhất tham gia nghiên cứu là 17 tuổi, có khoảng 50% là các bà mẹ từ 25 tuổi trở xuống, còn lại phần lớn độ tuổi của ĐTNC là từ 26-35 tuổi Nghề nghiệp của ĐTNC chủ yếu là nông dân chiếm hơn 80%, còn lại là cán bộ viên chức, dịch
vụ buôn bán và nghề khác Trình độ học vấn của bà mẹ chủ yếu là dưới THPT, có khoảng 89% có trình độ học vấn là THPT,cấp 2, cấp 1 Chỉ có khoảng 11% các bà mẹ có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học
- Số con trong gia đình của các bà mẹ trong nghiên cứu có tới 79,67% là con đầu tiên
- Đa số các bà mẹ trong nghiên cứu đi làm trước 6 tháng (62,44%)
Bảng 3.4 Thông tin cuộc đẻ
Nhận xét: Có 1090 bà mẹ đẻ ở bệnh viện huyện chiếm 78,87% số bà
mẹ trong nghiên cứu Bảng kết quả trên cho thấy có đến 70,98% số bà mẹ có phương pháp sinh đẻ thường trong lần điều tra
Trang 34Bảng 3.5 Các đặc điểm chung của trẻ
Nhận xét: Một số thông tin chung của trẻ trong nghiên cứu được thể
hiện ở bảng 3.5 Từ kết quả bảng cho thấy không có sự chênh lệch về giới tính của trẻ trong nghiên cứu, 50,94 % số trẻ là nam giới Về cân nặng sơ sinh của trẻ, số trẻ có cân nặng >= 2500g chiếm chủ yếu, khoảng 95% số trẻ 90% số trẻ đẻ ra là đủ tháng
Trang 353.2 Một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi
3.2.1 Các yếu tố liên quan tới việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Bảng 3.6 Tuổi của mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu Chỉ số
Tuổi mẹ
Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu
Không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Nhận xét: Không có mối liên quan giữa độ tuổi của bà mẹ với thực
hành cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Trang 36Bảng 3.7 Dân tộc mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu Chỉ số
Dân tộc
Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu
Không bú mẹ hoàn toàn trong
Nhận xét: Có mối liên quan giữa dân tộc mẹ với thực hành nuôi con
hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Tỷ lệ người dân tộc thiểu số cho con bú mẹ hoàn toàn cao hơn hẳn so với người kinh Điều này có thể giải thích do điều kiện kinh tế hạn hẹp nên những bà mẹ ở đây chỉ có thể nuôi con bằng sữa mẹ và không bổ sung thêm sữa ngoài hoặc các thức ăn khác
Bảng 3.8 Nghề nghiệp của mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong 6 tháng đầu Chỉ số
Nghề nghiệp
Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu
Không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Nhận xét: Có mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ và thực hành nuôi
con bằng sữa mẹ hoàn toàn Những bà mẹ nông dân có xu hướng cho con bú
mẹ hoàn toàn nhiều hơn so với các nghề nghiệp khác
Trang 37Bảng 3.9 Trình độ học vấn của mẹ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu Chỉ số
Trình độ học vấn
Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu
Không bú mẹ hoàn toàn trong
Nhận xét: Trình độ học vấn của mẹ có liên quan tới việc thực hành nuôi
con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Kết quả nghiên cứu chỉ ra những đối tượng có trình độ học vấn cao ( cao đẳng/ đại học/ sau đại học) lại
có tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ thấp (49,06%) hơn so với các trình độ cấp 1,2,3
Trang 38Bảng 3.10 Số con của bà mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong 6 tháng đầu Chỉ số
Số con
Bú mẹ hoàn toàn
6 tháng đầu
Không bú mẹ hoàn toàn trong
Nhận xét: Số con của bà mẹ có liên quan tới việc thực hành cho trẻ bú
mẹ hoàn toàn Số bà mẹ có số con >= 2 con có tỷ lệ cao hơn hẳn so với những bà
mẹ đẻ con lần đầu Điều này có thể giải thích những bà mẹ có từ 2 con trở lên đã
có kinh nghiệm và nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Bảng 3.11 Bà mẹ quay lại làm việc trước 6 tháng và thực hành nuôi con
hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Chỉ số
Thời gian quay lại làm việc
Bú mẹ hoàn toàn
6 tháng đầu
Không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Tổng
Chưa quay lại làm việc 571 66,16 292 33,86 863
Đã quay lại làm việc 297 57,23 222 42,77 519
p = 0,038 < 0,05 Nhận xét: Những phụ nữ chưa quay lại trở lại làm việc có tỷ lệ cho con
bú sữa mẹ hoàn toàn ( 66,16%) cao hơn những phụ nữ đã quay trở lại làm việc (57,23%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê