1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nhãn thích ứng với biến đổi khí hậu: Phần 1

38 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nhãn thích ứng với biến đổi khí hậu: Phần 1
Tác giả TS. Đào Quang Nghị, TS. Nguyễn Văn Dũng, ThS. Bùi Công Kiên, CVC. Đoàn Thị Phi Yến, ThS. Đào Kim Thoa
Trường học Viện Nghiên cứu Rau quả
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Sổ tay hướng dẫn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 5,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nhãn thích ứng với biến đổi khí hậu phần 1 có nội dung trình bày những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế trong sản xuất nhãn và giải pháp khắc phục; kết quả áp dụng các kỹ thuật canh tác trên cây nhãn tại một số vùng trồng chủ lực. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 2

TỔ CHỨC CHỦ TRÌ:

Cục Trồng trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Viện Nghiên cứu Rau quả

TẬP THỂ BIÊN SOẠN:

TS Đào Quang Nghị - Viện Nghiên cứu Rau quả

TS Nguyễn Văn Dũng - Viện Nghiên cứu Rau quả

ThS Bùi Công Kiên - Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường

CVC Đoàn Thị Phi Yến - Viện Nghiên cứu Rau quả

ThS Đào Kim Thoa

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học; suy giảm về số lượng và chất lượng nông sản do bão, lũ lụt, khô hạn, xâm nhập mặn,… làm tăng thêm nguy cơ tuyệt chủng của thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Biến đổi khí hậu sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mất an ninh lương thực

Trong những năm qua, Ngành Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được các thành tựu to lớn trong sản xuất nông sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, kỹ thuật tưới tiêu,… đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển ngành nông nghiệp bền vững, hiệu quả, hạn chế thiệt hại

do biến đổi khí hậu gây ra trong những năm gần đây Sản xuất nông nghiệp

thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (gọi tắt là CSA) - là một trong

những giải pháp để giảm nhẹ sự tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hiện tại chưa có một tài liệu tổng hợp hướng dẫn thực hành CSA nào đối với từng cây trồng, bao gồm áp dụng tổng hợp các quy trình kỹ thuật canh tác như ICM, IPM, một phải năm giảm, ba giảm ba tăng, tưới khô ướt xen kẽ, tưới tiết kiệm,

Từ năm 2014 - 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (VIAIP) Mục tiêu là nâng cao tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp có tưới, trong đó Hợp phần 3 của Dự án đã hỗ trợ các tỉnh vùng Dự án thiết kế và thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu gồm: Áp dụng các gói kỹ thuật

về sản xuất giống cây trồng, gói kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, đánh giá nhu cầu và áp dụng các phương pháp tưới tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng; sử dụng nước tiết kiệm và tăng hiệu ích sử dụng nước; tăng thu nhập cho nông dân; giảm tính dễ tổn thương với biến đổi khí

Trang 4

hậu, giảm phát thải khí nhà kính; tổ chức và liên kết sản xuất nông sản theo chuỗi giá trị gia tăng, giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho người dân.Cục Trồng trọt được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm vụ phối hợp với Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi và các tỉnh tham gia Dự án triển khai các nội dung liên quan đến nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu Trên cơ sở tổng kết các kết quả, tài liệu liên quan, Cục Trồng trọt xin giới thiệu Bộ tài liệu “Sổ tay Hướng dẫn gói

kỹ thuật canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA) cho một số cây trồng chủ lực như lúa, màu, rau, cây ăn quả có múi (cam, bưởi), chè, hồ tiêu, điều, cà phê, nhãn, vải, xoài, chuối, thanh long và sầu riêng” Bộ tài

liệu này được xây dựng trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp, chuẩn hóa các kỹ thuật canh tác, kỹ thuật tưới, tiêu nước, để hoàn thiện Quy trình thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu cho các cây trồng nhằm phổ biến đến các tổ chức, cá nhân và các địa phương tham khảo

áp dụng rộng rãi trong sản xuất

Đây là một trong những tài liệu đầu tiên được chuẩn hóa về nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót, đơn vị chủ trì xin được lắng nghe các góp

ý của quý vị để tiếp tục hoàn thiện

Cục Trồng Trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng cảm ơn Ngân hàng Thế giới (WB) đã tài trợ Dự án VIAIP, tập thể đội dự án, tập thể biên soạn và các chuyên gia đã đồng hành trong việc xuất bản Bộ tài liệu này

CỤC TRỒNG TRỌT

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

CSA Nông nghiệp thông minh với biến đổi khí hậu

UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

VIAIP Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới Việt Nam

Trang 6

Nguồn ảnh: Internet

Trang 8

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Thực trạng sản xuất nhãn ở Việt Nam

Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.), thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) là

một trong những loại cây ăn quả chủ lực của nước ta Năm 2019, diện tích nhãn của cả nước đạt 79.355 ha, sản lượng khoảng 507.900 tấn Trong đó, miền Bắc có khoảng 45.000 ha, sản lượng 193.400 tấn, tập trung tại các tỉnh: Sơn La 16.700 ha, Hưng Yên 4.500 ha, Bắc Giang 3.222 ha, Thái Nguyên 1.700 ha…; Miền Nam có diện tích 34.300 ha với sản lượng 315.000 tấn, tập trung tại các tỉnh: Tây Ninh 4.100 ha, Tiền Giang 7.000 ha, Bến Tre 2.100 ha, Vĩnh Long 6.200 ha, Đồng tháp 5.200 ha, Sóc Trăng 3.600 ha (Cục Trồng trọt, 2019)

Ở miền Bắc, Hưng Yên là tỉnh nổi tiếng với vùng nhãn đặc sản có từ lâu đời với diện tích đến thời điểm tháng 8/2020 đạt 4.800 ha, sản lượng đạt trên 50 ngàn tấn, cao hơn so với năm 2019 khoảng 18 ngàn tấn Các địa phương trồng nhãn tập trung là thành phố Hưng Yên (830 ha), Ân Thi (370 ha), Kim Động (350 ha), Khoái Châu (1.100 ha) (Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2019; Sở Nông nghiệp và PTNT Hưng Yên, 2020).Tại Sơn La: Trong những năm gần đây, Sơn La là một tỉnh có diện tích cây

ăn quả phát triển rất nhanh Trong đó, diện tích cây nhãn tính đến hết tháng 6/2020 đạt 17.292 ha, sản lượng cả năm đạt 70.412 tấn; diện tích trồng nhãn

đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng các quy trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nhãn, được người tiêu dùng trong và ngoài nước chấp nhận Đến nay, toàn tỉnh Sơn La có khoảng gần 500

ha nhãn được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP Ngoài ra, diện tích nhãn được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang các nước Mỹ, Úc,… là 92 mã số với diện tích 2.415,03 ha; trong đó mã số được cấp vùng trồng

là 34 mã với diện tích 207,6 ha; mã số vùng trồng được cấp để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là 58 mã với diện tích là 2.207,43 ha (Sở Nông nghiệp và PTNT Sơn La, 2020)

Ở miền Nam, nhiều địa phương trồng nhãn với diện tích lớn trong đó có Tiền Giang với diện tích hiện có khoảng 7.000 ha, năng suất bình quân 16

Trang 9

tấn/ha, sản lượng ước tính 114.000 tấn Vùng trồng chuyên canh nhãn tập trung tại các xã Tân Phong, Hiệp Đức, Hội Xuân thuộc huyện Cai Lậy; các xã Nhị Quý, Phú Quý, Tân Hội và phường Nhị Mỹ thuộc thị xã Cai Lậy; các xã Nhị Bình, Hữu Đạo, Tân Hương thuộc huyện Châu Thành; các xã Hòa Khánh, Hậu Thành, Đông Hòa Hiệp thuộc huyện Cái Bè (Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang, 2019)

Tại Đồng Tháp, tổng diện tích nhãn hiện tại vào khoảng hơn 5.200 ha với năng suất trung bình xấp xỉ 10 tấn/ha, tổng sản lượng đạt gần 50.000 tấn, tập trung với diện tích lớn tại huyện Châu Thành Hiện nay, diện tích trồng

ha nhãn trên địa bàn huyện Châu Thành đã đạt hơn 3.500 ha, trong đó nhãn Edor hơn 1.500 ha. Cây nhãn là một trong 5 ngành hàng chủ lực theo đề án tái cơ cấu nông nghiệp của huyện Châu Thành, Đồng Tháp Theo quy hoạch, đến hết năm 2020, tỉnh sẽ phát triển vùng trồng nhãn với diện tích 4.000 ha, tập trung tại huyện Châu Thành, sản lượng ước đạt 70.000 tấn/năm Theo kế hoạch của huyện, sẽ ưu tiên phát triển giống nhãn Edor lên 2.000 ha Vì đây là giống nhãn cho năng suất cao, ít nhiễm bệnh chổi rồng, đầu lân, chất lượng tốt, được thị trường ưa chuộng

1.2 Yêu cầu sinh thái của cây nhãn

Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển là từ

21 - 27oC; mùa hoa nở cần nhiệt độ cao 25 - 31oC; mùa đông cần một thời gian nhiệt độ thấp để phân hóa mầm hoa Đối với các giống nhãn ở miền Bắc, để cho cây phân hóa được mầm hoa tốt, từ tháng 12 dến tháng 1 năm sau cần một thời gian có nhiệt độ thấp trến dưới 10oC Nếu trong thời gian này, nhiệt

độ dao động từ 18 - 20oC sẽ không có lợi cho sự hình thành và phát triển chùm hoa Thời kỳ hoa nở, nhiệt độ thích hợp là 20 - 27oC (Trần Thế Tục, 1998).Đối với các giống nhãn ở miền Nam đòi hỏi phải có một mùa đông ngắn với nhiệt độ từ 17 - 22oC trong thời gian từ 8 - 10 tuần để kích thích sự ra hoa

và theo sau là nhiệt độ cao cho mầm hoa phát triển Như vậy, trong điều kiện khí hậu ở ĐBSCL, nhiệt độ thấp nhất vào ban đêm từ 19 - 20oC thường xuất hiện trong tháng 12 - 1 và sau đó tăng cao trong tháng 2 - 3 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa nhãn Ngoài ra, thời điểm xuất hiện nhiệt độ

Trang 10

thấp cũng là mùa khô nên đây cũng là yếu tố hình thành nên mùa vụ ra hoa nhãn Nhiệt độ thấp và khô hạn là hai yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra hoa nhãn, tuy nhiên nếu nhiệt độ thấp hay khô hạn kéo dài mầm hoa sẽ không phát triển được (PROSEA, 1989) Nakasone và Paull (1998) cho biết nếu trong thời kỳ kích thích ra hoa nhiệt độ trên 22oC hoặc thời gian xuất hiện nhiệt độ thấp dưới 8 tuần cây sẽ không ra hoa.

Ánh sáng: Nhãn cần nhiều ánh sáng Ánh sáng chiếu được vào bên trong

tán giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt Tuy nhiên, các giống nhãn ở miền Bắc

là cây ưa sáng nhưng lại sợ ánh sáng trực xạ, còn nhãn miền Nam nếu bị rợp bóng, cây sẽ cho ít quả, chỉ những cành nhận đầy đủ ánh nắng mới ra hoa, đậu quả tốt (Trần Thế Tục, 1998)

Lượng mưa và độ ẩm: Lượng mưa thích hợp cho nhãn từ 1.200 đến 1.600

mm Nhãn là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng và rất nhạy cảm với việc ngập nước kéo dài Ngược lại, nếu gặp khô hạn trong thời gian dài sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm, ra hoa và đậu trái khó khăn Trong thời gian ra hoa và sinh trưởng của quả, cây nhãn cần nhiều nước Ngược lại, trong các tháng mùa đông và trong thời gian quả vào chín, cây nhãn cần ít nước Trong thời kỳ nở hoa nếu mưa nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh của hoa,

tỷ lệ đậu quả sẽ thấp (Trần Thế Tục, 1998)

Gió: Gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh Tuy cây nhãn là cây có

sức chống chịu gió bão tốt nhưng trong thời gian quả phát triển, gió to làm quả bị rụng, cành gãy, thậm chí đổ cây Gió Tây khô, nóng gây khô hạn ở một

số vùng trồng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của quả Chính vì vậy, khi thiết

kế chọn vườn cần có biện pháp bảo vệ vườn cây khi gió bão và gió nóng như: Che, chắn, chống giữ cây hay trong quá trình canh tác, cắt tỉa thường xuyên

để cây có bộ tán thấp

Đất: Nhãn có tính thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất từ

vùng nước ngọt quanh năm đến vùng nhiễm mặn Tuy nhiên, đất trồng nhãn thích hợp nhất là đất cát, cát pha, cát, đất cồn và phù sa ven sông, đất có độ

pH từ 5,5 - 6,5 Nhãn không thích hợp trên đất sét nặng và quá ẩm ướt Nên trồng nhãn ở các vùng đất thấp, không trồng ở quá cao, nơi thiếu nước (Trần Thế Tục, 1998; Huỳnh Trí Đức, 2003)

Trang 11

1.3 Một số nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật

1.3.1 Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống nhãn

Trước đây, cây nhãn được nhân giống chủ yếu bằng gieo hạt, rất lâu được thu hoạch và chất lượng vườn nhãn không đồng đều Vì thế, nhân giống bằng gieo hạt đã được thay thế dần bởi nhân giống bằng chiết cành và gần đây là phương pháp ghép Cho đến nay phương pháp nhân giống nhãn bằng ghép

đã và đang được áp dụng với quy mô lớn ở hầu khắp các nước và vùng trồng nhãn trên thế giới

Nhiều kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc đã khẳng định nhiệt độ khi ghép trong khoảng từ 20 - 30oC thích hợp đối với ghép nhân giống nhãn, tỷ lệ ghép thành công 70 - 80% và cây ghép sinh trưởng khoẻ Tuổi của cây gốc ghép có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả ghép Tỷ lệ cây ghép bật mầm đạt đến 75% nếu tuổi của gốc ghép là 6 tháng Trong trường hợp tuổi của gốc ghép già hơn, đến 18 tháng, tỷ lệ cây ghép bật mầm giảm đáng kể, chỉ còn 60% Thời

vụ ghép nhãn thích hợp nhất là vào vụ xuân và vụ thu Hiện vẫn còn nhiều ý kiến thảo luận về xác định giống cây gốc ghép Tuy nhiên, phần lớn các kết quả nghiên cứu đều khẳng định tốt nhất là sử dụng cây gốc ghép và cây cành ghép của cùng một giống Có rất nhiều phương pháp ghép nhãn nhưng đạt hiệu quả cao hơn cả là phương pháp ghép đoạn cành

Kỹ thuật ghép cải tạo giống: Với những vườn nhãn già cỗi hoặc giống cũ,

muốn chuyển đổi sang giống mới, việc ghép cải tạo thay thế giống đã được nghiên cứu và áp dụng thành công tai nhiều địa phương, Đặc biệt ở Sơn La

đã áp dụng trên hàng trăm héc-ta Đến nay, các diện tích này đã cho hiệu quả kinh tế cao

1.3.2 Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa

Ở tất cả các nước trồng nhãn cũng như các đối tượng cây ăn quả thân gỗ khác trên thế giới đều có những nghiên cứu về các biện pháp cắt tỉa, tạo hình

và đều nhằm mục đích tạo cho cây có bộ khung tán cân đối, thuận lợi cho quang hợp, hạn chế sâu bệnh hại, dễ chăm sóc, quản lý, làm tăng năng suất, phẩm chất quả

Trang 12

Phương pháp cắt tỉa nhìn chung tương đối giống nhau Tùy theo từng loại cây mà phương pháp cắt tỉa có thể là tạo tán mở hình phễu hay tạo tán hình rẻ quạt Ngoài việc cắt tỉa cành, ở Trung Quốc còn sử dụng biện pháp cắt ngắn chùm hoa nhằm hạn chế tiêu hao dinh dưỡng, giúp cho quá trình đậu quả và phát triển của quả tốt hơn.

Việc cắt tỉa, tạo hình có thể coi như là các kỹ thuật điều chỉnh sinh trưởng

và phát triển của cây trồng nói chung và cây nhãn nói riêng Muốn biết cắt tỉa vào lúc nào, những cành nào nên cắt bỏ thì phải có những nghiên cứu cụ thể, dựa trên các nguyên lý chung sau đây:

+ Sự phát triển của các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất có sự cân bằng theo tỷ lệ nhất định đối với từng loài cây trồng Nếu phá vỡ sự cân bằng này, cây sẽ tự thiết lập lại một cân bằng mới, dựa vào đặc điểm này ta có thể thay lộc, cành mới hay phục tráng lại bộ rễ

+ Những cành ở trên mặt tán có hiện tượng ưu thế ngọn, kìm hãm sự phát triển của các cành phía dưới Phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn sẽ tạo điều kiện cho các cành phía dưới phát triển

+ Theo lý luận về giai đoạn phát dục của các vị trí cành trên cây, sự phát dục giảm dần từ cành ngọn xuống cành ở dưới Vì vậy, cần tạo cho cây có bộ tán phân bố đều Mặt khác, thông qua cắt tỉa sẽ làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cây

Nguyên tắc cắt tỉa:

+ Đối với cây trẻ: Thời kỳ này cây mới cho quả nên cắt tỉa nhẹ, để lại nhiều

cành Nói chung, chỉ cắt bỏ những cành đã mất khả năng quang hợp, cành la sát mặt đất và một số ít cành mọc sít nhau, cành tăm, cành sâu bệnh Thời kỳ này chỉ cắt tỉa khoảng 10% số cành

+ Đối với cây trưởng thành: Giai đoạn này cây nhãn đã chuyển sang thời kỳ

sai quả, tiêu hao nhiều dinh dưỡng vì vậy nên cắt tỉa nặng, để dinh dưỡng tập trung cho những cành còn lại, thúc đẩy lộc thu phát triển, bảo đảm chắc chắn sang năm có quả Thời kỳ này cắt tỉa khoảng 20 - 30% số cành

Trang 13

+ Đối với cây nhãn đã nhiều năm tuổi, già cỗi: Căn cứ vào khả năng sinh

trưởng và tình hình ra quả vụ trước để xác định mức độ cắt tỉa nặng hay nhẹ Cây có nhiều cành, cành yếu thì cắt tỉa nặng, làm giảm sinh trưởng để tập trung dinh dưỡng ra lộc mới mập và khoẻ hơn Trọng tâm thời kỳ này là phục tráng và trẻ hóa bộ tán lá

Phương thức cắt tỉa:

+ Cắt tỉa cành: Thời gian cắt tỉa tiến hành trước khi nhú lộc xuân là thích

hợp Sau khi cắt tỉa, trong năm sẽ ra 2 - 3 đợt lộc để khôi phục tán Ở thời kỳ này, nếu cần phục tráng cây, có thể phải hủy bỏ 1 - 2 vụ quả tiếp theo để tập trung dinh dưỡng tái tạo lại thân, cành và bộ tán

+ Thay rễ mới: Việc thay rễ mới cũng được coi là một biện pháp cắt tỉa Bộ

rễ có tác dụng quyết định đối với sinh trưởng của cây Nếu bộ rễ già cỗi, năng lực hấp thu kém, lộc mới sinh trưởng cũng kém, mức độ nặng dẫn đến rụng

lá thậm chí cây bị chết khô Cắt đứt rễ cũ sẽ thúc đẩy phát sinh nhiều rễ mới, nâng cao khả năng hấp thu, tạo cơ sở vật chất cho cành sinh trưởng Biện pháp hữu hiệu nhất là làm đứt rễ đúng mức và cải tạo đất

Ở Thái Lan và Trung Quốc, cắt tỉa trên cây nhãn nhằm cải thiện bộ tán cây, kích thước quả và tính ổn định về năng suất. Ở Thái Lan, những cành khỏe mọc vượt ra ngoài tán và cành nhỏ ở bên trong của cây bị loại bỏ, tạo thành một bộ tán thông thoáng hình bán cầu Người trồng nhãn ở Trung Quốc thường cắt ngắn để loại bỏ 40% chùm hoa và 30% số quả non ở cây sai quả, chỉ để lại hơn 500 g quả trên mỗi chùm đến khi thu hoạch. Các chùm hoa được cắt tỉa vào thời điểm khi chúng có độ dài khoảng 10 - 12 cm Điều này làm tăng kích thước quả Thời gian tỉa quả vào thời điểm khi chúng có kích thước bằng hạt đậu.  Người trồng nhãn ở Thái Lan lại loại bỏ một nửa số hoa trên mỗi cành hoa trước khi đậu quả và tỉa bớt 10% số quả sau khi đậu quả vào những năm được mùa Những chùm quả nhỏ chỉ để khoảng 30 quả/chùm Những chùm lớn để tối đa 180 quả (Chritopher M Menzel, 2005)

Ở Việt Nam, việc cắt tỉa, tạo hình để tạo cho cây có bộ khung cân đối, tán cây có khả năng hấp thu tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho

Trang 14

việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng Những quy trình cắt tỉa được các cơ quan nghiên cứu và Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh khuyến khích áp dụng như sau:

Đối với sản xuất nhãn ở miền Bắc:

* Đốn tỉa tạo hình trong giai đoạn kiến thiết cơ bản:

- Đối với cây nhân giống bằng phương pháp ghép, sau khi trồng 40 - 45 ngày tiến hành cắt ngọn cành ghép cách mắt ghép 40 - 50 cm, khi cây bật mầm phải tỉa bớt mầm, chỉ để lại 3 - 4 mầm khoẻ và phân bố đều về các hướng (cành cấp 1) Khi cành cấp 1 dài 30 - 35 cm lại tiến hành bấm ngọn để tạo cành cấp 2, cứ như vậy tới hết năm thứ hai hoặc thứ ba

- Đối với cành chiết, chọn để lại 2 - 3 cành cấp 1 phân bố đều về các hướng Khi cành cấp 1 dài 45 - 50 cm, tiến hành bấm ngọn để tạo cành cấp 2 và các cấp cành tiếp theo như đối với cây nhân giống bằng phương pháp ghép

- Đối với những cây nhãn ra hoa sau hai năm trồng phải ngắt bỏ hoa để cho cây tập trung phát triển thân tán

* Cắt tỉa cho nhãn trong thời kỳ kinh doanh:

- Cắt tỉa cành: Sau khi thu hoạch, cắt tỉa toàn bộ những cành tăm, cành

bị sâu bệnh, cành trong tán, cành vượt, cành sát mặt đất tạo cho cây thông thoáng Ngoài ra trong quá trình sinh trưởng thường xuyên cắt tỉa những cành vô hiệu cho cây theo các đợt lộc

- Tỉa hoa: Thời gian tỉa hoa thích hợp là vào tháng 3 khi chùm hoa đã dài khoảng 12 - 15 cm, nụ hoa trông đã rõ nhưng chưa nở Tùy thuộc vào khả năng ra hoa của từng cây mà có thể tỉa bỏ 20 - 30% số chùm hoa, tỉa bỏ các chùm hoa bị sâu bệnh và các chùm hoa nhỏ Trong trường hợp hoa ra trên toàn bộ tán, mỗi đầu cành hình thành lộc thu cắt tỉa để lại 1 chùm hoa

- Tỉa quả: Sau khi kết thúc đợt rụng quả sinh lý lần 1, khi quả đã lớn bằng hạt đậu tương, tiến hành tỉa bỏ những quả bị sâu bệnh, quả dị hình Những chùm quả quá lớn cần tỉa bỏ bớt quả hoặc cắt bớt đầu chùm, những cây quá nhiều chùm quả cần tỉa bỏ bớt số chùm quả trên cây

Trang 15

1.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho nhãn

Bón phân được xem là khâu kỹ thuật quan trọng trong kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng quả Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổ nhưỡng, yêu cầu dinh dưỡng của cây, quy luật sinh trưởng, phát triển, năng suất dự kiến thu được và vào tuổi cây Một số nước đã ứng dụng kỹ thuật bón phân cho cây dựa trên phân tích chẩn đoán dinh dưỡng lá như ở Israel, Australia, Florida - Mỹ

Ở Trung Quốc, vườn nhãn cao sản 11 - 12 tấn quả/ha cần bón 22,5 tấn nước phân và 15 tấn phân chuồng kết hợp với 180 kg urê, 225 kg lân supe

và 300 kg kali clorua Khi phân tích 1000 kg quả tươi thì thấy rằng cây lấy đi của đất 4,01 - 4,08 kg N; 1,46 - 1,58 kg P2O5 và 7,54 - 8,96 kg K2O, tương ứng với tỷ lệ N : P : K là 1 : 1,28 - 1,37 : 1,76 - 2,15 Từ kết luận trên đây, người ta đề nghị liều lượng phân bón cho mỗi cây 2,7 kg urê, 3,5 kg lân supe và 3,0 kg kali clorua Trong sản xuất có thể căn cứ vào năng suất vụ quả trước để bón Thông thường, cứ thu hoạch 100 kg quả thì lượng phân bón sẽ là 2 kg N, 1

kg P2O5 và 2 kg K2O

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về bón phân cho nhãn đã được đúc kết thành quy trình Lượng phân bón theo các quy trình đã được khuyến cáo ở các địa phương cho vườn nhãn thời kỳ kinh doanh như sau:

- Ở Hưng Yên: Lượng phân bón cho cây theo độ tuổi

+ Cây 4 - 6 năm tuổi: 30 - 50 kg phân hữu cơ + 0,3 - 0,5 kg phân urê + 0,7

- 1,0 kg lân supe + 0,5 - 0,7 kg kali clorua

+ Cây 7 - 10 năm tuổi: 50 - 70 kg phân hữu cơ + 0,8 - 1,0 kg phân urê + 1,5 - 1,7 kg lân supe + 1,0 - 1,2 kg kali clorua

+ Cây trên 10 năm tuổi: 70 - 100 kg phân hữu cơ + 1,2 - 1,5 kg phân urê + 2,0 - 3,0 kg lân supe + 1,2 - 2,0 kg kali clorua

- Ở Sơn La: Mức độ có cao hơn so với ở Hưng Yên:

+ Cây 4 - 6 năm tuổi: 30 - 50 kg phân hữu cơ + 0,5 - 0,7 kg phân urê + 1,0

- 1,5 kg lân supe + 0,5 - 0,7 kg kali clorua

Trang 16

+ Cây 7 - 10 năm tuổi: 50 - 70 kg phân hữu cơ + 1,0 - 1,2 kg phân urê + 2,0 - 2,5 kg lân supe + 1,0 - 1,2 kg kali clorua.

+ Cây trên 10 năm tuổi: 70 - 100 kg phân hữu cơ + 1,5 - 1,7 kg phân urê + 3,0 - 3,5 kg lân supe + 1,5 - 1,7 kg kali clorua

- Ở các tỉnh phía Nam áp dụng theo quy trình của Viện Cây ăn quả miền Nam khuyến cáo và tiêu chuẩn ngành 10 TCN 480:2001 Cụ thể:

Bảng 1 Lượng phân bón cho cây nhãn ở thời kỳ kiến thiết cơ bản

Tương đương KCl

Đối với cây trên 3 năm tuổi, số lượng phân bón trên (thời kỳ kiến thiết

cơ bản) tăng dần từ 20 - 30% mỗi năm và số lần bón trong năm được chia ra như sau:

Lần 1: Sau khi thu hoạch quả một tuần bón: 60%N2O + 60%P2O5 + 25% K2O

Lần 2: Trước khi cây ra hoa 5 tuần bón: 40% P2O5 + 25% K2O

Lần 3: Đường kính quả khoảng 1 cm bón: 40% N2O + 25% K2O

Lần 4: Trước khi thu hoạch quả 1 tháng bón: 25% K2O

Hàng năm cần bón thêm phân chuồng hoai mục khoảng 10 - 20 kg/gốc/năm hoặc bón phân tro trấu, xác thân đậu, vỏ đậu Tùy tình hình sinh trưởng, năng suất nhãn của vụ trước mà điều chỉnh lượng phân bón NPK cho vụ nhãn

Trang 17

tổng số trên cành, tạo cơ sở thuận lợi cho việc hình thành mầm hoa và các bộ phận của hoa, hơn nữa còn có tác dụng làm giảm năng l ượng cung cấp cho

bộ rễ, giảm cơ năng hoạt động của bộ rễ, giảm hấp thu n ước, nâng cao nồng

độ dịch tế bào, từ đó kích thích việc phân hóa mầm hoa Khoanh vỏ trong giai đoạn nở hoa còn làm nâng cao tỷ lệ đậu quả do ức chế sinh trưởng của rễ làm mất khả năng cạnh tranh dinh dưỡng của rễ và quả Những nghiên cứu này đã được tiến hành thí nghiệm ở cả trong phòng thí nghiệm lẫn trên đồng ruộng và kết quả đã cho thấy, khoanh vỏ đã ngăn cản C14 tổng hợp xuống

rễ Những cây khoanh vỏ tập trung tinh bột trong quả nhiều hơn những cây không khoanh vỏ (Huang, 2000)

Sử dụng KClO3 riêng rẽ hoặc kết hợp khoanh cây, cành xử lý cho nhãn ra hoa trái vụ hoặc ra hoa đồng loạt đã được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Cây ăn quả miền Nam và một số vùng trồng nhãn ở đồng bằng sông Cửu Long

Ở miền Bắc, sử dụng chất điều tiết sinh trưởng, trong đó có KClO3 kết hợp với các biện pháp khoanh vỏ đã góp phần quan trọng khắc phục hiện tượng

ra hoa, quả không ổn định ở cây nhãn

Biện pháp làm tăng khả năng đậu hoa, đậu quả cho nhãn tốt nhất là phun thuốc đậu quả Đó là các chất kích thích sinh trưởng như NAA, GA3, axit Boric Có thể dùng riêng rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thích sinh trưởng phun khi hoa bắt đầu nở và khi hoa nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hồng (2006) trên giống nhãn Hương Chi cho thấy việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cắt tỉa cành sau thu hoạch và khoanh cành vào khoảng thời gian từ giữa tháng 11 đến đầu tháng

12 khi bộ lá nhãn đã thành thục có tác dụng làm tăng tỷ lệ cây và cành ra hoa.Các loại phân vi lượng bón qua lá: Kích phát tố hoa trái Thiên nông, Atonic, Bayfolan, Orgamin, Spray-N-Grow (SNG), Bill’s perfect fertilize (BPF)

và FITO có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng cường phẩm chất quả một

số giống nhãn chín muộn ở Hà Tây cũ và Hưng Yên

Trang 18

Viện Cây ăn quả miền Nam sau khi tiến hành thí nghiệm “Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón NPK đến năng suất và phẩm chất nhãn tiêu da bò” đã kết luận: Năng suất nhãn tăng lên một cách có ý nghĩa ở công thức bón phân NPK cao 450 - 240 - 330; 350 - 180 – 270; (N - P2O5 - K2O g/cây/vụ) + phân hữu

cơ so với công thức đối chứng Các công thức bón lượng kali cao và bón thêm phân hữu cơ đã làm gia tăng độ Brix (%), màu sắc vỏ trái cũng sáng đẹp hơn

1.3.5 Phòng trừ sâu bệnh hại

Các biện pháp kỹ thuật phòng trừ, quản lý sâu bệnh hại cũng đã được các cơ quan nghiên cứu như Viện Bảo vệ thực vật, Viện Cây ăn quả miền Nam, Viện Nghiên cứu Rau quả và Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả Phủ Quỳ tiến hành ở các vùng trồng nhãn từ những năm 1997 - 1998 Kết quả đã phát hiện

12 loại bệnh và 38 loại sâu hại trên nhãn Các đối tượng gây thiệt hại đáng

kể nhất là bọ xít, rệp sáp, sâu đục quả, sâu đục thân, sâu tiện vỏ, bệnh sương mai Việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng và trừ các loại sâu bệnh đã mang lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, góp phần làm tăng năng suất và chất lượng của quả nhãn

1.3.6 Nghiên cứu về tưới nước cho cây nhãn

Tương tự như cây vải, tưới thường xuyên là điều cần thiết trong quá trình sinh trưởng của cây nhãn trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Trong thời gian khô hạn, có thể cần tưới các giai đoạn cách nhau 2 - 3 tuần. Đối với cây trong thời

kỳ kinh doanh, độ ẩm nên được hạn chế trong mùa thu và mùa đông để ngăn cản sự phát triển sinh dưỡng và thúc đẩy sự ra hoa

Một số nghiên cứu khác cho thấy hạn hán trong quá trình phát triển làm giảm sản lượng Khi cụm hoa đã xuất hiện và trong suốt quá trình phát triển của quả, duy trì độ ẩm thích hợp là cần thiết. Việc tưới nước sẽ được kết thúc trong một vài tuần trước khi thu hoạch. Trong thời kỳ quả đang phát triển,

sự căng thẳng về độ ẩm trong các tình huống không được tưới có thể gây ra hiện tượng quả ngừng phát triển. Sau khi thu hoạch, ngoài biện pháp cắt tỉa, bón phân, cần tưới nhiều để thúc đẩy hình thành chồi mới

Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Úc và Nam Phi (Menzel C.M and Waite G.K, 2005)

đã chỉ ra rằng, cây có thể lấy nước ở độ sâu đáng kể trong hầu hết các loại đất

Trang 19

và tạo ra sản lượng chấp nhận được dưới chu kỳ tưới khá dài. Tưới 2 tuần/lần

là đủ trong đất mùn cát và 3 - 4 tuần/lần trong đất sét. Trên đất pha cát cần tưới trước khi 50% lượng nước sẵn có trong đất được sử dụng

Hệ thống tưới tiêu cho nhãn cần thiết kế có đủ khả năng cung cấp từ 2 đến 8 Ml/ha nước chất lượng tốt mỗi năm Nếu nước có tảo hoặc sắt vi khuẩn, cần có hệ thống lọc đặc biệt Hệ thống phải có khả năng cung cấp nước cho vùng rễ chính, có thể sâu 1,5 m trong hình chiếu của tán cây

Có thể thiết kế hệ thống tưới cho từng loại đất Vòi phun nước mini dưới gốc cây thường gặp ở Nam Phi và Úc, ngược lại bằng nhỏ giọt phổ biến ở Israel. Vòi phun nước mini với công suất tưới 80 - 250 l/h được khuyến nghị Hệ thống tưới nhỏ giọt tưới tiết kiệm nước hơn và làm ướt vùng rễ hiệu quả hơn

so với vòi phun mưa Tuy nhiên không thích hợp cho cát vì nước ngấm thẳng xuống dưới, chỉ ngấm sang xung quanh một chút Do đó cây có thể bị khô khi thời tiết nóng Hệ thống tưới tiêu phải cung cấp nước đồng đều cho từng cây trong vườn. Do đó, các vòi phun cần có thiết bị bù áp

Việc tính toán lượng nước tưới được dựa trên lượng bốc hơi của cây trồng

và diện tích bề mặt tán Tuy nhiên cũng cần căn cứ vào điều kiện vùng trồng

và nhu cầu của cây để có biện pháp tưới phù hợp

Ở Việt Nam, do các vùng trồng nhãn có lượng mưa tương đối thuận đối với sinh trưởng phát triển của cây nhãn nên không có nghiên cứu về tưới trên cây nhãn Tuy nhiên, thời điểm hiện nay, thời tiết thay đổi do biến đổi khí hậu Tình trạng nắng nóng, khô hạn trong mùa mưa thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây nhãn Các biện pháp tưới chủ yếu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước được cải tiến phù hợp với từng vườn hộ Phương pháp tưới vẫn dựa trên kinh nghiệm

1.4 Luận giải về tính cấp thiết

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA)

Ngành Nông nghiệp đang phải giải quyết đồng thời 3 thách thức có liên quan mật thiết đến nhau: (i) đảm bảo an ninh lương thực (ANLT) và thu nhập

Ngày đăng: 20/12/2022, 19:38

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm