Thiên nhiên núi rừng tươi đẹp hùng vĩ, con người chất phác, thật thà nhưng cũng rất lãng mạn, mạnh mẽ cùng với nguồn cội văn hóa truyền thống dân tộc Giáy phong phú đã hun đúc nên một tâ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG
THƠ TÌNH LÒ NGÂN SỦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG
THƠ TÌNH LÒ NGÂN SỦN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Việt Trung
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoàng Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS.Trần Thị Việt Trung đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoàng Giang
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- Dân tộc thiểu số : DTTS
- Văn học nghệ thuật : VHNT
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của luận văn 8
7 Đóng góp của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: VÀI NÉT VỀ THƠ TÌNH YÊU DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ TÌNH DÂN TỘC GIÁY – LÒ NGÂN SỦN 10 1.1.Vài nét khái quát về thơ dân tộc thiểu số nói chung và thơ tình yêu dân tộc thiểu số nói riêng 10
1.1.1.Văn học dân tộc thiểu số thời kì hiện đại 10
1.1.2.Thơ ca dân tộc thiểu số nói chung và thơ tình yêu DTTS nói riêng 12
1.2 Nhà thơ tình dân tộc Giáy - Lò Ngân Sủn 15
1.2.1.Những nét đặc sắc của văn hóa Giáy 15
1.2.2 Văn học dân gian dân tộc Giáy 19
1.2.3.Cuộc đời, con người và quá trình sáng tác của nhà thơ Lò Ngân Sủn 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
Chương 2: NỒNG ĐỘ VÀ SẮC THÁI TÌNH YÊU TRONG THƠ LÒ NGÂN SỦN 30
2.1 Một tình yêu mộc mạc, hồn hiên, trong sáng của “Người đàn ông đá núi” 30
Trang 72.2 Một tình yêu nóng bỏng, đắm say, cuồng nhiệt 36
2.3 Một tình yêu nhuốm màu bản năng nhưng “cường tráng” và lành mạnh, mang giá trị nhân văn sâu sắc 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52
Chương 3: NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT THƠ TÌNH YÊU CỦA LÒ NGÂN SỦN 53
3.1 Ngôn ngữ thơ rất giàu hình ảnh và mang tính biểu cảm cao 53
3.2 Một thứ thơ tình giàu tính nhạc 69
3.3 “Thực phẩm hóa tình yêu” - một phương thức nghệ thuật đặc sắc trong thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn: 76
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài Cùng với các nhà thơ dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam hiện đại:
Nông Quốc Chấn, Mã A Lềnh, Pờ Sảo Mìn, Y Phương… Lò Ngân Sủn là một trong số những cây bút thơ tiêu biểu Ông được sinh ra và lớn lên tại thôn Bản Vền, xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Thiên nhiên núi rừng tươi đẹp hùng vĩ, con người chất phác, thật thà nhưng cũng rất lãng mạn, mạnh mẽ cùng với nguồn cội văn hóa truyền thống dân tộc Giáy phong phú đã hun đúc nên một tâm hồn thơ, một trái tim sôi nổi, nhiệt tình, một con người yêu hết mình, dâng hiến hết mình, cháy hết mình trong tình yêu –
đó là nhà thơ dân tộc Giáy Lò Ngân Sủn Là tác giả của 22 tập thơ, phần lớn
là thơ tình yêu – Lò Ngân Sủn xứng đáng là một nhà thơ tình tiêu biểu của thơ ca DTTS Việt Nam hiện đại
Với cuộc đời cầm bút gần 50 năm, nhà thơ Lò Ngân Sủn đã để lại sự nghiệp thơ ca đáng nể: 22 tập thơ (trong đó có nhiều bài thơ đã được phổ nhạc như: “Chiều biên giới” (Phổ nhạc: Trần Trung), “Chiều Lào Cai” (Phổ nhạc:
Trương Ngọc Ninh), “Những người con của núi” (Phổ nhạc: Ngọc Quang),
“Tình ca lều nương” (Phổ nhạc: Phạm Tịnh), “Phiên chợ Sa Pa” (Phổ nhạc:
Hà Té), “Người đẹp” (Phổ nhạc: Ma Quang Hạ))… Thơ Lò Ngân Sủn đậm bản sắc dân tộc và miền núi, nhưng cũng luôn được tác giả đổi mới và sáng tạo trong cách viết, do đó được nhiều người quan tâm, yêu quý, trân trọng
Thơ của ông đặc sắc và giàu tính sáng tạo nên được nhận khá nhiều giải
thưởng của Trung ương và địa phương như: Giải A (1993) cho tập thơ Đám
cưới; Giải B cho tập thơ Dòng sông mây (1995) của Uỷ ban toàn quốc Liên
hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Giải B của Hội Văn học Nghệ
Thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trao tặng cho tập thơ Những người con
của núi… cùng nhiều giải thưởng khác Tuy là một nhà thơ sáng tác nhiều và
Trang 9có thành tựu trong nhiều lĩnh vực như: thơ, tiểu luận, phê bình văn học…, nhưng tác giả Lò Ngân Sủn cũng chưa thực sự được nghiên cứu xứng với những đóng góp của ông Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thấy rằng mới chỉ có một số bài viết, nghiên cứu, giới thiệu về thơ Lò Ngân Sủn của một số nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình về văn học DTTS như: Trần Mạnh Hảo,
Vũ Quần Phương, Irasara, Bùi Tuyết Mai, Lê Thiếu Nhơn, Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo Gần đây có một số luận văn nghiên cứu về thơ Lò Ngân Sủn (cùng với các nhà thơ khác như: Pờ Sảo Mìn, Y Phương…): “Bản sắc dân tộc Giáy và Pa Dí trong thơ Lò Ngân Sủn và Pờ Sảo Mìn” của
Nguyễn Phương Ly, “Thơ Lò Ngân Sủn” của Phạm Thị Cẩm Anh Nhưng
những nghiên cứu, bài viết, các luận văn này hoặc là đi nghiên cứu một cách khái quát về thơ Lò Ngân Sủn; hoặc là khái quát chung những nét nổi bật về bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ ông; hoặc là bàn về cái hay cái đẹp ở một
số bài thơ tiêu biểu, còn riêng về mảng thơ tình yêu thì chưa có một nghiên cứu nào đi sâu một cách có hệ thống và toàn diện trong toàn bộ thơ ca của
ông, chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Thơ tình yêu Lò Ngân
Sủn” để nghiên cứu và tìm hiểu Từ đó giúp người đọc có cái nhìn rõ nét
hơn về nét đặc sắc, riêng biệt cùng những đóng góp đáng ghi nhận ở mảng thơ hay nhất của một nhà thơ đã có nhiều đóng góp cho văn học thiểu số miền núi Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Xét trong toàn bộ sự nghiệp cầm bút của Lò Ngân Sủn thì không phải ngay từ đầu ông đã đến với việc sáng tác thi ca, có thời gian ông từng đứng trên bục giảng với tư cách người đi gieo hạt giống tri thức cho miền núi Thế nhưng cái duyên với văn chương, cùng sự đam mê, học hỏi một cách nghiêm túc đã dẫn lối ông đến với nàng thơ như một mối lương duyên Từ bài thơ được cho là đầu tay khi Lò Ngân Sủn bắt đầu đến với thi ca đó là “Hoa má
Trang 10po” (1965), cho đến khi “trở về với núi”, ông đã say mê sáng tạo và sống hết mình với thơ ca - giống như con ong cần mẫn,ông đã dâng hiến bao mật ngọt cho đời và đã trở thành nhà thơ DTTS tiêu biểu, xuất sắc với bao tập thơ tình làm lay động lòng người Điều đáng trân trọng ở ông là sự nghiêm túc trong nghề cầm bút, ông luôn trăn trở với việc “thơ hay và thơ không hay”, ông
từng viết: “Thơ hay là thơ thuộc về chân lý, lẽ phải, thuộc về trái tim nhân loại, và sẽ tồn tại mãi mãi cùng với thời gian, cùng với sự sống của con người” [32, tr.11] Đúng vậy, nếu thơ chỉ thiên về cảm xúc chủ quan của
người làm thơ mà không đi từ chân lí, lẽ phải, không thuộc về trái tim nhân loại thì sẽ không có đất cho thơ, nhà thơ cũng không có chỗ đứng trong lòng bạn đọc Chính từ tâm niệm đó mà nhà thơ Lò Ngân Sủn đã cho ra đời những tập thơ đặc sắc, mang dấu ấn riêng, đặc biệt là mảng thơ tình yêu của ông
Chính vì vậy, thơ của ông nói chung, thơ tình yêu của ông nói riêng đã thu hút được khá nhiều người yêu thích, say mê, tìm đọc, và đã giới thiệu phê bình cho nhiều người cùng biết, thưởng thức
Thơ Lò Ngân Sủn hướng đến nhiều đề tài, và ông đã dành nhiều cảm xúc viết về mảnh đất và con người miền núi Thơ ông thể hiện một cách mộc mạc, chân thành, rất đỗi hồn nhiên, tự nhiên về cuộc sống, về thiên nhiên, về những nét phong tục tập quán mang bản sắc của các tộc người miền núi Đánh giá
chung về thơ Lò Ngân Sủn trong bài viết “Thơ với tuổi thơ”, nhà thơ Vũ
Quần Phương đã viết: “Thơ Lò Ngân Sủn trước sau luôn giữ được bản sắc của thơ miền núi, trong cả nội dung đến hình thức biểu hiện Cảnh, tình, nguyện vọng, cách bình giá cuộc đời…đều là việc thời sự của đồng bào các
dân tộc trên vùng cao phía bắc đất nước” [26, tr.435] Trong bài viết “Khi kẽ
tay người nở hoa”, nhà thơ, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo cũng có bình giá
xác đáng về bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ Lò Ngân Sủn: “Ông còn là nhà thơ của thiên nhiên, của núi đồi, của tiếng kèn pí lè dân tộc Dáy, của những
Trang 11cuộc vui bất tận quanh chảo thắng cố, phiên chợ người H.Mông với xòe ô và bát rượu ngô say khướt…” [26, tr.419] Nhà thơ Lò Ngân Sủn sử dụng vốn
hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc một cách rất hiệu quả, và chính những nét đẹp về văn hóa dân tộc đã làm nên giọng điệu, phong cách riêng trong thơ
ông Lê Thiếu Nhơn đã dành cho nhà thơ nhận xét chí lí: “Tài thơ Lò Ngân Sủn được chưng cất từ hồn vía Tây Bắc, khiến tôi ngờ rằng có nhiều câu thơ ông viết về cái nôi văn hóa của mình có thể trở thành đặc sản Đã có không ít nhà thơ đã đến Mèo Vạc, Hà Giang và viết về phiên chợ Khâu Vai, nhưng khó
ai so được với Lò Ngân Sủn sự ví von “như cái chảo thắng cố, nóng lên bao mối tình dang dở” [26, tr 459]
Vượt ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của vùng văn hóa dân tộc mình (dân tộc Giáy), Lò Ngân Sủn còn có những cảm nhận những nét đẹp đặc trưng về văn hóa của các dân tộc anh em, vì thế “cái tình” của ông không bị đóng khung vào các giá trị hạn hẹp của cái nôi văn hóa làng, bản, quê hương mình
Ông đem cái “tình” của mình đến với mọi người, với muôn nơi, đến muôn
đời Họa sĩ Đỗ Đức viết: “Cái tình không bờ bến của Lò Ngân Sủn dẫn dắt thơ anh đến mọi nẻo đường Cái tình nhuốm màu hoang dã kết hợp với lối viết chắt lọc như ca dao, tục ngữ, rất nặng về tiết tấu như nhịp của móng ngựa gõ trên đường mòn để cho thơ anh chỉ thuận để đọc mà khó để ngâm;
tạo ra chất thơ hiện đại, giản dị, trong sáng mà rất dân tộc” [26, tr.445] “Cái
tình không bờ bến” ấy đã làm nên “lều thơ tình” đặc sắc mang dấu ấn riêng của Lò Ngân Sủn Thơ tình yêu của ông tự nhiên, chân thật, sôi nổi, mãnh liệt, hấp dẫn người đọc bởi lối tư duy rất đỗi hồn nhiên và mang đậm tính bản
năng của người miền núi TS.Lê Thị Bích Hồng trong bài viết “Bản sắc văn
hóa dân tộc trong thơ Lò Ngân Sủn” nhận xét: “Thơ tình yêu của ông
thường có cái hoang sơ, trụi trần giữa thiên nhiên phóng khoáng, có sự thành thật đắm say đến tận cùng và có lời tự bạch chân thành” Tình yêu trong thơ
Trang 12Lò Ngân Sủn còn mang đậm sắc thái dân tộc vùng cao, giàu yếu tố phồn thực,
tác giả Mai Liễu nhận định: “Thơ Lò Ngân Sủn cũng chứa đựng những yếu tố phồn thực, nhất là những bài thơ nói về tình yêu nam nữ Đó là một thái độ vui sống chân thành, si mê, hồn nhiên, táo bạo, bất ngờ, hoang dã và đầy ám ảnh” [26, tr.484]
Trong cuốn “Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam đời và văn” (Tập I –
Nxb Văn hóa dân tộc – 2003) của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có giới thiệu những nét khái quát về nhà thơ Lò Ngân Sủn, về quá trình công tác và hoạt động văn học nghệ thuật của ông, trong đó có bài viết
“Khi kẽ tay người nở hoa” cuả Trần Mạnh Hảo, tác giả bài viết đã phân tích, bình giá rất sâu sắc về bài thơ “Người đẹp”, “Nàng” cả về nội dung và cấu
tứ: “Có lẽ, trong thi ca, sở trường của Lò Ngân Sủn là thơ tình, thường là những bài thơ ngắn có tứ lại khá hiện đại trong lối viết không câu nệ vào vần vèo, bằng trắc” [26,tr.418]; PGS.TS Trần Thị Việt Trung trong cuốn
“Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số” đã có một bài viết rất
sâu sắc về thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn và đưa ra những nhận định rất tinh
tế, chính xác về cái đặc sắc trong “Bữa tiệc tình yêu” của ông: “Là tác giả
của 22 tập thơ, trong đó phần lớn là thơ tình yêu, một thứ tình yêu cuồng nhiệt, say đắm, cháy bỏng, đầy bản năng của một người đàn ông miền núi đích thực – thơ tình Lò Ngân Sủn đã khiến cho người đọc phải ngạc nhiên, thích thú và dần bị chinh phục, bị cuốn theo dòng cảm xúc mãnh liệt như thác
lũ của nhà thơ DTTS tài hoa, lãng mạn và cháy hết mình trong tình yêu” [47,
tr.288] Ở trong cuốn “Tuyển tập thơ Lò Ngân Sủn” (Nxb Văn học), họa sĩ
Đỗ Đức viết bài “Thơ tình của Lò Ngân Sủn”; nhà thơ, nhà báo Lê Thiếu
Nhơn viết “Lò Ngân Sủn chắt chiu những bữa tình yêu” đều chỉ ra cái đẹp,
cái hay trong thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn Bên cạnh đó, cũng đã có một số luận văn tốt nghiệp đại học và sau đại học nghiên cứu về thơ Lò Ngân Sủn (ở
Trang 13các góc độ khác nhau và nghiên cứu tổng quát về Bản sắc dân tộc trong thơ
Lò Ngân Sủn) Ví dụ như: “Bản sắc dân tộc Giáy và Pa Dí trong thơ Lò Ngân Sủn và Pờ Sảo Mìn” của Nguyễn Phương Ly, tác giả chủ yếu đi vào nghiên cứu ngôn ngữ thơ giàu chất tạo hình trong thơ Lò Ngân Sủn và của Pờ Sảo Mìn, và cũng đã khai thác vẻ đẹp của ngôn ngữ tạo hình thông qua việc khắc họa hình ảnh con người miền núi, đặc biệt là người phụ nữ - đối tượng yêu trong thơ tình lò Ngân Sủn; “Thơ Lò Ngân Sủn” của Phạm Thị Cẩm Anh tác giả đã đi vào nghiên cứu cảm hứng chủ đạo, biểu tượng, ngôn ngữ và thể thơ trong thơ Lò Ngân Sủn, trong đó có nói đến cảm hứng nồng nàn, say đắm đầy chất phồn thực trong tình yêu đôi lứa và ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi trong thơ tình yêu của ông
Nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết về thơ Lò Ngân Sủn mặc dù là những phát hiện rất chính xác, thú vị, tuy nhiên cho đến nay,vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát và toàn diện về thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn – mảng thơ đặc sắc và thành công nhất của ông Chính vì vậy chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này để nghiên cứu cụ thể hơn, sâu sắc
và hệ thống hơn về mảng thơ hay nhất của nhà thơ dân tộc Giáy này, hy vọng luận văn sẽ đóng góp thêm tiếng nói về thơ tình – thơ đặc sản trong thơ ông, khẳng định những nét đặc sắc, những sáng tạo riêng trong thơ của ông, đồng thời cũng là nét đặc sắc của thơ ca DTTS hiện đại nói chung
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Toàn bộ các tập thơ của Lò Ngân Sủn, đặc biệt là đi vào nghiên cứu sâu, kĩ về thơ tình yêu của ông
Trang 143.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Chỉ ra những nét đặc sắc, hấp dẫn đậm mầu sắc dân tộc và miền núi, những giá trị và ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong thơ tình yêu cùa Lò Ngân Sủn
ở cả trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu khái quát về thơ tình yêu DTTS Việt Nam hiện đại và nhà thơ tình dân tộc Giáy – Lò Ngân Sủn
- Nghiên cứu, làm rõ một số đặc điểm nổi bật, những nét đặc sắc, riêng biệt trong thơ tình của Lò Ngân Sủn ở cả hai phương diện: nội dung
và nghệ thuật
- Khẳng định những nét riêng, những sáng tạo độc đáo, đậm bản sắc văn hóa tộc người (Giáy) trong thơ tình yêu Lò Ngân Sủn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại thơ trữ tình (phân tích các tác phẩm thơ, phân tích hình tượng thơ…)
- Phương pháp hệ thống, thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu (so sánh với thơ tình yêu của các nhà thơ DTTS khác…)
- Phương pháp nghiên cứu liên nghành (văn học với văn hóa học, dân tộc học, nhân học…)
Trang 15- Vận dụng một số thao tác của phương pháp nghiên cứu Thi pháp học (Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ, giọng điệu…trong thơ trữ tình Lò Ngân Sủn)
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn, chủ yếu qua các tập thơ tình tiêu biểu của ông:
- Tập thơ Chợ tình – Nxb văn hóa dân tộc (1995)
- Tập thơ Lều Nương – Nxb Văn hóa dân tộc (1996)
- Tập thơ Người đẹp – Nxb Văn hóa dân tộc (1999)
- Tập thơ Bữa tình yêu – Nxb Hội nhà văn (2004)
- Tập Tuyển tập thơ Lò Ngân Sủn – Nxb Văn học (2012)
Ngoài ra chúng tôi còn đọc và tìm hiểu một số sáng tác của các nhà thơ DTTS khác (để so sánh, đối chiếu, tìm ra nét riêng biệt trong thơ tình yêu của
Lò Ngân Sủn); đọc tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu về thơ của
Lò Ngân Sủn; đọc tham khảo những cuốn sách về lý thuyết lí luận để làm cơ
sở lí luận và thực tiễn cho công trình nghiên cứu của mình
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Phụ lục, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Vài nét về thơ tình yêu dân tộc thiểu số và nhà thơ tình dân
tộc Giáy – Lò Ngân Sủn
Chương 2: Nồng độ và sắc thái tình yêu trong thơ Lò Ngân Sủn Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ tình yêu Lò Ngân Sủn
Trang 167 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về đặc điểm Thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn, góp phần để khẳng định những nét đặc sắc ở mảng thơ tình của nhà thơ dân tộc Giáy – trong mảng thơ tình yêu DTTS nói riêng, ở thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 VÀI NÉT VỀ THƠ TÌNH YÊU DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ TÌNH DÂN TỘC GIÁY – LÒ NGÂN SỦN
1.1 Vài nét khái quát về thơ dân tộc thiểu số nói chung và thơ tình yêu dân tộc thiểu số nói riêng
1.1.1 Văn học dân tộc thiểu số thời kì hiện đại
Có thể nói nếu văn học Việt Nam hiện đại nói chung được hình thành từ đầu thế kỉ XX thì bộ phận văn học DTTS Việt Nam thời kì hiện đại chủ yếu hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Tuy ra đời sau nhưng văn học DTTS Việt Nam hiện đại đã có bước phát triển khá nhanh chóng và đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận
Trước đó trong đời sống văn học nước ta đã có một bộ phận văn học các DTTS Việt Nam rất phong phú và đặc sắc như các tác phẩm văn học dân gian: “Xong chụ xon xao” của dân tộc Thái, “Ẩm Ệt Luông” của dân tộc Mường, “Trường ca Đăm Săn”, “Xinh Nhã” của dân tộc Ê đê… đến “Khảm hải” của dân tộc Tày… Văn học DTTS Việt Nam nói chung, văn học DTTS hiện đại nói riêng đã một mặt kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian, mặt khác đã có những đổi mới, phát triển, hiện đại hóa với một đội ngũ sáng tác văn học đông đảo đến từ nhiều dân tộc khác nhau như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu, Nông Viết Toại, Triều Ân, Vi Hồng, Mã Thế Vinh,
Hà Thị Cẩm Anh, Mã A Lềnh, Inrasara, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Cao Duy Sơn, Mai Liễu,Bùi Thị Tuyết Mai, Linh Nga Nieekdam, Niê Thanh Mai, Dương Khâu Luông, Đồng Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan Cùng với lực lượng sáng tác văn học ngày càng hùng hậu thì số lượng và chất lượng
Trang 18của các tác phẩm văn học DTTS Việt Nam hiện đại cũng ngày nhiều hơn và càng được nâng cao hơn Đã có nhiều tác phẩm thơ ca DTTS đạt được Giải thưởng cao trong đời sống văn học Việt Nam nói chung, trong văn học các DTTS Việt Nam nói riêng, ví dụ như: “Ánh hồng Điện Biên” (1984) của Cầm Biêu đạt Giải A Hội VHNT Việt Nam năm 1984; tập thơ “Tiếng hát tháng giêng” của Y Phương được trao Giải hay nhất trong năm1987; 2 tập thơ
“Những người con của núi” (1990) và “Tôi là ngọn gió” (1998) của nhà thơ
Lò Ngân Sủn đạt Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1990, 1998); tập thơ
“Giấc mơ của núi” của Mai Liễu đạt Giải B Hội VHNT các DTTS Việt Nam (năm 2001); “Tháp nắng” - Thơ và trường ca (1996) của Inrasara đạt Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1997), “Lễ tẩy trần tháng Tư” (2002) – Thơ và trường ca đạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2003) và Giải thưởng văn học Asean (năm 2005) và gần đây nhất là tác phẩm “Vũ Khúc Tày – Tủng Tày (2015) của tác giả Y Phương được nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (2015)…
Sự vận động, thay da đổi thịt của cuộc sống con người và thiên nhiên miền núi qua các giai đoạn lịch sử của đất nước là nội dung phản ánh chủ yếu của các tác phẩm văn học DTTS Việt Nam hiện đại Từ khí thế hào hùng của Cách mạng, ca ngợi cuộc sống mới đầy phấn chấn, tự hào, đến phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi, tình yêu tự do tràn đầy năng lượng, và cả việc phê phán những thói hư, tật xấu, sự tha hóa biến chất của một bộ phận con người trong cuộc sống hiện đại…đều được các tác giả văn học DTTS phản ánh một cách rất chân thực và sinh động
Hòa cùng vào dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại nói chung, văn học DTTS Việt Nam hiện đại cũng phát huy được vai trò, nhiệm vụ lịch sử của mình, đó là hướng vào “một nền văn học phong phú, đa dạng, đặc sắc và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” Nền văn học phong phú, đa dạng, đăc sắc
Trang 19ấy đã khơi nguồn cảm hứng sáng tác cho đội ngũ các nhà văn DTTS trên tất
cả các thể loại: thơ, văn xuôi, kịch, lí luận phê bình…,trong đó thể loại thơ ca
đã có những đóng góp không nhỏ vào quá trình vận động và phát triển của văn học DTTS Việt Nam thời kì hiện đại
1.1.2 Thơ ca dân tộc thiểu số nói chung và thơ tình yêu DTTS nói riêng
Trong các thể loại (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, lí luận phê bình, kịch bản sân khấu…) của văn học các DTTS Việt Nam thì thể loại thơ được đánh giá là phát triển mạnh mẽ nhất và cũng là thể loại mang lại nhiều thành công nhất Với một đội ngũ đông đảo các nhà thơ gồm nhiều thế hệ liên tục phát triển, thơ ca DTTS hiện đại đã có nhiều thành tựu đáng khẳng định
Thơ ca DTTS giai đoạn từ 1945 đến 1975 có thể nói đã có bước phát triển khá phong phú và đa dạng Đây là giai đoạn đất nước bước vào chặng đường đấu tranh đầy gian khổ và ác liệt trước những thế lực xâm lược bạo tàn, đó là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ; đồng thời đây cũng là giai đoạn nước ta tiến hành công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam Thơ ca DTTS giai đoạn này cũng đã phản ánh kịp thời những chuyển biến mới của lịch sử dân tộc, ca ngợi lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của người dân miền núi; phản ánh hiện thực cuộc sống khổ cực của đồng bào miền núi dưới sự
áp bức bóc lột của giặc Pháp và bè lũ tay sai; thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần đấu tranh dũng cảm, một lòng theo Đảng, theo Bác, kháng chiến trường kì…Giai đoạn này xuất hiện một số gương mặt tác giả với các sáng tác tiêu biểu như: Cầm Biêu với các bài thơ, tập thơ: “Vợ lính ngụy mong chồng” (1949), “Gái thời giặc” (1950), “Mường muổi yên vui”
(1954); Nông Quốc Chấn với “Việt Bắc đánh giặc” (1948) , “Khâu áo”
(1948), “Dọn về làng” (1950), “Người núi hoa” (1958), “Tiếng ca Việt Bắc”
(1959); Triều Ân với “Tung còn và suối đàn” (1963), “Tiếng hát rừng xa”
Trang 20(1974), “Nắng ngàn” (1974); Bàn Tài Đoàn có “Xuân về trên núi” (1963),
“Một giác mơ” (1964), “Trùm xấy cấu - Kể chuyện đời” (1968); Nông Viết Toại với “Kin Ngay phuối khát” (1962), “Đét chang nâu” (Nắng ban trưa);
Vương Anh có “Sao chóp núi” (1968), “Trăng mắc võng” (1973)…
Sau đại thắng mùa xuân 1975, non sông đã liền một dải, Bắc Nam xum họp một nhà, niềm vui thắng lợi, không khí tươi vui phấn khởi tràn ngập muôn nơi, đất nước sang trang sử mới , khép lại thời kì “khổ nhục mà vĩ đại”,
mở ra thời kì mới – thời kì độc lập dân tộc thống nhất nước nhà, xây dựng cuộc sống mới Cùng với sự chuyển mình của văn học dân tộc trong giai đoạn mới, thơ ca DTTS cũng có những thành tựu vượt bậc, cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh lớp nhà thơ đi trước vẫn bền bỉ sức sáng tạo như: Nông Quốc Chấn với “Dòng thác” (1977), “Bài thơ Pác Bó” (1982); Bàn Tài Đoàn với
“Trên núi vẫn là nơi ta ở” (1979), “Bước đường tôi đi” (1985), “Ba con đường” (1995), “Bó đuốc sáng” (2002); Vương Anh với “Đến hẹn” (1983),
“Hoa Li-pa yêu” (1989), “Rượu mặn” (1993), “Lá đắng” (1993); Vương Trung với “Sóng Nậm Rốn” (trường ca – 1998); Triều Ân với “Chốn xa xăm” (1990)…là đông đảo lớp nhà thơ trẻ với lòng nhiệt huyết sôi trào,tình yêu cuộc sống thiết tha, đem đến muôn điệu và âm hưởng đa dạng, phong phú cho cây đàn thơ ca DTTS, khiến cho thơ ca dân tộc thiểu số thời kì này
có một đời sống sôi động và phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, với sự xuất hiện của các gương mặt nhà thơ tiêu biểu như: Y Phương với “Tiếng hát tháng giêng” (1986), “Lửa hồng một góc” (1987), “Đàn then” (1996); Pờ Sảo Mìn với “Cây hai nghìn lá” (1992), “Mắt lửa” (1998), “Con trai người
Pa Dí” (2001); Lò Ngân Sủn với “Chiều biên giới” (1989), “Những người con của núi” (1990), “Dòng sông mây” (1995), “Người đẹp” (1999); Dương Thuấn với “Cưỡi ngựa đi săn” (1991), “Đi tìm bóng núi” (1993), “Đi ngược mặt trời” (1995); Lò Cao Nhum với “Giọt sao trở về” (1995), “Rượu núi”
Trang 21(1996), “Sàn trăng” (2000), “Theo lời hát về nguồn” (2001); Lâm Quý với
“Điều có thật từ câu ca dao” (1998); Ma Trường Nguyên với “Mát xanh rừng cọ” (1983), “Tiếng lá rừng gọi đôi” (1996), “Câu hát vắt qua vai”
(2005); Triệu Kim Văn với “Hoa núi” (1990), “Mùa Sa nhân” (1994), “Lá tìm nhau” (1999), “Con của núi” (2002)…Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của các nhà thơ nữ người DTTS như: Dư Thị Hoàn với “Lối nhỏ” (1988);
Nông Thị Ngọc Hòa với “Trước gương” (1998), “Lời ru cho mình” (1999),
“Vườn duyên” (2002); Triệu Thị Mai với “Ngọn lửa”… Các tác phẩm thời
kì này mang âm hưởng náo nức, với cảm hứng ngợi ca con người và cuộc sống miền núi mang hơi thở mới trẻ trung, sôi nổi, nhiệt huyết; nghệ thuật thể hiện có tính hiện đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc
Trong lĩnh vực thơ ca các DTTS Việt Nam hiện đại thì mảng thơ tình yêu được đánh giá là đặc sắc, lạ và hấp dẫn người đọc nhất Có một số nhà thơ tình DTTS tiêu biểu với những sáng tác như: “Lời then ai buộc” (1996),
“Giấc mơ của núi” (2001) của tác giả Mai Liễu; “Tiếng hát tháng giêng”
(1986), “Lửa hồng một góc” (1987), “Đò trăng” (2009), “Bài hát cho Sa”
(2011), “Mùa hoa” của tác giả Y Phương; “Con trai người Pa Dí”
(2001),“Tiếng chim cao nguyên” (2015) của nhà thơ Pờ Sảo Mìn; “Bên suối Nậm Mơ” (1995),“Tình ca đá núi” (2015) của Mã A Lềnh; “Lời của lá”
(2000),“Vườn duyên” (2002) của tác giả Nông Thị Ngọc Hòa; “Xôn xao rừng lá” (1992), “Lời riêng” (2009) của tác giả Hà Lâm Kỳ…Các nhà thơ đã có nhiều bài thơ , tập thơ viết về đề tài tình yêu (nam, nữ) rất đặc sắc, vừa mang những nét chung của thơ tình yêu nói chung, vừa có những đặc điểm riêng, sắc thái riêng, cách viết riêng rất độc đáo và thú vị của người miền núi
Nhà thơ Mai Liễu với tình yêu thầm kín, thương thầm trộm nhớ, tình yêu luôn ấp ủ trong tâm tưởng được diễn đạt bằng cảm xúc giản dị, trong sáng,
không ồn ào: “Hai cặp mắt tình tứ trông nhau/ Quả còn trên tay mê ngủ/
Trang 22Chẳng nhớ mình đeo tua đỏ tua xanh” (Tung còn) Tình yêu trong thơ Y
Phương có sự dồn nén cảm xúc, yêu bằng mắt bằng lòng, bằng tâm hồn của
một người sinh ra để yêu, suốt đời đi tìm tình yêu dù có phải: “Đi hỏng đôi giày/ Anh đi quên vung tay/ Cởi áo vắt vai/ Phăm phăm bước/ Mặt trời cũng
một mình/ Đi tìm/ Mặt trăng” (Đi tìm) Với Pờ Sảo Mìn tình yêu trong thơ
ông là tình yêu mạnh mẽ, bản năng: “Đã yêu là yêu nhiều, yêu mãi/ Yêu cho
hết tận cùng man dại” (Con trai người Pa Dí) Mã A Lềnh đắm đuối, si mê
trong tình yêu “rực cháy đến lụi tàn”:“Nếu ta là hạt mưa sương/ Ta xin tan trên bàn tay nàng/ Nếu ta là bông tuyết trắng/ Ta xin tan dưới bàn chân nàng/
Là chàng trai miền núi/ Ta xin tan trên thân thể nàng” (Tình khúc 33).Thơ
tình của tác giả Hà Lâm Kỳ thì được biểu hiện trong một tình yêu say đắm,
nồng nàn, trong trẻo như suối nguồn: “Nếu được nắm tay em/ Anh sẽ nắm
không buông/ Và/ Nếu đời anh có em/ Hai ta đời lồng một” (Bạn
gái)…Trong số các nhà thơ tình DTTS nổi bật lên nhà thơ của dân tộc Giáy –
Lò Ngân Sủn, tác giả của 22 tập thơ, trong đó thơ tình yêu chiếm một số lượng lớn Những tập thơ hay nhất của Lò Ngân Sủn chính là tập thơ viết về
đề tài này
1.2 Nhà thơ tình dân tộc Giáy - Lò Ngân Sủn
1.2.1 Những nét đặc sắc của văn hóa Giáy
Dân tộc Giáy có tên gọi khác là Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Sa Nhân…
Ngoài ra còn một số tên gọi khác, đây là những tên gọi theo thổ ngữ hoặc theo
sự pha tạp ngôn ngữ của các tộc người khác như: dân tộc Tày, Thái gọi người Giáy là “ Giẳng” hay “Nhẳng”, dân tộc Mông gọi người Giáy là “ Xúa”
(Hán) Dân tộc Giáy có số dân (theo con số thống kê năm 1999 là 49.098 người), địa bàn cư trú chủ yếu Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng Người Giáy thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, thuộc hệ tiếng nói Thái- Kađai.Đồng bào Giáy sống định cư và họ gọi đơn vị cư trú của mình là làng
Trang 23“Luổng”, bản “Bán” Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Giáy là phải nói đến một loại hình văn hoá lúa nước Bởi lẽ, Người Giáy lựa chọn vị trí địa lý
để lập làng bao gồm các vùng tự nhiên như: những thung lũng bằng phẳng, ven sông, suối, những bãi bằng …là những nơi thuận tiện cho việc sản xuất, gieo trồng cây lúa nước,cho nên dân tộc Giáy là cư dân lúa nước từ rất sớm
Một đặc điểm của loại hình văn hoá này là tất cả các ngày tết, lễ hội trong năm đều theo mùa vụ của cây lúa nước, với những đặc thù như vậy đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là loại hình văn hóa lúa nước
Những nét văn hoá đặc trưng của tộc người Giáy thể hiện trong nhà ở, trang phục và văn hóa ẩm thực…
Nhà ở người Giáy dựng nhà theo hai kiểu cấu trúc nhà trệt và nhà sàn (trong đó cấu trúc nhà sàn chỉ thuộc về một số nhóm người Giáy sống ở Hà Giang, Cao Bằng) Còn cấu trúc nhà trệt phổ biến hơn, là kiểu dáng của tất cả các nhóm người Giáy sống ở Lào Cai, Lai Châu và được xem như là mô hình đại diện của ngôi nhà người Giáy Ngôi nhà trệt điển hình của người Giáy là nhà khung gỗ lợp hai mái gianh cao vút Hai đầu hồi trên nóc nhà có thể được trang trí hoa văn gỗ hoặc để thông thoáng Tường nhà 4 bức được nện bằng đất hoặc làm bằng gỗ tấm hay phên tre nứa, cách mặt đất gần 20 cm
Công cụ lao động của người Giáy cũng tiếp thu công cụ lao động của các dân tộc khác Chỉ có một vài công cụ riêng của người Giáy là: chiếc bừa đôi, đôi dậu gánh thóc Công cụ thu hoạch gồm có: liềm ,nép, ván, thùng đạp lúa (táu) Là cư dân lúa nước cho nên trong sáng tạo văn hóa lúa nước người Giáy chỉ có công cụ lưỡi kim loại là: Dao (phạc sá), cày (phạc xay), cuốc (phạc dạc) Trong đó dao được coi là công cụ quan trọng nhất được người Giáy chú
ý giữ gìn và mài sắc, bởi nó tạo ra những những giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa vật chất: lấy gỗ, tre dựng nhà, tạo ra các công cụ khác và vật dụng cho sinh hoạt hàng ngày, dùng chế biến thức ăn, phát cây cỏ…
Trang 24Trang phục của người Giáy cũng có nét riêng Nam giới mặc quần ống rộng nhưng ống lại được thắt chéo (lá tọa), áo ngắn cổ tròn có chân, mở giữa cúc cài khuy bằng vải, đầu đội khăn vải bông nhuộm chàm với những nút thắt, chít Màu sắc quần áo là màu đen và chàm thẫm Phụ nữ Giáy mặc áo ngắn xẻ, nách phải cài khuy vải hoặc bạc, cổ đứng viền vải khác màu, tay áo
và tà áo cũng viền vải khác màu, áo nữ đủ các loại màu nhưng tuyệt đối không có màu trắng Phụ nữ Giáy thường vấn tóc tròn quanh đầu, đầu đọi khăn vuông
Về văn hóa ẩm thực mang nét đặc trưng và in đậm văn hóa tộc người, từ lương thực trong tiếng Giáy gọi là “Háu” (lúa, gạo, cơm), trong bữa ăn hàng ngày người Giáy ăn cơm tẻ đồ (gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ), nước luộc gạo được dùng làm nước uống Người Giáy hay chế biến xôi nhiều màu (xôi ngũ sắc), họ quan niệm năm màu xôi tượng trưng cho ngũ hành, năm yếu tố cơ bản tạo nên đất trời theo quan niệm của đạo Lão và Kinh Dịch
Người Giáy không nhiều lễ hội, nhưng tết thì lại rất nhiều, hàng năm vào ngày Thìn tháng Giêng âm lịch người Giáy ở Tả Van (huyện Sa Pa - Lào Cai) lại mở hội Roòng Poọc để cầu mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, mưa thuận, gió hoà Lễ hội Roòng Poọc (xuống đồng) của người Giáy là sự giao hoà giữa thiên nhiên và con người, làm mỗi người trong cộng đồng nơi đây biết trân trọng giá trị của lịch sử (ghi nhớ công lao người mở đất lập bản), biết trân trọng thiên nhiên (tâm linh tôn trọng các thế lực siêu nhiên, biết yêu thương cỏ cây, tài nguyên đất và nước), biết yêu thương con người (giao lưu, đồng cảm, đoàn kết)
Về tết, một năm mười hai tháng thì hầu như tháng nào người Giáy cũng có tết: tết Nguyên Đán (Cơn Siêng Láo), tết rằm tháng giêng (Cơn sịp há), tết 30 tháng giêng (Cơn đáp), ngoài ra có tết tháng 3(tết Thanh Minh), tết tháng 5 (tết Đoan Ngọ), tết tháng 7 kéo dài 3 ngày (14,15,16), tết tháng 8 (tết Trung Thu),
Trang 25tháng 9 không có ngày xác định lúa chín là ăn tết cơm mới, tháng 10 thu hoạch mùa xong là làm bánh dầy cúng tổ tiên,tháng 11 gọi là “Đươn ít” ngày 11 làm bánh áp chảo cúng tổ tiên, tháng 12 gọi là “Đươn lạp” (tháng chạp) ngày 15 làm bánh giầy cúng tổ tiên, ngày 23 làm bánh trôi “srỏng srảo vàng” (tiễn táo vương)…
Phong tục cưới hỏi của người Giáy rất cầu kì và tốn kém, gồm các bước:
xem mặt, xem nhà, thả mai mối, thách cưới, lễ đoạn lời, lễ cưới và lễ lại mặt, Nhà trai ngoài việc phải chi phí các bước lễ và chi phí ăn uống cho nhà gái còn phải mang tặng phẩm làm quà biếu cho họ hàng gần nhà gái Và trong các đám cưới người Giáy thường bao giờ cũng có các cuộc hát đối đáp giữa trai gái của bản làng này với trai gái của bản làng khác đến dự đám cưới Các cuộc hát đối đáp này thường được bắt đầu vào chập tối và có khi kéo dài đến tận ngày hôm sau, đêm hôm sau Ngoài ra trong các nghi thứclễ cưới đều có kèm theo các bài hát như: “Hát đón dâu”, “hát đưa dâu”, “hát rửa mặt”, “hát trước mâm trước rượu”, “hát đạo lý”, “hát khuyên răn”, “hát cám ơn”…
chay chu đáo thì sẽ được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không
sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày và có thêm một số nghi lễ như thả đèn trôi sông, rước hồn đi dạo Con cái để tang bố mẹ một năm Lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm
Bên cạnh đó người Giáy còn có nhiều trò chơi dân gian cho các lứa tuổi như: “đánh quay”, “tung yến” (tó tôm), trò chơi “tung còn” Trò chơi “tung còn” là trò chơi dành cho cả bản làng (già, trẻ, gái trai) Có nơi tổ chức cả Hội
“tung còn” rất to, thu hút người chơi tham gia rất đông, có khi có tới hàng trăm người tham dự…
Trang 26Có thể nói văn hóa, phong tục tập quán truyền thống của đồng bào Giáy rất phong phú, đa dạng, mang bản sắc riêng Bản sắc văn hóa ấy là dòng suối nguồn trong mát đánh thức tâm hồn con người, nuôi dưỡng thơ ca và gắn kết cộng đồng Những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Giáy được xây đắp qua quá trình đấu tranh sinh tồn của lịch sử dân tộc, và trở thành tinh hoa của nền văn hóa dân tộc nói chung
1.2.2 Văn học dân gian dân tộc Giáy
Người Giáy được kế thừa vốn văn học dân gian của cha ông truyền lại
Đó là những bài ca dao, tục ngữ, những điều răn về các chuẩn mực xã hội, phản ánh được ý nghĩ , tình cảm, cuộc sống lao động của con người, xã hội rất
rõ nét Họ còn có cả kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, truyện cười…rất hay
và có thể kể hàng đêm (truyện thơ “Pít chai phù sĩ”, “E toi”); dân ca có tới vài nghìn bài và nhiều thể loại (“Hát mừng nhà mới”, “Hát mời điếu”, “Hát chào đường”…)
Truyện cổ dân tộc Giáy rất phong phú, tiêu biểu là các truyện: “Quả bầu”,
“Nàng sram póc ẻn tái”, “Pít chai phù sĩ”, “E chá E péng”… đã phần nào cho thấy trí tưởng tượng vô cùng phong phú của dân tộc Giáy Nội dung chủ yếu của các câu chuyện cổ là: giải thích nguồn gốc sự ra đời của các dân tộc trên đất Việt; ca ngợi những con người đẹp, tài sắc vẹn toàn; ca ngợi lối sống tình nghĩa vợ chồng thủy chung; ca ngợi những con người nghèo khổ mà lương thiện (qua hình tượng: những người mồ côi, em út, con riêng); đồng thời gửi gắm ước mơ, khát vọng về một xã hội công bằng, cái thiện sẽ chiến thắng cái
ác Ngoài ra nội dung phản ánh trong các truyện cổ còn là những phong tục tập quán, những quan niệm của người xưa về cái sống, cái chết, về sự tích các loài vật và muôn loài…
Kho tàng tục ngữ, thành ngữ dân tộc Giáy rất phong phú: nó được đúc rút từ chính cuộc sống của người Giáy, từ trong mối quan hệ con người với
Trang 27thiên nhiên và từ trong thực tiễn lao động sản xuất Tục ngữ Giáy còn có nhiều câu nói sâu sắc và triết lý về cuộc sống, ví dụ như: “Choi dưới vịt đáy/Pí nuống rưới vịt bỏ pắn” (Sọt rách không vứt được/Anh em rách không vứt được); “Đăn lai đai bỏ đáy có chắn” (Trồng nhiều làm cỏ không được cũng đói); “Pun ta nửng há ráy quả mùm” (Lông mày còn muốn dài hơn râu);
“Chảy nắng há quai nhiếu pít” (Trứng còn muốn khôn hơn vịt)…; và cách giao tiếp, cách ăn ở, nói năng đi lại: “Ăn đưa xuống, uống đưa lên”, “Ăn khi đói, nói khi tỉnh”, “Lời nói ở đầu lưỡi, lật bên nào cũng được”, “Lời nói ở đầu lưỡi, đắng, ngọt ở đấy cả” Khi nhắc đến quan hệ giàu nghèo, sang hèn người Giáy nói: “Vào nhà quăng gậy không vướng vật gì”, “Giàu có thì tìm đến, nghèo khó quay lưng đi”…Họ dùng tục ngữ để giáo dục, răn dạy con trẻ, và
để bàn luận trao đổi trong các cuộc nói chuyện Người Giáy rất tôn trọng và
đề cao những người biết nhiều và am hiểu tục ngữ, coi đó là những người có tri thức, biết ứng xử trong xã hội
Vốn văn học dân gian của dân tộc Giáy rất phong phú, bên cạnh truyện
cổ dân gian cùng kho tàng tục ngữ, thành ngữ phong phú cũng phải kể đến vốn quí dân ca dân gian Giáy Người Giáy không làm thơ để ngâm riêng mà làm thơ chính là để đặt lời cho bài hát, thậm chí các câu tục ngữ, thành ngữ,
trong các lễ hội, và giữ vị trí quan trọng trong kho tàng văn hoá của dân tộc Giáy Với người Giáy, những bài hát cổ truyền của dân tộc có sức truyền cảm mạnh mẽ trong tâm thức của mỗi con người, trong các mối quan hệ gia đình
Qua mỗi bài hát, họ đã gửi gắm bao ước vọng vào cuộc sống, vào tình yêu, vào cộng đồng, làng bản yêu quí của mình
Dân ca Giáy rất phong phú, có nhiều làn điệu với nội dung khác nhau, thể hiện và phản ánh nhiều hoạt động văn hóa tinh thần khác nhau, ví dụ như:
Trang 28Hát bên mâm rượu (Vươn ná láu): thường diễn ra trong các bữa ăn vui mừng, khách đến ăn mừng, chúc tụng gia chủ, khen rượu ngon, chè ngon, chúc tụng ông già bà cả sống lâu trăm tuổi, con cháu khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt,cuộc sống bình an, hạnh phúc: “Chúc cha mẹ sống như núi đá tảng/
Núi đá tảng biết lăn/ Cha mẹ ta sống trăm năm không già…”; “Chúc gia đình trâu ngựa đầy đồng/ Lợn gà đầy sân/ Con nuôi con bán/ Chúc gia đình ngô lúa đầy sàn…”; “Chúc gia đình nhiều khách đến thăm/ Chúc gia đình cháu con đầy đàn…”
Hát trong đám cưới: Thay lời dặn dò của người mẹ đối với con gái khi đã
đi làm dâu con thì không được mải vui, mải chơi mà phải chăm làm, phải chịu thương chịu khó làm lụng, chăm sóc, gây dựng nhà chồng
Hát tặng địu (Vươn srỏng đa): là các bài hát khi nhà trai làm đầy tháng cho cháu nội và nhà gái mang địu, mang tã đến tặng cho cháu ngoại
Hát tiễn đường (Vương srỏng răn): các bài hát khi mọi người gặp gỡ nhau, hoặc làm quen nhau trong mỗi phiên chợ, khi tan buổi chợ họ tiễn nhau bằng các bài hát tha thiết,lưu luyến
Hát ống hát (Vươn bộc vươn): là cuộc hát “tâm tình” của đôi lứa, sau khi thu hoạch lúa xong, vào khoảng tháng chạp, hoặc tháng tết âm lịch trên những thửa ruộng trước làng, đêm đến từng đôi hoặc từng nhóm rủ nhau ra cánh đồng để nói lời yêu thương, tâm tình bằng lời hát qua hai ống tre được nối bằng một sợi chỉ
Hát ban đêm (Vươn chang hằm): dạng hát này là phổ biến nhất và cũng
có thể coi đây là sự biểu hiện trọng tâm của dân ca dân tộc Giáy, là cuộc hát
có bài vở, có thứ tự, có chủ đề nội dung, là cuộc hát đọ tài thi sức của trai gái vùng này với trai gái vùng khác, cuộc hát thu hút mọi lứa tuổi tham gia
Trang 29Có thể nói dân ca đã ăn vào tiềm thức, máu thịt của người Giáy Người con của dân tộc Giáy từ khi lọt lòng sinh ra, rồi nằm trên lưng mẹ, trong lòng bà…đã được nghe các bài hát, được đắm mình trong các bài hát dân ca của dân tộc mình Những bài hát dân ca đã thực sự góp phần xây đắp nên tâm hồn, tình cảm, lối sống và làm nên mối quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng dân tộc Giáy Cũng chính vì được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất vùng cao xanh thẳm, được tắm mát và uống nguồn nước dân ca ngọt ngào từ thuở ấu thơ, nên nhà thơ Lò Ngân Sủn – người con ưu tú của dân tộc Giáy (Bát Xát – Lào Cai),
đã ngấm rất sâu chất văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc mình và đã trở
thành nhà thơ cất lên tiếng hát tâm hồn của dân tộc Khi viết về Bản sắc dân
tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, nhà nghiên cứu, phê
bình Trần Thị Việt Trung đã khẳng định: “Người Giáy có một kho tàng thơ
ca, đồng dao và truyện cổ rất phong phú Đặc biệt người Giáy có nhiều loại dân ca và mỗi loại có nhiều bài, nhiều làn điệu khác nhau Đây chính là cái
nôi nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ Lò Ngân Sủn, và cái chất dân gian ấy đã
thấm sâu vào con người Lò Ngân Sủn từ thuở nhỏ và sau này trở thành nguồn mạch vô tận nuôi dưỡng sự nghiệp sáng tác thơ văn của ông…” [46, tr.321]
Có thể thấy rất rõ: thiên nhiên cuộc sống, con người, những nét phong tục tập quán độc đáo về văn hóa, kho tàng văn học dân gian phong phú đậm đà bản sắc dân tộc của người Giáy, cùng với tài năng thơ ca thiên bẩm, một tình yêu cháy bỏng với nàng thơ, đã hun đúc nên một Lò Ngân Sủn – nhà thơ trữ tình tài hoa, người con tiêu biểu của đồng bào Giáy, một gương mặt đại biểu xuất sắc cho nền văn học DTTS nói chung và thơ ca DTTS hiện đại nói riêng
1.2.3 Cuộc đời, con người và quá trình sáng tác của nhà thơ Lò Ngân Sủn
1.2.3.1.Cuộc đời và con người
Lò Ngân Sủn sinh ngày 26 tháng 04 năm 1945 tại thôn Bản Vền, xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Khi đến với làng thơ ông lấy các bút danh
Trang 30khác là E Sun, Lô Quang Thuận, nhưng chủ yếu ông vẫn sử dụng cái tên khai sinh của mình: Lò Ngân Sủn – cái tên đậm chất dân tộc Giáy, cái tên đã làm nên tên tuổi nhà thơ tình của một vùng núi cao, hùng vĩ, thơ mộng và dữ dội
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, đông con, và là người em út trong gia đình, quanh năm phải đối mặt với cái nghèo, cái đói, nhưng cậu bé Lò Ngân Sủn ngày nào vẫn không thôi nuôi khát vọng được đi học và ước mơ vào đại học Từ năm 1961 – 1967, sau khi đỗ tốt nghiệp cấp III, ông theo học trường Sư phạm của tỉnh từ Sơ cấp lên Trung cấp.Từ năm
1967 – 1969, ông tiếp tục học lên Đại học Sư phạm khoa Chính Trị 18 tuổi
Lò Ngân Sủn trở thành người “kĩ sư tâm hồn” đi gieo những hạt giống quí nơi núi rừng xanh thẳm Ông công tác trong ngành Giáo dục tại quê nhà (dạy học
ở trường Phổ thông Cấp I, xã Mường Hum, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, sau
đó dạy học ở trường Trung cấp Sư phạm Lào Cai) Từ năm 1970 – 1979, Lò Ngân Sủn tiếp tục dạy học và tham gia công tác quản lí trong ngành Giáo dục, cũng trong thời gian này ông bén duyên với “nàng thơ” Và sớm trở thành một nhà thơ dân tộc Giáy quí hiếm, có những đóng góp đối với đời sống văn học DTTS Việt Nam hiện đại Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng như:
Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai, Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam; Ủy viên Đoàn chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam
Năm 2003, nhà thơ Lò Ngân Sủn bị một cơn tai biến dẫn đến đột quỵ
Ông tỉnh lại với di chứng là chân phải, tay phải bị liệt và nói ngọng, nói lắp, trí nhớ suy giảm mạnh Nhưng người đàn ông “đá núi” vẫn không chịu bỏ cuộc trước số phận, ông đã tập viết bằng tay trái Sau một thời gian dài kiên trì, ông đã viết được, dù nét chữ có vẻ hơi run nhưng vẫn khá rõ ràng, mạch lạc Nhờ thế, ông đã tự tay gửi đến các tòa soạn nhiều bài thơ mới, hoặc cả
Trang 31một tập thơ với một màu sắc, một giọng điệu riêng và về đề tài thì luôn trung
thành với tình yêu đôi lứa (nhà thơ Lò Ngân Sủn từng “tuyên ngôn”: "Làm báo săn tin/ Làm thơ săn tình"…)
Trong suốt thời gian 10 năm phải chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo,
Lò Ngân Sủn vẫn luôn sống với một tinh thần lạc quan, và tin tưởng rằng một ngày kia mình sẽ khỏe lại Nhưng rồi, tác giả đã “trở về” vĩnh viễn với quê
hương Bát Xát, Lào Cai, nơi mà ông yêu nhất – nơi ông đã từng viết “có nơi nào xanh hơn”, “có nơi nào cao hơn”, “có nơi nào đẹp hơn”…
Nhà thơ Lò Ngân Sủn đã từng được trao nhiều Giải thưởng văn học có giá trị, có uy tín về văn học nghệ thuật, ví dụ như: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, của Liên Hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật Việt Nam, của Hội Văn học – Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và Giải thưởng Phan
Xi Păng của Ủy ban Nhân Dân Tỉnh Lào Cai Nhà thơ Lò Ngân Sủn là người sống gắn bó, và có ân tình sâu nặng với quê hương, đất nước, đặc biệt là đối với mảnh đất quê mẹ nơi ông đã sinh ra và lớn lên Những hình ảnh về thiên nhiên núi rừng, sông suối, thác nước, nương đồi…; về con người miền núi thuần phác giản dị, mạnh mẽ, mãnh liệt, phóng khoáng, đa tình; về những phiên chợ vùng cao với những tiếng kèn pí lè; những bài hát dân ca…luôn thường trực trong thơ ông Chính cái tình sâu nặng của người con “đá núi” với quê hương đã làm nên chất trữ tình, làm nên những câu thơ, bài thơ với những hình ảnh mang đậm sắc mầu miền núi với những giai điệu ngọt ngào qua các sáng tác của ông Họa sĩ Đỗ Đức lần đầu gặp ông đã
nhận xét: “Lò Ngân Sủn đẹp như cây măng mới mọc, da trắng, mặt bầu và đặc biệt đôi mắt màu hổ phách trong vắt Và rồi tôi nhận ra những vần thơ trong trẻo ngây thơ như đôi mắt ấy…Anh ra đi nhưng để lại những trang thơ trải dài biên giới, thẫm đẫm tình yêu đôi lứa Bao nhiêu năm bom đạn nhưng thơ anh hầu như không tháy tiếng súng, thơ anh chỉ lấp lánh màu thổ cẩm với câu
Trang 32chuyện về một chàng trai suốt đời hát với tình yêu Nhưng chứa đựng trong đó
là tình yêu bản làng đến nao lòng” [16,tr.235-236]
Lò Ngân Sủn là một người ít nói, lặng lẽ, nhưng ẩn chứa trong con người ông là lửa đỏ, là thác lũ rất sôi nổi, mãnh liệt vô cùng Điều đáng nói nữa ở con người Lò Ngân Sủn là cách sống lạc quan, yêu đời, luôn có niềm tin, ý chí, và nghị lực sống mãnh liệt Mặc dù gia cảnh nghèo đói, đông anh
em, chạy ăn từng bữa, nhưng khi còn là cậu học sinh Lò Ngân Sủn luôn nuôi
hi vọng, ước mơ, ý chí học hành, cuối cùng ông cũng đạt được ước nguyện của mình: thành công trong lĩnh vực “trồng người” ở vùng cao và thành công trên con đường văn chương nghệ thuật Khi phải chống chọi với bệnh tật hiểm nghèo, và di chứng của tai biến mạch máu não, sức khỏe, trí nhớ suy giảm mạnh, nói năng khó khăn, liệt tay phải không thể cầm bút viết được, nhưng bằng sự quyết tâm, bằng ý chí và nghị lực sống ông đã kiên trì luyện tập hằng ngày để viết (bằng tay trái), để tiếp tục sáng tác, tiếp tục bay trên bầu trời thi
ca của mình Ông đã từng viết về vai trò, về ý nghĩa, về tư cách và khát vọng của một nhà thơ chân chính:
Nhà thơ như ngọn lửa Cháy giữa mùa Đông Nhà thơ như ngọn gió Thổi vào mùa Hạ Nhà thơ như chiếc lá trên cành Dẫu rụng rồi vẫn cho cây màu xanh
Quả thực – với nhà thơ: “dẫu đã rụng rồi” vẫn để lại cho đời một “cây thơ mầu xanh” tràn đầy nhựa sống
Trang 331.2.3.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Lò Ngân Sủn
* Quan điểm sáng tác của nhà thơ:
Khởi đầu cho con đường sự nghiệp của mình, Lò Ngân Sủn đến với nghề dạy học, nhưng sau đó ông lại bén duyên bền chặt với văn chương Ở lĩnh vực công tác nào ông cũng tâm huyết hết mình vì công việc Đặc biệt khi đứng ở
vị trí của người cầm bút đi “gieo vần cấy chữ” ông luôn trăn trở với nghề và
có ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm vụ của người làm văn nghệ Bởi vậy, qua những sáng tác, qua những lời phát biểu của mình Lò Ngân Sủn đã thể hiện một cách rất rõ ràng và nhất quán những quan điểm về văn chương nghệ thuật nói chung và về thơ ca nói riêng
Trước hết đối với ông “Thơ phải được chưng cất từ tình yêu” Thơ là
phải xuất phát từ trái tim cháy bỏng yêu thương, từ “cái tình chân thật” “Cái tình chân thật” trong thơ Lò Ngân Sủn khởi phát từ chính con người có trái tim dạt dào tình cảm, có tấm lòng yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha Được chưng cất nên từ tình yêu con người, yêu quê hương của một chàng trai miền núi mạnh mẽ, mãnh liệt, lãng mạn,phóng khoáng Thơ ông thấm đẫm tình đời,
tình người vùng cao, “cái tình không bờ bến đã dẫn dắt thơ anh đến mọi nẻo
đường” [26, tr.445]
Cũng giống như suy nghĩ của một số nhà thơ khác, Lò Ngân Sủn coi việc
làm thơ là “một công việc đầy sáng tạo” và là một sự “sáng tạo đặc biệt” Vì
thế, ông không thể chấp nhận sự dập khuôn, sự “bắt chước” hay sự dễ dãi, cẩu thả trong câu chữ, trong diễn đạt Đặc biệt, ông rất “dị ứng” với loại thơ mang tính chất thị trường (như khá nhiều các bài thơ đã đăng tràn lan trên các mặt báo) Đó chính đấy là ý thức và lòng tự trọng của một người nghệ sĩ chân chính Ông thẳng thắn phê phán loại thơ nhạt nhẽo, vô vị, dập khuôn…; ông muốn vươn tới một loại thơ có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Đó mới chính là
“thơ hay”, “thơ đỉnh cao” của cuộc sống con người, như ông đã từng
Trang 34nói:“Thơ hay là thơ thuộc về chân lý, lẽ phải, thuộc về trái tim nhân loại, và
sẽ tồn tại mãi mãi với thời gian, cùng với sự sống của con người…Đó là những bài thơ đỉnh cao, là niềm tự hào của cuộc sống con người” [32,tr.11]
Lò Ngân Sủn cũng từng phát biểu khi bàn về vai trò, sứ mệnh của người
làm thơ: “Người làm thơ là người đi gieo niềm tin và hy vọng” [32, tr.37]
Theo ông nhà thơ dù có nói về những nỗi niềm riêng tư với những mất mát, khổ đau, oan khuất… thì trước sau thơ vẫn phải gieo vào lòng người đọc niềm tin và hy vọng, đem đến cho con người niềm tin vào cái đẹp, cái thiện ở cuộc sống hôm nay Theo ông: thơ chính là nâng giấc cho những tâm hồn đau khổ,
là để tâm hồn tìm đến với tâm hồn Chính điều này đã làm nên vẻ đẹp lấp lánh cao cả trong thơ – cái đẹp cứu rỗi linh hồn con người trong cuộc sống đầy khổ đau, và đầy thách thức này Phải chăng cũng chính vì vẻ đẹp lí tưởng này mà
Lò Ngân Sủn đã sống và viết không biết mệt mỏi, ngay cả những giây phút cuối cùng của cuộc đời nhà thơ
Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật bắt rễ từ trong cuộc sống, người nghệ
sĩ chân chính phải là người đứng giữa cuộc đời, vì cuộc đời mà lên tiếng Nhận thức được điều này từ trong cuộc sống và trong lao động sáng tạo nghệ thuật, nên thơ Lò Ngân Sủn luôn chứa đựng những hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống con người miền núi hùng vĩ, mãnh liệt, sôi động, chân thành, phóng khoáng, mạnh mẽ, cùng với những phong tục tập quán đậm bản sắc tộc người (Giáy) - nơi nhà thơ sinh ra và lớn lên Nhà thơ từng viết những câu thơ đầy tự hào, đầy
sảng khoái về con người và thiên nhiên miền núi như: “Chúng tôi/ Những
người con của núi/ Sinh ra ở trên núi…Sống ào ào như thác đổ/ Sống dữ dội như lốc cuốn/ Quanh năm vốc nước suối rửa mặt/ Quanh năm thắp ngọn lửa làm mặt trời sưởi ấm”
Có thể thấy, với Lò Ngân Sủn – quan niệm về Thơ thế nào thì sáng tác là như vậy Những vần thơ, những câu thơ như được dứt ra từ trái tim của ông,
Trang 35được tuôn trào ra từ tâm hồn, được giãi bày từ tấm lòng của ông – một “chàng trai đá núi”: yêu hết mình, cháy hết mình, sống hết mình…để vươn tới cái Đẹp, cái Tâm, cái Thiện trong cuộc sống và trong tình yêu
* Lò Ngân Sủn – nhà thơ tình tiêu biểu của dân tộc Giáy Bước vào làng thơ ca, với sự say mê sáng tạo, cần mẫn, chăm chỉ như con ong hút nhụy hoa dâng mật ngọt cho đời, Lò Ngân Sủn viết rất nhanh, viết nhiều, viết khỏe Tuy ban đầu còn những bài thơ chưa thật nhuần nhụy, còn mộc mạc…, song trong quá trình sáng tác ông vừa học hỏi vừa nỗ lực hết mình để đem đến cho đọc giả những thi phẩm đặc sắc, hấp dẫn Ông là tác giả của hơn 46 cuốn sách, trong đó có 22 tập thơ (trong số 22 tập thơ ấy có đến 2/3 là thơ tình yêu) Những tác phẩm thơ tiêu biểu của ông đã nhận được
nhiều Giải thưởng quốc gia như: Những người con của núi – Giải B – Hội Nhà văn, 1992; Đám cưới – Giải A – UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, 1995; Ở đây – Giải Ba – Báo người Hà Nội, 1994; Dòng sông mây – Giải B – UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, 1995; Cái bật lửa trời – Giải B – Báo thiếu nhi dân tộc, 1995; Con của núi – tập 1, (Tập thơ tuyển) tặng thưởng của Hội Nhà văn, 1997; Tôi là một ngọn gió – Giải B của hội VHNT các DTTS Việt Nam, 1999; Lều nương – Tặng thưởng Hội Nhà văn, 1997; Bữa tình yêu – Giải B – Hội VHNT các DTTS Việt Nam, 2004…
Thơ Lò Ngân Sủn như một thứ “đặc sản” mang đậm hương sắc núi rừng,
từ nội dung phản ánh đến nghệ thuật thể hiện Thơ ca của ông như một món
ăn tinh thần đặc sắc, thú vị trong bữa tiệc thơ ca của các DTTS Thơ ông đã
có được tiếng nói riêng, mang bản sắc riêng đóng góp vào vườn hoa muôn sắc màu của thơ ca DTTS hiện đại nói riêng và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung Tiếng thơ tình yêu của ông hồn nhiên, trong sáng, mãnh liệt, cuồng nhiệt, đắm say, cường tráng, đậm hơi thở miền núi và giầu yếu tố phồn thực
Ngôn ngữ thơ của ông rất giàu hình tượng, giàu tính biểu cảm, giàu tính nhạc,
Trang 36đăc biệt hình ảnh được “thực phẩm hóa” một cách rất độc đáo, đặc sắc…Chính vì những nét riêng, nét đặc sắc ấy mà nhà thơ Lò Ngân Sủn được đánh giá như là một nhà thơ tình vào loại xuất sắc nhất của thơ ca DTTS Việt Nam hiện đại
Qua việc tìm hiểu thơ ca DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đai, có thể thấy:
Thơ ca DTTS thực sự phong phú, độc đáo, đa dạng, và giàu bản sắc Nhiều nhà thơ, nhà văn có cá tính sáng tạo riêng, được người yêu thơ nhiệt tình đón nhận, được giới phê bình văn học chú ý và đánh giá cao.Có được điều đó là nhờ vào sự góp mặt của đông đảo đội ngũ sáng tác: các nhà thơ, nhà văn người DTTS có ý thức, có trách nhiệm cao với tiếng nói văn chương nghệ thuật của các cộng đồng dân tộc Trong số các nhà thơ, nhà văn DTTS đó không thể không kể đến nhà thơ Lò Ngân Sủn – Nhà thơ dân tộc Giáy với tiếng thơ Tình yêu tha thiết,nồng nhiệt và cháy bỏng của mình
Trang 37
Chương 2 NỒNG ĐỘ VÀ SẮC THÁI TÌNH YÊU TRONG THƠ LÒ NGÂN SỦN 2.1 Một tình yêu mộc mạc, hồn nhiên, trong sáng của “Người đàn ông đá núi”
Bên cạnh việc thể hiện những đề tài viết về thiên nhiên, cuộc sống con người với những phong tục, tập quán, với môi trường lịch sử, văn hóa… thì việc viết về đề tài tình yêu là không thể thiếu trên những trang thơ trữ tình của các nhà thơ nói chung, các nhà thơ DTTS nói riêng
Trong số các nhà thơ tiêu biểu của văn học DTTS, Lò Ngân Sủn là người viết nhiều và viết hay về đề tài tình yêu Là người con của núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng rất tươi đẹp và lãng mạn, nhà thơ Lò Ngân Sủn đã có cách cảm nhận, cách biểu đạt tình yêu rất riêng của mình đúng với điệu hồn
và nhịp đập trái tim của một“người đàn ông đá núi” mạnh mẽ, lãng mạn Đó
là một thứ tình yêu rất mộc mạc, chân thật, hồn nhiên, trong sáng như nước suối, như cây rừng, và hoang dã, mạnh mẽ như con thú hoang trên đỉnh núi
Nói về tình yêu, Xuân Diệu - ông hoàng của thơ tình Việt Nam đã từng
định nghĩa rất đơn giản: “Làm sao định nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…” “Yêu là chết trong lòng một ít/ Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu”.Victo Hugo thì quan niệm: “Cuộc đời là đóa hoa mà tình yêu là mật ngọt” Còn Lò Ngân Sủn thì định nghĩa về tình yêu rất lạ, rất miền núi theo kiểu của mình:”Tình yêu/ Như cái chảo thắng cố/ Ăn vào no lảo đảo/ Tình
yêu/ Như cái chum đựng rượu/ Uống vào say ngả nghiêng” (Động đất, động
trời); Hay: “Tình như ấm nước đang sôi/ Đun bằng ngọn lửa cuộc đời của ta/
Tình như nước khoáng Sa Pa/ Lọc ra từ cõi sâu xa đất trời/ Tình như một cái
cọc thôi/ Buộc vào là ở suốt đời bên nhau” (Tình như)
Trang 38Nhà thơ đã ví tình yêu như “Cái chảo thắng cố”, “Chum đựng rượu”,
“nước khoáng Sa Pa”, “ấm nước sôi”, “cái cọc”… - những thứ rất gần gũi,
đời thường nhưng không thể thiếu đối với cuộc sống con người, đặc biệt là với người dân miền núi, tình yêu như rượu, như thức ăn ngon, khiến con
người ta phải “lảo đảo”, “ngả nghiêng” Qua cách “định nghĩa” ấy nhà thơ
như muốn khẳng định một cách rất thực tiễn và cũng rất triết lí qua những hình ảnh mộc mạc, chân thật về tình yêu: cuộc sống là tình yêu, tình yêu là cuộc sống, tình yêu luôn hiện hữu trong cuộc sống đời thường, tình yêu như cơm ăn, nước uống, như lửa đỏ, như “lều nương”…vậy Vì thế, khi viết về tình yêu không cần phải nói bằng những lời hoa mĩ, không cần tô cho nó thêm son phấn, khoác cho nó tấm áo lộng lẫy nào, mà nó vẫn rực rỡ, vẫn cháy bỏng, vẫn bền chặt, vẫn tồn tại mãi cùng thời gian năm tháng
Khởi đầu cho một tình yêu đích thực là tiếng tơ lòng rung động chân thành, đánh thức niềm rung động nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người
Nhà văn Victor Hugo từng nói: “Biểu hiện đầu tiên của một tình yêu chân thật ở người con trai là sự rụt rè, còn ở người con gái là sự táo bạo” Sự rụt
rè của người con trai trong “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” đã được Lò Ngân
Sủn diễn tả một cách rất thành thực, rất cụ thể và đáng yêu làm sao:
Cả người tôi run run
Trang 39Nóng rực lên như lửa”
(Lần đầu tiên)
Sự run rẩy từ tâm hồn tới thể xác của một chàng trai lần đầu tiên yêu cũng đã được nhiều nhà thơ miêu tả, diễn đạt Nhà thơ Mã A Lềnh từng thổ lộ
về tình yêu của mình từ cái thuở lên mười: “Hình như…từ thuở lên mười/ Tại
cô bé ấy…Nó cười Sún răng/ Cùng chăn trâu đỉnh núi làng/ Chon von mỏm
đá, nó nằm nghêu ngao/Lòng tôi chợt thấy xôn xao/ Cầm dao lóng ngóng thế nào đứt tay/ Nó xé vạt váy buộc ngay/ Mắt nhìn lúng liếng…Tôi bay mất hồn”
(Tình yêu thuở lên mười) Còn nhà thơ Pờ Sảo Mìn thì tâm sự: “Đêm qua
ngồi hát/ Trời lạnh vẫn ấm/ Em như đống lửa/ sưởi ấm quanh nhà/ Đêm qua đêm hát/ Mà em không nói/ Chỉ có bài ca/ Chỉ có nụ cười/ Nhớ mãi em thôi”
(Hát bên em) Nhưng ở cây bút thơ người dân tộc Giáy này tình yêu của cái
thuở ban đầu đã được nói, được viết, được diễn tả một cách khá đặc biệt Đó
là sự rung động, sự run rẩy, nóng rực toàn thân của một trái tim trong trắng, mãnh liệt, lần đầu “chạm” tới tình yêu Tình yêu có khả năng đánh thức mọi miền cảm giác trong niềm rung động sâu xa, mãnh liệt của người “đàn ông đá núi” từ: đôi chân, đến đôi môi, đến hơi thở, lời nói…đến toàn thân run rẩy và nóng bỏng Đó là tình yêu của “cái thời mộng mơ”, dẫu có đắm say, dẫu có
khát khao đến đâu vẫn giấu kín trong lòng không dám nói ra: “Vừa rạo rực như lửa/ Vừa rụt rè e ngại/ Yêu mà không dám nói/ Đói mà không dám ăn/
Khát mà không dám uống/ Chỉ ao ước trong lòng/ Chỉ mong nhớ khôn nguôi”
(Tìm trâu) Cảm giác yêu ấy được diễn đạt thật cụ thể, thành thực, tự nhiên,
không “văn hoa” mĩ miều mà xúc động lòng người
Tình yêu là một ẩn số khiến cả nhân loại luôn kiếm tìm trong nỗi khát khao, sự mong mỏi “vô biên và tuyệt đỉnh” Với Lò Ngân Sủn trong hành trình tìm kiếm, theo đuổi tình yêu như một sự khao khát khôn nguôi Nó là
Trang 40cuộc “rượt đuổi” để bắt lấy, chiếm lấy, giữ lấy cho riêng mình Nó hoang dã, mạnh mẽ như con thú hoang trên đỉnh núi:
- Em con chim rừng
Để ta săn, ta đuổi, ta bắt, ta vồ
(Nhớ về em)
- Anh đứng trước em Anh như con chuột đứng trước hũ gạo Anh như con gấu đứng trước tổ ong trên cao Anh như con hổ đói đứng trước miếng mồi ngon
- Anh yêu em
Như con sói đói mồi
Như con trâu đói cỏ
Như con hổ đói ăn
Như con gấu đói mật
(Bài thơ tình của đôi trai gái miền ngược)
- Anh yêu em
Như con chim yêu rừng
Như con cá yêu nước
Như con dúi yêu đất
Như con hổ đói ăn
Như con gấu đói mật