1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY thơ nôm tứ tuyệt từ hồ xuân hương đến trần tế xương

110 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Hay Thơ Nôm Tứ Tuyệt Từ Hồ Xuân Hương Đến Trần Tế Xương
Tác giả Nông Văn Mưu
Người hướng dẫn TS. Ngô Gia Võ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy bộ phận thơ Nôm tứ tuyệt đã xuất hiện từ thời Nguyễn Trãi và kéo dài đến hết thời kỳ trung đại, với các tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG VĂN MƯU

THƠ NÔM TỨ TUYỆT TỪ HỒ XUÂN HƯƠNG

ĐẾN TRẦN TẾ XƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG VĂN MƯU

THƠ NÔM TỨ TUYỆT TỪ HỒ XUÂN HƯƠNG

ĐẾN TRẦN TẾ XƯƠNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Gia Võ

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Nông Văn Mưu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng gia đình, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS Ngô Gia Võ, người đã hết sức tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017

Tác giả

Nông Văn Mưu

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Dự kiến đóng góp của luận văn 12

8 Cấu trúc luận văn 13

PHẦN NỘI DUNG 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1 Quan niệm về thơ tứ tuyệt 14

1.1.1 Về thuật ngữ tứ tuyệt 14

1.1.2 Hình thức của một bài tứ tuyệt 17

1.2 Thơ Nôm tứ tuyệt trước Hồ Xuân Hương 18

1.2.1 Thơ Nôm tứ tuyệt trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi 19

1.2.2 Thơ Nôm tứ tuyệt trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm 22

1.3 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội, thời đại Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương 23

1.3.1 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa – xã hội, thời đại Hồ Xuân Hương 23

1.3.2 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa – xã hội, thời đại Trần Tế Xương 25

* Tiểu kết chương 1 26

Trang 6

Chương 2 SỰ VẬN ĐỘNG VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG THƠ NÔM TỨ TUYỆT TỪ HỒ XUÂN HƯƠNG

ĐẾN TRẦN TẾ XƯƠNG 28

2.1 Quy mô số lượng 28

2.1.1 Quy mô số lượng thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương 28

2.1.2 Quy mô số lượng thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương 29

2.2 Hệ thống đề tài chủ đề 31

2.2.1 Hệ thống đề tài, chủ đề trong thơ Hồ Xuân Hương 31

2.2.2 Hệ thống đề tài chủ đề trong thơ Trần Tế Xương 33

2.3 Giá trị nội dung tư tưởng 37

2.3.1 Giá trị nội dung tư tưởng trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương 37

2.3.2 Giá trị nội dung tư tưởng trong thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương 47

* Tiểu kết chương 2 63

Chương 3 SỰ VẬN ĐỘNG VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NÔM TỨ TUYỆT TỪ HỒ XUÂN HƯƠNG ĐẾN TRẦN TẾ XƯƠNG 64

3.1 Cấu trúc bài thơ, các vấn đề về niêm, vần, luật, nhịp trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương 64

3.1.1 Cấu trúc bài thơ, các vấn đề về niêm, vần, luật, nhịp trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương 64

3.1.2 Cấu trúc bài thơ, các vấn đề về niêm, vần, luật, nhịp, kết cấu trong thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương 68

3.2 Nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương 72

3.2.1 Nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương 72

3.2.2 Nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương 76

3.3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương 82

Trang 7

3.3.1 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương 82

3.3.2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương 86

* Tiểu kết chương 3 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề đề tài

Diện mạo thơ tứ tuyệt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX có một quá trình phát triển lâu dài và tồn tại ở cả hai bộ phận chữ Hán và chữ Nôm Ở chặng đường đầu, thơ tứ tuyệt chỉ được viết bằng chữ Hán, đến chặng sau mới xuất hiện thơ tứ tuyệt chữ Nôm, nội dung cũng chuyển dần từ cảm quan Phật giáo sang các vấn đề khác như chính trị, triết học và đời sống thế tục

Khác biệt với thơ chữ Hán, bộ phận thơ tứ tuyệt chữ Nôm đã tạo nên bảng màu sắc rực rỡ, mới mẻ cả về nội dung và hình thức nghệ thuật Trong tiến trình phát triển, hai tác giả tiêu biểu cho thể thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm không thể không nhắc đến là Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương Đây là hai tác giả có số lượng thơ Nôm tứ tuyệt vào loại nhiều nhất trong lịch sử văn học thời kỳ Trung đại, chứng tỏ họ đã dành nhiều tâm huyết và tài năng sáng tạo cho thể thơ này và

họ đã rất thành công khi dùng thể thơ tứ tuyệt để trào phúng

Từ những đặc điểm nội dung và hình thức đặc thù của thể thơ tứ tuyệt, qua việc sử dụng hiệu quả từ ngữ giản dị nhưng hàm súc của phép lặp từ, lặp cấu trúc trong đối liên và tiểu đối, của thủ pháp tỉnh lược, các yếu tố chỉ chủ thể, các động từ, hư từ, câu thơ tứ tuyệt có thể đạt được yêu cầu nén chặt thông tin, để mỗi chữ đều có sức nặng tư tưởng, sức ám ảnh, góp phần tạo nên thành công của các bài tứ tuyệt Chính sự giản dị của lời thơ, sự chân thành của tình cảm và tài năng nghệ thuật của các nhà thơ đã góp phần quan trọng làm cho các bài thơ tứ tuyệt có được sức sống lâu bền trong tâm hồn người đọc Bởi vậy, thể thơ này đã được nhiều thế hệ người đọc đón nhận và yêu thích

Thơ tứ tuyệt là một thể thơ được coi là “cao diệu” trong thơ Đường

đồng thời cũng là mảng thơ thành công nhất của Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương Những sáng tác của Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương về thơ Nôm

tứ tuyệt đã đánh dấu quá trình phát triển rực rỡ của thể loại thơ Nôm Đường

Trang 9

luật, khẳng định một bước tiến quan trọng của thơ ca dân tộc Đồng thời, đây cũng là mảng thơ quan trọng trong việc khẳng định cá tính sáng tạo và vị thế

của “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương cũng như tài năng nghệ thuật độc

đáo của Trần Tế Xương Vì vậy, chúng tôi nhận thấy đây là một đề tài thú vị

có thể có những đóng góp nhất định để góp phần khám phá những đặc điểm độc đáo trong sự nghiệp sáng tác của cả hai nhà thơ

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy bộ phận thơ Nôm tứ tuyệt đã xuất hiện từ thời Nguyễn Trãi và kéo dài đến hết thời kỳ trung đại, với các tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, tạo thành một dòng chảy riêng biệt và có những đóng góp độc đáo về phương diện nội dung

tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật Qua quan sát và khảo sát bước đầu, kết quả cho thấy hai tác giả Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương có số lượng thơ Nôm tứ tuyệt nhiều nhất Bên cạnh việc dùng thơ Nôm tứ tuyệt sáng tác theo các đề tài, chủ đề truyền thống, hai tác giả này còn dùng thơ Nôm tứ tuyệt để trào phúng, mở ra nhữngphương diện mới về khả năng chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực của thơ Nôm tứ tuyệt Đặc biệt, giá trị trào phúng trong thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, được hình thành từ những điều kiện lịch sử - văn hoá - xã hội đặc thù cũng như thân thế và cá tính sáng tạo của hai tác giả Đi tìm hiểu hành trình thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương, rất có thể ta phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển của thể thơ này trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thơ Nôm tứ tuyệt của hai nhà thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, để từ đó có cái nhìn tổng quát hơn và chỉ ra được những điểm tương đồng, điểm khác biệt giữa hai tác giả, cũng như những đóng góp của họ trong tiến trình phát triển của thơ Việt Nam thời kỳ Trung đại Mặc dù vấn đề nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương không còn là điều mới

Trang 10

mẻ, những sáng tác của họ đã có rất nhiều tác giả, nhiều công trình đề cập đến nhưng tiến trình phát triển của thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương vẫn chưa trở thành đối tượng nghiên cứu chính

của bất cứ công trình nào Do vậy, đề tài luận văn Thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ

Xuân Hương đến Trần Tế Xương sẽ tổng hợp và đánh giá toàn diện tiến

trình phát triển của thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương, khẳng định thành tựu nghệ thuật đặc sắc của hai tác giả quan trọng này

Người viết hi vọng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học Trung đại nói chung và thơ văn Hồ Xuân Hương cũng như Trần Tế Xương nói riêng

2.1 Tác gia Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương nổi tiếng với những sáng tác bằng chữ Nôm Đã có nhiều công trình và nhiều bài viết về thơ Hồ Xuân Hương ngay từ trước Cách mạng, có thể kể đến những tác giả như Tản Đà, Nguyễn Hữu Tiến, Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh…

Sau cách mạng tháng Tám, rất nhiều công trình nghiên cứu công phu

về Hồ Xuân Hương đã xuất hiện Nhà nghiên cứu Trương Tửu cho rằng: “Hồ

Xuân Hương là một thiên tài đặc biệt của Việt Nam và bình dân Thiên tài ấy phát hiện ra ở ba đặc tính là trữ tình, trào phúng, huê nguyệt”[52, tr.78]

Theo Trương Tửu, “Trong ba đặc tính ấy cái dâm là căn bản não trạng Hồ

Xuân Hương Hai đặc tính kia cũng nảy nở dưới ánh sáng của cái dâm đó Ta cũng có thể nói như thế này: cái nhãn quan độc nhất của Hồ Xuân Hương về

sự vật là một nhãn quan dâm”[52, tr.78] Sau đó, tác giả kết luận: “Cái cười

Trang 11

của Hồ Xuân Hương cũng tết bằng hình tượng giao hợp Cái cười, cái giận, cái nhớ ở thi sỹ đều có tính cách tiếu lâm, câu đố, ca giao huê nguyệt và đều chống đối tục lệ hay ý thức hệ cá nhân phong kiến”[52, tr.84] Trong những

đánh giá trên, Trương Tửu đã gắn liền Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương với cái dâm Tác giả cũng đánh giá rất cao thơ trào phúng của bà

Tác giả Nguyễn Sĩ Tế thì cho rằng: “Khuynh hướng thi ca của Hồ Xuân

Hương là khuynh hướng tình cảm trào phúng”[43, tr.90] Cũng theo Nguyễn

Sĩ Tế thì ở Hồ Xuân Hương: “Thơ tình cảm và thơ trào phúng phối hợp chặt

chẽ đến nỗi nếu tách rời nhau thì thơ Hồ Xuân Hương đổi hẳn bộ dạng, không còn là thơ Hồ Xuân Hương nữa”[43,tr.89] Sau khi đã đưa ra những

dẫn chứng về thơ trào phúng trong cuộc sống, trong văn chương nói chung và

trong văn chương bác học nói riêng, ông đã khẳng định: “Thơ trào phúng

không còn là điều mới lạ Cái mới lạ của nó trong câu chuyện này là nó đã kết phát nhằm đúng một con người mà không ai ngờ tới, một người đàn bà, vào một thời mà người đàn bà chỉ được xã hội giành cho một “chỗ ngồi” nhỏ

bé riêng trong gia đình Hồ Xuân Hương Có thể nói Hồ Xuân Hương là phần

tử nữ giới đầu tiên đã làm thơ để chế giễu đời ở nước ta”[43, tr.101]

Tác giả Phạm Thế Ngũ lại bàn luận về những đặc sắc trong thơ Hồ

Xuân Hương, đề cập tới vấn đề “hình ảnh dâm tục” và viết: Đọc thơ Hồ Xuân Hương, Tản Đà có phê một câu là: “Thi trung hữu quỷ”: “Thật vậy, trong hầu

hết nếu không phải là toàn thể các bài thơ của Hồ Xuân Hương, người đọc đều có thể tìm ra một cảnh tượng dâm tục gây ra sự quyến rũ ma quái Tác giả thường đem hình ảnh của cái giống (lesexe) hoặc cử động tính giao (Iacte sexuel) mà gửi gắm bóng gió vào đó những bài tả đồ vật, vịnh sử việc hay phong cảnh”[27, tr.112] Phạm Thế Ngũ cũng một phần đồng ý với quan

niệm Trương Tửu khi gắn hình ảnh “dâm tục” là một trong những đặc điểm

của thơ Hồ Xuân Hương

Trang 12

Tác giả Nguyễn Hồng Phong cũng đã đánh giá rất cao thơ trào phúng

Hồ Xuân Hương : “Thi sĩ Xuân Hương là một thi sĩ châm biếm trào lộng và

trữ tình, mà châm biếm trào lộng là chủ yếu Ngay những lúc trữ tình tha thiết nhất, nàng cũng vẫn cười cợt, mỉa mai Với những cái vũ khí ấy, Xuân Hương đánh cho đẳng cấp phong kiến những đòn tinh thần rất sâu cay độc địa, cái độc địa của một thứ thuốc đắng Tất cả những gì mà xã hội phong kiến thường đề cao, thường cho là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, thường quét một lớp vàng son lộng lẫy bên ngoài thì trong thơ nó đều trở thành những cái tầm thường, lố bịch, tục tĩu, những cái nhỏ bé đáng thương hại” [33, tr.124]

Tác giả khẳng định tài năng nghệ thuật độc đáo của Hồ Xuân Hương: “Xuân

Hương chơi chữ là để trào lộng hoặc mỉa mai châm biếm, làm cho câu thơ trở nên duyên dáng vô cùng Xuân Hương là nhà thơ thi sĩ độc nhất dùng những lời nói rất thông thường nôm na, giản dị vào trong thơ mà dùng một cách rất khéo léo, rất táo bạo Xuân Hương cũng là nhà thi sĩ độc nhất có ngòi bút tả thực một cách sắc sảo, có một bút pháp tả thực và trào lộng bậc thầy Về bút pháp tả thực trừ Nguyễn Du, tất cả các nhà thơ dưới thời phong kiến không ai có thể sánh với Hồ Xuân Hương”[33, tr.134] Tác giả Nguyễn

Hồng Phong rất khâm phục tài thơ của Hồ Xuân Hương đặc biệt là tài trào

lộng mỉa mai và châm biếm vào “bậc thầy” và “độc nhất” của văn học Việt

Nam trung đại

Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc nói về Hồ Xuân Hương: “Thơ Hồ Xuân

Hương một mặt thông cảm, bênh vực phụ nữ, đề cao ngời phụ nữ, mặt khác

đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến từ đám sĩ tử, nhà sư, đến bọn quan lại, những hiền nhân quân tử và trên tất cả là bọn vua chúa Bà vạch trần lối sống đạo đức giả, trái tự nhiên của bọn chúng Hồ Xuân Hương kế thừa truyền thống của truyện tiếu lâm dân gian thường dùng cái tục làm phương tiện đả kích Nghệ thuật đả kích của bà sắc bén “đánh một cái chết tươi”[22, tr.28] Tác giả dành một phần lớn trong công trình của

Trang 13

mình để đi sâu tìm hiểu thơ trào phúng và khẳng định thơ Hồ Xuân Hương là

sản phẩm của một “đầu óc tỉnh táo, một lí trí lành mạnh”,“bà là một nghệ sĩ

chân chính”, “chứ không thể coi là một nhà thơ dâm đãng được”[22,

tr.285-286] Có thể nói, Nguyễn Lộc là một trong những người đánh giá khá toàn diện và đúng mực giá trị thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương

Trong cuốn Ba thi hào dân tộc, nhà thơ Xuân Diệu đã xếp Hồ Xuân

Hương là một thi hào bên cạnh những tên tuổi lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du Điều này cho thấy Xuân Diệu rất đề cao Hồ Xuân Hương

Hơn nữa, với cách cảm nhận thơ và cách đánh giá của một thi sĩ, Xuân Diệu

đã tôn bà là “Bà chúa thơ Nôm” và viết “Chúa đây là một cách nói như „hoa

hồng là chúa hoa‟ chứ không phải là ông hoàng, bà chúa Thơ Hồ Xuân Hương đã làm cho chữ „nôm na‟ không đồng nghĩa với „mách qué‟ nữa, mà nôm na là đồng nghĩa với thuần tuý, trong trẻo, tuyệt vời Bà chúa thơ Nôm là chúa cả nội dung và hình thức”[4, tr.486] Xuân Diệu cũng đã phân tích rất

nhiều tác phẩm thơ Nôm Hồ Xuân Hương để khẳng định tài năng độc đáo của

bà, đặc biệt là tài năng sáng tác thơ Nôm trào phúng Với năng lực bình thơ tinh tế, Xuân Diệu đã để lại những trang viết tài hoa và đầy ấn tượng về thơ

Hồ Xuân Hương

Tác giả Ngô Gia Võ tập trung công sức nghiên cứu và đã có rất nhiều

bài viết về thơ Hồ Xuân Hương Tác giả khẳng định: “Hồ Xuân Hương đả

kích phê phán để mà ca ngợi, khẳng định và bênh vực Đó là giá trị nhân đạo quan trọng nhất trong tác phẩm của bà Và giá trị này là ngọn nguồn quan trọng nhất khiến cho thơ Hồ Xuân Hương tươi thắm với thời gian, vượt qua biên giới, hấp dẫn cả những bạn bè xa gần trên thế giới”[56, tr.72] Tác giả

còn góp phần lí giải hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương [89], và cho rằng: “hiện

tượng cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương có nguyên nhân tổng hợp từ nhiều điều kiện cụ thể” trong đó có điều kiện “hoàn cảnh lịch sử- thời đại”, điều

kiện “cảnh đời và cá tính sáng tạo”, điều kiện “ảnh hưởng trực tiếp của văn

Trang 14

học dân gian”, điều kiện “sản phẩm của một trào lưu nhân văn” và điều kiện

“sản phẩm của tư duy trung đại” Đặc biệt, tác giả đã có một công trình

nghiên cứu rất công phu về thơ Hồ Xuân Hương với nhan đề: Hồ Xuân

Hương với dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng, trong đó tác giả đã đề cập

đến đối tượng trào phúng, nguồn gốc cảm hứng trong thơ trào phúng chống

phong kiến của Xuân Hương Từ đó đưa ra nhận xét: “Thứ nhất Hồ Xuân

Hương đề cao tài năng, trí tuệ và đặc biệt là yêu cầu hạnh phúc tình dục, chống lại sự phủ định nhu cầu tình dục và tình dục tự do Thứ hai, bà chống lại sự lí tưởng hoá đối với những quyền uy trung đại như cường quyền, thần quyền và nam quyền trên các phương diện danh vị xã hội, thực chất khả năng trí tuệ… Thứ ba Hồ Xuân Hương chống lại những tập tục phong kiến khắc nghiệt, vô nhân đạo đối với người phụ nữ”[55, tr.125] Tác giả còn cho rằng:

“Trong tiến trình văn học viết dân tộc, Hồ Xuân Hương đã sử dụng đầy sáng tạo một phương tiện nghệ thuật “đặc dị” là cái “tục” để xây dựng tiếng cười trào phúng độc đáo của mình Đây là một phương tiên nghệ thuật lớn bao hàm trong nó nhiều phương diện nghệ thuật khác ở cấp độ nhỏ hơn như ngôn ngữ, kết cấu, hình ảnh…”[55, tr.133] Sau đó, tác giả đi sâu khám phá nghệ

thuật trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, đặc biệt là nghệ thuật

cái tục trong thơ bà và đưa ra kết luận “Một lần nữa cần khẳng định Hồ Xuân

Hương là một tác giả trào phúng lớn đã kết tinh tổng hợp và phát triển những thành tựu trào phúng đa dạng từ trước đó qua hai nguồn văn học dân gian và văn học viết, đặc biệt là qua thơ Nôm Đường luật trào phúng”[54, tr.188], và

“Hồ Xuân Hương là một đỉnh cao của dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng Việt Nam”[55, tr.193]

2.2 Tác gia Trần Tế Xương

Tú Xương là người suốt đời lận đận trong con đường “hoạn lộ” mà vẫn

không thành danh, do đó văn chương của ông đương thời ít được ghi chép lại

Vì thế, việc nghiên cứu thơ Tú Xương giai đoạn trước 1945 cũng chưa được

Trang 15

đặt ra đúng mức Tuy nhiên, nghiên cứu văn học giai đoạn này vẫn đạt được

những thành tựu nhất định Cuốn Trông dòng sông Vị (Trần Thanh Mại -

1935) đã khẳng định Tú Xương là nhà thơ trào phúng, trong đó những bài thơ giả giọng phong lưu chiếm một phần quan trọng nhất trong cuộc đời sáng tác

của ông Đó là những tiếng cười gàn “Cười ra nước mắt” Có thể nói, đây là

tập phê bình văn học đầu tiên về Tú Xương có tính công phu, hệ thống nhất ở giai đoạn này

Việc sưu tầm nghiên cứu, phê bình thơ văn Tú Xương còn có tác giả:

Vũ Đăng Văn với Thân thế và thơ văn Tú Xương (1951- NXB Cây Thông,

Hà Nội), tác giả Nguyễn Duy Diễn với Luận đề Trần Tế Xương (1953), ông

đã đề cao và coi Tú Xương là ông tổ trào phúng Việt Nam

Việc nghiên cứu thơ Tú Xương thực sự phát triển mạnh mẽ kể từ sau

1954, đặc biệt từ lễ kỉ niệm 50 năm ngày mất của nhà thơ (29/1/1907 - 29/1/1957) Nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại được xem là một trong những người có công phát hiện và nghiên cứu sớm nhất về Tú Xương, người có

nhiều bài viết nhất về Tú Xương trong đó có bài tiểu luận Đấu tranh chống

lại quan điểm sai lầm về Tú Xương Trong bài viết này, ông đã kiên quyết

bảo vệ nhà thơ trước những cách hiểu sai lạc và tiếp tục khẳng định Tú Xương là một nhà thơ lớn Cũng trong năm này, công trình nghiên cứu, giới thiệu văn thơ Tú Xương do Hoàng Ngọc Phách - Lê Thước - Đỗ Đức Hiểu biên soạn giới thiệu (NXB Bộ Giáo dục, HN, 1957) có tác động tích cực trong việc nghiên cứu Trần Tế Xương Vấn đề nghiên cứu thơ văn Tú Xương càng được nhấn mạnh hơn khi các nhà nghiên cứu giảng dạy văn học nhóm

Lê Quý Đôn trong bộ giáo trình văn học sử đã xác định: “Tú Xương là một

tác gia văn học lớn, là nhà thơ có biệt tài là người vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình”, từ đó đi đến kết luận: “Sau Hồ Xuân Hương, trong thời kì văn học cận đại, Tú Xương là nhà thơ kế nghiệp xứng đáng nhất của văn thơ trào

Trang 16

phúng nhân dân cả về phương diện tư tưởng và nghệ thuật” (Đỗ Đức Hiểu,

thơ văn Tú Xương trong sách Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam tập 3,

NXB Xây dựng, HN 1957)

Đến năm 1958, nhà nghiên cứu Văn Tân trong bài: Tính chất và giá trị

nhân văn thơ trào phúng của Tú Xương trong sách Văn học trào phúng Việt Nam quyển 3 NXB Văn Sử Địa, HN, [41, tr.5-66] đã đặt Tú Xương trong

dòng mạch thơ ca trào phúng dân tộc bên cạnh nhiều đại biểu ưu tú như: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Mỡ…Trong bài viết này, ở phần tính chất

và giá trị thơ văn trào phúng Tú Xương, tác giả đã phân tích một cách sâu sắc

các nội dung: “Cá tính Tú Xương hay những nhân tố tạo thành, ý thức tư

tưởng Tú Xương”, “nội dung tư tưởng Tú Xương”, “Tú Xương với cái túng”,

“Tú Xương với cái tết” Đặc biệt, tác giả rất chú ý các phương tiện nghệ

thuật: “Tạo ra những hiện tượng không thể có để có cớ mà mỉa mai trào

lộng”, hay “Vạch ra những mâu thuẫn sự vật để giễu cợt, châm biếm, đưa lên mây xanh để nếm xuống bùn đen, không chửi mà hoá chửi, ít lời nhiều ý, kết thúc đột ngột bất ngờ, hình ảnh trong thơ Tú Xương…”[41, tr.5-66]

Tiếp đó phải kể đến công trình: Tú xương - con người và thơ văn

(NXB Văn hoá, HN, 1961) của hai tác giả Trần Thanh Mại - Trần Tuấn Lộ là công trình tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về Tú Xương Ngoài ra, những nhà văn nhà thơ quen thuộc với chúng ta như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân cũng

có những bài viết nghiên cứu về thơ Tú Xương; Nguyễn Công Hoan với bài

“Về việc nghiên cứu thơ Tú Xương”, (Tạp chí Văn học số 3) [14, tr.120-125];

Nguyễn Tuân với bài “Thời và thơ Tú Xương”( Tạp chí văn học số 11/1969)

[50, tr.18], là những bài viết sâu sắc góp phần khai mở cho người đọc hiểu sâu hơn về thời đại và con người Tú Xương

Sau khi nước nhà hoàn toàn độc lập thống nhất, việc nghiên cứu thơ văn Tú Xương tiếp tục phát triển, nhà văn Nguyễn Tuân trong tập sách

chuyện nghề (NXB Tác phẩm mới, HN, 1986) có hai bài: “Giọng cười trong

Trang 17

tiếng nói Tú Xương” và “Hiện thực và trữ tình trong thơ Tú Xương” Nhà

văn đã phát hiện đến tận cùng cái hay, cái đẹp của chữ và nghĩa trong thơ Tú

Xương Tác giả Nguyễn Đình Chú trong cuốn sách Tú Xương - Tác phẩm và

giai thoại (Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh xuất bản 1998) khẳng định

Tú Xương là nhà thơ lớn của dân tộc Ông viết: “Tú Xương xứng đáng là nhà

thơ tiên phong và cũng là tiêu biểu nhất trong việc viết về người thực, việc thực, ngôn ngữ thơ Tú Xương là ngôn ngữ lấy từ cuộc sống bình thường, trần trụi từ khẩu ngữ dân gian…”

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử với phương thức tiếp cận, cách nhìn nhận, hướng đánh giá mới, ông nhấn mạnh phương diện ý thức cá nhân và tiếng cười

giải thoát trong thơ Tú Xương: “Tự cảm thấy không phải với vợ và với chính

mình, nhà thơ đã dùng tiếng cười tự trào để giải thoát cho mình, tự khẳng định nhân cách mình, tạo thành một thế cân bằng mới, Tú Xương đi ngược lại với truyền thống thơ ngôn chí, làm thơ ra để khẳng định cái chí hướng, ý tưởng của mình”[37, tr.189]

Sang đầu thế kỷ XX, cuốn Trần Tế Xương - về tác gia và tác phẩm do

Vũ Văn Sỹ - Đinh Minh Hằng - Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu là một công trình nghiên cứu, sưu tầm về thơ văn Tú Xương một cách quy mô và khoa học nhất (NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001) Công trình này đã sưu tầm và lựa chọn được những tiểu luận tiêu biểu, giúp cho bạn đọc hình dung rõ hơn toàn

bộ tiến trình nghiên cứu thơ văn Tú Xương với tất cả các giá trị lịch sử cụ thể của từng giai đoạn

Về thơ tứ tuyệt cũng có một vài công trình nghiên cứu về thể thơ này như

luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Lê Tuấn với đề tài Thơ tứ tuyệt thời Lý hay luận án phó tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Phúc với đề tài Thơ Nôm Đường

luật, hoặc công trình Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế

kỷ XIX của tác giả Nguyễn Kim Châu Những công trình này đã nghiên cứu khá

kĩ lưỡng về đặc điểm thơ tứ tuyệt của từng thời kỳ của nhiều tác giả

Trang 18

Tóm lại mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hai tác giả như vừa điểm qua và một số công trình nghiên cứu về thơ tứ tuyệt Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thơ tứ tuyệt đặc biệt là thơ Nôm tứ tuyệt của hai nhà thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương Do vậy thực hiện đề tài này tôi thiết nghĩ việc tìm hiểu hành trình thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương, rất có thể ta phát hiện

ra những quy luật vận động, phát triển của thể thơ này trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế

Xương trên hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật để

thấy được giá rị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của những bài thơ Nôm tứ tuyệt của cả hai tác giả Đồng thời, qua đó đánh giá, nhận xét để thấy được sự thay đổi vận động trong sáng tác Nôm tứ tuyệt của hai nhà thơ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tập hợp những bài thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, nghiên cứu một số vấn đề như: chủ đề, đối tượng, nội dung, bút pháp, ngôn ngữ nghệ thuật Trên cơ sở đó, so sánh thơ Hồ Xuân Hương với thơ Trần Tế Xương để có cái nhìn bao quát và rõ nét về sự vận động tiếp nối và phát triển của thơ tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương, từ đó góp phần khẳng định thêm vị thế độc đáo của hai nhà thơ trong tiến trình thơ Việt Nam thời kỳ Trung đại

5 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các bài thơ Nôm tứ tuyệt của hai nhà thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương trong hệ thống các bài thơ Nôm của hai tác giả

- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi sẽ tìm hiểu, giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của 15 bài thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương và 33 bài thơ

Trang 19

Nôm tứ tuyệt của Trần Tế Xương, với những bài cụ thể như sau: Tác giả Hồ

Xuân Hương có các bài: Mời trầu, Dỗ người đàn bà khóc chồng, Bánh trôi

nước, Quả mít,, Khóc Tổng Cóc,Đề đề Sầm Nghi Đống, Sư bị ong châm, Kiếp

tu hành, Mắng học trò dốt I, II Trách Chiêu Hổ I, II, III, Đồng tiền hoẻn, Con ốc nhồi Tác giả Trần Tế Xương có những bài sau: Phố Hàng song, Đùa ông Phủ, Chế ông đốc học, Đùa ông Hàn, Thành pháo, Hót của trời, Đề ảnh, Bỡn ông Ấm Điền, Giếu ông Đội, Chế ông huyện, Chữ Nho, Giễu người thi

đỗ, Khoa canh tý, Than sự thi,, Đổi thi, Ông tiến sĩ mới, Ông Cử Nhu, Mừng ông lang, Sông Lấp, Ba cái lăng nhăng, Ngón trầu, Cái nhớ, Hóa ra dưa, Hát tuồng, ngày xuân bỡn làng thơ, Chửi cậu Ấm, Sư ở tù, hỏi đùa mình, Thái vô tích, Chợt giấc, Chiêm bao, Dạ hoài, Thi phúc

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu như:

- Phương pháp nghiên cứu tác giả: Sử dụng để tìm hiểu về thời đại,

hoàn cảnh sống, hoàn cảnh gia đình riêng của từng tác giả Qua đó thấy được

sự ảnh hưởng của yếu tố này trong sáng tác của hai nhà thơ

- Phương pháp thống kê - phân loại: Được sử dụng để liệt kê hệ thống

đề tài, chủ đề, số lượng các bài thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương và

Trần Tế Xương và cả các tác giả đi trước

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích để làm rõ hơn điểm tương đồng và khác biệt giữa thơ Nôm tứ tuyệt của

Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng để phân tích khái quát,

đánh giá từ giá trị nội dung đến hình thức nghệ thuật qua đó thấy được sự vận

trong thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương

7 Dự kiến đóng góp của luận văn

Luận văn được hoàn thành sẽ góp phần nhận thức sâu sắc hơn, chân dung văn học của hai tác giả, cũng như những đóng góp quan trọng của hai

Trang 20

nhà thơ vào trong kho tàng thơ Nôm nói chung và thơ Nôm tứ tuyệt nói riêng, góp phần mở ra những khía cạnh mới trong việc nghiên cứu thơ Nôm tứ tuyệt, phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy, thẩm bình các tác phẩm văn chương trong nhà trường

8 Cấu trúc luận văn

- Mở đầu

- Nội dung chính: gồm 3 chương + Chương 1 Những vấn đề chung + Chương 2 Sự vận động về phương diện nội dung tư tưởng trong thơ

Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương

+ Chương 3 Sự vận động về phương diện nghệ thuật trong thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương

- Kết luận

Trang 21

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Quan niệm về thơ tứ tuyệt

1.1.1 Về thuật ngữ tứ tuyệt

Thơ tứ tuyệt là một thể thơ có từ xa xưa và cho đến ngày nay vẫn có nhiều nhà thơ sử dụng nó để sáng tác, ký thác tâm sự của mình Với sức sống mãnh liệt như thế nhưng cho đến nay quan niệm về thơ tứ tuyệt vẫn chưa được thống nhất, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về xuất xứ cũng như tên gọi thể thơ đặc biệt này Ở cả Trung Quốc và Việt Nam đều có nhiều cách định nghĩa, nhiều quan niệm về thơ tứ tuyệt cũng như về sự hình thành của thể thơ này

Ý kiến thứ nhất cho rằng: Tứ tuyệt là kiểu bài chỉ có bốn câu Số tiếng trong câu không hạn chế, cách gieo vần tự do không chịu sự ràng buộc của

niêm luật như quan niệm của tác giả Nguyễn Sĩ Đại, ông cho rằng: “Tứ tuyệt

trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết có niêm luật chặt chẽ”[1, tr.14], chính vì hiểu như vậy mà tất

cả các bài thơ bốn câu đều được cho là thơ tứ tuyệt

Ý kiến thứ hai cho rằng: “Thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài bát

cú mà thành” [7, tr.27] Hoặc “Theo lối này (tức tứ tuyệt) thường ngắt hai câu đầu, hai câu cuối, hoặc bốn câu cuối của bài bát cú mà thành”[42, tr.69]

Ý kiến thứ ba theo nhà nghiên cứu Phan Văn Nhiễm trong Tìm hiểu các

thể thơ: “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức

là bài thơ hay tuyệt vời, vì chỉ có bốn câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường”[30, tr.35]

Định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học: Thơ tứ tuyệt “Nghĩa rộng

là những bài thơ bốn câu, mỗi câu có năm chữ hoặc bảy chữ Loại câu năm chữ gọi là ngũ ngôn tuyệt cú, hay ngũ tuyệt Loại câu bảy chữ gọi là thất ngôn tuyệt cú hay thất tuyệt Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đường luật,

Trang 22

có quy định bằng, trắc, niêm, đối Loại này còn gọi là luật tuyệt để phân biệt với cổ tuyệt là những bài thơ tuyệt cú không làm theo thơ Đường luật” [8,

tr.318]

Những ý kiến và định nghĩa trên đưa đến cho chúng ta hai cách hiểu cơ bản về thơ tứ tuyệt, thứ nhất một bài thơ tứ tuyệt là bài thơ cắt bốn câu của một bài bát cú mà thành, do đó nó tuân theo niêm luật của một bài bát cú; thứ hai, bài thơ tứ tuyệt là bài thơ không nhất thiết phải làm theo cổ tuyệt hay luật tuyệt, mà chỉ cần đáp ứng đó là một bài thơ bốn câu và làm theo thể thơ gì cũng được Có thể thấy, cách hiểu thứ hai này thông thoáng và mở rộng hơn nhiều so với cách hiểu thứ nhất và cách hiểu này hợp lý hơn cả, khi xem bài thơ tứ tuyệt là một chỉnh thể độc lập về cấu trúc chứ không phải là kết quả của

sự cắt ra từ bài bát cú, và đây là một chỉnh thể nhỏ gọn nhất trong các thể thơ được sử dụng ở Trung Quốc từ đời Đường về sau cũng như ở Việt Nam thời trung đại Chúng tôi cho rằng một bài thơ hay cần phải xúc tích, không cần phải dài dòng kể lể mà phải có sự cân đối, lời ít ý nhiều, thi ảnh đặc sắc, hình tượng độc đáo Tứ tuyệt luôn thể hiện được sự tinh lọc tối đa hình ảnh và cảm xúc, từ một phạm vi đời sống nhỏ hẹp, có khả năng vươn đến một tầm nhìn khái quát, toàn vẹn, đặt ra những vấn đề thuộc về bản chất, quy luật muôn đời Do vậy, tứ tuyệt thể hiện tốt sự tinh lọc tối đa hình ảnh, tổ chức chặt chẽ giữa các bộ phận để tạo thành tứ thơ tối ưu, qua đó thể hiện được tài năng của tác giả trong việc lựa chọn từ ngữ, đặt câu để mỗi bài thơ đều có sức gợi trong tâm trí người đọc Thơ càng ngắn thì sức khái quát càng cao mới tạo

ra được một tiểu vũ trụ của nó Một bài thơ tứ tuyệt hay phải lựa chọn được những khoảnh khắc dồn nén của đời sống tinh thần, những hiện thực tâm trạng đặc biệt, những phút thăng hoa của cảm xúc; phải dồn nén biểu cảm để tính khái quát của triết lý đạt tới cao độ sắc bén nhất Cũng nhờ sự vận dụng thể thơ tứ tuyệt thông thoáng này mà những dồn nén của tâm tư cảm xúc, tài năng tâm lực của tác giả sẽ được gửi gắm trong thơ, qua đó truyền tải được

Trang 23

những vấn đề lớn lao, có giá trị và ý nghĩa sâu xa của đời sống Tứ tuyệt do ngắn cho nên hình ảnh, sự kiện được cô đọng dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền tụng vì thế mà thể thơ này được nhiều người yêu mến, được nhiều nhà thơ sử dụng trong sáng tác của mình

Thơ Nôm tứ tuyệt ở Việt Nam thời kỳ trung đại là một thể thơ được nhiều nhà thơ ưa chuộng sử dụng So với thơ tứ tuyệt luật Đường, các nhà thơ trung đại Việt Nam bên cạnh việc tiếp thu nghiêm cẩn nghệ thuật thơ ca Trung Quốc, họ còn sáng tạo thơ tứ tuyệt theo lối phá cách, kết hợp với ngôn ngữ Nôm, thứ ngôn ngữ tinh tế, trong sáng giàu giá trị biểu hiện, để tạo

nên “Một lối thơ Việt Nam” đậm vị, sắc nét, linh hoạt biến hóa khôn lường

Thơ Nôm tứ tuyệt Việt Nam vẫn đảm bảo đặc trưng hàm Súc, cô đọng với

độ dồn nén giàu ý tưởng “ít lời, ý nhiều”, nhưng đồng thời lại có khả năng

thể hiện những tình cảm, cảm xúc, hứng thú bất ngờ không theo một khuôn hình cứng nhắc

Như vậy, quan niệm thơ tứ tuyệt là gì còn tùy vào quan điểm của mỗi người khi tiếp nhận Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, thơ tứ tuyệt vẫn tồn tại và phát triển, điều đó cho thấy sức sống diệu kỳ của thể thơ này Bởi chính sự giản dị của lời thơ, sự chân thành của tình cảm và tài năng nghệ thuật của chủ thể trữ tình đã góp phần làm cho các bài thơ tứ tuyệt luôn chiếm được tình cảm yêu mến của các thế hệ bạn đọc Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm thuật ngữ tứ tuyệt với cách hiểu tương đối rộng,

có khả năng bao quát các trường hợp cụ thể trong thơ tứ tuyệt, để trong quá trình triển khai đề tài có sự thống nhất và đồng bộ Qua việc lựa chọn khảo sát những bài thơ tứ tuyệt của hai tác giả Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, chúng tôi tạm đưa ra cách hiểu thơ tứ tuyệt là bài thơ bốn câu, không nhất thiết phải thất ngôn tứ tuyệt ngắt ra từ bài thất ngôn bát cú; có thể là ngũ ngôn hoặc thất ngôn xen lục ngôn; cũng có thể là những bài có câu lục, câu bát xen kẽ Tất cả những kiểu bài như vậy đều xuất hiện trong thơ tứ tuyệt Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương

Trang 24

1.1.2 Hình thức của một bài tứ tuyệt

Theo Đặng Đức Siêu và Nguyễn Ngọc San [40, tr.9,10,11], một bài thơ tứ tuyệt có hình thức như sau:

- Số câu, số chữ: Tứ tuyệt cổ thể hay cận thể đều có bốn câu, mỗi câu năm chữ hoặc bảy chữ

- Vần: Vần trong thơ cổ thể nói chung là vần chân, toàn bài có thể dùng một vần hoặc nhiều vần, vần bằng hoặc vần trắc đều được cả Trong thơ cổ thể, không có những quy định chặt chẽ về phối hợp bằng trắc, nhưng cũng có yêu cầu khá cao về sự hài hòa thanh điệu Trong thơ cận thể, một bài tứ tuyệt thường có ba vần gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, nhưng cũng có thể chỉ có hai vần

đó là hình thức trốn vần, vần có thể lược bỏ ở câu 1 Từ gieo vần có thể là thanh bằng (vần bằng), hoặc thanh trắc (vần trắc), thông thường vần bằng được ưa chuộng hơn vần trắc

- Bằng trắc, nhịp, niêm, luật: Trình tự sắp xếp các thanh bằng, trắc trong thơ cận thể được quy định rõ ràng có thể thu gọn lại thành một số mô thức như sau:

+ Trong thơ ngũ ngôn có thể nêu bốn mô thức tiêu biểu như sau:

Trang 25

Bài thơ nào mở đầu bằng hai thanh bằng (Căn cứ vào chữ thứ hai của câu mở đầu) thì đó là bài thơ luật bằng Bài thơ nào mở đầu bằng hai thanh trắc, cũng căn cứ vào chữ thứ hai của câu đầu, thì đó là bài thơ luật trắc

Để tuân thủ các quy định về bằng trắc được rõ ràng hơn, thi pháp học

cổ điển đưa ra luật lệ “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nghĩa là

các chữ thứ 1, 3, 5, bằng hay trắc đều được cả, còn các chứ thứ 2, 4, 6, phải theo quy định bằng, trắc

- Niêm: Theo quy định, hai câu thơ được gọi là niêm với nhau thì các chữ 2, 4, 6 ở câu thơ 1 với câu 4 và câu 2 với câu 3 phải cùng thanh với nhau

- Nhịp: Nhịp thơ thường là chẵn trước, lẻ sau, thơ ngũ ngôn là: 2/3, còn nhịp thơ thất ngôn là 4/3, hoặc 2/2/3

- Đối: Là biện pháp tạo ra sự cân xứng nhằm nhấn mạnh sự tương phản, hoặc tương đồng Trong thơ cận thể, đối được thể hiện trên các mặt: đối thanh điệu, đối ý, đối từ loại Trong thơ tứ tuyệt nói chung, không cần đối, nếu có thường là câu 1 với câu 2, hoặc câu 3 với câu 4 hoặc cặp câu 1,2 và 3,4 đối với nhau

- Kết cấu: Bốn câu trong thơ tứ tuyệt đều có chức năng riêng, chúng liên kết với nhau tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật; câu 1 là câu khai với ý nghĩa mở đầu, câu 2 là câu thừa với ý nghĩa đã tiếp nối ý triển khai trong câu

1, còn câu 3 gọi là câu chuyển với nhiệm vụ chuyển ý của câu 1 và 2, câu 4 là câu hợp với ý nghĩa gói gém ý tình làm lời kết của cả bài thơ

1.2 Thơ Nôm tứ tuyệt trước Hồ Xuân Hương

Trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam, thơ Nôm Đường luật, cụ thể

là thơ tứ tuyệt là một trong số các thể loại có lịch sử lâu đời, sự có mặt của nó được ghi nhận khá sớm từ khi xuất hiện chữ Nôm vào khoảng thế kỷ XIII và đồng thời thể thơ này cũng được các nhà thơ sử dụng Tuy nhiên, dựa trên các văn bản hiện còn, ta chỉ có thể khẳng định rằng, thơ Nôm cùng với thể thơ tứ

tuyệt được đánh dấu mốc cho sự ra đời của nó là tập thơ Quốc âm thi tập của

Trang 26

Nguyễn Trãi, tác phẩm thơ Nôm cổ nhất được các nhà nghiên cứu sưu tầm, lưu giữ cho đến ngày nay Thể thơ Nôm tứ tuyệt trước Hồ Xuân Hương đã có rất nhiều những bậc hiền nhân quân tử sử dụng thể thơ này trong sáng tác của

họ và đã để lại nhiều thi phẩm tuyệt bút Tiêu biểu nhất là danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi với những bài thơ Nôm tứ tuyệt tạo nên một niềm ưu ái đầy tâm huyết, hoặc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tạo nên một phong cách triết gia trầm lắng, nhuần nhị Còn một số tác giả khác thì số lượng thơ Nôm tứ tuyệt quá ít hoặc giá trị nghệ thuật không cao

Giai đoạn phát triển thơ Nôm tứ tuyệt từ Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi đầu thế kỷ XV đến Nguyễn Bỉnh Khiêm “Một cây đại thụ rợp bóng suốt

thế kỷ XVI” cho đến Hồ Xuân Hương cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, có

thể khái quát rằng trải qua bốn thế kỷ, thể loại thơ Nôm Đường luật nói chung

và thơ Nôm tứ tuyệt nói riêng đã từ chỗ thể nghiệm ban đầu dần đi đến sự ổn định về nhiều mặt Nếu Nguyễn Trãi là người có công mở đầu con đường Việt hóa thì đến Nguyễn Bỉnh khiêm đã góp phần đưa thơ Nôm Việt hóa tiến thêm một bước nữa Ông tiếp tục quá trình sử dụng chất liệu ngôn ngữ thuần Việt, đưa vào thơ những chất liệu đời thường, những câu từ ca dao, tục ngữ, thành ngữ, những cách diễn đạt dân dã Tiếp nối Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương đã tạo nên bước ngoặt lớn đưa thơ Nôm vào con đường Việt hóa hoàn toàn, đạt tới một trình độ nghệ thuật rất cao

1.2.1 Thơ Nôm tứ tuyệt trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Tập thơ Quốc âm thi tập đã đánh dấu một chặng đường phát triển quan

trọng của ngôn ngữ dân tộc, một ngôn ngữ đã uyển chuyển lại còn tinh tế, đặc sắc trong việc diễn tả mọi tình ý một cách độc đáo Tập thơ này còn là tác phẩm mở đầu cho nền thơ cổ điển Việt Nam, là tài liệu văn học quốc âm cổ nhất hiện còn được lưu giữ lại trong kho báu văn học dân tộc Tập thơ gồm có

254 bài thơ và được chia làm bốn phần Phần một: Vô đề gồm 192 bài, phần hai: Thời lệnh môn (Đề tài thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa) gồm 21 bài, phần ba: Hoa mộc môn (Đề tài về các loài hoa cỏ, thảo mộc) gồm 33 bài,

Trang 27

phần bốn: Cầm thú môn (Đề tài về các loài thú vật, chim muông) gồm 7 bài

Trong đó, thể loại thơ Nôm tứ tuyệt được Nguyễn Trãi sử dụng trong hai phần

Thời lệnh môn và Hoa mộc môn, gồm tất cả 43 bài chiếm 17%

Ở phần Thời lệnh môn những bài thơ Nôm tứ tuyệt của Nguyễn Trãi

thể hiện nỗi u hoài, tức cảnh, đề vịnh trước thiên nhiên và thời gian của cảnh sắc bốn mùa, qua đó nói lên mối tình thắm thiết với thiên nhiên của thi nhân,

và nỗi lòng sâu kín, gửi gắm tới cuộc đời của tác giả Trong tập thơ Quốc

âm thi tập, có quá nửa số bài viết về đề tài thiên nhiên, nhưng ẩn đằng sau

đề tài đó, tác giả còn đề cập đến những vấn đề thế sự như GS Đặng Thanh

Lê đã nhận xét: “Đại bộ phận thơ Nôm để cập đến thế sự, nhân tâm và tâm

tư, hoài bão cá nhân, thường chỉ có vài ba câu tả cảnh trong mỗi bài Hệ thống những bài thơ miêu tả chim muông cây cỏ thực chất cũng là những bài mang ý nghĩa phóng dụ về tuổi xanh hay về tình yêu, về tài năng, khí tiết hay về Phật lý, về nho đạo [38, tr.689] Thiên nhiên đã khoác những chiếc áo

màu khác nhau tùy theo từng thời gian, cỏ cây, hoa lá, sông hồ, núi rừng, bầu trời đã thay đổi theo từng mùa, từng tháng khiến cho lòng người cũng thay đổi theo, và tâm hồn thi nhân càng thêm cảm xúc Thi nhân thường ca tụng mùa xuân bởi đó là mùa đẹp nhất trong năm, cây cỏ tốt tươi, hoa lá đua chen, đâm chồi nảy lộc:

Đông phong từ hẹn tin xuân trước

Đầm ấm nào hoa chẳng tốt tươi

(Xuân hoa tuyệt cú)

Mùa hạ cũng được ghi dấu ấn bởi âm thanh chuyển mùa của tiếng chim

đỗ quyên kêu, cùng màu vàng sáng rực của hoa hòe xuất hiện:

Vì ai cho cái đỗ quyên kêu

Tay ngọc dùng rằng chỉ biếng thêu Lại có hòe hoa chen bóng lục

(Hạ cảnh tuyệt cú)

Mùa thu cũng chiếm một vị trí quan trọng trong thơ Nguyễn Trãi, với ông

đó là mùa trăng đẹp nhất, trăng thêm sáng lung linh, trời thêm cao vời vợi:

Trang 28

Tính kể tư mùa có nguyệt

Thu âu là nhẫn một hai phần

(Thu nguyệt tuyệt cú)

Đứng trước thời gian cuả vũ trụ trôi đi không bao giờ trở lại, lòng thi nhân thêm những nỗi buồn, gợi lên bao niềm sầu khổ, suy tư, bởi sự hữu hạn

của đời người Trong các bài Tích cảnh thi, hầu hết đều mang tâm trạng lo âu

của nhà thơ, nhà thơ với niềm tâm sự vừa trân trọng, vừa luyến tiếc thời gian, vừa cảm hoài tuổi trẻ :

Tiếc thiếu niêm qua lật hẹn lành Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình

(Thơ tiếc cảnh bài 4)

Vì thu cho nhẫn đầu thêm bạc

Chưa dễ ai đà ba bảy mươi

(Thơ tiếc cảnh bài 5)

Nguyễn Trãi là một thi nhân ẩn sĩ, cho nên nỗi buồn của ông là nỗi buồn của con người đã từng ở vào lúc xế bóng của đời người, bi hoài khi đứng trước cảnh vật hữu tình quen thuộc :

sự Dưới con mắt của Nguyễn Trãi, phần lớn những hình ảnh ấy đều mang những biểu tượng của chân thiện mỹ

Cây tùng bốn mùa vẫn xanh tươi cho dù các loài thảo mộc khác đã thay đổi theo thời tiết Cây tùng đó tượng trưng cho người quân tử dù hoàn cảnh thay đổi, nhưng vẫn không thay lòng, biến tiết:

Trang 29

Thu đến cây nao chẳng lạnh lùng

Trùng cửu chớ hiềm thu đã muộn

Cho hay thu muộn tiết càng thơm

Một tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước sâu sắc, do vậy thơ Nguyễn Trãi luôn mang chất suy tư, nhiều ám gợi, thiên nhiên được khắc họa càng đẹp càng chứng tỏ tâm hồn nhà thơ trong sáng tươi đẹp, và tâm hồn tươi đẹp

ấy luôn xuất phát từ một thế giới quan lành mạnh, yêu đời, thắm đượm tình người, nhiều trách nhiệm với quốc gia dân tộc

1.2.2 Thơ Nôm tứ tuyệt trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn

Bỉnh Khiêm

Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585)

“Một cây đại thụ rợp bóng suốt thế kỷ XVI”, là tập thơ hầu hết gồm những bài

thơ tám câu bảy tiếng (thất ngôn bát cú) có xen những câu sáu tiếng, và một vài bài 6 câu có câu 7 tiếng có câu 6 tiếng; còn thơ tứ tuyệt chỉ duy nhất có một bài Trong tập thơ này, tất cả đều không có đầu đề, nhưng xét chung các

đề tài chủ yếu xoay quanh một số vấn đề nhất định như: Sự suy tàn của chế độ phong kiến, cuộc đời nhàn dật, phong cảnh thiên nhiên và ý nghĩa về bổn

Trang 30

phận với vua với nước cùng hàng loạt bài thơ đạo lý, khuyên dạy con người của một bậc ẩn sĩ tài cao đức cả… Đây là tập thơ Nôm có trên một trăm bài thơ, về con số chính xác thì cho đến nay các nhà nghiên cứu, sưu tầm vẫn chưa có sự thống nhất Trong số đó, chỉ có một bài thơ được làm theo thể tứ

tuyệt So với Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập có tới 43 bài thơ được làm

theo thể tứ tuyệt thì thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có tỉ lệ rất nhỏ Điều này chứng tỏ Trạng Trình chúng ta không ưa dùng thể tứ tuyệt trong sáng tác

Nôm của mình, mà tập trung vào thể thất ngôn bát cú Trong cuốn Thơ văn

Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập của nhà xuất bản Văn học, bài thơ tứ tuyệt duy

nhất được đánh số thứ tự là 98 có nội dung như sau:

Giàu làm chị khó làm em,

Giàu chớ kiêu căng, khó chớ hiềm

Dưới biết kính trên, trên biết dưới,

Ấy nhà còn thịnh, phúc còn thêm

Đó là những câu thơ khuyên răn cuộc đời của nhà thơ nhằm giáo dục

kẻ hậu sinh Câu thơ mang phong vị ca dao tục ngữ nên rất dễ đi vào lòng người đọc Trải qua thời gian dài của nhiều thế kỷ nhưng những câu thơ, bài thơ Nôm của ông vẫn sáng lên như những viên ngọc quý trong tâm thức người đọc nhiều thế hệ

1.3 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội, thời đại Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương

1.3.1 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa – xã hội, thời đại Hồ Xuân Hương

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề về cuộc đời và thơ văn của bà chưa được chứng minh khẳng định, còn có nhiều ý kiến trái chiều chưa thống nhất, bà sinh năm nào mất năm nào, và sáng tác chủ yếu vào thời gian nào đều chưa biết chính xác Có nhà nghiên cứu cho rằng bà sống và sáng tác vào nửa cuối thế kỷ XVIII chủ yếu dưới thời Tây Sơn, nhưng có tài liệu khác lại cho rằng bà sống chủ yếu vào thời nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ

Trang 31

XIX Cuộc đời của Hồ Xuân Hương qua những điều kiện hiện nay chúng ta biết được cũng không lấy gì làm chắc chắn bởi vì không có tài liệu gốc nào để lại cả Người ta vẫn thường lưu truyền bà là người quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, ông thân sinh là Hồ Phi Diễn, một ông đồ nghèo bỏ quê ra dạy học ở vùng Hải Dương - Kinh Bắc ngày trước, về sau lấy một cô gái họ Hà làm vợ lẽ và sinh ra Hồ Xuân Hương Gia đình bà có một thời sống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây, về sau dọn

về thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương nay là phố Lý Quốc Sư -

Hà Nội Khi trưởng thành, bà có một ngôi nhà ở gần Hồ Tây lấy tên là Cổ Nguyệt Đường Bà thông minh nhưng không được học nhiều, lấy chồng hai lần và cả hai lần đều làm lẽ, bà từng đi nhiều nơi, điều này thể hiện trong thơ

bà với nhiều di tích, thắng cảnh danh lam của đất nước ở khu vực trung du và miền núi phía bắc được nhắc đến

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Lộc, Phạm Luận, Đào Thái Tôn, Bùi Duy Tân , Hồ Xuân Hương sống trong khoảng giữa thế

kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX Cuộc đời Hồ Xuân Hương nằm trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Bà sống vào cuối thời vua Lê – chúa Trịnh, lúc này chế độ phong kiến trải qua một một cuộc khủng hoảng cực kỳ trầm trọng và đã mục nát đến tận gốc rễ Chúa Trịnh phế con trưởng là Trịnh Tông lập con thứ là Trịnh Cán, gây ra bè đảng tranh giành quyền lực Ở Đàng Trong, quân chúa Nguyễn lăm le ra đánh và đã đánh nhau kéo dài luôn nửa thế kỷ, khiến cho nhân dân Đàng Trong và Đàng Ngoài hết sức khổ sở Dưới

sự cai trị của chúa Trịnh, nhiều thứ thuế nặng nề phiền phức đè lên người dân, lại còn thêm các thiên tai như hạn hán, lũ lụt, mất mùa liên tiếp nhưng vua chúa thì sống một cuộc sống xa hoa trụy lạc Trước hỗn cảnh đó, quan lại chỉ còn biết lấy nịnh hót, luồn cúi làm lẽ sống…Nhân dân sống trong cảnh loạn

ly, các giá trị đạo đức bị băng hoại, bao nhiêu cặn bã xã hội nổi lên bề mặt

Do khổ sở cùng cực, tức nước vỡ bờ như vậy, nhiều cuộc khởi nghĩa ùn ùn nổ

Trang 32

ra liên tiếp khắp nơi Hồ Xuân Hương đã sống trong một thời đại như thế và thơ của bà đã mang rất rõ dấu hiệu của thời đại bà Thời Xuân Hương, một tầng lớp thị dân đã bắt đầu lớn mạnh ở những trung tâm buôn bán đặc biệt là

Kẻ Chợ (Hà Nội) và Phố Hiến (Hưng Yên) Tầng lớp thị dân này tất yếu phải

có lối sống, suy nghĩ khác với khuôn khổ phong kiến Vì vậy, cái đòi hỏi giải phóng trong thơ Xuân Hương là sự diễn đạt khao khát ngấm ngầm của cả một

xã hội, là sự trỗi dậy của những tư tưởng cá nhân tự do muốn giải phóng khỏi định kiến nho giáo do ảnh hưởng tất yếu của thời đại

1.3.2 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa – xã hội, thời đại Trần Tế Xương

Thời đại Trần Tế Xương là thời đại nước mất nhà tan Tú Xương (1870 – 1907) cuộc đời quá ngắn ngủi nhưng Tú Xương đã để lại cho hậu thế một dung lượng tác phẩm khá phong phú và đầy thú vị Cuộc đời ngắn ngủi của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước Trước lúc

Tú Xương ra đời ba năm, Lục tỉnh Nam kỳ mất trọn cho Pháp Tú Xương lên

ba, Bắc kỳ trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất Tú Xương 12 tuổi, Bắc kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ hai và mất nốt Hiệp ước Harmand

1883 rồi Hiệp ước Patenotre 1884 thừa nhận quyền thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta Các phong trào kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta

đã diễn ra sôi nổi, nhưng rồi cứ lần lượt thất bại Mất nước, kẻ thù đè đầu cưỡi

cổ, xã hội đổi thay, từ một xã hội phong kiến lỗi thời, cổ hủ chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến đầy lố lăng và bịp bợm Về kinh tế, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời nhưng mang nặng tính chất thuộc địa Về văn hóa, chúng đưa Thiên Chúa giáo vào để đè bẹp nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, nhằm đưa nước ta vào vòng ảnh hưởng của văn hóa phương Tây theo đường lối nô dịch của chúng Ngoài ra, chữ quốc ngữ cũng được các cố đạo phương Tây sáng lập và truyền bá nhằm ý đồ tạo công cụ truyền giáo và thực hiện văn hóa nô dịch nước ta

Trang 33

Thời đại của Tú Xương là thời đại của khoa cử biến động, kẻ sĩ sa đọa

Sau gần mười thế kỷ huy hoàng, đến thời Tú Xương, Nho học suy tàn thảm hại trước cuộc xâm lăng và cai trị của thực dân Pháp Trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến ấy, việc thi cử chữ Hán và cả nền Hán học lâu đời lâm vào cảnh ngắc ngoải chờ chết Tú Xương vừa là nạn nhân vừa là chứng nhân của tình trạng đó Theo chế độ khoa cử thời phong kiến, cứ ba năm triều đình lại mở một khoa thi, nhưng từ khi Pháp đánh chiếm Bắc kỳ và Trung kỳ thì một số trường thi cũng trải qua nhiều biến động (như chuyện sĩ tử Bắc kỳ mất thi năm 1882 vì Tây đánh thành Hà Nội, do đó phải chờ thêm hai năm nữa mới được vào thi trường Thanh Hóa; còn trường thi Nam Định, lính Tây cũng đốt cháy rụi nốt vào năm 1883, do vậy cũng phải vào Thanh Hóa mà ghé ống quyển thi nhờ)

Đến thời Tú Xương, nho học đã dần tàn lụi không còn được đề cao như trước nữa Nho học trải qua một thời gian dài của nhiều thế kỷ đã khắc sâu vào trong tâm trí mỗi người, gắn chặt với tầng lớp tri thức, vậy mà đến thời

Tú Xương giá trị của chữ nho được đúc kết lại một cách đầy xót xa “nào có

ra gì”, cùng với đó là bao nhiêu cảnh tượng thi cử làm trò, bất công ngang

trái, bịp bợm mất đi hẳn cái vẻ tôn nghiêm vốn có của chốn trường quy Điều này được phản ánh rất nhiều trong những bài thơ tứ tuyệt của ông Không chỉ vậy, kẻ sĩ nhiều người thời Tú Xương nấu sử sôi kinh không phải nhằm mục đích đem tài năng của họ ra giúp nước, giúp dân mà là để thành đạt hai chữ công danh riêng cho mình, đỗ đạt không phải để thực hiện đạo lý thánh hiền

mà là để bảo vệ quyền lợi cá nhân của họ

* Tiểu kết chương 1

Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương là hai tác giả đều sống trong những thời kỳ đầy biến động của lịch sử, xã hội, đất nước Tất cả những sự đổi thay

đó đều được cả hai nhà thơ phản ánh sinh động trong sáng tác của họ, đặc biệt

là trong những bài thơ Nôm tứ tuyệt, chỉ với bốn câu nhưng mọi vấn đề trong

Trang 34

xã hội đều hiện lên rõ ràng, sắc nét, đậm vị Trải qua một chặng đường dài của lịch sử, thơ Nôm tứ tuyệt được đánh dấu từ Nguyễn Trãi thế kỷ XV đến

Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương thế kỷ XVIII – XIX vẫn luôn tồn tại và không ngừng được hoàn thiện phát triển từ nội dung lẫn hình thức nghệ thuật

Điều này đã chứng minh cho sức sống sức hấp dẫn diệu kỳ và thế mạnh của thơ Nôm tứ tuyệt

Hồ Xuân Hương - tác giả của giai đoạn từ giữa thế kỷ XVIII - đến giữa thế kỷ XIX đã cắm một dấu mộc quan trọng trong tiến trình phát triển của thơ Nôm tứ tuyệt Việt Nam Trần Tế Xương - tác giả của giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, nối tiếp Hồ Xuân Hương đã đưa thơ Nôm tứ tuyệt lên một tầm cao mới, khép lại hành trình phát triển của thơ Nôm tứ tuyệt Việt Nam thời kỳ Trung đại

Việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương, sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn, không chỉ tài năng nghệ thuật của hai tác giả này, mà còn có những đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn tiến trình phát triển của thơ Nôm tứ tuyệt Việt Nam

Trang 35

Chương 2

SỰ VẬN ĐỘNG VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG THƠ NÔM TỨ TUYỆT TỪ HỒ XUÂN HƯƠNG

ĐẾN TRẦN TẾ XƯƠNG 2.1 Quy mô số lượng

2.1.1 Quy mô số lượng thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương

Trong số 40 bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương do tác giả Nguyễn Lộc tuyển chọn, chúng tôi khảo sát được 13 bài thơ Nôm được viết theo thể thơ tứ

tuyệt Cũng trong cuốn Thơ Hồ Xuân Hương do tác giả Nguyễn Lộc tuyển

chọn này, có thêm một số bài thơ mà theo một số nhà nghiên cứu cho là của

Hồ Xuân Hương đặc biệt là hai bài tứ tuyệt: Đồng tiền hoẻn và Phận ốc

nhồi Thiết nghĩ, một số nhà nghiên cứu đã tuyển chọn thêm một số bài, trong

đó có hai bài thơ tứ tuyệt trên và cho là của Hồ Xuân Hương cũng là hợp lí

Khi tuyển chọn như vậy, chắc chắn các nhà nghiên cứu cũng phải căn cứ dựa trên cơ sở nào đó như hệ thống đề tài, chủ đề mà nhà thơ quan tâm cùng với tính nhất quán trong cảm xúc thẩm mỹ, văn phong của tác giả Phân tích nội

dung hai bài thơ đó dựa trên cơ sở như đã nói thì cả hai bài thơ Đồng tiền

hoẻn và Phận ốc nhồi chúng tôi cũng xếp vào thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân

Hương Do vậy, tổng số những bài thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương có đến 15 bài trên tổng 40 bài thơ Nôm, chiếm tỉ lệ 37,5 % một con số khá lớn

Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, số lượng các bài thơ Nôm tứ tuyệt

của ông là 43 bài chiếm tỉ lệ 16,9%, đến Hồ Xuân Hương thì số lượng bài khiêm tốn hơn, nhưng tỉ lệ lại cao hơn Nguyễn Trãi rất nhiều Đặc biệt là thơ Nôm tứ tuyệt Hồ Xuân Hương đã nâng thêm một tầng cao mới bởi trong thi phẩm ấy của bà có một điều độc đáo là cả 15 bài thơ đều thuộc loại tứ tuyệt trào phúng Chính điều này đã tạo được sự hấp dẫn và ấn tượng đậm nét khiến người đọc nhiều thế hệ luôn dành sự quan tâm đến thơ của bà Đây là điều

chưa hề thấy trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ

thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 36

Với số lượng câu chữ ít trong thơ Nôm tứ tuyệt, do đó để làm được bài thơ tứ tuyệt mà còn là bài thơ tứ tuyệt trào phúng thì không hề dễ dàng chút nào Do vậy, có thể nói ngoài quan điểm, thái độ, sở trường, phong cách của nhà thơ thì đây cũng là một nguyên nhân khiến trước Hồ Xuân Hương ít hoặc không xuất hiện những bài thơ Nôm tứ tuyệt trào phúng trong những tập thơ

lớn như Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ

thi tập Và phải chăng trong những bài thơ Nôm tứ tuyệt, yếu tố trào phúng ở

đó chính là ý thức thường trực trong cảm hứng sáng tác của Xuân Hương Do vậy, khi gặp những chuyện đáng cười, đáng mỉa mai, châm biếm là ngay lập tức Xuân Hương làm thơ, có thơ Rõ ràng, với số lượng 15 bài thơ Nôm tứ tuyệt trong tổng số hơn 40 bài thơ một con số khá ấn tượng cho thấy phong cách sở trường, thế mạnh của bà khi sử dụng một thể thơ ngắn gọn khúc triết

để bộc lộ cảm xúc và bà đã rất thành công với thể loại này

2.1.2 Quy mô số lượng thơ Nôm tứ tuyệt Trần Tế Xương

Về văn bản thơ Nôm Trần Tế Xương cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất đồng thuận tuyệt đối, bởi chưa thể tìm ra một văn bản gốc có độ tin cậy cao Do vậy, việc nghiên cứu thơ Tú Xương khó có thể tránh khỏi những bất cập Trong những công trình nghiên cứu sưu tầm về thơ Tú Xương, chắc hẳn vẫn tồn tại những sai số nhất định Vì vậy, chúng ta cũng cần phải thừa nhận rằng những cuốn sách xuất bản sưu tầm về văn bản thơ Trần Tế Xương về độ chính xác chỉ là ở mức độ tương đối Trong luận văn này, tôi lựa chọn cuốn

Thơ Nôm Tú Xương của nhà xuất bản Hội Nhà văn để khảo sát nghiên cứu

Về quy mô số lượng, những bài thơ Nôm tứ tuyệt trong cuốn Thơ Nôm

Tú Xương, chúng tôi đã thống kê, khảo sát có 33 bài trên tống số 134 bài thơ

Nôm được viết theo thể tứ tuyệt, chiếm 24,6% Đây là một con số tuy chưa nhiều nhưng nếu quay ngược lại thời gian so với nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì số lượng những bài thơ Nôm được viết theo thể tứ tuyệt có tăng lên đáng kể

Trang 37

Việc sử dụng thể loại tứ tuyệt trong sáng tác ít hay nhiều có lẽ còn phụ thuộc vào sở trường, cá tính, quan niệm của mỗi tác giả Do đó, chúng không thể chỉ dựa vào số lượng bài của một thể loại mà lấy đó để làm tiêu chí đánh giá về nhà thơ Qua thơ tứ tuyệt của cả hai tác giả, chúng ta đều nhận thấy điểm nổi bật của những bài thơ này đều là những bài thơ xuất sắc, những bài thơ để đời của tác giả hầu hết là những bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ, chiếm được cảm tình của độc giả

Với con số 33 bài thơ tứ tuyệt tuy chưa nhiều so với tổng số lượng trong sự nghiệp của Tú Xương, nhưng đó chủ yếu là những bài thơ tuyệt bút,

là những thước phim, những phóng sự ngắn mà Tú Xương ghi lại được Có một điều đặc biệt là ở thể thơ tứ tuyệt này, giữa Hồ Xuân Hương với Trần Tế Xương có một điểm tương đồng gần gũi, rất lý thú đó là hầu hết các bài thơ tứ tuyệt của cả hai tác giả đều sử dụng yếu tố trào phúng Thơ Hồ Xuân Hương thường trực tiếng cười ở mọi lúc, mọi nơi đó chính là nguyên nhân xuất hiện

15 bài thơ tứ tuyệt trào phúng Đến với Trần Tế Xương, với cá tính độc đáo

có phần bốp chát, mạnh mẽ đã góp phần hun đúc tạo nên sự bất ngờ trong tiếng cười trào phúng nhanh nhạy cũng chính là kết quả của sự ra đời 33 bài thơ tứ tuyệt Trần Tế Xương

Như vậy qua khảo sát về quy mô số lượng thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương cho ta thấy rằng tỉ lệ những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương

và Trần Tế Xương tuy không nhiều so với những thể loại khác nhưng đó là những tác phẩm có giá trị Hồ Xuân Hương có 15 trên tổng 40 bài thơ Nôm chiếm 37,5%, còn Trần Tế Xương có 33 trên tổng 134 bài thơ Nôm chiếm 24,6% Với số lượng này, thơ tứ tuyệt đã góp phần quan trọng làm nên tên tuổi cả hai nhà thơ, ghi danh họ vào làng thơ, trở thành những nhà thơ độc đáo xuất sắc của dân tộc Trong số những bài thơ tứ tuyệt của hai tác giả, có những bài được lựa chọn để giảng dạy trong chương trình phổ thông, điều này

Trang 38

thêm một lần nữa khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của thể thơ này trong sáng tác của họ

2.2 Hệ thống đề tài chủ đề

Đề tài theo Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học: “Đề tài là khái

niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm ” [8, tr.110] Ví dụ đề tài thiên nhiên, đề tài loài vật, đề tài cải cách

ruộng đất, đề tài sản xuất, đề tài chiến đấu, đề tài kháng chiến chống Mĩ

Chủ đề theo Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học đó là vấn đề cơ

bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học Nếu khái niệm đề tài giúp ta xác định tác phẩm viết về cái gì?

Thì khái niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi: vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì?

Chủ đề bao giờ cũng được hình thành và được thể hiện trên cơ sở đề tài

Qua việc thống kê, khảo sát 48 bài thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương, dựa vào kết quả thống kê phân loại, chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống đề tài chủ đề trong những bài thơ Nôm tứ tuyệt của

cả hai tác giả đều rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều phương diện của đời sống con người Từ những tâm trạng riêng tư thầm kín của người phụ nữ như ở thơ Hồ Xuân Hương cho đến những vấn đề lớn lao liên quan đến vận mệnh dân tộc, thời đại như thơ các nhà nho yêu nước sau thế kỷ XIX

2.2.1 Hệ thống đề tài, chủ đề trong thơ Hồ Xuân Hương

Hệ thống đề tài chủ đề trong những bài thơ Nôm tứ tuyệt của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương rất phong phú và đa dạng Bà viết về thiên nhiên,

về con người với nhiều thành phần địa vị khác nhau trong xã hội, đó dường như là cái hiện thực cuộc sống thời đại của bà Với tài năng và niềm say mê, với khát khao khẳng định lẽ sống, bà đã thu lượm từ thực tế cuộc sống thành những chủ đề mang tính thời đại, và ẩn đằng sau mỗi hiện tượng được nữ sĩ

Trang 39

lựa chọn, phản ánh, ở đó luôn chứa đựng bức tranh tâm trạng, những gửi gắm niềm riêng tư, cùng với nỗi lòng của người phụ nữ luôn khát khao khẳng định mình Trong giới hạn của luận văn, tôi chỉ đi tìm hiểu hệ thống đề tài chủ đề trong những bài thơ Nôm tứ tuyệt của bà mà thôi Do vậy, nếu như đánh giá

về số lượng đề tài chủ đề trong thơ Hồ Xuân Hương để thấy được rằng thơ bà phản ánh những vấn đề gì thì chắc chắn cần phải mở rộng sang tất cả những bài thơ, những thể thơ trong toàn bộ sáng tác của bà thì có lẽ mới thật toàn diện Ở luận văn này, tôi sẽ tập trung đi tìm hiểu với một thể loại cụ thể “Thơ

tứ tuyệt” để thấy được Hồ Xuân Hương đã phản ánh những đề tài chủ đề gì là chủ yếu?

2.2.1.1 Các đề tài chủ đề chính

Dựa vào kết quả thống kê phân loại, chúng tôi nhận thấy trong 15 bài thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương có thể xếp thành những mảng đề tài chủ đề chính như sau:

- Đề tài viết về thiên nhiên và các sự vật, gồm những bài: Bánh trôi

nước, Quả mít, Ốc nhồi, Đồng tiền hoẻn

- Đề tài viết về phụ nữ có bài: Mời trầu

- Đề tài viết về tăng lữ gồm hai bài: Kiếp tu hành, Sư bị ong châm

- Đề tài viết về cái chết gồm những bài: Dỗ người đàn bà khóc chồng,

Khóc Tổng Cóc

- Đề tài viết về kẻ sĩ gồm có: Mắng học trò dốt I, Mắng học trò dốt II,

Đề đền Sầm Nghi Đống

- Đối thoại với Chiêu Hổ gồm ba bài: Trách Chiêu Hổ I, Trách Chiêu

Hổ II, Trách Chiêu Hổ III

2.2.1.2 Nhận xét hệ thống đề tài chủ đề

Sáu mảng đề tài, chủ đề chính như trên đều có mặt trong một thể thơ, chỉ một thể thơ ngắn mà chủ đề hầu như đã bao quát được hầu hết những nội dung trong toàn bộ sáng tác Nôm của bà Điều này thêm một lần nữa khẳng

Trang 40

định tài năng, cá tính độc đáo của nhà thơ Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ kì tài của làng thơ Việt Nói vậy bởi lẽ chỉ với một thể thơ ngắn mà lại được tác giả sử dụng phản ánh rất nhiều đề tài, chủ đề trong cuộc sống, với tất cả những sự vật hiện tượng, con người đủ mọi thành phần trong xã hội đều xuất hiện trong những bài thơ tứ tuyệt của bà Khi nói đến thơ tứ tuyệt là nói đến những bài thơ không có gì xa lạ với chúng ta, bởi nó đã xuất hiện từ rất nhiều thế kỉ trước, đã gắn bó, gần gũi với biết bao thế hệ nhà thơ và học trò

Nhưng chỉ đến với những bài thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương, người đọc mới không khỏi ngỡ ngàng thán phục Hầu như tất cả những bài thơ tứ tuyệt của Xuân Hương đều xuất hiện yếu tố trào phúng đặc sắc khiến người đọc phải suy nghĩ, hình dung, tưởng tượng, phải cười Mỗi bài thơ như là một bức tranh, một thước phim ngắn ghi lại cuộc sống, thời đại của Hồ Xuân Hương vậy

Sáu mảng đề tài chính trong những bài thơ tứ tuyệt Hồ Xuân Hương đã mang đến cho người đọc chúng ta những bức tranh thiên nhiên cùng các sự vật tràn đầy sức sống, âm thanh và màu sắc Bên cạnh đó, người đọc còn thấy được tiếng nói đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu trong xã hội phong kiến cũng như tiếng nói bênh vực, đòi quyền sống cho người phụ nữ trong

xã hội Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn kết hợp với sự nhạy bén tinh tế trong việc sử dụng lựa chọn ngôn ngữ tài tình cùng với yếu tố trào phúng, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã để lại những bài thơ độc đáo dễ thuộc dễ nhớ, thu hút hấp dẫn người đọc mọi thế hệ Qua thơ tứ tuyệt của bà, mọi hiện tượng, mọi vấn

đề, mọi đối tượng đều được Hồ Xuân Hương phản ánh, lột tả, qua đó bóc trần bản chất của mọi vấn đề

2.2.2 Hệ thống đề tài chủ đề trong thơ Trần Tế Xương

Tú Xương được mệnh danh là “Người thư kí giỏi của thời đại” bởi thơ

ông đã bám sát từng sự kiện của đời sống, là tấm gương phản ánh chân thật diện mạo của một thời kỳ lịch sử đau thương với những biến động dữ dội, đã

Ngày đăng: 20/12/2022, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm