Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải phát triển các dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong đó không thể không kể đến hoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phươn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ (L/C) là phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất và được đánh giá ưu việt, chiếm hơn 70% giá trị thanh toán trên thị trường L/C đảm bảo quyền lợi cho cả người mua và người bán ở mức độ tương đối, tăng cường an toàn và tin cậy cho các giao dịch thương mại quốc tế.
Tín dụng chứng từ (L/C) là cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản do một tổ chức tài chính—thường là ngân hàng—cam kết trả tiền cho người thụ hưởng (thường là người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ) khi người thụ hưởng xuất trình đầy đủ chứng từ phù hợp với tất cả các điều khoản trong L/C, tuân thủ Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) được dẫn chiếu trong thư tín dụng và theo Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ.
Theo Điều 2 của UCP600 (2007), tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình đúng và phù hợp các chứng từ được yêu cầu Tín dụng chứng từ là cơ chế thanh toán giữa ngân hàng phát hành và các bên tham gia giao dịch, chỉ thanh toán khi chứng từ phù hợp được trình lên ngân hàng.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng, theo yêu cầu của khách hàng, cam kết trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát, trong phạm vi số tiền đó, nếu người thụ hưởng xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các quy định được nêu trong thư tín dụng.
Tín dụng chứng từ (thư tín dụng, L/C) là một cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng, được mở cho người bán hoặc người hưởng lợi theo yêu cầu và chỉ thị của người mua Ngân hàng cam kết thanh toán ngay hoặc tại một thời điểm xác định trong tương lai một số tiền đã ghi trong thư tín dụng, dựa trên việc người thụ hưởng xuất trình đúng các chứng từ phù hợp với điều kiện và phạm vi đã được quy định.
Theo Điều 2 của UCP600 (2007) – Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành, tín dụng chứng từ có bốn bên tham gia chính: người mở tín dụng (áp dụng), người hưởng lợi, ngân hàng mở tín dụng và ngân hàng thông báo/ xác nhận tín dụng Các bên này phối hợp theo quy định của UCP600 nhằm xác định vai trò, trách nhiệm và điều kiện thanh toán chứng từ, đảm bảo sự minh bạch và an toàn cho giao dịch thương mại quốc tế.
Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant) : là người mua, người nhập khẩu hàng hóa
Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary) : là người bán, người xuất khẩu
Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thƣ tín dụng (Issuing bank ,
Opening bank) : là ngân hàng theo yêu cầu của người xin mở hoặc nhân danh chính mình phát hành thƣ tín dụng
Ngân hàng thông báo (Advising bank) : là ngân hàng thông báo thƣ tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành
Cụ thể hơn có thể chia các bên có liên quan gồm:
Người yêu cầu mở L/C (Applicant) là bên được ngân hàng phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của họ, tức là người đăng ký mở LC Trong thương mại quốc tế, người mở thường là người mua hoặc tổ chức nhập khẩu và đóng vai trò là bên yêu cầu thanh toán cho người bán Tên gọi của họ có thể là opener, accountee hoặc principal, tùy vào từng ngân hàng và điều kiện thỏa thuận giao dịch.
Người hưởng lợi L/C (Beneficiary) là bên được cấp L/C và có quyền nhận thanh toán hoặc sở hữu hối phiếu đã được L/C chấp nhận thanh toán Thông thường, người hưởng lợi là người bán hoặc người xuất khẩu hàng hóa Các tên gọi phổ biến của người hưởng lợi L/C gồm seller, exporter và drawer (drawner).
Ngân hàng mở L/C hay Ngân hàng phát hành thƣ tín dụng (Issuing bank/
Opening bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo yêu cầu của người mở, là Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, cung
GVHD nêu rõ ThS Võ Tường Oanh cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận, lựa chọn và quy định trong hợp đồng thương mại Việc lựa chọn ngân hàng và điều kiện tín dụng được ghi rõ trong hợp đồng nhằm hỗ trợ các giao dịch nhập khẩu và xuất khẩu giữa hai bên, đảm bảo nguồn vốn được cấp phát đúng thời hạn và an toàn.
Nếu chưa có quy định thì người nhập khẩu có quyền lựa chon
Ngân hàng thông báo (Advising bank) là ngân hàng phục vụ người xuất khẩu và thực hiện việc thông báo thư tín dụng L/C cho người xuất khẩu Ngân hàng này thường ở nước cư trú của người xuất khẩu và có thể là chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng.
Ngân hàng xác nhận (Confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm thanh toán cho người xuất khẩu khi ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán; ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo thư tín dụng hoặc là một ngân hàng khác do người xuất khẩu yêu cầu Thông thường, đây là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế.
Ngân hàng thanh toán là ngân hàng chịu trách nhiệm thanh toán cho người xuất khẩu theo thư tín dụng Nó có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc là một ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định để thay mặt thanh toán, trả tiền hoặc chiết khấu hối phiếu cho người xuất khẩu.
Ngân hàng thương lượng là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ và thường là ngân hàng thông báo L/C cho người thụ hưởng Khi điều kiện của L/C cho phép thương lượng tự do, bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể đảm nhận vai trò ngân hàng thương lượng Tuy nhiên, có trường hợp L/C quy định ngân hàng thương lượng là một ngân hàng được chỉ định (nominated bank), tức là việc thương lượng phải được thực hiện tại một ngân hàng cụ thể được nêu trong LC.
Ngân hàng chiết khấu : Trong trường hợp thanh toán trả chậm, người xuất khẩu muốn lấy tiền ngay thì họ phải trả cho Ngân hàng một khoản phí
Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàng được nêu trong thư tín dụng (L/C) để thực hiện thanh toán hoặc chiết khấu cho L/C Đây có thể là ngân hàng được chỉ định cụ thể trong thỏa thuận nếu L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu, hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu L/C có giá trị tự do Vai trò của ngân hàng được chỉ định là cơ sở xử lý thanh toán, chứng từ và thỏa thuận chiết khấu giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu, đảm bảo tính thanh khoản cũng như sự tuân thủ điều kiện của L/C trong giao dịch thương mại quốc tế.
Ngân hàng được chỉ định có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ bộ chứng từ và bảo đảm chúng khớp với chứng từ do ngân hàng phát hành, khi nhận được bộ chứng từ do nhà xuất khẩu gửi đến.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
THỰC TRẠNG VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG
Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP XNK Việt Nam
Một số thông tin cơ bản:
Tên tiếng Việt : Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam
Tên tiếng Anh: Vietnam Export Import Bank
Hội sở: Tầng 8- Vincom center, 72 Lê Thánh Tôn – 45A Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
Website: www.eximbank.com.vn
Eximbank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam, được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Sự kiện thành lập này đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, mở ra nền móng cho các hoạt động tài chính và dịch vụ ngân hàng sau này.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Đến nay, vốn điều lệ của Eximbank đạt 12.355 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 14.459 tỷ đồng Với các chỉ số vốn ấn tượng này, Eximbank hiện là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốn chủ sở hữu lớn nhất tại Việt Nam.
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước, trụ sở chính đặt tại TP Hồ Chí Minh cùng mạng lưới 207 chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc Ngân hàng đã thiết lập quan hệ đại lý với 869 ngân hàng tại 84 quốc gia trên thế giới, mở rộng quy mô và khả năng phục vụ khách hàng cả trong nước và quốc tế.
Eximbank đã xác định và lựa chọn các cổ đông chiến lược ở cả thị trường trong nước lẫn quốc tế là những tổ chức, tập đoàn kinh tế - tài chính và doanh nghiệp có uy tín cao trên thương trường Trong danh sách này nổi bật có Sumitomo Mitsui Banking Corporation, một ngân hàng danh tiếng hàng đầu tại Nhật Bản.
Eximbank tham gia mạng SWIFT từ năm 1995, thể hiện thế mạnh về chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối được các ngân hàng trên thế giới công nhận Nhờ kết nối SWIFT, ngân hàng cung cấp các giải pháp thanh toán quốc tế nhanh chóng, an toàn, chi phí hợp lý và sự linh hoạt trong quản lý ngoại hối cho khách hàng và đối tác trên toàn cầu.
Có thể khái quát quá trình phát triển thông qua các cột mốc quan trọng sau:
Trong hai năm 1991 và 1992, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính được tín nhiệm giao thực hiện một phần chương trình tài trợ không hoàn lại do Thụy Điển viện trợ, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu.
Năm 1993, Eximbank được chọn để thực hiện chương trình viện trợ của Chính phủ Thụy Sĩ và bản thân ngân hàng cũng nhận được một phần viện trợ từ chương trình này Đồng thời, Eximbank tham gia hệ thống thanh toán điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nâng cao khả năng thanh toán và kết nối với hạ tầng thanh toán quốc gia.
Năm 1995, ngân hàng đã trở thành thành viên của Hiệp hội các định chế tài trợ phát triển Châu Á Thái Bình Dương (ADFIAP) và được chọn là một trong sáu ngân hàng Việt Nam tham gia Dự án hiện đại hóa ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức, với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Năm 1997: Đƣợc chấp nhận là thành viên chính thức của Tổ chức thẻ MasterCard
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Năm 1998: Được Chase Manhattan Bank New York tặng giải thưởng “1998 Best Services Quality Award”.Đƣợc chấp nhận là thành viên chính thức của Tổ chức thẻ Visa
Năm 2003: Triển khai hệ thống thanh toán nội hàng trực tuyến toàn hệ thống
Năm 2005 ghi nhận thành công của việc kết nối hai hệ thống thanh toán thẻ nội địa Vietcombank và Eximbank, tạo nền tảng cho sự liên thông và hiệu quả của thanh toán thẻ tại Việt Nam Đồng thời, Eximbank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ ghi nợ quốc tế Visa Debit, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hành trình hội nhập thẻ quốc tế và đáp ứng nhu cầu thanh toán của người dùng.
Năm 2006: Eximbank đoạt giải thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2005” do độc giả của Thời Báo Kinh tế Việt Nam bình chọn
Năm 2007: Chính thức trở thành thành viên của tổ chức IFC (Công ty tài chính Quốc tế toàn cầu)
Trong năm 2008, Eximbank vinh dự nhận danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí The Banker trao tặng Cùng với Công ty Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC), Eximbank chính thức khai trương sàn giao dịch vàng SJC – Eximbank và đồng thời nâng vốn điều lệ lên 7.220 tỷ đồng, giúp ngân hàng trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam.
Năm 2009, Eximbank chính thức tăng vốn điều lệ lên 8.800.080.000.000 đồng, trở thành ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh có vốn điều lệ lớn nhất tại Việt Nam lúc bấy giờ.
Năm 2010: Eximbank nhận Giải Thưởng Thanh Toán Xuyên Suốt
Năm 2011, Eximbank vinh dự nhận giải "Thanh toán quốc tế xuất sắc" cho năm 2010 do Ngân hàng HSBC trao tặng, đánh dấu 10 năm liên tiếp HSBC đã trao danh hiệu này cho Eximbank.
Năm 2012, Eximbank tự hào được tạp chí The Banker — tạp chí uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính quốc tế — chọn vào Bảng xếp hạng 1000 Ngân hàng hàng đầu thế giới.
Vào ngày 14/8/2013, Eximbank tiếp tục nhận được giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2013” do Tạp chí Euromoney trao tặng
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Một số thành tựu mà Ngân hàng đã đạt đƣợc kể từ ngày thành lập cho đến nay:
- Năm 1998 đƣợc CHASE MANHATTAN BANK (US) New York tặng giải thưởng “1998 Best Services Quality Award”
Tháng 6/2005, ngân hàng duy nhất được chọn làm đại diện cho khối ngân hàng TMCP, nhận sự ghi nhận đặc biệt từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng đã được trao bằng khen và phần thưởng vì thành tích xuất sắc trong công tác đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại NHNN.
- Tháng 9/2005, nhận “Cúp vàng Top Ten Sản Phẩm Uy Tín Chất Lƣợng” cho sản phẩm hỗ trợ du học trọn gói
- Giải thưởng Top 500 Thương hiệu uy tín Việt Nam 2007
- Năm 2008, Eximbank vinh dự nhận danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí The Banker trao tặng cũng trong năm này Eximbank đã đạt danh hiệu
“Dịch vụ đƣợc hài lòng nhất năm 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức bình chọn lấy ý kiến của hàng nghìn người tiêu dùng trên cả nước
- Năm 2012, Giải “Thương hiệu mạnh Việt Nam” được Thời Báo Kinh Tế Việt Nam bình chọn liên tiếp trong nhiều năm; cũng nhƣ đƣợc bình chọn trong Top
“50 doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam” và nằm trong Bảng xếp hạng 1000 ngân hàng hàng đầu thế giới Ngoài ra, Eximbank tiếp tục đƣợc
Tạp chí AsiaMoney – một tạp chí tiếng Anh uy tín tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương trao giải thưởng “Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam năm 2012”
- Vào ngày 14/8/2013, Eximbank tiếp tục nhận được giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2013” do Tạp chí Euromoney trao tặng
- Và nhiều giải thưởng, danh hiệu khác
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam
• PGD 3/2 trực thuộc: Chi nhánh Quận 10
• Địa chỉ: 392-394 Ba Tháng Hai, Phường 12, Q.10, TP.HCM
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Trưởng phòng Lý Hữu Đức trực tiếp phụ trách PGD 3/2, thuộc CN Quận 10, được đặt ở vị trí thuận lợi và đã đạt được nhiều kết quả khích lệ sau hơn 10 năm hoạt động; với phương châm dựa vào khách hàng cũ để tiếp thị khách hàng mới, PGD 3/2 luôn mang đến các dịch vụ tiện ích phù hợp và sự hài lòng cho khách hàng Quy mô hoạt động của Eximbank - PGD 3/2 ngày càng được mở rộng và hướng tới nhiều đối tượng khách hàng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, nhằm mang lại cho khách hàng những dịch vụ tiện ích và hoàn hảo nhất, đáp ứng nhu cầu và sự thoả mãn khi đến với Eximbank - PGD 3/2.
Cơ cấu bộ máy tổ chức
2.2.1 Cơ cấu tổ chức PGD 3/2
Cơ cấu tổ chức của PGD 3/2 khá đơn giản, nằm dưới sự quản lý của một Trưởng PGD và hai Phó PGD, với vai trò phân nhiệm rõ ràng Đây là mô hình quản lý tập trung, trong đó trưởng phòng giao dịch chịu trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động của PGD theo đúng pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành ngân hàng và điều lệ, quy chế của Eximbank Các bộ phận trong PGD 3/2 được phân chia công việc chuyên môn rõ ràng, đảm bảo tính chuyên môn hóa và hiệu quả vận hành Sự biệt lập tương đối giữa các bộ phận giúp tối ưu hóa quy trình làm việc, đồng thời vẫn đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chức năng nhằm phục vụ khách hàng và tuân thủ nội bộ.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh đã phân chia nhiệm vụ rõ ràng, tạo thuận lợi cho công tác kiểm tra và giám sát Mô hình quản lý tập quyền như trên thường không phát huy hiệu quả trong môi trường doanh nghiệp, nhưng khi áp dụng vào những môi trường đặc thù như ngân hàng lại cho thấy hiệu quả cao, tăng cường kiểm soát và đảm bảo tuân thủ quy trình Việc phân công nhiệm vụ chặt chẽ và tập trung quyền hạn giúp ngân hàng nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu suất quản trị.
Bộ máy tổ chức của PGD đã được tái cấu trúc theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, mang lại hiệu quả quản lý cao hơn và tính minh bạch trong các hoạt động Việc đổi mới này nâng cao năng lực ra quyết định và tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận trong phòng Nhờ đó công tác hoạch định chính sách phát triển lâu dài được thực hiện bài bản, đồng bộ và có tính định hướng rõ ràng Những cải tiến này tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của phòng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu quản trị và phục vụ người dân.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của PGD 3/2
2.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
- Trưởng phòng: Quản lý mọi hoạt động của phòng giao dịch (hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng)
- Phó phòng: Quản lý hoạt động huy động vốn, năng cao hiệu quả huy động vốn tại phòng giao dịch
- Chuyên viên khách hàng: Thực hiện hoạt động tín dụng tại phòng giao dịch (cho vay, bão lãnh, tài trợ…)
Chuyên viên quản lý tín dụng chịu trách nhiệm thực hiện các công việc hỗ trợ tín dụng, bao gồm soạn thảo hợp đồng tín dụng, mở chứng từ, lấy LC (thư tín dụng), giải ngân và theo dõi thời gian trả nợ của khách hàng; đồng thời quản lý hồ sơ một cách chặt chẽ, tuân thủ quy định và chuẩn mực tín dụng, và phối hợp với các phòng ban liên quan để đảm bảo quy trình cho vay diễn ra thông suốt và đúng hạn Mục tiêu là tối ưu hóa quy trình cho vay, giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng thông qua quản lý tín dụng chuyên nghiệp.
- Kế toán: Thực hiện các công việc hành chánh, nhân sự,…
- Giao dịch viên: Thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn với các nghiệp vụ nhận tiền gửi tiết kiệm, nhận tiền gửi thanh toán, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu…
Chuyên viên quản lý tín dụng
GDV - Thanh toán quốc tế
Chuyên viên tƣ vấn Bảo vệ
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
- Thủ quỹ và GDV quỹ: Thực hiện các nghiệp vụ kiểm đếm tiền, các giao dịch thu chi…
Chuyên viên tư vấn chịu trách nhiệm thực hiện, giám sát và điều phối khu vực sảnh giao dịch; tư vấn, giải đáp thông tin cho khách hàng và bán hàng tại chỗ Đồng thời, người làm công việc này quản lý các thủ tục giao dịch và lưu trữ hồ sơ thông tin khách hàng một cách an toàn và có hệ thống, đảm bảo tính chính xác và bảo mật dữ liệu Vai trò này giúp khu vực sảnh giao dịch vận hành nhịp nhàng, nâng cao sự hài lòng của khách hàng và tăng hiệu quả bán hàng.
- Bảo vệ: Thực hiện kiểm tra an ninh, hướng dẫn khách hàng,
Tình hình nhân sự
Bảng 2.1: Cơ cấu nhân sự Eximbank – PGD 3/2
Chức vụ Số lƣợng Giới tính
Chuyên viên quản lý tín dụng 01 Nữ
Chuyên viên khách hàng 03 Nam
Nhân viên tƣ vấn 01 Nữ
Thủ quỹ GDV quỹ 02 Nữ, Nam
Bộ máy nhân sự của PGD 3/2 được đánh giá khá hoàn thiện về cơ cấu, đảm bảo vận hành thông suốt và hiệu quả An ninh tại PGD 3/2 được đảm bảo nhờ hệ thống camera hiện đại và đội ngũ bảo vệ gồm 3 người thay phiên tuần tra, giám sát liên tục để bảo vệ an toàn cho phòng giao dịch Trong các bộ phận nghiệp vụ phục vụ khách hàng, bộ phận dịch vụ khách hàng nổi lên như một mắt xích chủ chốt, chuyên nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu liên quan đến tiền gửi; quản lý, sử dụng tài khoản; đồng thời tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng để hỗ trợ các giao dịch và quản lý tài chính của khách hàng.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh giới thiệu các dịch liên quan và các dịch vụ mới triển khai của hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, kể cả những khách hàng khó tính nhất Phòng dịch vụ khách hàng được điều hành dưới sự chỉ đạo của một nữ phó phòng; bên trong quầy giao dịch tiếp xúc trực tiếp với khách hàng có 3 giao dịch viên được đào tạo bài bản từ hệ thống đào tạo nội bộ của Eximbank Bên ngoài quầy là bàn tư vấn với một cán bộ tư vấn viên có kỹ năng giao tiếp chuyên nghiệp, nắm vững các nghiệp vụ chăm sóc khách hàng cũng như nghiệp vụ giao dịch Phía cuối phòng là bàn chuyên biệt của thủ quỹ và các GDV quỹ chịu trách nhiệm quản lý ngân quỹ cũng như theo dõi lượng tiền ra vào mọi lúc.
Cuối cùng, bộ phận tín dụng của PGD 3/2 đóng vai trò then chốt trong hoạt động cho vay và sử dụng nguồn vốn huy động từ cấp lãnh đạo, đồng thời tiếp xúc, chăm sóc và tư vấn những khách hàng có nhu cầu vay, đây là một công việc chuyên môn quan trọng của bộ phận này Dưới sự quản lý của một phó phòng tín dụng giàu kinh nghiệm và nghiệp vụ vững vàng, cùng với đội ngũ gồm 1 chuyên viên quản lý tín dụng và 3 chuyên viên khách hàng, toàn bộ nhân sự phòng đều có trên 3 năm kinh nghiệm và được lọc qua quy trình đào tạo từ hệ thống đào tạo chuyên nghiệp của Eximbank, được kiểm tra nghiệp vụ hàng kỳ Với ưu tiên quyền lợi của khách hàng là trọng tâm, đội ngũ tín dụng đã mang lại sự hài lòng của khách hàng, tăng trưởng lượng khách hàng, doanh thu cho vay và doanh thu thu từ nghiệp vụ quốc tế cao cho phòng.
PGD 3/2 được điều hành bởi trưởng phòng có hơn 20 năm kinh nghiệm, với hai bộ phận dịch vụ khách hàng và tín dụng hoạt động dưới sự chỉ đạo và kiểm soát chặt chẽ; mọi số liệu hoạt động được kiểm duyệt bởi một kế toán riêng biệt, đảm bảo tính minh bạch và chính xác Vì vị trí địa lý đắc địa, PGD 3/2 mang lại nguồn thu đáng kể cho toàn hệ thống Nhờ sự đồng lòng và nghiệp vụ chuyên môn cao của đội ngũ, PGD 3/2 được xếp vào danh sách các Phòng giao dịch tiềm năng trên địa bàn thành phố, và tương lai của phòng cùng đội ngũ cán bộ dự báo sẽ còn phát triển và tiến xa hơn nữa.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Kết quả hoạt động của NHTMCP Eximbank từ 2012 – 2014
Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động tại Eximbank 2012-2014 Đơn vị tính: Triệu đồng
(Nguồn: Bảng cáo bạch Eximbank)
Năm 2012, huy động vốn tăng trưởng khá cao nhờ uy tín lớn của các ngân hàng trên thị trường và việc mở rộng mạng lưới hoạt động Việc này giúp tạo dựng và củng cố lòng tin của khách hàng vào các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta tăng trưởng ở mức khá cao khiến lượng tiền nhàn rỗi trong khu vực dân cư dồi dào, tạo thêm đà cho hoạt động huy động vốn.
Năm 2013, tổng huy động vốn đạt 79.472 tỷ đồng chỉ tăng nhẹ 13% so với năm
Trong năm 2012, Eximbank chỉ đạt 82% kế hoạch đề ra Do lãi suất có diễn biến cạnh tranh không lành mạnh, Eximbank không chạy đua lãi suất theo Chính phủ để ổn định thị trường Đồng thời, ngân hàng thực hiện cơ chế lãi suất huy động thỏa thuận, kỳ hạn ngắn và tận dụng nguồn vốn ủy thác để đảm bảo thanh khoản và giảm chi phí vốn Việc không phát hành được trái phiếu dài hạn theo kế hoạch khiến việc khai thác nguồn vốn ủy thác gặp nhiều trở ngại do biến động thị trường thế giới.
Năm 2014, tổng vốn huy động của Eximbank lên tới 101.371 tỷ đồng, giúp ngân hàng nâng thị phần huy động từ 4,6% lên 5,2% trên toàn ngành Dữ liệu cho thấy tình hình hoạt động của ngân hàng có dấu hiệu phục hồi, và đợt kích cầu của Chính phủ đã phát huy hiệu quả Đây là những thành công khẳng định uy tín thương hiệu của Eximbank, đồng thời càng thêm ý nghĩa với trách nhiệm xã hội trong việc thu hút nguồn ngoại tệ cho đất nước.
Số dƣ Tỷ trọng Số dƣ Tỷ trọng Số dƣ Tỷ trọng
Dân cƣ 49.726.747 70,58% 51.686.938 65,04% 65.820.637 64,93% Đối tƣợng khác 554.585 0,79% 671.365 0,84% 508.409 0,50%
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng tại Eximbank 2012 – 2014 Đơn vị tính: Triệu đồng
(Nguồn: Bảng cáo bạch Eximbank)
Cuối năm 2013, tổng dƣ nợ cho vay đạt 83.354 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2012
Eximbank tích cực hưởng ứng chủ trương của Chính phủ về cho vay hỗ trợ lãi suất, với dư nợ đến ngày 31/12/2014 lên 56.721 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và gìn giữ hệ khách hàng truyền thống Ngân hàng triển khai cho vay có trọng điểm như tài trợ xuất khẩu gạo, thủy sản ở khu vực miền Tây, tài trợ xuất khẩu cà phê ở Tây Nguyên và tham gia đồng tài trợ một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng; từ đó, hoạt động tín dụng của Eximbank được tăng cường và mở rộng.
Ngân hàng được điều hành linh hoạt hơn, tăng trưởng tín dụng theo đặc thù vùng miền, cho vay kết hợp bán chéo sản phẩm và xác định nguồn thu trọn gói cho khách hàng mang lại lợi ích cạnh tranh Ban chỉ đạo ngăn chặn và xử lý nợ quá hạn tiếp tục vận hành hiệu quả, góp phần khống chế tỷ lệ nợ quá hạn ở mức 0,88%.
Cuối năm 2014, tổng dư nợ tín dụng của Eximbank đạt 87.146 tỷ đồng, tăng 5% so với dư nợ đầu năm là 83.354 tỷ đồng Lý giải cho vấn đề trên là do những nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan là do khủng hoảng kinh tế khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và kinh doanh, từ đó làm giảm đáng kể nhu cầu tín dụng.
Trong bối cảnh hoạt động sản xuất–kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ, Eximbank đã chủ động giảm quy mô tín dụng nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng, đồng thời điều hành linh hoạt và cân nhắc trên nhiều khía cạnh để vừa đạt hiệu quả kinh doanh vừa giữ vững khách hàng truyền thống.
Số dƣ Tỷ trọng Số dƣ Tỷ trọng Số dƣ Tỷ trọng
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Các hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ được định hướng tái cơ cấu nguồn thu nhằm khai thác tối đa lợi thế của hệ thống mạng lưới và tiềm năng từng địa phương để tăng thu từ dịch vụ Đồng thời, công ty thành lập Khối Vận hành nhằm điều phối thanh toán tập trung một cách chuyên nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
Hoạt động thanh toán của Eximbank ngày càng phát triển nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại và các giải pháp tự động hóa tiên tiến, giúp mở rộng dịch vụ, phạm vi áp dụng và tăng tốc độ xử lý giao dịch, từ đó mang lại trải nghiệm tiện lợi cho khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong lĩnh vực tài chính số.
+ Hoạt động thanh toán nội địa
Năm 2014, tổng doanh số chuyển tiền đi và đến trong và ngoài hệ thống đạt 2.473.750.302 triệu đồng, tăng 185,7% so với năm 2013; trong cơ cấu giao dịch này, chuyển tiền trong hệ thống chiếm 747.728.554 triệu đồng và chuyển tiền ngoài hệ thống chiếm 1.726.021.748 triệu đồng.
Trong năm 2014, Eximbank tiếp tục mở rộng dịch vụ thanh toán và khai thác tối đa mạng lưới bằng cách liên kết thanh toán với các ngân hàng thương mại (NHTM), đồng thời triển khai dịch vụ thu chi hộ và thanh toán lương qua tài khoản kèm theo các chính sách ưu đãi dành cho khách hàng.
+ Hoạt động thanh toán quốc tế
TTQT được triển khai tại hầu hết các chi nhánh trên toàn hệ thống Dù thị trường thương mại quốc tế chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sụt giảm mạnh, doanh số TTQT của Eximbank năm 2014 vẫn tăng trưởng ấn tượng, đạt 107,619 triệu USD, tăng 31% so với năm trước Tỷ lệ doanh số TTQT trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3,2%, cao hơn 1,2 điểm phần trăm so với năm trước, góp phần tăng thu dịch vụ của toàn ngân hàng.
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Doanh số mua bán ngoại tệ quy đổi ra USD trong năm 2013 đạt 33.287 triệu USD, giảm 8.400 triệu USD, tương ứng giảm 20,15% so với năm 2012 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tiếp tục thực hiện các giao dịch phái sinh tiền tệ, bao gồm giao dịch kỳ hạn, hoán đổi và quyền chọn.
- Tham gia thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu
Số dƣ nguồn vốn tham gia mua kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu tại thời điểm cuối năm
2013 đạt 8.674 tỷ đồng, giảm 216 tỷ đồng, tương ứng giảm 2,43% so với năm 12
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
- Hoạt động phát hành thẻ Eximbank
Trong năm 2013, tổng số thẻ ATM phát hành là 142.665 thẻ, gồm 131.167 thẻ thanh toán và 11.498 thẻ tín dụng, nâng tổng số thẻ đang lưu hành lên 315.096 thẻ tính đến ngày 31/12/2013.
Địa bàn và quy mô kinh doanh của ngân hàng
Đến ngày 31/12/2014, Eximbank có 44 chi nhánh, 163 phòng giao dịch và 1 quỹ tiết kiệm Công tác phát triển mạng lưới được quan tâm và chú trọng mở rộng ở những vị trí đắc địa, có tiềm năng kinh tế cao Trong năm 2014, mạng lưới chấp nhận thẻ của Eximbank đạt khoảng 3.000 đơn vị, với gần 6.000 máy POS và 260 máy ATM được phân bổ tại các địa bàn trọng điểm trên toàn quốc Tổng doanh số thanh toán trong năm được ghi nhận, đóng góp vào tăng trưởng hoạt động thanh toán và dịch vụ ngân hàng.
2014 qua các kênh thanh toán POS và ATM đạt kết quả khá khả quan với 12.600 tỷ đồng
Eximbank đã thiết lập quan hệ đại lý với 869 ngân hàng tại 84 quốc gia trên thế giới và kết nối liên thông hệ thống ATM, POS với tất cả các ngân hàng trong hai liên minh thẻ lớn tại Việt Nam là Smartlink và Banknet Nhờ mạng lưới liên thông rộng này, điểm chấp nhận thanh toán thẻ của Eximbank ngày càng đa dạng hóa các hình thức kinh doanh và đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng thẻ của khách hàng.
Bên cạnh việc mở rộng thị phần, Eximbank không ngừng củng cố và đẩy mạnh quy mô hoạt động của mạng lưới PGD, đồng thời xây dựng các tiêu chí chuẩn và đầu tư cơ sở vật chất tại các trụ sở nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của khách hàng.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh thể hiện sự khang trang, hiện đại và chất lượng dịch vụ tốt; thể hiện cam kết gắn bó với từng địa phương; thường xuyên đánh giá hiệu quả của hệ thống mạng lưới; phân tích các mặt mạnh, yếu của từng đơn vị và xác định nguyên nhân nhằm đề xuất các biện pháp phù hợp.
Nhờ đó nâng suất lao động được cải thiện, hiệu quả kinh doanh tại các PGD được nâng cao rõ nét, góp phần quan trọng vào thành quả chung của ngân hàng: HĐ tăng 26,1%, chiếm 60,2% tổng tỷ trọng (năm 2013 tỷ trọng là 59,1%); CV (chi phí vận hành) tăng 39,3%, chiếm 41,8% (năm 2013 tỷ trọng là 34,8%), đóng góp 55% thu lãi thuần; 51% thu từ dịch vụ và 57%.
LNTT của toàn Nga n hàng
Mạng lưới hoạt động của Eximbank là một trong những thế mạnh lớn nhất trong cạnh tranh dài hạn Việc đầu tư cả chiều rộng lẫn chiều sâu của mạng lới giúp Eximbank đẩy mạnh các mảng hoạt động chính như huy động vốn, cho vay và dịch vụ, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong những năm tới.
Khả năng canh tranh của ngân hàng
Trong khối ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), Eximbank luôn nằm trong nhóm dẫn đầu về tổng tài sản, vốn huy động và cho vay Dù những năm trước đây Eximbank từng thua kém một số ngân hàng cùng nằm trong top đầu, hiện tại ngân hàng đã có sự vươn lên mạnh mẽ và rút ngắn đáng kể khoảng cách với các ngân hàng anh em Bảng so sánh dưới đây cho thấy một số chỉ tiêu của Eximbank so với một vài NHTMCP lớn nhất, cập nhật đến cuối năm 2014.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Bảng 2.4: So sánh một số chỉ tiêu của Eximbank với các ngân hàng khác trong ngành Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Vietcombank ACB Eximbank Sacombank Techcombank
Huy động tiền gửi khách hàng 422.204 154.613 101.380 163.057 79.005
Lợi nhuận trước thuế TNDN 5.876 1.215 1.013 2.850 887
(Nguồn: Báo cáo tài chính 2014 tại các ngân hàng, đơn vị tính: tỷ đồng)
Với tốc độ tăng trưởng hiện nay, Eximbank được dự báo sẽ tiếp tục nằm trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam trong những năm tới Sự tăng trưởng ổn định và bền vững giúp ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động, cải thiện hiệu quả kinh doanh và tăng thị phần trên thị trường tài chính Việt Nam Eximbank đang triển khai nhiều giải pháp đa dạng hoá sản phẩm, đẩy mạnh thanh toán và chuyển đổi số, từ đó củng cố vị thế cạnh tranh và duy trì đà tăng trưởng dài hạn.
Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương pháp tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam Eximbank - Phòng Giao dịch 3/2
2.7.1 Thực trạng thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam
2.7.1.1 Những sản phẩm thanh toán quốc tế tại Phòng giao dịch
Chuyển tiền đi bằng điện
- Chuyển tiền bằng điện thanh toán hàng hóa
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
- Chuyển tiền bằng điện thanh toán dịch vụ
- Chuyển tiền bằng điện thanh toán khác
Nhận chuyển tiền đến bằng điện
- Chuyển tiền đến thanh toán hàng hóa
- Chuyển tiền đến thanh toán dịch vụ
- Chuyển tiền đến thanh toán khác
Nhờ thu gửi đi ( nhờ thu xuất)
- Nhờ thu kèm chứng từ xuất trả ngay
- Nhờ thu kèm chứng từ xuất trả chậm
Nhờ thu gửi đến ( nhờ thu nhập)
- Nhờ thu kèm chứng từ trả ngay
- Nhờ thu kèm chứng từ trả chậm
2.7.1.2 Kết quả kinh doanh TTQT của Phòng giao dịch trong thời gian qua Bảng 2.5: Tỷ trọng thanh toán quốc tế tại Phòng giao dịch 3/2
Tỷ trọng TTQT tại phòng so với tổng HDKD tại phòng 47,8% 80.1% 66,7% 70,2%
(Nguồn: Báo cáo nội bộ hoạt động TTQT Eximbank – PGD 3/2)
Hoạt động thanh toán quốc tế tại Phòng giao dịch 3/2 đóng góp đáng kể vào doanh số thanh toán quốc tế của toàn hệ thống Eximbank; qua từng năm, hoạt động này tiếp tục tăng trưởng và đạt đột phá vào năm 2012, chiếm 80,1% doanh số thanh toán quốc tế của toàn hệ thống.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh Đây là năm mà phòng giao dịch hoạt động kinh doanh hiệu quả nhất hoàn thành xuất sắc kế hoạch đặt ra
Trong năm 2013, trước bối cảnh khó khăn của nền kinh tế và xu hướng chu kỳ đi xuống của các ngân hàng, hoạt động kinh doanh tại PGD của Eximbank đã chậm lại, thể hiện ở mức giảm TTQT tới 66,7% so với năm 2012 Đến năm 2014, nhờ sự nỗ lực đồng bộ của toàn thể nhân viên, hoạt động của phòng giao dịch đã có dấu hiệu phục hồi rõ rệt; thanh toán quốc tế (TTQT) chiếm đến 70,2% tổng hoạt động kinh doanh tại Phòng giao dịch, cho thấy TTQT được đẩy mạnh ưu tiên và đóng vai trò trọng yếu Các nhà đầu tư kinh doanh cũng bắt đầu mở rộng mạnh mẽ, từ đó nhập khẩu hàng hóa và nguyên liệu tăng lên đáng kể, là nguyên nhân khiến doanh số thanh toán quốc tế tăng lên ở năm 2014.
2014 (31% so với 2013 tương đương 11.119,65 ngàn USD) tăng cao hơn so với năm
2013 ( 22,3% so với 2012 tương đương 6.548,33 ngàn USD )
Những số liệu được trình bày cho thấy hoạt động TTQT tại PGD 3/2 đóng vai trò vô cùng quan trọng, mang lại lợi ích lớn cho doanh số của Phòng nói riêng và của toàn hệ thống nói chung Đồng thời, dữ liệu xác nhận chất lượng dịch vụ TTQT tại PGD 3/2 rất tốt và được khách hàng tin tưởng, ủng hộ.
Bảng 2.6: Doanh số và tỷ trọng thanh toán quốc tế của Phòng giao dịch 3/2
(Bảng chi tiết Phụ Lục 1.4) Đơn vị tính: Ngàn USD
Trị giá Tỷ trọng% Trị giá Tỷ trọng
(Nguồn: Báo cáo nội bộ hoạt động TTQT Eximbank – PGD3/2)
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Qua bảng số liệu 1.3, nhận định cho thấy doanh số TTQT của Eximbank – PGD 3/2 tăng đều đặn qua các năm (gần 23% mỗi năm); đà tăng mạnh nhất ở giai đoạn 2011-2012 từ 14.907,06 ngàn USD lên 29.415,68 ngàn USD (tăng 14.508,62 ngàn USD, gần 97%), trong khi lượng doanh số chuyển tiền ban đầu chiếm 15,38% tổng TTQT của phòng nhưng tỷ trọng này ngày càng giảm dù có tăng nhẹ theo thời gian, cho thấy PGD đang dần chuyển hướng sang mảng khác Doanh số thu từ dịch vụ nhờ thu cũng tăng gần 21% mỗi năm nhưng vẫn chỉ chiếm một phần khá nhỏ; đến năm 2014 nó vẫn ở mức gần 12% tổng doanh số TTQT của PGD 3/2 Phần chủ yếu của tổng doanh số TTQT tại PGD 3/2 đến từ tín dụng chứng từ (L/C), không chỉ chiếm tỷ trọng cao mà còn phát triển rất mạnh theo nhịp của nền kinh tế: 2011-2012 tăng 11.252,48 ngàn USD (tăng gần 100%), 2012-2013 tăng 5.130,90 ngàn USD (tăng 22,8%), và 2013-2014 tăng 8.618,97 ngàn USD (tăng 31%), cho thấy giai đoạn 2012-2014 là thời kỳ tăng trưởng ổn định, đồng thời phản ánh sự đi vào ổn định và phát triển đều đặn của phòng Kết quả tổng thể cho thấy tín dụng chứng từ là dịch vụ được ưa chuộng tại PGD 3/2; chất lượng và uy tín của phòng đáp ứng được yêu cầu an toàn và tính chuyên nghiệp cao của nghiệp vụ L/C và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng khi đến với phòng.
2.7.2 Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương pháp tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam Eximbank - Phòng Giao dịch 3/2
2.7.2.1 Những Văn bản quy định về hoạt động TTQT bằng phương pháp
Nghị định số 101/2012/ NĐ – CP Về Thanh toán không dung tiền mặt
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối, nhằm hướng dẫn rõ ràng cho các tổ chức, cá nhân liên quan hoạt động trong lĩnh vực ngoại hối và đảm bảo việc thi hành được thực hiện thống nhất trên toàn quốc.
Các quy tắc của phòng thương mại quốc tế ( international Chamber of commerce – gọi tắt là ICC)
Uniform Customs and Practice for Documentary Credits (UCP) establish the standardized rules governing documentary credit transactions, with the current edition being UCP 600, which has been in effect since July 1, 2007.
Thực hiện ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế và kiểm tra chứng từ của tín dụng thƣ do ICC ban hành (international standard banking practice – ISBP)
Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng ( Uniform Rules for bank to bank Reimbursement – URR 725) có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/10/2008 thay cho URR 525
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp quy phong phú, bao gồm văn bản quản lý ngoại hối và các luật điều chỉnh chứng từ người bán trình thanh toán, hợp đồng mua bán hàng hóa XNK, hối phiếu, SEC và luật điều chỉnh hàng hải Việt Nam Những văn bản này thiết lập khung pháp lý cho quy trình thanh toán XNK, quy định chứng từ thanh toán, phương thức thanh toán và vận chuyển hàng hóa, đồng thời bảo đảm tính hợp lệ và an toàn cho giao dịch quốc tế.
2.7.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh bằng TDCT tại Phòng giao dịch trong thời gian qua
Hoạt động thanh toán bằng phương thức TDCT tại PGD 3/2 năm 2014 có nhiều phát triển Số lƣợng L/C phát hành tại Phòng giao dịch đa số là L/C trả ngay, rất ít L/C trả chậm và hầu nhƣ không có L/C không hủy ngang có xác nhận hay các loại L/C khác đặc biệt nhƣ L/C dự phòng, L/C với điều khoản đỏ, L/C giáp lƣng… Đối với L/C trả chậm, khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không đủ điều kiện mở L/C trả chậm Bên cạnh đó, theo quy định của ngân hàng, nếu khách hàng mở L/C trả chậm phải có tài sản đảm bảo, phải bổ sung hợp đồng bảo lãnh và văn bản cam kết lịch thanh toán Quy trình rườm rà, phức tạp, nhiều thủ tục, giấy tờ, nhiều phí phát sinh nên khách hàng cũng ít khi có nhu cầu sử dụng L/C trả chậm
GVHD: ThS Võ Tường Oanh Đối với các loại L/C đặc biệt, do thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn chƣa nắm vững về cách sử dụng cũng nhƣ lợi ích của các L/C này Vì thế đa số khách hàng đến Phòng giao dịch chỉ lựa chọn mở L/C trả ngay chứ không mở L/C nào khác
Trong phần 2.7.1.2, tại PGD 3/2 cho thấy doanh số thanh toán bằng L/C luôn chiếm tỷ trọng cao nhất so với các phương thức thanh toán TTQT Phần này tiến hành phân tích chi tiết doanh số L/C nhập - xuất trong tổng doanh số thanh toán bằng L/C tại PGD 3/2, nhằm làm rõ vai trò và đóng góp của L/C đối với quy trình thanh toán quốc tế Kết quả phân tích sẽ giúp nhận diện xu hướng giao dịch, đánh giá hiệu quả quản lý thanh toán và từ đó đề xuất giải pháp tối ưu hóa danh mục L/C, cải thiện chất lượng dịch vụ tại PGD 3/2.
Bảng 2.7: Doanh số thanh toán bằng L/C tại Eximbank Phòng giao dịch 3/2 Đơn vị tính: USD
Doanh số Tỷ trọng Doanh số
(Nguồn: Báo cáo nội bộ hoạt động TTQT Eximbank – PGD3/2)
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng L/C nhập khẩu và L/C xuất khẩu tại PGD 3/2
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
Theo bảng số liệu và biểu đồ, doanh số thanh toán bằng L/C cho hàng nhập khẩu tại PGD 3/2 luôn vượt trội so với L/C cho hàng xuất khẩu, cho thấy thanh toán hàng nhập khẩu bằng phương thức TDCT đã đóng góp đáng kể vào doanh thu TTQT của ngân hàng Nguyên nhân chính là khách hàng của Phòng giao dịch chủ yếu nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về bán trong nước, nên hoạt động L/C xuất khẩu không nổi trội bằng L/C nhập khẩu.
Năm 2012, doanh số thanh toán L/C nhập khẩu đạt 19.817.495,60 USD, chiếm
88,02% trong tổng giá trị thực hiện TDCT tại Phòng giao dịch cho thấy phần lớn giao dịch được tập trung tại đây Sở dĩ doanh số L/C nhập tại PGD 3/2 cao hơn doanh số L/C xuất khẩu trong năm 2012 là do nhiều nguyên nhân, như sự tập trung của khách hàng vào hoạt động nhập khẩu, sự khác biệt về kỳ hạn thanh toán giữa L/C nhập và L/C xuất khẩu, và tác động của điều kiện tín dụng đối với cơ cấu doanh thu.
- Năm 2012 là thời kỳ hậu thay đổi sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO
Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc phải dần hoàn thiện hệ thống hành chính và hệ thống pháp luật cho phù hợp với quy định của WTO Các rào cản mậu dịch quốc tế nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước được gỡ bỏ gần như hoàn toàn, mở đường cho lưu thông hàng hóa và dịch vụ Nhờ đó hoạt động nhập khẩu trở nên sôi động hơn, thúc đẩy cạnh tranh và mở cửa thị trường trong nước.
Hoạt động L/C xuất khẩu vẫn chưa được chú trọng tại Phòng giao dịch, đặc biệt là hoạt động hỗ trợ xuất khẩu Phòng giao dịch rất ít khi chiết khấu bộ chứng từ L/C xuất khẩu, và nếu có thì chỉ được chiết khấu tối đa 70% giá trị L/C Vì thế mà doanh số L/C xuất khẩu ở mức rất thấp, khiến khoảng cách về doanh số giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu trở nên ngày càng xa.
Trong năm 2013, doanh số L/C xuất khẩu tăng 5.040.753,93 USD, tăng 186,88% so với năm 2012, trong khi doanh số L/C nhập khẩu chỉ tăng 0,5% so với năm 2012; đầu năm 2013 là thời điểm vực dậy mạnh mẽ của nền công nghiệp xuất khẩu nước nhà, khi Việt Nam không còn chìm đắm trong công nghiệp gia công mà mở rộng xuất khẩu sang nước ngoài với nhiều chủng loại đa dạng mang lại nguồn lợi nhuận phong phú và nhu cầu cao đối với xuất khẩu, tuy nhiên chu kỳ suy yếu của các ngân hàng cũng bắt đầu quay trở lại, không chỉ Eximbank mà Techcombank và ACB cũng lâm vào tình cảnh tương tự, khiến vị thế của Eximbank phần nào bị giảm.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh sút, các doanh nghiệp vì vậy tìm đến các ngân hàng có cơ cấu khác nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân
Thực trạng rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương pháp tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam Eximbank - Phòng Giao dịch 3/2
Tại PGD 3/2, hầu như tất cả các hợp đồng L/C phát sinh tại phòng đều được đề nghị ký quỹ bắt buộc 100% do quyền hạn của đơn vị chỉ dừng lại ở mức Phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh Quận 10; những đơn hàng được đề nghị phần lớn mang giá trị lớn, vì vậy theo đúng nguyên tắc an toàn, những hợp đồng L/C đề nghị cấp tín dụng sẽ được chuyển lên cấp Chi Nhánh để giải quyết Vì những lý do kể trên, tác giả sẽ không đi sâu phân tích các tiêu chí phản ánh rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ; thay vào đó sẽ trình bày các rủi ro còn lại có thể gặp phải khi phát hành và trong quá trình chiết khấu L/C.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
2.8.1 Các rủi ro có thể gặp phải khi ngân hàng phát hành thƣ tín dụng:
Rủi ro phát sinh từ các chủ thể tham gia vào quy trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ:
- Rủi ro từ phía người yêu cầu mở thư tín dụng:
Trừ trường hợp ký quỹ 100%, nghiệp vụ phát hành thư tín dụng dự phòng (TTD) mang tính bảo lãnh: Eximbank bảo lãnh cho người yêu cầu mở TTD và người mở TTD chỉ ký quỹ một phần giá trị thư tín dụng, phần còn lại được bảo đảm bằng tài sản, bằng một phần tài sản hoặc tín chấp Chính vì vậy, khả năng thanh toán và thiện chí thanh toán của người mở TTD đóng vai trò vô cùng quan trọng Đến hạn thanh toán mà người mở không có khả năng nộp đủ phần tiền còn lại, Eximbank phải dùng nguồn vốn của mình để thanh toán cho người thụ hưởng Khoản tiền này có thể được thu hồi lại từ tài sản đảm bảo hoặc hàng hóa nhập khẩu, nhưng quá trình này tốn thời gian và chi phí của ngân hàng và có thể không thu hồi đầy đủ.
- Rủi ro từ người thụ hưởng thư tín dụng
Giao dịch tín dụng chứng từ là hình thức thanh toán dựa trên bộ chứng từ; ngân hàng mở tín dụng (NHPH TTD) có nghĩa vụ thanh toán khi người thụ hưởng trình đủ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thư tín Dựa trên nguyên tắc này, nếu người thụ hưởng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng, người yêu cầu mở TTD không đồng ý thanh toán vì không có hàng hoặc hàng hóa sai chất lượng, hoặc cùng với người thụ hưởng thực hiện hành vi lừa đảo, Eximbank phải gánh chịu rủi ro vừa thanh toán vừa không thu hồi được tiền từ hàng hóa nhập khẩu.
+ Rủi ro từ ngân hàng chiết khấu thư tín dụng hoặc từ ngân hàng xuất trình chứng từ
Người thụ hưởng sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ mình để xin chiết khấu hoặc nhờ đòi tiền theo TTD; tùy quy định của TTD, người thụ hưởng có thể đòi tiền bằng thư hoặc bằng điện Chiết khấu giúp cho người thụ hưởng nhận được tiền trước khi Eximbank thanh toán cho bộ chứng từ, mang lại thuận tiện cho người thụ hưởng.
GVHD, theo ThS Võ Tường Oanh, mang lại lợi ích cho người thụ hưởng khi thanh toán qua thư tín dụng được thực hiện đúng quy định Tuy nhiên, trong trường hợp điện đòi tiền theo thư tín dụng đã được thanh toán, bộ chứng từ không phù hợp và bị người mở thư tín dụng từ chối, Eximbank có thể đối mặt với rủi ro không thể truy đòi từ ngân hàng phục vụ người thụ hưởng.
Rủi ro từ ngân hàng hoàn trả là một yếu tố cần được xem xét kỹ khi thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng Để thuận tiện cho người thụ hưởng nhận được thanh toán, thư tín dụng cho phép người xuất trình chứng từ hợp lệ và đòi tiền trực tiếp từ ngân hàng hoàn trả, từ đó rút ngắn thời gian thanh toán và tăng tính tin cậy giữa các bên Tuy nhiên, vẫn tồn tại các rủi ro liên quan đến tính xác thực của chứng từ và sự tuân thủ điều kiện của thư tín dụng.
Trong mọi trường hợp ngân hàng không thực hiện thanh toán, ví dụ vì không nhận được ủy quyền hoặc không có nguồn tiền từ Eximbank, toàn bộ chi phí phát sinh liên quan sẽ do Eximbank chịu.
Rủi ro phát sinh từ môi trường kinh doanh
- Rủi ro phát sinh từ biến động của thị trường hàng hóa nhập khẩu
Hàng hóa nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của người mở TTD và việc thu hồi vốn của Eximbank Khi mặt hàng có biến động giá theo thị trường, kênh phân phối và tiêu thụ hẹp, chỉ có một số đối tượng tiêu thụ đặc thù thì hoạt động kinh doanh của nhà nhập khẩu dễ gặp rủi ro, và Eximbank cũng khó tiêu thụ hàng hóa để thu hồi vốn khi cần thiết Trong nhiều trường hợp, Eximbank không tiêu thụ được hàng hóa đã bảo lãnh mở TTD.
- Rủi ro phát sinh từ tình hình kinh tế chính trị của một quốc gia
Mọi chủ thể kinh tế hoạt động trong một quốc gia đều chịu tác động từ tình hình kinh tế và chính trị của nước ấy Khi tình hình chính trị không ổn định và nền kinh tế suy thoái, Eximbank thường gặp khó khăn trong thanh toán, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng và khiến người nhập khẩu có thể bị gián đoạn nhập hàng hoặc gặp khó khăn trong thanh toán Trường hợp như vậy Eximbank phải đối mặt với rủi ro tín dụng và rủi ro liên quan đến nghĩa vụ thanh toán Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và lạm phát, đồng tiền trong nước trở nên kém ổn định và mất giá so với ngoại tệ, khiến giá hàng hóa biến động và gia tăng rủi ro cho các giao dịch nhập khẩu.
- Rủi ro phát sinh từ chính sách kinh tế của một quốc gia
Chính sách thương mại và các quy định về xuất nhập khẩu của một quốc gia có thể gây thiệt hại cho các bên tham gia khi bị thay đổi đột ngột, ảnh hưởng tới chi phí, thời gian thông quan và khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Bên cạnh đó, chính sách quản lý ngoại hối và các quy định về chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của nước nhập khẩu có thể tạo ra rủi ro tài chính và pháp lý cho doanh nghiệp, đặc biệt khi thị trường biến động hoặc thắt chặt hạn mức thanh toán vốn nước ngoài Do vậy, việc theo dõi và đánh giá rủi ro chính sách, xây dựng chiến lược quản lý ngoại hối, đa dạng hóa nguồn cung và cải thiện quy trình thông quan là cần thiết để giảm tác động của các biến động đột ngột.
Trong bối cảnh thanh toán và chuyển đổi ngoại tệ, việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trái phép có thể gây rủi ro cho ngân hàng thương mại (NHCK) và nhà xuất khẩu; khi một quốc gia có dự trữ ngoại tệ thấp, nhà nhập khẩu gặp khó khăn trong việc mua ngoại tệ để thanh toán, dẫn đến rủi ro NHCK không nhận được tiền và làm giảm uy tín thanh toán của các bên tham gia thị trường xuất-nhập khẩu Những yếu tố này cho thấy sự liên hệ chặt chẽ giữa quản lý dự trữ ngoại hối, ổn định thanh toán và an toàn giao dịch ngoại thương.
Rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện nghiệp vụ
- Rủi ro phát sinh khi thực hiện phát hành thƣ tín dụng
Phát hành thư tín dụng là bước đầu của quy trình thanh toán bằng phương thức TDCT, xác định điều kiện và chứng từ thanh toán, và là yếu tố then chốt giúp giảm tranh chấp sau này; đồng thời đây cũng là khâu có thể gây rủi ro cho Eximbank nếu thực hiện không chính xác và cẩn trọng Khi tư vấn mở thư tín dụng, Eximbank dựa trên hợp đồng ngoại thương, kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm của mình để đảm bảo tuân thủ đúng chỉ thị của người mở thư tín dụng; nếu không làm đúng, Eximbank phải đối mặt với rủi ro từ việc các chứng từ xuất trình phù hợp với TTD nhưng không đúng theo chỉ thị của người mở và người mở có thể từ chối thanh toán.
- Rủi ro phát sinh từ phát hành thƣ bảo lãnh nhận hàng
Bảo lãnh nhận hàng khi chưa có vận đơn gốc là nghiệp vụ phổ biến nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người yêu cầu mở thư tín dụng nhận hàng, miễn sao họ đáp ứng được khả năng thanh toán Tuy nhiên, nó cũng có thể mang lại rủi ro cho Eximbank Khi phát hành bảo lãnh nhận hàng, ngân hàng cam kết đền bù cho hãng vận tải nếu có tổn thất xảy ra khi người mở thư tín dụng nhận hàng mà không xuất trình vận đơn gốc, cam kết này hoàn toàn độc lập với cam kết thanh toán cho người thụ hưởng.
Bảo lãnh nhận hàng chỉ mang tính chất tạm thời và không thể thay thế chứng từ sở hữu hàng hóa Khi Eximbank nhận vận đơn gốc từ người thụ hưởng, ngân hàng phải giao vận đơn gốc cho hãng vận tải để thu hồi bảo lãnh nhận hàng, và trách nhiệm của Eximbank đối với hãng vận tải chỉ chấm dứt sau khi hãng vận tải nhận được vận đơn gốc Như vậy, Eximbank sẽ phải đối mặt với rủi ro nếu người thụ hưởng thực hiện hành vi lừa đảo và không phải là chủ sở hữu của lô hàng, khi lô hàng đã nhận thuộc về một chủ sở hữu khác Trong trường hợp này, Eximbank đã thanh toán cho người thụ hưởng nhưng vẫn phải bồi thường cho hãng vận tải.
GVHD: ThS Võ Tường Oanh
- Rủi ro phát sinh từ khâu kiểm tra bộ chứng từ
Kiểm tra bộ chứng từ xuất trình theo thư tín dụng có ý nghĩa quyết định NHPH chấp nhận hay từ chối thanh toán Việc kiểm tra được điều chỉnh bởi tập quán thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ theo UCP và ISBP Tuy nhiên, UCP và ISBP không quy định tất cả các trường hợp xảy ra nên có nhiều chi tiết mà các ngân hàng diễn giải theo nhiều nghĩa khác nhau Vì vậy, đây là khâu dễ gây tranh cãi giữa các ngân hàng và cũng dễ gây rủi ro cho Eximbank: Theo quy định của UCP, ngân hàng có năm ngày làm việc để quyết định chấp nhận hay từ chối bộ chứng từ được xuất trình theo TTD; Eximbank sẽ mất quyền từ chối sau 5 ngày làm việc đó.