ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐỖ HOÀNG THỊNH TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÁC
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ HOÀNG THỊNH
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ HOÀNG THỊNH
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8.31.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ THU
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2020
Tác giả luận văn
Đỗ Hoàng Thịnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các giảng viên Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh đã trực tiếp giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thị Thu - người đã tận tình chỉ bảo, định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và các thầy
cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện để tôi được hoàn thành khoá học và luận văn này
Dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn nhưng tuy nhiên luận văn
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy, quý cô cùng các anh (chị)
và bạn bè quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2020
Tác giả luận văn
Đỗ Hoàng Thịnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH CẤP TỈNH ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Một số vấn đề về Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Ngân hàng Nhà nước 4
1.1.2 Ngân hàng thương mại 8
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh cấp tỉnh đối với các NHTM 11
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động TTGSNH của NHNN chi nhánh cấp tỉnh 12
1.2.2 Nội dung và hình thức các hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh đối với các ngân hàng thương mại 16 1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh đối với các ngân hàng thương mại 25 1.3 Cơ sở thực tiễn về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh cấp tỉnh đối với các ngân hàng thương mại 28
1.3.1 Kinh nghiệm về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các NHTM của một số NHNN chi nhánh các tỉnh 28
Trang 61.3.2 Bài học rút ra cho NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên về hoạt động thanh
tra, giám sát ngân hàng đối với các NHTM trên địa bàn 31
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 36
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 37
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động thanh tra đối với các NHTM trên địa bàn của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 37
2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn 40
Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN 47
3.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 47
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 47
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 47
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 49
3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 57
3.2.1 Mạng lưới của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 57
3.2.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn 59
3.2.3 Thực trạng hoạt động cho vay của các NHTM trên địa bàn 62
3.2.4 Chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng 66
3.2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến 2018 68
3.3 Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn 69
3.3.1 Thực trạng hoạt động thanh tra ngân hàng 69
3.3.2 Thực trạng hoạt động giám sát ngân hàng 73
Trang 73.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TTGSNH của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 94 3.4.1 Các yếu tố khách quan 95 3.4.2 Các yếu tố chủ quan 100 3.5 Đánh giá chung về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn 103 3.5.1 Kết quả đạt được 103 3.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 106
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 112
4.1 Chiến lược phát triển hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và định hướng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 112 4.1.1 Chiến lược phát triển hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 112 4.1.2 Định hướng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 113 4.2 Giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 115 4.2.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng 115 4.2.2 Đẩy mạnh triển khai rộng rãi phương pháp kết hợp thanh tra, giám sát tuân thủ pháp luật với thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 117 4.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực TTGSNH chi nhánh 118 4.2.4 NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên cần tăng cường phối hợp với các UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh có liên quan đến hoạt động quản lý tiền tệ, ngân hàng và giữa TTGSNH nhà nước chi nhánh với các phòng chức năng trực thuộc 119 4.2.5 Một số giải pháp khác 121 4.3 Một số kiến nghị với NHNN Việt Nam, Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng, NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 121
Trang 8KẾT LUẬN 125 TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 PHỤ LỤC 128
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AgriBank Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt
Nam
BaoVietBank Ngân hàng TMCP Bảo Việt BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Việt Nam CQTTGSNH Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
LienVietPostBank Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
SacomBank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín
ShinhanBank Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên Shinhan
VietinBank Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
WooriBank Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên Woori
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thang đánh giá Likert 35
Bảng 2.2 Thống kê số lượng người lao động là lãnh đạo tại các NHTMtrên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 36
Bảng 3.1 Số lượng cán bộ TTGSNH nhà nước tỉnh Thái Nguyêngiai đoạn 2016 - 2018 57
Bảng 3.2 Mạng lưới NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyênđến 31/12/2018 58 Bảng 3.3 Huy động vốn của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2018 59
Bảng 3.4 Hoạt động cho vay của các NHTM trên địa bàntỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2018 62
Bảng 3.5 Cơ cấu dự nợ cho vay giai đoạn 2016 - 2018 63
Bảng 3.6 Chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM 66
Bảng 3.7 Kết quả kinh doanh (thu nhập - chi phí) các năm 2016 - 2018 68
Bảng 3.8 Số cuộc thanh tra các NHTM giai đoạn từ 2016 - 2018 70
Bảng 3.9 Số lượng sai phạm phát hiện qua công tác thanh tragiai đoạn 2016 - 2018 70
Bảng 3.10 Tình hình thực hiện kiến nghị sau thanh tra giai đoạn 2016 - 2018 72
Bảng 3.11 Kết quả giám sát về hoạt động huy động vốn 74
Bảng 3.12 Kết quả giám sát về hoạt động tín dụng của các NHTM 77
Bảng 3.13 Kết quả giám sát về doanh số cho vay, thu nợ của các NHTM trên địa bàn 82
Bảng 3.14 Kết quả giám sát chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn 85
Bảng 3.15 Kết quả giám sát Kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn 89
Bảng 3.16 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động của TTGSNH nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 95
Bảng 3.17 Bảng đánh giá vai trò của hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn 99
Bảng 3.18 Bảng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn 101
Bảng 3.19 Bảng đánh giá hiệu quả của hoạt động TTGSNH của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn 105
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Huy động vốn của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 60
Biểu đồ 3.2 Dư nợ cho vay của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 64
Biểu đồ 3.3 Nợ xấu cho vay của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 67
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của các NHTM trên địa bàn 67
Biểu đồ 3.5 Tình hình thực hiện kiến nghị sau thanh tra 72
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đang diễn ra rất sôi động, tăng trưởng tín dụng hàng năm ở mức 17,12%/năm, tăng trưởng huy động ở mức 21,13%/năm và nợ xấu liên tục được kiểm soát ở mức dưới 1%/tổng dư nợ [17] Các TCTD đang phát triển nhanh
và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ Tính đến 31/12/2018, toàn tỉnh có 31 TCTD, bao gồm 25 chi nhánh NHTM trực thuộc Hội sở chính của NHTM (gồm 07 chi nhánh NHTM Nhà nước; 16 chi nhánh NHTM cổ phần; 02 chi nhánh NHNNg), 01 chi nhánh NHCSXH, 01 chi nhánh Ngân hàng Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên, 03 QTDND và 01 chi nhánh Tổ chức TCVM Kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội của toàn tỉnh trong những năm qua không thể không nói tới sự đóng góp của ngành Ngân hàng, đặc biệt là các NHTM với nguồn vốn huy động và cho vay tăng trưởng tốt đã tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định và lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục giảm;
thị trường ngoại tệ, thị trường vàng ổn định; tín dụng tăng ngay từ đầu năm và tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên gắn với đảm bảo chất lượng, góp phần
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Bên cạnh những đóng góp tích cực đối với đời sống nhân dân và kinh tế - xã hội địa phương, hoạt động của các NHTM trên địa bàn còn tiềm ẩn những rủi ro nhất định do các nguyên nhân khách quan từ nền kinh tế như môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môi trường xã hội v.v , do các nguyên nhân chủ quan từ chính các NHTM như tài chính, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất lượng của lao động
Những biến động không ngừng của nền kinh tế, sự tăng lên về quy mô, đa dạng hoạt động của các NHTM, đồng thời trên thực tế đã có rất nhiều vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, thậm chí còn có những vụ đại án nghìn tỷ liên quan điến lĩnh vực ngân ngân hàng như vụ: Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt hơn 4.911 tỷ xảy
ra tại VietinBank, Vụ Bầu Kiên và các cựu lãnh đạo ACB v.v… Do đó nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực ngân hàng thuộc phạm vi trách nhiệm của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên, đảm bảo sự an toàn, lành
Trang 14hàng phải tăng cường hơn nữa Tuy nhiên, số lượng cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên còn ít, chất lượng hoạt động công tác thanh tra trực tiếp và giám sát từ xa còn hạn chế nhất định đòi hỏi công tác thanh tra, giám sát của Chi nhánh cần được tăng cường và đổi mới hơn nữa
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; cùng việc áp dụng những kiến thức, lý luận đã được học tập tại trường và kinh nghiệm công tác tại NHNN chi nhánh tỉnh Thái
Nguyên, tác giả đã chọn đề tài: “Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân
hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Từ cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn, luận văn đề xuất một số giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu và làm rõ thực trạng về hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 15- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên
và 25 chi nhánh NHTM (07 chi nhánh NHTM Nhà nước; 16 chi nhánh NHTM cổ phần; 02 chi nhánh NHNNg) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Số liệu và các tư liệu nghiên cứu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến 2018, số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng tháng 02/2019 Giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2020 - 2025
4 Những đóng góp của luận văn
Đóng góp về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống một cách khoa học các nội dung
về thanh tra, giám sát của NHNN đối với các NHTM như khái niệm thanh tra, giám sát ngân hàng, nội dung thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN đối với các NHTM
và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN đối với hoạt động của các NHTM
Đóng góp về mặt thực tiễn: Trên thực tế chưa có nhiều công trình nghiên cứu
về tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Do đó, luận văn cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các NHTM trên địa bàn, từ đó đề ra các giải pháp để khắc phục những hạn chế của công tác thanh tra, giám sát Đây sẽ là tài liệu để NHNN và các NHTM nghiên cứu, tham khảo nhằm hạn chế rủi ro gây mất an toàn trong hoạt động ngân hàng
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 4 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thanh tra, giám của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các ngân hàng thương mại trên địa bàn
- Chương 4: Giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đối với các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH CẤP TỈNH
ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Một số vấn đề về Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng Nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Nhà nước
“NHTW là một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, được độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng ngân hàng” [18]
Theo Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ngày 10/6/2010 quy định “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương
về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”
“Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước không vì mục tiêu lơi nhuận mà nhằm mục đích ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia
từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế” [18]
1.1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Nhà nước
- Chức năng phát hành tiền
“NHNN là tổ chức duy nhất phát hành tiền theo các quy định trong luật (mệnh giá tiền, loại tiền, mức phát hành) Giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong một quốc gia và được thanh toán không hạn chế
Khối lượng tiền NHNN cung ứng cho lưu thông ảnh hưởng trực tiếp đến tổng phương tiện thanh toán trong xã hội, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Vì vậy phải xác định đúng lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành, phương thức phát hành để đảm bảo ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế
Trang 17Việc phát hành tiền thông qua cơ chế tín dụng ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng Một là, khối lượng tiền phát hành vào lưu thông xuất phát từ nhu cầu tiền tệ phát sinh do tăng trưởng kinh tế đòi hỏi Hai là, tạo khả năng để NHNN thực hiện kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng theo nhu cầu của mục tiêu ổn định tiền tệ” [18]
- Chức năng ngân hàng của các ngân hàng
“Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền, NHNN thực hiện cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua việc cung cấp tín dụng cho các NHTM và kiểm soát quá trình tạo tiền của các NHTM Ở đây, NHTM trở thành khách hàng của NHNN Khi thực hiện chức năng này, NHNN cung cấp các dịch vụ sau:
Một là nhận tiền gửi của các NHTM, bao gồm:
+ Tiền gửi thanh toán: Để đáp ứng nhu cầu chi trả, các NHTM khi được phép hoạt động đều phải mở tài khoản tại NHNN và gửi tiền vào tải khoản đó theo quy định
+ Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Loại hình tiền gửi này áp dụng đối với các TCTD
có huy động tiền gửi để kinh doanh Mức dự trữ bắt buộc được tính theo tỷ lệ phân trăm (%) trên số vốn huy động Tỷ lệ này do NHNN quy định trong từng thời kỳ Mục đích của tiền gửi dự trữ bắt buộc là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, do đó hạn chế khả năng rủi ro thanh toán cho cả hệ thống Tuy nhiên, theo thời gian, ý nghĩa ngày giảm dần Cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ, các hình thức bảo hiểm tiền gửi
ra đời đã giảm bớt khả năng xảy ra nhu cầu rút tiền bất thường Vì vậy, tử lệ dự trữ bắt buộc ở các quốc gia Hiện nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường đề cập đến với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ
Hai là cho vay đối với các TCTD
Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN luôn là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với các TCTD thông qua hoạt động tái chiết khấu và cho vay có thế chấp giấy tờ có giá
Thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn, NHNN tránh rơi vào tình trạng bị động trong việc tài trợ cho các TCTD Với tư cách này, NHNN thực hiện điều tiết khối lượng tiền cung ứng một cách có hiệu quả
Ba là Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt
Các TCTD đều mở tài khoản và gửi tiền vào tài khoản này tại NHNN, do đó các TCTD có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNN thông qua hình
Trang 18Thực hiện quản lý nhà nước đối với các TCTD Cụ thể:
Cấp giấy phép hoạt động
Quy định nội dung phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các TCTD phải tuân thủ
Kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD để đảm bảo an toàn, ổn định, bảo
vệ quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng
Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể ngân hàng trong các trường hợp vi phạm luật
lệ hoặc mất khả năng tài chính sau khi đã áp dụng các biện pháp tác động” [18]
- Chức năng là ngân hàng của chính phủ
“Trước hết, NHNN cung ứng phương tiện thanh toán cho hệ thống kho bạc nhà nước, nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, cho nhân sách nhà nước vay khi ngân sách thiếu hụt, bảo quản dự trữ quốc gia về vàng, ngoại tệ và các phương tiện có giá trị ngoại tệ khác
Thứ hai: Thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán đối nội cũng như đối ngoại của đất nước
Thứ ba: Thay mặt Chính phủ ký tham gia ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toán với nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế
Thứ tư: Thay mặt chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài cính quốc tế với cương vị là thành viên của tổ chức này” [18]
1.1.1.3 Nhiệm vụ của NHNN
Giáo trình ngân hàng trung ương, chủ biên PGS.TS Nguyễn Thị Mùi, NHNN
có các nhiệm vụ là “Ổn định đồng tiền quốc gia Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết NHNN đều được giao nhiệm vụ chính là duy trì và ổn định giá trị đồng tiền Để duy trì và ổn định giá trị đồng tiền được giao ở mức độ khác nhau trong việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ; Xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ: Hầu hết các nước NHNN đều được giao nhiệm vụ xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ Phát hành đồng tiền pháp quy: Việc phát hành tiền vào lưu thông do NHNN độc quyền Đây
là nhiệm vụ cơ bản của NHTW mỗi quốc gia; Duy trì sự an toàn của hệ thống thanh toán: Đa số NHTW các nước phát triển đều quan tâm đến xây dựng hệ thống thanh toán và bảo đảm sự an toàn của hệ thống này Khi nền tảng kinh tế càng phát triển cùng
Trang 19với tiến bộ của công nghệ tin học và công nghệ ngân hàng thì an toàn trong thanh toán toàn hệ thống là yêu cầu bức xúc đặt ra đối với NHTW mỗi quốc gia; Thanh tra, giám sát các TCTD: NHNN tham gia vào hoạt động thanh tra, giám sát ở hai cấp độ khác nhau: Một là thanh tra, giám sát các TCTD (NHTW pháp, Nhật Bản, NHNN Việt Nam v.v ); Hai là chỉ đảm nhiệm phối hợp với cơ quan của chính phủ để thanh tra, giám
sát các TCTD (Quỹ dự trữ liên bang Mỹ - Fed; NH Hàn Quốc v.v )” [18]
1.1.1.4 Vai trò của NHNN
* Vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông
“Trong nền kinh tế thị trường, mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự thúc đẩy mức tăng, giảm tổng sản phẩm quốc nội Do vậy, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong các nhiệm vụ của NHNN
NHNN thực hiện vai trò này thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiếp như: Hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở v.v ” [18]
* Vai trò thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế
“NHNN tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, nhằm thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao
Trong điều kiện phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, NHNN vừa góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế hiện có cho phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế đất nước và hội nhập với sự phát triển kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới, vừa góp phần thiết lập cơ cấu kinh tế hợp lý” [18]
* Vai trò ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia
“Để ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, một mặt NHNN góp phần cân đối tổng cầu và tổng cung của toàn xã hội thông qua việc ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia Mặt khác, NHNN tác động mạnh đến cân đối cung cầu ngoại tệ để giữ vững tỷ giá hối đoái, góp phần ổn định sức mua ngoại tệ của đồng tiền quốc gia Nhờ
đó, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa tăng cường nhập khẩu phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [18]
* Vai trò ổn định hệ thống ngân hàng thông qua nhiệm vụ thanh tra, giám sát
Trang 20ngân hàng
“Với chức năng ngân hàng của các ngân hàng, NHTW chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng Theo thể chế của nhiều nước NHTW được giao nhiệm vụ giám sát hệ thống ngân hàng nhằm duy trì sự ổn định và an toàn hệ thống Theo đó NHTW có trách nhiệm giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiền tệ, ngân hàng, đồng thời ban hành các quy định quản lý hoạt động ngân hàng, đưa ra các biện pháp thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả” [18]
1.1.2 Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
“Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó - kinh tế thị trường - thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được” [19]
Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 10/6/2010 và Luật số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD quy định: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
1.1.2.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
- Chức năng trung gian tài chính NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai đối tượng khách hàng cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm”
[19]
“Sự tồn tại hai đối tượng khách hàng cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập
Trang 21với NHTM Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai (2) sang nhóm thứ nhất (1) nếu cả hai cùng có lợi Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn Chức năng trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch”
[19]
“Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của NHTM bằng cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài chính Chẳng hạn các khoản tín dụng và chứng khoán không thể chia thành những khoản nhỏ mà mọi người đều có thể mua
NHTM cung cấp một dịch vụ có giá trị trong việc chia chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏ hơn (dưới dạng tiền gửi) phục vụ cho hành triệu người Trong ví dụ này, hệ thống tài chính kém hoàn hảo tạo ra vai tròn cho các ngân hàng trong việc phục vụ những người tiết kiệm” [19]
“Một đóng góp khác của NHTM là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền Thực
tế các NHTM tham gia vào kinh doanh rủi ro NHTM cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng” [19]
“Một lý do nữa làm cho NHTM phát triển thịnh vượng là khả năng thẩm định thông tin Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lời cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất” [19]
- Chức năng tạo phương tiện thanh toán
“Tiền - vàng có một chức năng quan trọng là phương tiện thanh toán Các NHTM đã không tạo ra được tiền kim loại Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện
Trang 22hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận Như vậy, ban đầu các NHTM đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của NHTM đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy” [19]
“Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính hoặc là NHTW Từ đó chấm dứt việc các NHTM tạo ra các giấy bạc của riêng mình” [19]
“Trong điều kiện phát triển thanh toán qua NHTM, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả đẻ có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các NHTM, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn v.v ” [19]
“Khi đó ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các NHTM đã tạo ra phương tiện thanh toán” [19]
“Toàn bộ hệ thống NHTM cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ NHTM này đến NHTM khác trên cơ sở cho vay Khi khách hàng tại một NHTM sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên một khoản thu (tức là làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một NHTM khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khi không một NHTM riêng lẻ nào có thể vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống NHTM có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bộ thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng)” [19]
“Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống NHTM tạo ra chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trưc bát buộc, tỷ lệ dự trữ vượt bắt buộc,
tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua các NHTM, tỷ lệ tiền gửi không phải là tiền gửi thanh toán v.v ” [19]
- Chức năng trung gian thanh toán
Trang 23“NHTM trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia Thay mặt khách hàng, NHTM thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, NHTM đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm thu, nhờ thu, các loại thẻ v.v cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các NHTM còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua NHNN hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua NHTM càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua NHTM thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các NHTM trong một quốc gia mà còn giữa các NHTM trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng tính hiệu quả của thanh toán qua NHTM, biến NHTM trở thanh trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đăc lực cho nền kinh tế toàn cầu” [19]
1.1.3 Sự khác biệt chính giữa NHNN và NHTM trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước là NHTW duy nhất của Việt Nam, NHNN là cơ quan quản
lý nhà nước cấp phép cho các NHTM và các TCTD khác hoạt động theo Luật các TCTD
và pháp luật liên quan NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối NHNN phát hành tiền, hoạt động như ngân hàng của các TCTD
và là ngân hàng cung cấp dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ NHNN hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế
NHTM là tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và chịu sự quản lý, kiểm soát của NHNN NHTM gồm cả hệ thống với số lượng lớn và phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng, tiền tệ và tạo tiền cho nền kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi
Trang 241.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động TTGSNH của NHNN chi nhánh cấp tỉnh
1.2.1.1 Khái niệm
- Thanh tra ngân hàng
“Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo
Từ điển tiếng Việt, “thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ làm việc của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra” và đặt trong phạm
vi quyền hành của một chủ thể nhất định
Trong cuốn “Kỷ yếu Bác Hồ với thanh tra”, thanh tra được hiểu là “sự xem xét, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước”
Khoản 11 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định “Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng”
- Giám sát ngân hàng Giám sát là hành vi, hoạt động của chủ thể thực hiện việc theo dõi đối tượng bị giám sát trong một khoảng thời gian nhất định (quá trình theo dõi đối tượng bị giám sát) từ đó xem xét, đánh giá hoạt động của đối tượng bị giám sát tuân thủ những mục tiêu, quy định đã đặt ra; giám sát có chủ thể thực hiện việc giám sát và đối tượng bị giám sát
Khoản 12 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định: “Giám sát ngân hàng là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
- Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với các NHTM Trên cơ sở khái niệm về thah tra, giám sát ngân hàng ta thấy hoạt động thanh
Trang 25tra, giám sát ngân hàng của NHNN đối với các NHTM là việc NHNN thực hiện theo dõi, kiểm tra và đánh giá các hoạt động của các NHTM trong việc thực hiện chức năng
và nhiệm vụ của NHTM theo quy định của pháp luật
1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh cấp tỉnh
Theo Tài liệu Khóa đào tạo nghiệp vụ thanh tra viên do Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng ban hành năm 2010 [15]:
Đặc điểm chung của hoạt động thanh tra, giám sát
- Thanh tra, giám sát gắn liền với quản lý nhà nước: Ngoại trừ hoạt động giám sát xã hội của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan Nhà nước thông qua khiếu nại,
tố cáo; thanh tra, giám sát luôn là một giai đoạn của quá trình gắn liền với quản lý nhà nước Tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý nhà nước đều thông qua thanh tra, kiểm tra để có thông tin đầy đủ, chính xác
Quản lý nhà nước và thanh tra, giám sát có cái chung là thay mặt quyền lực nhà nước tác động lên đối tượng bị quản lý; Tuy nhiên, theo cơ cấu, chức năng của quản
lý thì thanh tra, giám sát chỉ là những công cụ để thực hiện quản lý nhà nước Thanh tra, giám sát xuất hiện khi ở đâu có Nhà nước và có quản lý Nhà nước thì ở đó có thanh tra, giám sát Trong mối quan hệ này, quản lý Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra, giám sát (thể hiện ở việc xác định đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền của các đơn vị thanh tra, giám sát; sử dụng các kết quả, thông tin từ
cơ quan thanh tra, giám sát)
Với tư cách là một mắt xích trong quá trình quản lý, thanh tra, giám sát bị ràng buộc bởi quản lý nhưng đồng thời lại tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý Nhờ có thanh tra, giám sát mà mục đích của quản lý được đảm bảo Thực tế cho thấy rằng, một thể chế hành chính và cơ quan quản
lý nhà nước sẽ không đầy đủ và kém hiệu quả nếu thiếu thanh tra, giám sát Hoạt động
có tính hiệu quả của thanh tra, giám sát sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước
- Thanh tra, giám sát luôn mang tính quyền lực nhà nước: Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra, giám sát phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm
Trang 26thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Thanh tra, giám sát
là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước Cơ quan nhà nước là chủ thể tiến hành thanh tra, giám sát Thanh tra luôn sử dụng quyền lực của Nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động của mình và nhân danh Nhà nước khi sử dụng quyền lực
đó Có thể thấy, thanh tra, giám sát chính là một công cụ hiệu quả nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Quyền lực nhà nước trong quá trình thực hiện thanh tra, giám sát có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra Trên thế giới, dù mô hình tổ chức thanh tra có khác nhau chủ thể tiến hành thanh tra, giám sát luôn là cơ quan nhà nước Vì vậy, thanh tra, giám sát phải được Nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý
Quyền lực nhà nước trong hoạt động thanh tra, giám sát được thể hiện ở những điểm sau:
+ Ban hành quyết định bắt buộc các đối tượng bị thanh tra phải thực hiện về những vấn đề đã bị thanh tra phát hiện, xử lý
+ Yêu cầu cơ quan có quyền giải quyết theo kiến nghị của thanh tra; truy cứu trách nhiệm đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật
+ Áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong trường hợp cần thiết
Quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra, giám sát được cụ thể hóa ở nhiệm
vụ, chức năng, quyền hạn của từng đơn vị tiến hành hoạt động thanh tra, giám sát, phương pháp thực hiện thanh tra; xử lý các kết quả thanh tra; trong mối quan hệ giữa
cơ quan thanh tra, giám sát với đối tượng thanh tra, giám sát cũng như trong sự phối hợp giữa tổ chức thanh tra, giám sát nhà nước theo cấp hành chính, theo lĩnh vực, ngành Hoạt động thanh tra, giám sát đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ quyền lực nhà nước trên tất cả các ngành, lĩnh vực mới phát huy hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát
- Thanh tra, giám sát có tính khách quan: Bản chất của hoạt động thanh ra, giám sát là đánh giá, xem xét một cách khách quan việc thực hiện chính sách pháp luật, và
kế hoạch nhà nước của các đơn vị và cá nhân Kết quả của hoạt động thanh tra là đưa
ra kết luận đúng, sai, đánh giá nhược điểm,ưu điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng
Trang 27ngừa, xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Kết quả hoạt động giám sát là đánh giá tính đúng, sai trong hoạt động của đối tượng giám sát, đưa ra những khuyến nghị, biện pháp khắc phục kịp thời nhằm định hướng hoạt động của đối tượng đi đúng hướng Vì thế, hoạt động thanh tra, giám sát phải mang tính khách quan Mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật
và phải tuân theo pháp luật Do đó hoạt động thanh tra, giám sát không dựa trên cơ sở pháp luật thì nó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước
- Thanh tra, giám sát có tính độc lập tương đối: Đây là đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nước và xuất phát từ bản chất của thanh tra Hoạt động thanh tra, giám sát thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách khác với hoạt động kiểm tra do cơ quan quản lý nhà nước tiến hành Do đó, hoạt động thanh tra, giám sát còn có tính độc lập tương đối ngoài việc bảo đảm sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước khi thực thi nhiệm vụ Đặc điểm này được thể hiện khi các tổ chức thanh tra được tổ chức các cuộc thanh tra, giám sát trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội được pháp luật quy định Từ kết quả thanh tra, giám sát, người ra quyết định thanh tra sẽ ban hành kết luận trong đó kiến nghị biện pháp xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra và chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình
Tính độc lập của hoạt động thanh tra, giám sát chỉ là tương đối, vì ngoài việc căn cứ vào pháp luật, hoạt động thanh tra, giám sát còn phải xuất phát từ thực tế cuộc sống, đặt hiện tượng, sự vật trong sự phát triển biện chứng với quan điểm lịch sử, khoa học cụ thể
Đặc điểm riêng của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
- Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện theo cơ chế song trùng lãnh đạo,
cụ thể:
+ Thống đốc NHNN chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành việc thực hiện nhiệm
vụ thanh tra ngân hàng trên phạm vi cả nước Chánh thanh tra Cơ quan TTGSNH chịu trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn về tổ chức và nghiệp vụ thanh tra, giám sát ngân hàng
+ TTGSNH nhà nước chi nhánh chịu sự điều hành trực tiếp của Giám đốc
Trang 28NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố; nhưng vẫn chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra của Chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
- Giữa thanh tra và giám sát từ xa có mối quan hệ hỗ trợ, gắn kết với nhau Giám sát ngân hàng là công việc liên tục, nhằm cập nhật thông tin liên tục đối với từng NHTM nhằm phân tích, đánh giá, xếp hạng NHTM Qua hoạt động giám sát ngân hàng, thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ cần thanh tra, nội dung trọng tâm và thời gian cần thanh tra đối với từng đối tượng thanh tra
- Thanh tra ngân hàng còn thực hiện thanh tra trên cơ sở rủi ro đối với các NHTM, chi nhánh NHNNg Để thực hiện thanh tra rủi ro phải tiến hành thanh tra toàn bộ đối với một NHTM (bao gồm Hôi sở, các đơn vị trực và công ty con trực thuộc)”
1.2.1.3 Mục đích của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh cấp tỉnh
“Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng trước hết nhằm mục đích ngăn ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan Mặt khác, vì là thanh tra chuyên ngành về ngân hàng, nên thanh tra ngân hàng còn có mục đích cụ thể, đặc thù của mình” [Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, 2010]
Theo quy định tại Điều 50 Luật NHNN 2010 “mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật
về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
1.2.2 Nội dung và hình thức các hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh đối với các ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Nội dung và hình thức hoạt động thanh tra ngân hàng
* Nội dung hoạt động thanh tra Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện hoạt động thanh tra trực tiếp tại các NHTM theo quy định tại Thống tư số 36/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN quy định về trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành ngân hàng [4]:
Thứ nhất là, Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, quy
Trang 29định khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp Trong dó, chủ yếu là các quy định của pháp luật về quản lý
và sử dụng giấy phép hoạt động tiền tệ, ngân hàng; tổ chức, quản trị, điều hành của NHTM; quy định về cổ phần, cổ phiếu; huy động vốn và phí cung ứng dịch vụ; cấp tín dụng, nhận ủy thác, ủy thác và hoạt động liên ngân hàng; hoạt động thông tin tín dụng;
hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng; thanh toán, quản lý tiền tệ và kho quỹ; mua, đầu tư vào tài sản cố định và kinh doanh bất động sản; quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng; quy định về bảo hiểm tiền gửi; quy định về phòng, chống rửa tiền; chế độ thông tin, báo cáo; quy định về cản trở việc thanh tra, không thực hiện yêu cầu của người có thẩm quyền và các quy định khác liên quan đến quản
lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng
Thứ hai là, Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng; xem xét, đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, chất lượng và hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội
bộ, hệ thống quản trị rủi ro của NHTM, bao gồm cả việc nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, giám sát rủi ro, kiểm soát và giảm thiểu, xử lý rủi ro thông qua việc xem xét các yếu tố tác động đến an toàn hoạt động, chất lượng, hiệu quả quản trị rủi ro, khả năng chống đỡ rủi ro của NHTM
Thanh tra trên cơ sở rủi ro để phát hiện ra các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của các NHTM được thanh tra cũng như trong toàn hệ thống Trên cơ sở chỉ đạo của NHNH, của Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh và kết quả phân tích giám sát thực tế hoạt động của các NHTM trên địa bàn; TTGSNH chi nhánh xây dựng nội dung thanh tra, kiểm tra phù hợp với từng NHTM, trong đó thường tập trung vào các nội dung như sau:
+ Công tác quản trị, điều hành của các NHTM: được thể hiện thông qua việc đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của NHTM
+ Hoạt động huy động vốn của các NHTM: Thực hiện quy trình, nghiệp vụ huy động vốn, việc công khai minh bạch trong công tác huy động vốn, chấp hành lãi suất huy động, cạnh tranh trong huy động vốn,…
+ Hoạt động tín dụng của các NHTM: Các nội dung về hoạt động tín dụng để
Trang 30đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật, của NHNN và các quy định nội
bộ về hoạt động tín dụng; thực trạng chất lượng tín dụng, mức độ rủi ro; việc thực hiện các nguyên tắc, điều kiện cho vay, tính pháp lý của hồ sơ cho vay, công tác thẩm định
và việc quyết định cho vay, công tác kiểm tra, sử dụng vốn vay; việc chấp hành lãi suất cho vay, cho vay đảo nợ…
+ Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro theo Thông tư NHNN của NHNN NHTM phải phân loại nợ theo các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm
02/2013/TT-5 và thực hiện trích lập dự phòng rủi ro cụ thể
+ Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng (huy động, cho vay, phát hành giấy tờ có giá, cầm cố, ký quỹ…); việc mua, bán ngoại tệ và vàng, công khai giá mua, bán ngoại tệ
+ Thanh tra việc đảm bảo an toàn trong công tác kế toán, quản lý tài chính, quản
lý và chế độ an toàn kho quỹ
Nội dung thanh tra vào trọng tâm, trọng điểm và những lĩnh vực nghiệp vụ có tiềm ẩn nhiều rủi ro của NHTM, đặc biệt là các NHTM có chỉ tiêu kết quả kinh doanh xếp loại thấp, nợ xấu tăng cao, có vụ việc vi phạm pháp luật, thông tin phản ánh và đơn, thư khiếu nại, tố cáo nhiều
Thứ Ba là, Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy
bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng
Trên cơ sở kết quả thanh tra, TTGSNH chi nhánh phát hiện kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ, ngân hàng
và những lĩnh vực hoạt động ngân hàng còn nhiều “sơ hở”, nguy cơ rủi ro cao để đề xuất với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy định chặt chẽ hơn Thực tế trong quá trình thanh tra trực tiếp tại các đơn vị nếu phát hiện ra những bất cập, thiếu thực tiễn về cơ chế, chính sách không còn phù hợp hoặc đã lỗi thời với hoạt động của NHTM thì cần có những kiến nghị, đề xuất đụng nội dung, thẩm quyền đến cơ quan ban hành văn bản pháp luật nhằm hoàn thiện công tác thanh tra Có như vậy, hoạt động của các NHTM mới được đảm bảo là luôn có những điều chỉnh thích nghi với những điều kiện mới, những biến động của nền kinh tế Từ đó, mục tiêu
về hoạt động thanh tra của NHNN đối với các NHTM là đảm bảo hoạt động của hệ
Trang 31thống các NHTM an toàn và hiệu quả ngày càng được hoàn thiện; góp phần hạn chế vi phạm pháp luật, kiểm soát, phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro trong hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước
Thứ Tư là, Kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp giảm thiểu rủi ro để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành
vi vi phạm pháp luật
Căn cứ kết quả thanh tra, Đoàn thanh tra lập báo cáo kết quả thanh tra, lập biên bản về việc vi phạm của đối tượng thanh tra (nếu có) Kết luận thanh tra gồm các nội dung: Kết quả cụ thể về từng nội dung tiến hành thanh tra; các tồn tại, vi phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra; Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có); Xác định mức độ rủi ro tổn thất Tổng hợp những vi phạm các quy định của pháp luật, hậu quả, nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với từng hành vi vi phạm (nếu có); Kiến nghị xử lý theo thẩm quyền: xử lý nghiệp vụ; xử lý kinh tế; xử lý hành chính; chuyển
hồ sơ sang cơ quan điều tra (nếu có) đối với “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền
tệ và ngân hàng bao gồm: Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng giấy phép; Vi phạm quy định về tổ chức, quản trị, điều hành; Vi phạm quy định về cổ phần, cổ phiếu; Vi phạm quy định về huy động vốn và phí cung ứng dịch vụ; Vi phạm quy định về cấp tín dụng, nhận ủy thác, ủy thác và hoạt động liên ngân hàng; Vi phạm quy định về hoạt động thông tin tín dụng; Vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng;
Vi phạm quy định về thanh toán, quản lý tiền tệ và kho quỹ; Vi phạm quy định về mua, đầu tư vào tài sản cố định và kinh doanh bất động sản; Vi phạm quy định về bảo đảm
an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng; Vi phạm quy định về bảo hiểm tiền gửi; Vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền; Vi phạm quy định về chế độ thông tin, báo cáo; Vi phạm quy định về cản trở việc thanh tra, không thực hiện yêu cầu của người
Trang 32hoạch thanh tra năm của Thanh tra chính phủ, CQTTGSNH xây dựng kế hoạch thanh tra trình Thống đốc NHNN phê duyệt kế hoạch thanh tra nhằm định hướng chung cho chương trình thanh tra ngành ngân hàng trong năm Căn cứ vào kế hoạch thanh tra năm
đã được Thống đốc NHNN phê duyệt, căn cứ vào tình hình tế hoạt động của hệ thống các NHTM trên địa bàn, Thanh tra, giám sát ngân hàng xây dựng kế hoạch thanh tra trình Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt nhằm định hướng chương trình thanh tra trong năm đối với các NHTM trên địa bàn” [13]
- Thanh tra đột suất: “NHNN thực hiện thanh tra đột xuất đối với các NHTM khi phát hiện đối tượng thanh tra ngân hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật, phát sinh rủi ro, nguy cơ đe dọa sự phát triển an toàn, lành mạnh của các NHTM hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, phòng, chống, tài trợ khủng bố của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao NHNN thực hiện thanh tra đối với các NHTM theo yêu cầu của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng khi Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng hàng tiến hành thanh tra trụ sở chính của một NHTM có chi nhánh đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” [13]
1.2.2.2 Nội dung và hình thức hoạt động giám sát ngân hàng
* Nội dung hoạt động giám sát ngân hàng Hoạt động giám sát ngân hàng bao gồm các nội dung sau theo quy định tại Thông tư số 08/2017/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước cụ thể như sau [5]:
- Thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu của đối tượng giám sát ngân hàng theo yêu cầu giám sát;
- Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm
an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc thực hiện kết luận thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng của đối tượng giám sát ngân hàng;
- Phân tích, đánh giá thường xuyên tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức độ rủi ro đối với từng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
và toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thực hiện xếp hạng các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của
Trang 33Ngân hàng Nhà nước;
- Phát hiện, cảnh báo các yếu tố tác động, xu hướng biến động tiêu cực, rủi ro gây mất an toàn hoạt động, các rủi ro, nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng đối với từng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và hệ thống các tổ chức tín dụng;
- Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các rủi ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng theo quy định của pháp luật
* Trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng thực hiện như sau:
- Bước 1: Thu thập, tổng hợp, xử lý và lưu trữ tài liệu, thông tin, dữ liệu theo các quy định tại Mục 1 Chương II Thông tư này;
- Bước 2: Phân tích, đánh giá về đối tượng giám sát ngân hàng theo 2 hình thức bao gồm giám sát an toàn vi mô và giám sát an toàn vĩ mô
- Bước 3: Đề xuất các hành động can thiệp, chỉnh sửa bao gồm các biện pháp
xử lý trong giám sát ngân hàng
- Bước 4: Giám sát sau thanh tra khi nhận được kết luận thanh tra về đối tượng giám sát ngân hàng từ đơn vị thực hiện thanh tra ngân hàng
* Hình thức hoạt động giám sát ngân hàng Hình thức hoạt động giám sát ngân hàng được bao gồm Giám sát an toàn vi mô
và Giám sát an toàn vi mô
- Giám sát an toàn vi mô theo quy định tại Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/8/2017:
Đơn vị thực hiện giám sát an toàn vi mô thực hiện một số hoặc toàn bộ các nội dung sau:
Thứ nhất, theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, các quy định về chế độ báo cáo thống kê, các quy định khác của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thứ hai, phân tích, đánh giá các rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo một số hay toàn bộ các nội dung sau:
+ Rủi ro tín dụng: là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả
Trang 34năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường Rủi ro thị trường bao gồm:
Rủi ro lãi suất: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên
sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
Rủi ro ngoại hối: là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá trên thị trường khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ;
Rủi ro giá cổ phiếu là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị trường đối với giá trị của cổ phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến động bất lợi của giá hàng hoá trên thị trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
+ Rủi ro thanh khoản là rủi ro do:
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa
vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó
+ Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý) Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược;
+ Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Rủi ro chiến lược là rủi ro do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
Trang 35ngoài có hoặc không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh làm giảm khả năng đạt được chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Các loại rủi ro khác phát sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thứ ba, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo các nội dung sau:
+ Tình hình bảo đảm an toàn và phát triển vốn chủ sở hữu (bao gồm cả tình hình
cổ đông, cổ phần, cổ phiếu);
+ Tình hình huy động vốn từ các đối tượng đáp ứng các điều kiện tham gia giao dịch theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức khác;
+ Tình hình sử dụng vốn:
Cấp tín dụng đối với các đối tượng đáp ứng các điều kiện tham gia giao dịch theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: cá nhân; tổ chức kinh tế; tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tổ chức khác; Đầu tư giấy tờ có giá; Hoạt động sử dụng vốn khác; Tình hình nợ xấu và xử lý nợ xấu; Kết quả hoạt động kinh doanh
Thứ tư, phân tích, đánh giá khả năng quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thứ năm, phân tích, đánh giá nghiệp vụ phái sinh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thứ sau, dự báo tình hình tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thứ bảy, xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Thứ tám, Phân tích, đánh giá các nội dung khác theo quy định của pháp luật
- Giám sát an toàn vĩ mô theo quy định tại Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/8/2017:
Đơn vị thực hiện giám sát an toàn vĩ mô tiến hành theo dõi, đánh giá đối với nhóm
Trang 36và toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo một số hoặc toàn bộ nội dung sau:
+ Phân tích mức độ lành mạnh tài chính;
+ Đánh giá hoạt động liên ngân hàng;
+ Đánh giá tình hình sở hữu, đầu tư;
+ Nhận diện, đánh giá thực trạng, xu hướng, mức độ rủi ro và tác động có khả năng xảy ra đối với nhóm và toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Kiểm tra sức chịu đựng trước các thay đổi chính sách và môi trường kinh tế
vĩ mô đối với nhóm và toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng và biện pháp ứng phó;
+ Phân tích, đánh giá các nội dung khác theo quy định của pháp luật
Nhóm các đối tượng giám sát ngân hàng được phân chia như sau:
+ Phân nhóm theo mức độ ảnh hưởng tới hệ thống:
Nhóm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tầm quan trọng hệ thống và nhóm còn lại trong hệ thống;
Tiêu chí xác định mức độ quan trọng hệ thống, nội dung giám sát an toàn vĩ mô, tần suất lập báo cáo giám sát an toàn vĩ mô đối với Nhóm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tầm quan trọng hệ thống được hướng dẫn tại Sổ tay giám sát ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Căn cứ các tiêu chí tại Sổ tay giám sát ngân hàng, Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định danh sách các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tầm quan trọng hệ thống trong từng thời kỳ
+ Phân nhóm theo loại hình, sở hữu:
Nhóm các ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài;
Nhóm các tổ chức tín dụng trong nước bao gồm: ngân hàng thương mại nhà
Trang 37nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính
vi mô
+ Nhóm các đối tượng giám sát ngân hàng được phân chia theo các tiêu chí khác
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh cấp tỉnh đối với các ngân hàng thương mại
Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng chịu ảnh hưởng có rất nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến những nhân tố cơ bản sau:
1.2.3.1 Yếu tố khách quan
- Môi trường pháp lý Một trong những nguyên tắc của hoạt động thanh tra, giám sát là tuân thủ pháp luật Do vậy, cần thiết phải có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng, các quy định về
tổ chức, chức năng và nhiệm vụ, trình tự và thủ tục thanh tra, giám sát,… đồng bộ, nghiêm minh và phù hợp với thông lệ quốc tế Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, đồng thời buộc đối tượng thanh tra, giám sát thực hiện nghiêm các yêu cầu của thanh tra, giám sát ngân hàng Một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn sẽ tạo ra tiền đề
và là công cụ sắc bén của hoạt động thanh tra Ngược lại, với một hệ thống pháp luật
và quy chế thiếu đồng bộ, không rõ ràng và không phù hợp với thực tiễn sẽ gây ra sự lãng phí nguồn lực thanh tra, làm giảm hiệu quả hoạt động thanh tra
Mặt khác, thanh tra, giám sát ngân hàng là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước; chính vì vậy hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng cần được Nhà nước đảm bảo để thanh tra, giám sát phát huy vai trò của mình, hệ thống pháp luật phải trao cho thanh tra, giám sát ngân hàng những quyền hạn tương xứng với nhiệm vụ Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung và về thanh tra, giám sát ngân hàng nói riêng
là một trong những nhân tố không thể thiếu, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra, giám sát
- Mô hình tổ chức của hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng
Trang 38Bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào nếu có cơ cấu tổ chức khoa học, sự phối hợp giữa các bộ phận nhịp nhàng sẽ giúp hoạt động chỉ đạo, điều hành được thông suốt và đạt hiệu quả cao Thanh tra, giám sát ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng, trên phạm
vi toàn quốc với số lượng cán bộ đông đảo, nếu mô hình tổ chức không thống nhất giữa trung ương và địa phương, việc quản lý nhân sự và điều hành nghiệp vụ không quy tụ
về một mối mà theo kiểu song trung lãnh đạo sẽ gây chậm trễ, chồng chéo trong quản
lý và điều hành; từ đó giảm hiệu quả, hiệu lực hoạt động thanh tra, giám sát
- Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ thanh tra, giám sát Chế độ đãi ngộ (tiền lương, thưởng, phụ cấp, sự quan tâm đến đời sống tinh thần,…) có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của tất cả các công việc, không riêng gì hoạt động thanh tra, giám sát Các cán bộ thanh tra, giám sát làm việc trong môi trường dễ bị cám dỗ, mua chuộc; tuy nhiên nếu có cơ chế, chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần phù hợp sẽ phát huy trách nhiệm của cán bộ và hạn chế tiêu cực, làm cho thanh tra, giám sát thực sự là công cụ phục vụ đắc lực cho hoạt động quản lý
- Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp nâng cao chất lượng thanh tra của NHNN
Vì vậy, thanh tra, giám sát ngân hàng cần trao đổi thông tin và phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc triển khai công tác thanh tra, quá trình thực hiện và đưa ra kết quả
Mặc dù NHNN được giao trách nhiệm thực hiện thanh tra đối với hệ thống ngân hàng, tuy nhiên các cơ quan khác với các mục đích khác nhau cũng có những thông tin
và hoạt động Như vậy, việc đưa ra cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ giúp ngân hàng trung ương tận dụng được các nguồn thông tin nhiều chiều cho hoạt động thanh tra
- Nhận thức của NHTM về vai trò của thanh tra, giám sát ngân hàng Công tác thanh tra, giám sát của NHNN nhằm mục đích đánh giá hoạt động của NHTM, bảo đảm sự an toàn trong hoạt động của các NHTM Vì vậy, các NHTM cần
Trang 39nhận thức đúng đắn về những lợi ích mà hoạt động thanh tra ngân hàng mang lại Cần
có cơ chế phối hợp tích cực giữa hai bên nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống các NHTM
1.2.3.2 Yếu tố chủ quan
- Chương trình, kế hoạch thanh tra, giám sát Chương trình, kế hoạch thanh tra, giám sát hàng năm được CQTTGS xây dựng cho cả hệ thống trong đó xác định trọng tâm, trọng điểm của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng và xác định những đối tượng cần tiến hành thanh tra trực tiếp (trừ trường hợp thanh tra đột xuất) Yêu cầu của việc xây dựng kế hoạch là phải xác định chính xác đối tượng, trọng tâm, trọng điểm của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm phân bổ nguồn lực hợp lý và có phương pháp, cách thức triển khai phù hợp
- Số lượng, chất lượng đội ngũ nhân sự làm công tác thanh tra, giám sát
Do đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng là các TCTD có quy mô và địa bàn hoạt động rộng, các gian lận trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng ngày càng tinh vi; do đó đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát phải có đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu công việc
Cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng phải nắm vững nghiệp vụ ngân hàng, các quy định pháp luật của nhà nước có liên quan đến hoạt động ngân hàng mới có khả năng phát hiện sai sót, tồn tại của các TCTD và đưa ra cảnh báo sớm cho Mặt khác, thanh tra ngân hàng là người hiểu và nắm rõ nhất về tình hình hoạt động của ngân hàng, họ không chỉ đưa ra cảnh báo sớm cho các TCTD mà còn tham mưu cho Thống đốc NHNN trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của TCTD
Kết quả thực hiện công tác thanh tra không có kết quả đồng nhất giữa việc thực hiện thanh tra đơn vị này với đơn vị khác, giữa đoàn thanh tra này với đoàn thanh tra khác nên việc đánh giá chất lượng hoạt động thanh tra khó hơn so với ngành nghề khác
Vì vậy, giữ vững đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ thanh tra rất quan trọng, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc trong việc tìm ra và xử lý các số món có sai phạm Từ đó hiệu quả của hoạt động thanh được nâng cao
Trang 40- Điều kiện hoạt động bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ thông tin, phương tiện làm việc của thanh tra, giám sát ngân hàng
Điều kiện hoạt động bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ thông tin, phương tiện làm việc của thanh tra, giám sát ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nói chung và thanh tra, giám sát ngân hàng nói riêng
Đặc biệt với phương thức giám sát từ xa thì cơ sở vật chất, công nghệ thông tin hiện đại với hệ thống mạng máy tính, phần mềm chuẩn hóa sẽ đảm bảo cho việc xử lý dữ liệu nhanh, chính xác, tiết kiệm thời gian, sức người và công tác giám sát từ xa có hiệu quả hơn Các TCTD luôn trang bị cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại phục vụ hoạt động kinh doanh của mình; do đó TTGS ngân hàng phải được hiện đại hóa để có thể nắm bắt, kiểm soát mọi hoạt động của TCTD
1.3 Cơ sở thực tiễn về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN chi nhánh cấp tỉnh đối với các ngân hàng thương mại
1.3.1 Kinh nghiệm về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các NHTM của một số NHNN chi nhánh các tỉnh
1.3.1.1 Kinh nghiệm về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các NHTM của NHNN chi nhánh tỉnh Nghệ An
Tỉnh Nghệ An được đánh giá là địa phương có hệ thống dịch vụ ngân hàng tài chính mạnh của cả nước Hiện nay, tổng số đầu mối NHTM, Chi nhánh NHTM toàn địa bàn tỉnh Nghệ An hiện có 100 đơn vị trong đó có 59 QTDND, 05 chi nhánh TCVM;
13 chi nhánh NHTM Nhà nước hoặc Nhà nước chiếm cổ phần chi phối, 19 chi nhánh NHTM cổ phần và 01 Hội sở chính NHTM cổ phần, 01 chi nhánh ngân hàng HTX, 01 chi nhánh NHCSXH tỉnh Nghệ An và 01 Chi nhánh NHPT Nghệ An Năm 2017, tín dụng của ngành Ngân hàng Nghệ An đứng thứ 3 cả nước (chỉ sau thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh) Đến 31/12/2017, “tổng dư nợ đạt 167.800 tỷ đồng, tăng trưởng 15,6% so với đầu năm”[22]
NHNN chi nhánh tỉnh Nghệ An đã thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn tương đối hiệu quả trong đó không thể không nói hoạt động động thanh tra, giám sát ngân hàng của TTGSNH nhà nước
NHNN chi nhánh tỉnh Nghệ AN đã tổ chức thực hiện một số biện pháp để nâng cao công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đối với NHTM trên địa bàn là: