Ở Việt Nam, Luật NSNN của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thờ
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam đang trên con đường đổi mới kể từ khi gia nhập WTO, hội nhập hiệu quả với nền kinh tế thế giới và tiến tới hội nhập toàn cầu Quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực đang chứng tỏ một quy luật tiến bộ của nền kinh tế, đòi hỏi mỗi quốc gia liên tục cải cách để bắt kịp sự phát triển mạnh của thị trường toàn cầu Trong bối cảnh đó, đổi mới quản lý ngân sách nhà nước là nội dung then chốt, nhằm tăng hiệu quả chi tiêu công, bảo đảm minh bạch và nâng cao năng lực thực thi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Trên thực tế, quản lý điều hành ngân sách nhà nước (NSNN) là tấm gương tài chính phản ánh các lựa chọn về kinh tế và xã hội của một quốc gia; để thực hiện vai trò quản lý mà người dân ủy nhiệm, Nhà nước cần bảo đảm thu đủ nguồn tài chính bằng các công cụ hợp pháp và sau đó sử dụng nguồn thu này một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong các hoạt động nhằm đảm bảo xã hội phát triển ổn định và bền vững, đây là mục tiêu và nhiệm vụ của quản lý NSNN Ở Việt Nam, nhờ các quá trình đổi mới và chương trình cải cách hành chính, quản lý NSNN đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đóng góp vào quá trình đổi mới đất nước; từ khi Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 có hiệu lực (được sửa đổi bổ sung năm 2017), các bộ, ngành và địa phương có nhiều thuận lợi trong quản lý và điều hành NSNN, tăng cường tiềm lực tài chính và quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng NSNN lành mạnh, thúc đẩy vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm, hiệu quả, đồng thời tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại Ở cấp địa phương, thị xã Phú Thọ—một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch của tỉnh Phú Thọ—từ khi Luật NSNN ra đời và có hiệu lực đã làm cho cơ chế quản lý nguồn NSNN của thị xã dần được hoàn thiện, tạo nên những bước ngoặt trong quản lý thu chi ngân sách của các đơn vị thụ hưởng ngân sách các cấp.
Quản lý nguồn NSNN còn tồn tại nhiều bất cập như công tác thu ngân sách; phân bổ dự toán và chi đầu tư phát triển từ nguồn NSNN chưa hiệu quả, phân bổ kế hoạch vốn đầu tư còn dàn trải, manh mún, gây thất thoát lãng phí vốn Những hạn chế này đặt ra nhiều thách thức đối với lãnh đạo địa phương: làm thế nào để tăng cường quản lý NSNN và đổi mới quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn Thị xã nhằm tăng thu ngân sách và sử dụng ngân sách nhà nước hiệu quả Để giải quyết vấn đề này, việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý NSNN là rất cần thiết, trong khi hiện chưa có đề tài nghiên cứu của cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan đơn vị của Thị xã về vấn đề này, đã tạo ra một khoảng trống trong công tác nghiên cứu ứng dụng phục vụ hoạt động quản lý của địa phương Với lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu về quản lý NSNN tại Thị xã.
"Quản lý ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” để làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài phân tích tập trung vào đánh giá thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nhằm nhận diện những hạn chế và cơ hội cải thiện Qua phân tích dữ liệu về nguồn thu, chi và quản lý chi tiêu, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước Từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp và khả thi như tăng cường quản lý chi ngân sách, công khai thông tin ngân sách, cải cách quy trình cấp phát vốn, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường kiểm soát chi Những giải pháp này góp phần hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại thị xã Phú Thọ và tỉnh Phú Thọ, đồng thời tăng cường sự minh bạch, hiệu quả và bền vững tài chính địa phương.
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý NSNN
Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý NSNN tại thị xã Phú Thọ giai đoạn 2015-2017 tập trung vào bốn hoạt động chính: lập dự toán ngân sách nhà nước, chấp hành ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước và giám sát, kiểm tra ngân sách nhà nước Kết quả cho thấy công tác lập dự toán còn gặp thách thức về tính phù hợp với nguồn lực thực tế và dự báo thu, trong khi việc chấp hành ngân sách tương đối ổn định nhưng vẫn xảy ra chênh lệch giữa dự toán và chi thực tế ở một số lĩnh vực Quá trình quyết toán ngân sách được cải thiện về tính minh bạch và công khai thông tin, tuy nhiên vẫn cần tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật chi tiêu để phòng ngừa sai phạm Hoạt động giám sát, kiểm tra NSNN tại thị xã Phú Thọ cần tăng cường phối hợp giữa các cấp, áp dụng công cụ quản lý ngân sách hiện đại và khắc phục tình trạng thất thoát ngân sách Từ phân tích trên, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN ở thị xã Phú Thọ giai đoạn tới, đảm bảo tính bền vững và tăng cường trách nhiệm giải trình.
- Để xuất được các giải pháp hợp lý và khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại thị xã Phú Thọ trong thời gian tới.
Những đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý NSNN (ngân sách nhà nước), tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và chức năng của NSNN; phân tích nội dung và nguyên tắc quản lý NSNN và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này Ở phương diện thực tiễn, bài viết nêu ra cách thức lập, phân bổ và chi tiêu NSNN, cùng với cơ chế kiểm soát và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công Các phân tích này hướng tới cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách, tăng tính minh bạch và ổn định kinh tế, đồng thời chỉ ra những thách thức và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý NSNN.
Luận văn phân tích thực trạng quản lý NSNN tại thị xã Phú Thọ, làm rõ các ưu điểm và nhược điểm của công tác quản lý ngân sách nhà nước, chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu của thực trạng và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN ở địa phương.
Bài luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản, mang tính chủ đạo và khả thi nhằm hoàn thiện quản lý NSNN tại thị xã Phú Thọ, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Các giải pháp tập trung vào nâng cao hiệu quả quản trị chi ngân sách, cải cách hệ thống thu và tăng cường công khai, minh bạch ngân sách, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý NSNN Bên cạnh đó, luận văn chú trọng tăng cường giám sát ngân sách, cải thiện quy trình lập dự toán và phân bổ ngân sách theo nguyên tắc phân cấp, bảo đảm chi tiêu đúng mục tiêu và hiệu quả Những đề xuất này được thiết kế để đáp ứng đặc thù của thị xã Phú Thọ và bảo đảm tính khả thi, hiệu quả trong thực tiễn quản lý NSNN tại địa phương.
Luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản lý NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho các địa phương có điều kiện tương đồng với thị xã Phú Thọ Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn và các khuyến nghị có thể áp dụng vào quản lý NSNN ở cấp địa phương, từ đó nâng cao hiệu quả chi ngân sách và tăng cường liên kết với các chương trình phát triển địa phương Bên cạnh đó, nội dung của đề tài sẽ trở thành tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu liên quan đến chủ đề quản lý NSNN, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu trong quá trình phân tích, so sánh và phát triển chính sách.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và các phụ lục, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách nhà nước
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
- Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân sách nhà nước a Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, đồng thời là một thành phần cốt lõi của hệ thống tài chính quốc gia Thuật ngữ này dùng để chỉ kế hoạch thu và chi của nhà nước trong một kỳ nhất định nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ công, duy trì ổn định tài chính và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế Ngân sách bao gồm nguồn thu (thuế, phí, và vay nợ) và chi tiêu (chi tiêu hiện tại và chi tiêu vốn), thể hiện mức thâm hụt hoặc dư ngân sách và quá trình cân đối ngân sách qua các giai đoạn đề xuất, phê duyệt, thực hiện và kiểm tra Quản lý ngân sách có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, phân bổ nguồn lực, mức sống và sự ổn định vĩ mô; vì vậy tính minh bạch, hiệu quả chi tiêu và trách nhiệm giải trình là những yếu tố quan trọng Trong khuôn khổ chính sách công, ngân sách nhà nước phản ánh ưu tiên phát triển, điều chỉnh chính sách và thúc đẩy đầu tư, đồng thời là công cụ để thực thi các chương trình xã hội và phát triển cơ sở hạ tầng.
Ngân sách nhà nước được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, nhưng quan niệm về ngân sách nhà nước vẫn chưa thống nhất và có nhiều định nghĩa tùy theo trường phái và lĩnh vực nghiên cứu Theo các nhà kinh tế Nga, ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của một quốc gia Ở Việt Nam, Luật NSNN quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Khoản 14 Điều 4 luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015).
Qua các quan niệm và quy định nêu trên, ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định Trong đề tài này, tác giả dựa trên các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản pháp luật liên quan để phân tích vai trò của ngân sách trong quản lý nguồn lực công, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững của nền kinh tế.
NSNN làm khái niệm công cụ khi nghiên cứu về chủ đề quản lý NSNN
NSĐP là tên gọi chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính; ngân sách xã, phường và thị trấn vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành ngân sách cấp huyện/quận, trong khi ngân sách huyện/quận vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Vì vậy, ngân sách nhà nước cấp huyện thể hiện vai trò, chức năng và nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện, đồng thời phản ánh mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước cấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Mối quan hệ này được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước XHCN, tức Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc điểm của ngân sách nhà nước gồm sự gắn kết giữa phân cấp ngân sách, vai trò của các cấp chính quyền và mục tiêu đáp ứng nhu cầu chi tiêu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước ở từng cấp.
Về hình thức thể hiện bên ngoài, NSNN được trình bày như một bảng liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền của Nhà nước, được dự kiến và cho phép thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm phản ánh quy mô, cấu trúc và phạm vi quản lý ngân sách nhà nước.
- Về cơ cấu: NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu, khoản chi của
- Về mặt pháp lý: NSNN phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định
Ở hầu hết các nước, quyền quyết định ngân sách Nhà nước thuộc về cơ quan đại diện là Nghị viện Tại Việt Nam, Quốc hội có thẩm quyền thông qua và phê chuẩn ngân sách, thảo luận và quyết định tổng mức, cơ cấu và phân bổ ngân sách trung ương Mọi hoạt động thu chi ngân sách đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước ban hành.
Về thời gian thực hiện ngân sách nhà nước, theo quy định hiện hành, NSNN được dự toán và thực hiện trong một năm Năm này được gọi là năm ngân sách hoặc năm tài khóa, là khung thời gian để dự toán và triển khai các hoạt động chi tiêu của ngân sách nhà nước trong cùng một chu kỳ.
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước
Về bản chất, ngân sách Nhà nước thể hiện các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân trong và ngoài nước, gắn với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Ngân sách Nhà nước vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, do đó nó có những đặc điểm chính liên quan đến cơ chế thu chi, phân bổ nguồn lực và mối liên hệ giữa mục tiêu kinh tế - xã hội với ngân sách.
Việc hình thành và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được thực hiện trên cơ sở các luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, vì trong NSNN, các chủ thể được thiết lập dựa trên hệ thống văn bản pháp luật liên quan như Hiến pháp và các luật thuế; mặt khác, NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hàng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc đối với các chủ thể kinh tế - xã hội liên quan phải tuân thủ.
NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và chứa đựng lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định các khoản thu và chi của NSNN, và hoạt động thu chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội Khi tham gia phân phối nguồn tài chính quốc gia, Nhà nước điều phối nguồn lực giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội và các tầng lớp dân cư, đảm bảo công bằng và hiệu quả trong phân bổ ngân sách.
NSNN (Ngân sách Nhà nước) là một bản dự toán thu chi do các cơ quan, đơn vị lập, nhằm đề ra các thông số quan trọng liên quan đến chính sách mà Chính phủ sẽ thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Việc thu, chi của NSNN là cơ sở để thực thi các chính sách của Chính phủ; những chính sách chưa được dự kiến trong NSNN sẽ không được thực hiện.
Việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện sự đồng thuận của Quốc hội đối với chính sách của Nhà nước Điều này cho thấy Quốc hội đã nhất trí với định hướng và ưu tiên ngân sách được đưa ra để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Việc phê duyệt ngân sách nhà nước không chỉ là một văn bản tài chính mà còn là bằng chứng cho sự đoàn kết giữa các cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc thực thi chính sách nhà nước.
Quốc hội không thông qua ngân sách nhà nước (NSNN) là thước đo quan trọng cho tính khả thi của các chính sách và kế hoạch của Chính phủ Nếu NSNN bị Quốc hội từ chối thông qua, điều đó cho thấy sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất và trình bày các chính sách liên quan, đồng thời có thể dẫn tới mâu thuẫn chính trị và ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình quản trị ngân sách nhà nước.
NSNN là bộ phận chủ chốt của hệ thống tài chính quốc gia, gồm các thành phần tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính của hộ gia đình Trong đó, tài chính nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tác động đến hoạt động và sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác, chủ yếu thông qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Dựa trên nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để cấp phát kinh phí và tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời phong kiến, ngân sách sơ khai và tùy tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến; hoạt động thu chi mang tính cống nạp, ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu Quyền quyết định các khoản thu chi của ngân sách chủ yếu thuộc về người đứng đầu nước (nhà vua) Trong thời đại ngày nay (nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), NSNN được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, và quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, nội dung thu chi được quy định và được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân.
1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện a Vai trò của ngân sách nhà nước
Quản lý ngân sách nhà nước
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa của quản lý ngân sách nhà nước a Khái niệm quản lý ngân sách nhà nước
Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể tác động lên đối tượng nhằm tổ chức và điều hòa cá nhân, tập thể để chúng ăn khớp với mục tiêu chung của tổ chức trong các giai đoạn định hướng Trong hệ thống xã hội có nhiều loại quản lý, nhưng quản lý nhà nước đóng vai trò đặc biệt, chi phối và ảnh hưởng đến mọi loại quản lý khác.
Quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức và điều hành toàn diện của bộ máy nhà nước, là sự tác động và tổ chức quyền lực nhà nước trên ba phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và hướng tới phát triển bền vững của xã hội.
Quản lý nhà nước, ở nghĩa hẹp, là quá trình tổ chức và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nhằm điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động mang tính chấp hành, điều hành và tính chất hành chính nhằm xây dựng cơ cấu tổ chức và củng cố chế độ công tác nội bộ, như ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị thuộc bộ máy, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ, v.v.
Quản lý nhà nước là hệ thống hoạt động quản trị đa nội dung, trong đó quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) là một thành phần trọng yếu được phân cấp theo các cấp đơn vị hành chính từ trung ương xuống địa phương Việc phân cấp quản lý NSNN giúp phân bổ và sử dụng ngân sách hiệu quả, đảm bảo tính minh bạch và phù hợp với đặc thù của từng cấp địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình và hiệu lực của hệ thống quản lý nhà nước.
Trong phân cấp hành chính, cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý NSNN trong phạm vi quyền hạn và các nội dung luật định Đây là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh từ quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền nhà nước cấp huyện; đồng thời cũng quản lý các khoản thu, chi được giao dự toán bởi UBND cấp tỉnh và được thực hiện trong một năm tài chính nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do cấp trên giao và do thị xã đề ra.
Quản lý ngân sách nhà nước là quá trình điều phối và giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền về quản lý và điều hành ngân sách nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong sử dụng nguồn lực công Để hệ thống quản lý ngân sách mang lại kết quả tốt, cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được nêu ra, nhằm tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp.
Một là, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước
Quản lý kinh tế và xã hội là tiền đề và điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; quán triệt nguyên tắc này tạo nền tảng cho việc xác định nguồn thu và nhiệm vụ chi của từng cấp, từ đó giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền Thực chất của nguyên tắc này là cân đối giữa nhiệm vụ được giao và quyền lợi tương ứng, đảm bảo quyền lợi phải tương xứng với nhiệm vụ được giao; đồng thời nguyên tắc này còn duy trì tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở nước ta.
Hai là, ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nước trung ương trong quản lý kinh tế, xã hội của cả nước mà Hiến pháp đã quy định và từ tính chất xã hội hoá của nguồn tài chính quốc gia Nguyên tắc này được thể hiện qua cơ chế phân bổ ngân sách ở cấp trung ương và sự điều phối nguồn lực nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong quản lý tài chính công cho cả nước.
- Mọi chính sách, chế độ quản lý ngân sách nhà nước được ban hành thống nhất và dựa chủ yếu trên cơ sở quản lý ngân sách trung ương
Ngân sách trung ương đóng vai trò then chốt trong việc chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn của nền kinh tế và xã hội Các nguồn thu có tỉ trọng lớn được tập trung vào ngân sách trung ương, trong khi các chi tiêu có tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng do ngân sách trung ương đảm nhiệm Đồng thời, ngân sách trung ương kiểm soát toàn diện hoạt động của ngân sách địa phương, bảo đảm công bằng giữa các địa phương và sự cân đối trong phân bổ nguồn lực phát triển.
Phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được cố định từ 3 đến 5 năm; hàng năm chỉ xem xét điều chỉnh số bổ sung một phần khi có trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào ngân sách địa phương được thu do ngân sách địa phương thu, khoản nào ngân sách địa phương phải chi do ngân sách địa phương chi Không để tồn tại tình trạng nhập nhằng dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại hoặc lạm thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Có như vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phương trong bố trí kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội Đồng thời là điều kiện để xác định rõ trách nhiệm của địa phương và trung ương trong quản lý ngân sách nhà nước, tránh co kéo trong xây dựng kế hoạch như trước đây b Mục tiêu của quản lý ngân sách nhà nước
Mục tiêu của quản lý ngân sách nhà nước là quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước; củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tiền của nhà nước; tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo vệ môi trường c Phương pháp quản lý ngân sách nhà nước được triển khai thông qua cơ chế phân bổ ngân sách có sự giám sát chặt chẽ, kiểm tra, minh bạch thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin để tăng hiệu quả, giảm lãng phí và bảo toàn vốn nhà nước.
Trong quản lý ngân sách nhà nước, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau nhằm tối ưu hóa nguồn lực, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả chi tiêu Các phương pháp phổ biến bao gồm lập kế hoạch ngân sách, phân tích và dự toán, phân bổ ngân sách theo mục tiêu, giám sát chi tiêu và đánh giá kết quả, cũng như kiểm soát chi phí và quản lý rủi ro tài chính Để thực thi hiệu quả, các công cụ hỗ trợ như hệ thống thông tin quản lý tài chính công, quy trình thẩm định và phê duyệt dự án, bảng cân đối chi phí, báo cáo chi tiêu và bảng điều khiển KPI được áp dụng đồng bộ cùng với kiểm toán nội bộ, quản trị rủi ro và cơ chế báo cáo, giúp theo dõi tiến độ và nâng cao chất lượng quyết định ngân sách.
Phương pháp tổ chức là công cụ quản lý dùng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý bằng cách bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của ngân sách nhà nước theo các khuôn mẫu đã định, từ đó thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với từng mặt hoạt động đó Việc áp dụng phương pháp tổ chức giúp tăng cường sự phối hợp, bảo đảm tính nhất quán và hiệu quả trong quản lý ngân sách nhà nước, đồng thời tối ưu hóa cơ cấu tổ chức và phân công nhiệm vụ để đạt được mục tiêu quản lý ngân sách.
- Phương pháp hành chính: Được sử dụng khi các chủ thể quản lý ngân sách nhà nước muốn những đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính
- Phương pháp kinh tế: Được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh tế để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý ngân sách nhà nước
Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện, thị
1.3.1 Yếu tố về thể chế tài chính
Thể chế tài chính quy định phạm vi và đối tượng thu, chi của các cấp chính quyền; quy định phân cấp nhiệm vụ chi và quản lý chi giữa các cấp; hướng dẫn quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; xác định chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý thu, chi ngân sách và sử dụng quỹ ngân sách; đồng thời ban hành nguyên tắc, chế độ và định mức chi tiêu Những văn bản này mang tính quy phạm pháp luật và là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý thu, chi ngân sách của Nhà nước, chi phối toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong quá trình triển khai ngân sách.
Thực tế cho thấy thể chế tài chính đóng vai trò rất lớn đối với hiệu quả quản lý thu chi ngân sách trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy, việc ban hành các thể chế tài chính phù hợp và đúng đắn là điều kiện then chốt giúp công tác quản lý ngân sách đạt hiệu quả cao Khi thể chế tài chính được thiết kế và thực thi phù hợp, nguồn lực ngân sách được huy động, phân bổ và giám sát chặt chẽ hơn, tăng tính minh bạch và trách nhiệm Do đó, cải cách thể chế tài chính ở cấp địa phương là yếu tố nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý thu chi ngân sách trên toàn lãnh thổ.
1.3.2 Yếu tố về bộ máy và cán bộ
Trong quản lý thu chi ngân sách, cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý đóng vai trò cốt lõi, liên kết quy mô nhân sự với các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới và giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện chức năng Sự rõ ràng và cụ thể của các mối quan hệ ngang và dọc được thể hiện qua quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cấp và giữa các bộ phận, cũng như giữa bộ máy quản lý thu chi ngân sách và từng cán bộ Quy định chức năng nhiệm vụ của bộ máy và cán bộ quản lý thu chi ngân sách theo trách nhiệm và quyền hạn giữa bộ phận này với bộ phận khác và giữa cấp trên với cấp dưới chính là cơ sở để phân công, phân cấp quản lý, bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả trong quá trình thực hiện chức năng.
Việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền cấp huyện là nền tảng để quản lý thu, chi ngân sách một cách hiệu quả Nếu cơ cấu tổ chức và chức năng chưa được xác định rõ ràng, dễ phát sinh thiếu trách nhiệm hoặc lạm quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý thu, chi ngân sách Bộ máy và cán bộ có năng lực trình độ thấp sẽ làm giảm hiệu quả quản lý thu chi ngân sách Vì vậy, tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ là nhân tố then chốt trong quá trình quản lý thu, chi ngân sách.
1.3.3 Yếu tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập
Quản lý thu chi ngân sách chịu sự tác động của trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn Khi trình độ kinh tế được cải thiện và thu nhập bình quân tăng lên, việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng ngân sách hiệu quả sẽ thuận lợi hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu về các chính sách, chế độ và định mức kinh tế phù hợp nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững và quản lý ngân sách một cách minh bạch và hiệu quả.
Chi tiêu ngân sách nhà nước phải điều chỉnh phù hợp với sự phát triển kinh tế và với mức thu nhập, mức sống của người dân Vì lẽ này, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, yếu tố này luôn được quan tâm sâu sắc trong quá trình quản lý và hoạch định ngân sách NSNN, nhằm bảo đảm cân đối, hiệu quả và bền vững cho nền kinh tế đồng thời cải thiện đời sống và thu nhập của người dân.
Thực tế cho thấy khi trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân trên địa bàn còn thấp, cùng với nhận thức chi tiêu chưa đúng mức và tư tưởng ỷ lại Nhà nước, quản lý chi NSNN sẽ bị ảnh hưởng Ngược lại, khi thu ngân sách được thực hiện tốt và đời sống người dân ngày càng nâng cao, nghĩa vụ đối với Nhà nước sẽ dễ thực hiện hơn; còn nếu trình độ và mức sống còn thấp thì công tác thuế sẽ gặp nhiều khó khăn.
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất và khả năng tích lũy của nền kinh tế
- Thu nhập GDP bình quân đầu người: Đây là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN
Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế Khi tỷ suất này càng cao, nguồn tài chính dành cho phát triển và chi phí công càng lớn, khiến thu NSNN phụ thuộc vào khả năng trang trải các khoản chi phí của Nhà nước Do đó, mức độ hiệu quả của đầu tư và quản lý chi phí công có tác động trực tiếp đến quy mô và bền vững của ngân sách nhà nước.
- Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên: Đây là yếu tố làm tăng thu nguồn NSNN, ảnh hưởng đến việc nâng cao tỉ suất thu NSNN
- Mô hình tổ chức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ
- Môi trường kinh tế - xã hội
1.4 Thực tiễn quản lý ngân sách nhà nước của một số địa phương cấp huyện ở Việt Nam
1.4.1 Thực tiễn quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Với Luật NSNN được sửa đổi nhằm đẩy mạnh phân cấp, tăng nguồn lực cho địa phương và đơn vị cơ sở khai thác nội lực nâng cao hiệu quả tiết kiệm và giảm bớt thủ tục hành chính, thành phố Bắc Ninh đã tổ chức thực hiện khá tốt, đáp ứng các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Năm 2017 thu ngân sách thực tế đạt 1.956,3 tỷ đồng, tăng 83% so với dự toán và 60% so với cùng kỳ Các khoản thu từ khu vực CTN-NQD đều tăng so với dự toán tỉnh giao Tuy vậy, vẫn còn một số vấn đề đáng chú ý trong quản lý NSNN của thành phố Bắc Ninh.
Trong điều hành chi ngân sách, cấp ủy, chính quyền các cấp ở thành phố Bắc Ninh đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ, và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát từ đầu năm, giúp chi tiêu bám sát dự toán và bảo đảm cân đối tích cực Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội được bảo đảm tiến độ thực hiện dự án, chi tiêu tiết kiệm, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của thị xã và cơ sở Ngoài ra, thành phố Bắc Ninh còn đáp ứng kinh phí phục vụ các khoản chi đột xuất của địa phương, tạo điều kiện cho các cấp, ngành hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Bạn là nhà sáng tạo nội dung? [Ủng hộ chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để nhận giải pháp AI giúp tối ưu SEO cho bài viết về chi ngân sách Bắc Ninh!
Công tác quản lý tài chính ngân sách tại thành phố Bắc Ninh được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đảm bảo nguồn lực được quản lý chặt chẽ và minh bạch Kho bạc thành phố phối hợp với các ngành thuộc khối tài chính để quản lý thu, chi và điều hành ngân sách trên địa bàn một cách hiệu quả Phòng Tài chính-Kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, triển khai chương trình tin học kế toán ngân sách nhằm số hóa hạch toán quản lý thu, chi và đáp ứng kịp thời nhu cầu quản lý ngân sách của địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Thành phố Bắc Ninh căn cứ vào một số nguồn thu tăng để bổ sung nhiệm vụ chi cho vốn đầu tư Xây dựng cơ bản (XDCB) và chi thường xuyên Các cấp chính quyền, ngành thuế và các cơ quan chức năng làm rõ nguyên nhân thất thu ở từng chỉ tiêu thu, từng lĩnh vực và địa bàn Tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất được triển khai nhằm tạo vốn từ quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, đồng thời thực hiện nghiêm các quy định để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh Tiếp tục củng cố công tác quản lý tài chính và bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý điều hành của hệ thống chính quyền cấp xã (UBND thành phố Bắc Ninh, 2017).
1.4.2 Thực tiễn quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí là nguyên tắc căn bản trong quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước trên toàn cầu Tại thành phố Tuyên Quang, Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 có hiệu lực và được cụ thể hóa ở địa phương để bảo đảm công khai, minh bạch và đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật Việc lập dự toán kinh phí hàng năm được xác định là khâu quan trọng; các đơn vị phải căn cứ vào hệ thống định mức chi tiêu do Luật quy định và các khoản trợ cấp, thủ trưởng các cơ quan sử dụng NSNN có trách nhiệm giải trình để làm rõ từng nội dung và chịu trách nhiệm cá nhân trong khâu tổ chức thực hiện dự toán nhằm bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.
Việc giám sát thực hiện được chú trọng đến công tác giải ngân nhằm đảm bảo đúng kế hoạch và hàng năm có đánh giá kết quả của chương trình, dự án so với mục tiêu đã đề ra Trường hợp giải ngân chậm hoặc kết quả không đạt mục tiêu, thành phố sẽ thực hiện cắt giảm kinh phí, thậm chí dừng thực hiện chương trình, dự án kém hiệu quả Theo kinh nghiệm của thành phố Tuyên Quang, nếu kiểm soát tốt việc thực hiện các chương trình, dự án như trên, ngoài ý nghĩa tiết kiệm còn chống được tình trạng lãng phí kinh phí NSNN Trong tổ chức thực hiện, việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời có chế tài xử lý triệt để các hành vi vi phạm trong quy trình lập, phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN là giải pháp quan trọng để thành phố Tuyên Quang thực hiện việc tiết kiệm, hiệu quả và chống lãng phí nguồn kinh phí NSNN.
Phòng Tài chính phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định tại Luật ngân sách Nhà nước và Các khoản trợ cấp; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cụ thể hóa các định mức, tiêu chuẩn, chế độ để thực hiện tại cơ quan, đơn vị mình Trường hợp chi đúng hoặc dưới định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng vẫn đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ được xem là tiết kiệm; trường hợp chi vượt hoặc chi đúng hoặc dưới định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng không đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ được xem là lãng phí Đây chính là căn cứ để các cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và giám sát việc thực hiện chi tiêu ngân sách.