BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 0BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÀ NỘI 2019 BỘ GIÁO D.
Trang 10BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC…………
……….
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ………
……….
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi; Các kết quảtrong luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nàokhác Các số liệu, ví dụ, bảng kê, và trích dẫn trong luận án bảo đảm tính chínhxác và trung thực, không gian dối hay bịa đặt Tôi đã hoàn thành tất các môn học
và hoàn thành tất cá các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học
NGƯỜI CAM ĐOAN
………
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhậnđược sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo,các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Ban lãnh đạo, các Giáo
sư, Tiến sĩ, giảng viên của Trường Đại học …………
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trường, các anh, chị, đồng nghiệptrong lĩnh vực bảo hiểm thương mại đã cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho
ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoànthành luận án
Đặc biệt, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS.
……… Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức,
phương pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thànhluận án này
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, song luận
án không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được những lời chỉdẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
………
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH 8
MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 12
2.1 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước liên quan đến chính sách phát triển bảo hiểm thương mại 12
2.2 Một số công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 16
3 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 19
3.1 Cơ sở lý thuyết 19
3.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 30
3.3 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu 31
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
4.1 Đối tượng nghiên cứu 31
4.2 Phạm vi nghiên cứu 32
5 Kết cấu của Luận án 32
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 33
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 33
1.1 Một số công trình nghiên cứu trong nướ 33
1.2 Các công trình nước ngoài 36
1.3 Những kết quả đạt được, những quan điểm đang tranh luận và các khoảng trống lý luận và thực tiễn dự kiến sẽ phát triển trong luận án 37
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 38
2.1 Chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 38
2.1.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại 38
2.1.2 Khái niệm về Phát triển bảo hiểm thương mại 40
2.1.3 Khái niệm Chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại 41
2.2 Nội dung và Vai trò của chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 41
Trang 62.2.1 Nội dung 41 2.2.2 Vai trò 45
2.3 Các nhân tố tác động lên Chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 52
2.3.1 Các nhân tố bên trong 52 2.3.2 Các nhân tố bên ngoài 53
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA THÁI LAN, SINGAPORE 55 3.1 Thực trạng chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Thái Lan 55
3.1.1 Thực trạng chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Thái Lan 55 3.1.2 Đánh giá các chính sách phát triển bảo hiểm thương mại của Thái Lan 64
3.2 Thực trạng chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Singapore 66
3.2.1 Thực trạng chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Singapore 66 3.2.2 Đánh giá các chính sách phát triển bảo hiểm thương mại của Singapore 72
Danh mục tài liệu tham khảo 81
Trang 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHTNDS Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
BHPNT Bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 : Hoạt động của ngành bảo hiểm nói chung ở Singapore
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Phí bảo hiểm phi nhân thọ và tăng trưởng phí bảo hiểm phi nhân
thọ qua các năm của Thái Lan
Hình 2: Tỷ lệ phí bảo hiểm qua các năm của Thái Lan
Trang 11MỞ ĐẦU
Tính đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 61 doanh nghiệp (DN)kinh doanh bảo hiểm Trong đó, có 29 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhânthọ, 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài; 17 DNBH nhân thọ, 02 DN táibảo hiểm và 12 DN môi giới bảo hiểm
Tổng giá trị được bảo hiểm là 11,7 triệu tỷ đồng, trong đó tổng giá trị kinh
tế tài sản được bảo hiểm của khu vực DN thuộc mọi thành phần kinh tế lên tớihơn 10 triệu tỷ đồng, tổng giá trị được bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
là 1 triệu tỷ đồng; trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, sức khỏe là 700.000 tỷ đồng Thịtrường bảo hiểm đã hoàn thành các chỉ tiêu phát triển đặt ra tại Các kết quả nhưtrên đạt được là nhờ việc triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp hoàn thiện môitrường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảohiểm Bên cạnh đó các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đã tích cực tái cơ cấu,nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như năng lực quản trị doanh nghiệp
Tuy nhiên trong thời gian qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam phải đối mặtvới nhiều khó khăn, thách thức, song thị trường vẫn đạt mức tăng trưởng khảquan Tốc độ tăng trưởng của ngành Bảo hiểm thương mại trong những năm gầnđây luôn đạt mức trên 20% Để đảm bảo thị trường bảo hiểm phát triển bền vữngtrong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đảm bảo quyền lợi của DNBHtrong nước cũng như quyền lợi của bên mua bảo hiểm, các cơ quan hữu quan cần
có những chính sách phù hợp nhằm phát triển ngành bảo hiểm thương mại Trongchuyên đề này tác giả trình bày tổng quan về những nghiên cứu trước có liênquan đến các chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại tại một số quốcgia
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển và hội nhập muộn, quy mô và nănglực cạnh tranh còn nhiều hạn chế Thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam ra
Trang 12đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm trên thế Tuy nhiên,ngành bảo hiểm Việt Nam luôn được tạo điều kiện phát triển và có những bướcphát triển vượt bậc cho tới nay Bảo hiểm thương mại Việt Nam tính đến năm
2015 đã có 62 doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động với tốc độ tăng trưởng đạt con
số cao 25,57% (cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây) Qua đó đã đóng gópkhông nhỏ vào kinh tế đất nước khi tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảohiểm tăng xấp xỷ 27% và số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm tăng trên 24%
so vớ năm 2014, tạo ra số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động
Bảo hiểm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển củanền kinh tế - xã hội Mọi quốc gia trên thế giới luôn đưa ra những giải pháp chínhsách nhằm thúc đẩy, khuyến khích hoạt động bảo hiểm phát triển, tăng số lượngcác loại bảo hiểm bắt buộc, miễm giảm thuế thu nhập đối với người kinh doanhbảo hiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà bảo hiểm đầu tư… Trong những nămqua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã thực hiện thành công nhiều giải pháp chỉđạo, định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước Trong chiến lược phát triển thịtrường bảo hiểm giai đoạn 2011-2020, Việt Nam sẽ phát triển thị trường bảohiểm phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế - xã hội và tài chính quốc giatrong từng thời kỳ; bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thànhviên Tăng cường tính an toàn, bền vững và hiệu quả của thị trường và khả năngđáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân; góp phần ổn địnhnền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội Tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế
về kinh doanh bảo hiểm và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với cácquốc gia trong khu vực
Tuy nhiên, thực tế là thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam hiện nayvẫn còn có những hạn chế và khó khăn nhất định do nhiều nguyên nhân khácnhau Trước hết việc thực thi các chính sách bồi thường còn chưa được tốt, cònnhiều vướng mắc thủ tục hành chính, tính minh bạch chưa cao Thứ hai, sảnphẩm bảo hiểm ở một số lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp, thiên tai, rủi ro tíndụng và tài chính chưa có những chính sách bảo hiểm hợp lý Những năm gầnđây, bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng tạo điều kiện cho tự do thương
Trang 13mại hóa khiến ngày càng có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đi vào thịtrường Việt Nam Trong quá trình hội nhập (ASEAN, APEC, WTO, FTA thê hệmới) vấn đề về chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại nước ta trở nên
vô cùng quan trọng khi mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
Trước thực trạng đó, vấn đề đang đặt ra hiện nay cho Việt Nam là tìm racác giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại ViệtNam Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài này thực sự cần thiết trong chuyên ngànhkinh tế quốc tế mà tôi đang công tác, đặc biệt là việc truyền đạt những kiến thức
đã thu được trong quá trình nghiên cứu, cũng như cung cấp những tin tức thiếtthực về tình hình đất nước cho sinh viên Bên cạnh đó, bảo hiểm là một ngànhkinh tế mới, đang trong quá trình định hình, lại đóng vai trò quan trọng đối vớinền kinh tế quốc dân, do vậy, chúng ta cũng cần thận trọng nghiên cứu quá trìnhphát triển của ngành bảo hiểm thương mại ở một số quốc gia ASEAN có nền bảohiểm phát triển để từ đó có những áp dụng thích hợp vào điều kiện cụ thể ở Việt
Nam Với những ý nghĩa cấp thiết đó, tác giả chọn đề tài “Chính sách phát triển
ngành bảo hiểm thương mại ở một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ kinh tế.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
2.1 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước liên quan đến chính sách phát triển bảo hiểm thương mại
Ở Việt Nam, có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về chính sách pháttriển thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như sau:
Trong nghiên cứu “Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm của các nước và những bài học đối với Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Hà (Tạp chí Khoa học Công
nghệ Hàng hải, 2009) Tác giả dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia phát triển
cụ thể là ở một số nước Châu Âu và Trung Quốc để đúc rút ra những bài học quýbáu có thể áp dụng vào ngành bảo hiểm nước ta Ngoài những bài học quý báu,bài báo còn chỉ ra những rào cản trong quá trình phát triển của ngành bảo hiểm
Trang 14Hoàng Trần Hậu và Hoàng Mạnh Cừ (2011) với đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam” Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thị
trường bảo hiểm; công tác quản lý, giám sát Nhà nước đối với thị trường bảohiểm Bên cạnh đó nghiên cứu phân tích thực tế hoạt động quản lý, giám sát củaNhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay Thông qua đó đềxuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản lý,giám sát Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam
Trịnh Thị Xuân Dung (2012) với luận án tiến sĩ “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở ViệtNam, luận án nhận định bốn điểm tồn tại, hạn chế cơ bản của thị trường và sáunguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại này Nhiều nghiên cứu công bố chorằng một trong những nguyên nhân dẫn tới việc kinh doanh bảo hiểm của cácdoanh nghiệp thua lỗ là do tỷ lệ bồi thường cao Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực
tế và so sánh với các nước (như Thái Lan, Malaysia), luận án chỉ ra rằng tìnhtrạng kinh doanh thua lỗ của các doanh nghiệp là nằm ở chi phí quản lý cao Việcxác định chính xác nguyên nhân này là hết sức quan trọng để các doanh nghiệp
có giải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả kinh doanh
Nguyễn Tiến Hùng (2015) với bài nghiên cứu “Nhận diện những bất cập
và giải pháp cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn hội nhập mới ”,
Tạp chí Nghiên Cứu & Trao Đổi Nghiên cứu đã khẳng định tác động của quátrình hội nhập lên thị trường Việt Nam Một mặt, hội nhập thúc đẩy tự do thươngmại hóa và tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư và làm tăng nhucầu bảo hiểm, hỗ trợ phát triển thị trường Mặt khác, thị trường bảo hiểm ViệtNam còn khá non trẻ nên khung pháp lý còn chưa hoàn thiện, nguồn nhân lựcthiếu kỹ năng và có năng suất lao động chưa cao, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp bảo hiểm Việt Nam còn yếu do thiếu chính sách kinh doanh, chưa tậndụng hết nguồn năng lực…gây trở ngại cho việc cạnh tranh với các doanh nghiệpbảo hiểm nước ngoài Từ đó, tác giả đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển thị
Trang 15trường bảo hiểm Việt Nam Qua đó tác giả đề xuất một số giải pháp cho thịtrường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn hội nhập mới bao gồm: (1) Kiện toànmôi trường pháp lý; (2) Chuẩn bị nguồn nhân lực cho hội nhập; (3) Nâng caonăng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp bảo hiểm VN.
Bài nghiên cứu của tập thể mang tên “Kinh nghiệm phát triển của Singapore và bài học cho Việt Nam” đã đưa ra một số bài học cho thị trường Việt
Nam để có thể vươn lên như Singapore – một nước có nhiều đặc điểm tươngđồng về điều kiện, bối cảnh lịch sự và vị trí địa lý Tại Singapore, quốc đảo này
có một số đặc điểm như dịch vụ là một trong những ngành đóng góp lớn vàoGDP; chính sách thương mại luôn được đưa ra nhằm tạo điều kiện cho mở rộngthị trường và giảm các rào cản về thương mại, đảm bảo hoạt động của quốc giatuân theo quy định do tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization –WTO) yêu cầu, phát triển dất nước trở thành trung tâm tài chính của Châu Á.Qua đó, tác giả gợi ý Việt Nam cần học tập Singapore tăng tính minh bạch, giảmtham nhũng và lãng phí trên mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, tập trungvào khu vực kinh tế tư nhân thay vì dồn vào khu vực nhà nước, mở rộng thịtrường, xúc tiến thương mại…
Trần Vũ Hải (2014) với luận án tiến sĩ “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường Đại Học Luật
Hà Nội Nghiên cứu này đã đánh giá nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT,bao gồm những ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành Việc đánh giáđược thực hiện chi tiết theo cấu trúc của từng bộ phận pháp luật nhằm phát hiệnnhững bất cập, hạn chế cơ bản của các quy định pháp luật hiện hành Xây dựngcác giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về kinh doanh BHNT nhằm thúcđẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm đáp ứng quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế
Hồ Công Trung (2015) với đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Phát triển hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam”, Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.
Luận án đánh giá thực trạng hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam, đặcbiệt tác giả làm rõ hạn chế cũng các nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển hoạt
Trang 16động bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một sốgiải pháp nhằm phát triển hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Doãn Thanh Tuấn (2016) với nghiên cứu “Thực hiện chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm: Thành công và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Tài chính kỳ I
tháng 4/2016 Nghiên cứu tập trung đánh giá chiến lược phát triển thị trường bảohiểm tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 Vượt qua những thách thức đặt ra,thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đạt được những kết quả khá tích cực, bướcđầu hoàn thành các chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểmgiai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủngày 15/02/2012 Bên cạnh đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm pháthuy hết tiềm năng, duy trì đà tăng trưởng trong giai đoạn 2016-2020 bao gồm: (1)Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; (2) Khuyếnkhích, hỗ trợ các DN phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm; (3) Đa dạng
và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm; (4) Tăng cường hiệu quảquản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm; (5) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hộinhập trong lĩnh vực bảo hiểm
Phạm Thu Phương (2016) với đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển bền vững”, Tạp chí Tài chính kỳ 1
tháng 4/2016 Tác giả tiến hành nghiên cứu những thành công và hạn chế trongquá trình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua, đặcbiệt là về cơ chế, chính sách đối với thị trường bảo hiểm Trên cơ sở đó tác giả đềxuất chín nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành vềkinh doanh bảo hiểm bao gồm: (1) Tà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật đểsửa đổi, bổ sung hoặc thay thế; (2) Bổ sung, xây dựng các quy định mới nhằm tạođiều kiện cho các DN phát triển các loại hình sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đadạng của người tham gia bảo hiểm cũng như yêu cầu phát triển của nền kinh tế-
xã hội; (3) Xây dựng và hoàn thiện các chính sách, chế độ liên quan đến các loạihình bảo hiểm được Nhà nước khuyến khích phát triển vì mục đích an sinh xãhội; (4) Hoàn thiện, bổ sung các chế độ bảo hiểm bắt buộc theo quy định củaLuật Kinh doanh bảo hiểm; (5) Phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát các
Trang 17quy định còn chồng chéo giữa hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành về kinhdoanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác; (6) Sửa đổi quy định về chế độ kếtoán áp dụng cho các DNBH phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế vàchuẩn mực kế toán Việt Nam; (7) Rà soát các chính sách về thuế hiện hành đảmbảo phù hợp và hỗ trợ sự phát triển của thị trường bảo hiểm; (8) Nghiên cứu, xâydựng các cơ chế ưu đãi về đầu tư trở lại nền kinh tế của các DNBH; (9) Nghiêncứu sửa Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 một cách tổng thểvào năm 2020 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.
2.2 Một số công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài luận án
Đề tài về mối quan hệ và tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tếđến ngành bảo hiểm thương mại thu hút được khá nhiều nghiên cứu:
Tác giả Chang et al (2013) với bài phân tích “Does globalization affect the insurance markets? Bootstrap panel Granger causality test” – “Liệu toàn cầu hóa
có tác động lên thị trường bảo hiểm hay không? Kiểm định mối quan hệ bằngBootstrap panel Granger” đã sử dữ dụng dữ liệu từ các báo cáo Sigma của Công
ty Tái bảo hiểm Swiss ở 8 nước khu vực Đông Nam Á từ năm 1979 đến năm
2008 để xác định mối quan hệ giữa toàn cầu hóa lên thị trường bảo hiểm Kết quảnghiên cứu này sẽ tạo tiền đề cho các nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng các kếtquả tính toán nhằm lường trước và đánh giá tác động của toàn cầu hóa lên thịtrường bảo hiểm trong nước Từ đó có những chính sách phát triển thị trường bảohiểm một cách phù hợp
Nghiên cứu “Globalization Is The Key Source Which Is Bringing About An
"Irreversible Transformation" In The Asian Insurance Market” – “Toàn cầu hóa là
nguồn lực chính tạo nên “sự đổi mình không thể đảo ngược” của thị trường bảohiểm châu Á” một lần nữa khẳng định tác động của toàn cầu hóa lên thị trườngbảo hiểm châu Á Quá trình này càng được diễn ra nhanh hơn khi khủng hoảngtài chính châu Á xảy ra gây ra những thay đổi cho thị trường bảo hiểm các nước.Trong đó, nhấn mạnh hơn về việc cần bãi bỏ các quy định rườm rà và nên tạo cácchính sách tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường bảo hiểm trong bối cảnh
Trang 18hội nhập kinh tế quốc tế Nhìn chung quá trình hội nhập sẽ đem đến nhiều cơ hội
và thách thức cho các cơ quan quản lý bảo hiểm, các doanh nghiệp cũng nhưngười tham gia bảo hiểm Do đó nghiên cứu đã có những đánh giá khách quan vàtoàn diện về những tác động nhiều mặt của hội nhập, trên cơ sở đó mỗi chủ thểtham gia thị trường phải tích cực hơn nữa chuẩn bị cho hội nhập một cách tự tin
và tìm cho mình một lới đi riêng, một chiến lược hành động riêng nhằm đứngvững và phát triển trong cạnh tranh hội nhập
Hai tác giả Cummins and Venard (2008) trong bài viết “Insurance market dynamics: Between global developments and local contigencies” – “Các động lực
của thị trường bảo hiểm - Giữa sự phát triển toàn cầu và những khác biệt trongnước” nhận định thị trường bảo hiểm đã thay đổi nhanh chóng trong vòng 20 nămtrở lại đây Xu hướng toàn cầu hóa, sử dụng thương mại điện tử, bancassurance,bãi bỏ các quy định để tự do thương mại hóa vừa là cơ hội cũng vừa là thách thứccho các thị trường bảo hiểm Các tác giả đặc biệt quan tâm đến sự khác biệt hay
sự đa dạng giữa các nước và thị trường bảo hiểm ở các nước Nhờ có toàn cầuhóa, rủi ro được san sẻ tốt hơn thông qua tái bảo hiểm, các tổ chức tài chính trunggian khổng lồ xuất hiện và tầm quan trọng của các tổ chức xuyên quốc gia nhưNgân hàng Thế giới, Tổ chức Thương mại Quốc tế được đề cao Nhưng ở khíacạnh ngược lại, thị trường bảo hiểm không hề đơn giản và giống nhau ở cácnước Sự khác biệt lớn giữa cá nước và khu vực về chính trị, luật pháp, văn hóacũng như sự khác biệt về thị trường tài chính, các chính sách đầu tư của nhà bảohiểm và hệ thống phân phối bảo hiểm là một số khó khăn mà thị trường bảo hiểmphải đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa
Wat, S S., & Tatiyakawee, K (2000) với đề tài nghiên cứu “Situational analysis of the health insurance market and related educational needs in the era
of health care reform in Thailand” Nghiên cứu tiến hành phân tích thực trạng
các chính sách phát triển thị trường bảo hiểm y tế của Thái Lan qua các thời kỳ
Từ đó có cái nhìn chính xác nhất về thực trạng thị trường bảo hiểm y tế của TháiLan qua các năm Nghiên cứu chỉ ra rằng bảo hiểm y tế ở Thái Lan hình thành từnhững năm 70 của thế kỷ XX với đối tượng ban đầu là người nghèo, cận nghèo
Trang 19và từng bước mở rộng tới các đối tượng khác Qua những thành công nêu trên,tác giả đề xuất một số chính sách góp phần phát triển thị trường này Bên cạnh
đó, với tư cách hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, các doanh nghiệp bảohiểm Việt Nam cần nhìn nhận toàn diện điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệpmình, xác định định hướng tái cơ cấu phù hợp với đánh giá xác thực đó của bảnthân doanh nghiệp mình gắn với những cơ hội và thách thức mới của thị trườngbảo hiểm
Chow-Chua, C., & Lim, G (2000) với đề tài “A demand audit of the insurance market in Singapore” Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động
của thị trường bảo hiểm tại Singapore trong thập niên trước Bên cạnh đó nghiêncứu những chính sách mà chính phủ Singapore đã thực hiện nhằm phát triển thịtrường này Hiện nay thị trường bảo hiểm Singapore được quản lý bởi Ngân hàngtrung ương Singapore (Monetary Authority of Singapore – MAS), phối hợp chặtchẽ với Hiệp hội bảo hiểm Singapore Chính vì thế, để nâng cao năng lực cạnhtranh, tiếp tục phát triển lên tầm cao mới, MAS cùng với hiệp hội bảo hiểmSingapore luôn theo sát diễn biến thị trường, phát hiện ra những vấn đề mới đểkịp thời điều chỉnh chính sách, hoàn thiện cách thức vận hành của thị trường.Dưới đây là một số điều chỉnh đã, đang hoặc sắp diễn ra trong ngành bảo hiểmSingapore
Pachanee, C A., & Wibulpolprasert, S (2006) với nghiên cứu “Incoherent policies on universal coverage of health insurance and promotion of international trade in health services in Thailand”, Health Policy and Planning.
Dưới ảnh hưởng của nhu cầu dành cho bảo hiểm y tế của người dân Thái Lan quacác năm, chính phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách phát triển thị trườngbảo hiểm y tế của quốc gia Bên cạnh đó nghiên cứu còn chỉ ra những thành công
và điểm mạnh trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm của quốc gia này, đặcbiệt kể từ khi chính phủ Thái Lan thực hiện phổ cập bảo hiểm y tế từ tháng10/2001 Dưới sự hỗ trợ mạnh mẽ của các chính sách thúc đẩy phát triển củachính phủ, thị trường bảo hiểm tại Thái Lan đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ so vớicác quốc gia khác ở Đông Nam Á
Trang 20Li, C., Yu, X., Butler, J R., Yiengprugsawan, V., & Yu, M (2011) với
nghiên cứu “Moving towards universal health insurance in China: performance, issues and lessons from Thailand”, Social Science & Medicine Nghiên cứu này
tiến hành phân tích những kinh nghiệm thành công trong quá trình phát triển thịtrường bảo hiểm của chính phủ Thái Lan Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh cácchính sách phát triển thị trường bảo hiểm tại Thái Lan bao gồm : (1) Giảm cáckhoảng trống trong gói trợ cấp thông qua các chương trình khác nhau; (2) Hệthống thanh toán phí dịch vụ hiện hành cần phải được chuyển đổi; (3) Tăngcường hệ thống phân phối chăm sóc sức khoẻ ban đầu và phối hợp với việc cảicách hệ thống bảo hiểm y tế; (4) Nâng cao mức độ gộp rủi ro và lồng ghép cácchương trình bảo hiểm là mục tiêu dài hạn
Jütting, J (2005) với đề tài nghiên cứu “Health insurance for the poor in developing countries”, Gower Publishing Trong nghiên cứu này tác giả tiến hành
khảo sát tình hình áp dụng bảo hiểm y tế cho người nghèo ở các nước đang pháttriển, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứunhững thành công trong quá trình hoạch định chính sách đối với ngành bảo hiểmcủa Thái Lan Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích sự khác biệt giữa các nước vàkhu vực về chính trị, luật pháp, văn hóa cũng như sự khác biệt về thị trường tàichính, khi áp dụng các chính sách phát triểm thị trường bảo hiểm
3 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý thuyết
3.1.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinhdoanh - được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động BHTMvới việc quản lý các rủi rocủa các cá nhân và tổ chức trong xã hội Manh nha của hoạt động này có từ rấtlâu trong lịch sử văn minh nhân loại, từ thuở con người biết săn bắn tìm kiếmthức ăn, đồ mặc, rồi tích trữ phòng khi không kiểm được hay có chiến tranh v.v…Khi xã hội phát triển hơn, nhu cầu được bảo đảm an toàn cũng lớn hơn.Vớinhững tác dụng vô cùng thiết thực đối với các cá nhân, các tổ chức và toàn cộng
Trang 21đồng,hoạt động Bảo hiểm thương mại càng khẳng định sự có mặt không thể thiếuđược trong cuộc sôngs của con người.
Xét từ góc độ phát lý “Bảo hiểm là một thỏa thuận, qua đó bên tham giabảo hiểm cam kết trả cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảohiểm; ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cam kết sẽ chi trả hoặc bồi thườngmột khoản tiền khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất”
Nhìn nhận bảo hiểm dưới góc độ quản lý rủi ro, một tập đoàn bảo hiểm lớnnhất của Mỹ cho rằng: “bảo hiểm là một cơ thể, theo cơ chết này một người, mộtdoanh nghiệp hay một tổ chức chuyên nhượng rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm,công ty đó sẽ chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộcphạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảohiểm” (AIG)
Dưới góc độ kỹ thuật bảo hiểm, có thể hiểu Bảo hiểm thương mại là biệnpháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người khi gặp một loại rủi ro dựavào quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người cùng có khảnằng gặp rủi ro đó thông qua hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Bằng cáchchia nhỏ tổn thất như vậy, hậu quả lẽ ra rất nặng nề, nghiêm trọng với một hoặcmột số với vả cộng đồng với người tham gia bảo hiểm Bảo hiểm thương mại, ởmột phương tiện khác, chính là tổng thể các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị
và các cá nhân tham gia bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm nhàm phục hệuquả do thiên tai, tai nạn bất ngời gây ra để ổn định đời sống và khôi phục hoạtđộng sản xuất kình doanh
3.1.2 Nguyên tắc của bảo hiểm thương mại
Với tính chất của một hoạt động kinh doanh, Bảo hiểm thương mại đápứng cho các nhu cầu an toàn của con người và đồng thời nhằm đạt tới mục tiêucao nhất là lợi nhuận Bởi vậy, việc tiến hành hoạt động BHTM phải tuân thủtheo các nguyên tắc cơ bản sau
Nguyên tắc 1: Số đông bù số ít
Trang 22Hoạt động Bảo hiểm thương mại chính là một hoạt động BHTMnhằm mụcđích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản tiền gọi là phí bảohiểm để rồi có khả năng sẽ phải trả một khoản tiền cho người thụ hưởng hoặc bồithường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Khoản tiền bồithường hay chi trả này thường lớn hơn gấp nhiều lần so với khoản phí mà cácdoanh nghiệp bảo hiểm nhận được Để làm được điều này, hoạt động Bảo hiểmthương mại phải dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Do đó hậu quả của rủi roxảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy độngđược từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy.
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm phải dựa trên nguyêntắc lấy số đông bù số ít Đây là nguyên tắc quan trọng, xuyên suốt, không thểthiếu trong bất kỳ một nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào, hậu quả của rủi roxảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy độngđược từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp rủi o như vậy Doanh nghiệp bảohiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số động bù số ít theo nguyêntắc này, càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quỹ bảo hiểm tích tụ được cànglớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn và rủi ro được chia sẻ cho nhiều ngườihơn
Nguyên tắc số đông bù số ít đảm bảo rằng hậu quả của rủi ro xảy ra đối vớimột hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiềungười có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy
Đặc trưng của nguyên tắc số đông bù số ít
- Thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết chi trả, bồithường cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những người tham gia bảohiểm, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đang thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quiluật số lớn
- Theo nguyên tắc số đông bù số ít, càng nhiều người tham gia bảo hiểmthì quĩ bảo hiểm tích tụ được càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi
ro được san sẻ cho nhiều người hơn Đây là nguyên tắc căn bản hình thành nênbất kì một nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào
Trang 23Ngoại lệ của nguyên tắc số đông bù số ít
- Thông thường, một nghiệp vụ bảo hiểm chỉ có thể được triển khai khitrên thị trường bảo hiểm có nhiều nhu cầu về cùng một loại bảo đảm
- Mặc dù vậy, vẫn có một số trường hợp ngoại lệ Đó là khi có sự hấp dẫnlớn về lợi nhuận trong việc cung cấp một bảo hiểm nào đó trên thị trường, dù chokhông có đủ số đông người tham gia bảo hiểm đó
- Lúc này, DNBH vừa phải đánh giá được rằng xác suất xảy ra rủi ro đượcbảo hiểm là không cao, vừa phải cân nhắc đến năng lực của chính doanh nghiệp
và đảm bảo thực hiện được nguyên tắc phân tán rủi ro một cách triệt để Bảohiểm vệ tinh ở thị trường bảo hiểm Việt Nam là một ví dụ điển hình của ngoại lệnày
Nguyên tắc 2: Rủi ro có thể được bảo hiểm
Theo nguyên tắc này, các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắcchắn sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo hiểm: hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thươngmại tự nhiên, xe vi phạm nghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử…Nói cáchkhác, những rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, khôngđược lường trước được Với rủi ro bị chết là rủi ro chắc chắn xảy ra thì yếu tốtngẫu nhiên được xem xét để bảo hiểm là thời điểm chết Thêm vào đó, nguyênnhân gây ra rủi ro có thể được bảo hiểm phải là nguyên nhân khách quan, không
cố ý Tính đồng chất của rủi ro là một yếu tốt khác giúp doanh nghiệp bảo hiểm
có thể xem xét rủi ro có thể được bảo hiểm hay không Trên cơ sở tính đồng nhấtcủa rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính toán được phí bảo hiểm một cáchchính xác và khoa học dựa vào các phương pháp toán học
Nguyên tắc 3: Phân tán rủi ro
Là người nhận các rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm,nhà bảo hiểm lúc này sẽ là người phải đổi mặt với những tổn thất có thể rất lớnnếu rủi ro xảy ra Mặc dù quỹ bảo hiểm là một quỹ tài chính lớn, được lập ra bởi
sự đóng góp của nhiều người theo nguyên tắc số đông và như vậy, với tư cách là
Trang 24hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Nhưng trên thực tế, không phải lúc nào doanhnghiệp bảo hiểm cũng luôn đảm bảo được khả năng này Điều này có thể thấy rất
rõ với những trường hợp quỹ bảo hiểm huy động được còn chưa nhiều (doanhnghiệp bảo hiểm mới thành lập hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có qui mô nhỏ)trong khi đó giá trị bảo hiểm lại rất lớn hoặc với những trường hợp có rủi ro liêntiếp xảy ra gây tổn thất lớn
Nguyên tắc 4: Trung thực tuyệt đối
Trước hết, nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểmphải có trách nhiệm cân nhác các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp độngbảo đảm cho quyên lợi của hai bên Sản phẩm cung cấp của nhà bảo hiểm là sảnphẩm dịch vụ nên khi mua, người tham gia bảo hiểm không thể cẩm nắm nótrong tay như các sản phẩm vật chất khác để đánh giái chất lượng và giá cả…màchỉ có thể có được một hợp đồng hứa sẽ bảo đảm Chất lượng sản phẩm bảo hiểm
có bảo đảm hay không, giá cả (phí bảo hiểm) có hợp lý hay không, quyền lợi củangười được bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ, có công bằng hay không…đều chủ yếudựa vào sự trung thực của phía doanh nghiệp bảo hiểm
Nguyên tắc 5: Quyền lợi có thể được bảo hiểm
Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải có lợi ích tài chính
bị tổn thất nếu đối tượng được bảo hiểm gặp rủi ro Nói cách khác, người thamgia bảo hiểm phải có một số quan hệ với đối tượng được bảo hiểm và được phápluật công nhận Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếmhữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đốivới đối tượng được bảo hiểm, Cần chú ý rằng khi quyền sở hữu và quyền sử dụngđối với tài sản được bảo hiểm thuộc hai chủ thể khác nhau thì vấn đề sẽ phức tạphơn Trong trường hợp này, cả chủ sở hữu và chủ sử dụng đều có quyền lợi đượcbảo hiểm Chẳng hạn, chủ xưởng sửa chữa oto có quyền hợp pháp khi tham giabảo hiểm cho chiếc xe oto mà anh ta đang đảm nhận sửa chữa Đó là quyềnchiếm hữu Đồng thời chủ xe oto cũng có thể tham gia bảo hiểm cho chiếc xenày
Trang 253.1.3 Phân loại bảo hiểm thương mại
Trên thị trường bảo hiểm thế giới cũng như Việt Nam hiện nay có rất nhiềusản phẩm bảo hiểm khác nhau Dựa vào các hình thức khác nhau, các sản phẩmbảo hiểm được phân thành từng nhóm có cùng đặc trưng Việc phân loại như vậytrước hết sẽ thuận lợi hơn cho công tác nghiên cứu và phát triền các sản phẩmbảo hiểm khác nhau Mặt khác, phân loại bảo hiểm giúp các doanh nghiệp bảohiểm quản lý tốt nghiệp vụ, tổ chức hoạt động BHTMcó hiệu quả
Phân loại Bảo hiểm thương mại thường căn cứ và ba tiêu thức chủ yếu sau:
- Theo phương thức quản lý: Bảo hiểm thương mại có thể phân loại thànhbảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc Phần lớn các sản phẩm Bảo hiểmthương mại đề là bảo hiểm tự nguyện Việc tham gia bảo hiểm hay phụ thuộc vàonhận thức và nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm
có đáp ứng được hay không cũng tùy thuộc vào khả năng tài chính, trình dộ kỹthuật và nghiệp vụ của công ty đó
- Theo kỹ thuật bảo hiểm: Các đặc trưng kỹ thuật được dùng làm căn cứ đểphân loại Bảo hiểm thương mại thảnh bảo hiểm theo kỹ thuật phân chia và bảohiểm theo kỹ thuật tổn tích Bảo hiểm theo kỹ thuật phân chia là các bảo hiểm cóthời gian hạn ngắn (thường là một năm) bảo đảm cho các rủi ro có tình chấttương đối ổn định và độc lập với tuổi thọ con người Khi có rủi ro được bảo hiểmphát sinh trong thời gian hợp đồng thì quỹ bảo hiểm được sử dụng để chi trả luôn.Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các bảo hiểm về tài sản, về trách nhiệm danh sự
và các bảo hiểm con người phi nhân thọ khác chính là loại bảo hiểm theo kỹ thuậtphân chia Kết quả thu - chỉ của các bảo hiểm này được phân bổ hết hàng năm
- Theo đối tượng được bảo hiểm: Hình thức này cho phép phần chia Bảohiểm thương mại thành ba loại chủ yếu: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệmdân sự và bảo hiểm con người Cũng căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm, nhưngnếu phân loại một cách chi tiết hơn, Bảo hiểm thương mại có thể được phân chiathành: Bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm phi hàng hải, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý,bảo hiểm xe cơ giới…
Trang 26Đây là loại bảo hiểm mà đối tượng là tài sản (cố định hay lưu động) củangười được bảo hiểm Ví dụ: bảo hiểm cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, bảo hiểmhàng hóa của các chủ hàng trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàisản của ông chủ nhà trong bảo hiểm trộm cắp.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (BHTNDS) có đối tượng được bảo hiểm làtrách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo luật định
Ví dụ: BHTNDS của chủ xe cơ giới, BHTBDS của chủ lao động, bảo hiểm tráchnhiệm sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm công cộng
Theo luật dân sự, trách nhiệm dân sự của một chủ thể (như chủ tài sản, chủdoanh nghiệp ) được hiểu là trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại về tài sản,
về con người …gây ra cho người khác do lỗi của người chủ đó Trách nhiệm dân
sự có thể là trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợpđồng Thông thường các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm cho cáctrách nhiệm dân sự ngoại hợp đồng
Vì đối tượng được bảo hiểm là phần trách nhiệm dân sự phát sinh củangười được bảo hiểm đối với người bị thiệt hại (một người thứ 3 khác) nên trongloại bảo hiểm này, người được bảo hiểm là người có trách nhiệm dân sự cần đượcbảo đảm thường chính là người tham gia bảo hiểm Con người thụ hưởng quyềnlợi bảo hiểm lại là người thứ ba khác Người thứ ba trong BHTNDS là người cótính mạng, tài sản bị thiệt hại trọng sự cố bảo hiểm và được quyền nhận bồithường từ doanh nghiệp bảo hiểm với tư cách là người thụ hưởng Người thứ ba
có quan hệ về trách nhiệm dân sự với người được bảo hiểm nhưng chỉ có mốiquan hệ gián tiếp với doanh nghiệp bảo hiểm
BHTNDS và BHTS đều được xếp vàp loại bảo hiểm thiệt hại, là loại bảohiểm bảo đảm cho các thiệt hại phát sinh, Do vậy, BHTNDS cũng áp dụngnguyên tắc bồi thường khi giải quyết bồi thường bảo hiểm
Bảo hiểm con người
Trang 27Bảo hiểm con người có đối tượng được bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng,tình trạng sức khỏe con người hoặc các sự kiện liên quan tới cuộc sống và có ảnhhường tới cuộc sống con người.
Nếu như trong bảo hiểm thiệt hại, việc thanh toán bồi thường bảo hiểmđược dựa vào nguyên tắc bồi thường thì trong bảo hiểm cháy nổ (BHCN),nguyên tắc chị phối việc giải quyết thanh toàn tiền bảo hiểm là “Nguyên tắckhoán” Khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thựcthiện tri trả một khoản tiền dựa vào số tiền bảo hiểm (STBH) đã được thỏa thuậnlựa chọn khi ký kết hợp đồng bảo hiểm chứ không dựa vào thiệt hại thực tế Việcthanh toán chi trả bảo hiểm trong BHCN chỉ mang tính trợ giúp về tài chính chongườo được bảo hiểm và thân nhân (bảo hiểm con người phi nhân thọ) hoặc
“hoàn lại” khoản tiền tích lũy được người bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ) khi xảy
ra các sự kiện được bảo hiểm Điều này đơn giản là vì tính mạng và tình trạngsức khỏa của con người là vô giá nên không thể xác định được bằng một khoảntiền nào đấy STBH trong các HĐBH con người hoàn toàn không phải là sự biểuhiện giá trị của bản thân người đươc bảo hiểm mà về cơ bản chỉ có ý nghĩa là một
số tiền mà người tham gia bảo hiểm “khoán” cho doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chitrả khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Trong các HĐBH con người, do vậy cũng khôngtồn tại điều khoản giá trị bảo hiểm Thuật ngữ ”Chi trả bảo hiểm” hoặc “thanhtoán bảo hiểm ” được sử dụng để thay thế cho “bồi thường bảo hiểm” trong bảohiểm thiệt hại Số tiền này do các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận, tùy theo khảnăng tài chính cũng như nhu cầu của người tham gia bảo hiểm
Ở các nước kinh tế phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Nhật, dịch vụBHCN rất phát triển Khi người dân tham gia các dịch vụ bảo hiểm này, họthường lập nên một kế hoạch tài chính trong gia đình mình để xác định số tiềnbảo hiểm cần lựa chọn Bằng việc sử dụng một hệ thống máy tình cá nhân và cácthiết bị điện tử rộng khắp, họ có thể đánh giá chính xác nhu cầu về lương tiềntrong tương lai Bao gồm cả việc đánh giá trạng thái biến động của lạm phát, sốcon tình hình tăng trưởng… vì thế STBH trong BHCN, nhất là trong BHNT đượclựa chọn rất phù hợp Phần lớn STBN khi lựa chọn, đều dựa vào mộ số nhu cầu
Trang 28tài chính trong tương lai đã được đánh giái cụ thể Các nhu cầu tài chính trongtương lại đã được đánh giái cụ thể Các nhu cầu này thường bao gồm:
- Như cầu bù đắp chi phí lúc bị chết
- Nhu cầu tạo lập quỹ đạo, giáo dục con cái
- Nhu cầu chi dùng hàng ngày, nếu không may người trụ cột trong gia đình
bị chết, mà người sống phụ thuộc lại chủ yếu nhờ cậy vào tiền lương của anh ta
- Nhu cầu chi trả những khoản nợ nần còn tồn đọng
- Nhu cầu chi phí bảo dưỡng tài sản v v…
Căn cứ và tổng các nhu cầu nêu trên, người tham gia bảo hiểm lựa chọnSTBH để mua Số tiền này chính là mức chênh lệch giữa tổng giá trị các nhu cầutrong tương lại để hoàn thiện kế hoạch tài chính so với tổng giá trị tài sản hiện có
để đáp ứng nhu cầu
3.1.4 Khái niệm phát triển bảo hiểm thương mại
Về cơ bán có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển bảo hiểm thươngmại, tùy thuộc vào cách tiếp cận, nội dung và mục đích của việc sử dụng quanniệm
- Theo quan điểm xem xét bảo hiểm thương mại như một dịch vụ songsong tồn tại với thị trường bảo hiểm thì phát triển bảo hiểm thương mại là quátrình hình thành và phổ biến dịch vụ bảo hiểm thương mại trong hệ thống bảohiểm thương mại của địa phương, vùng hoặc quốc gia một cách chính thống,hướng đến sự phô biến của dịch vụ bảo hiểm thương mại cho cộng đồng, thu hútcác cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm thương mại Theo cách tiếp cận này, việcphát triển bảo hiểm thương mại được đo lường thông qua sự phổ biến, sự hiệndiện bảo hiểm thương mại trong hệ thống bảo hiểm quốc gia, với hệ thống chínhsách của cơ quan nhà nước về dịch vụ bảo hiểm thương mại, sự triển khai dịch vụbảo hiểm thương mại trong hệ thống các cơ quan bảo hiểm và sự tham gia cùacộng đồng vào quá trình mua bảo hiểm
- Theo cách tiếp cận hệ thống, dưới góc độ quản lý đổi tượng tham gia củacác cơ quan bảo hiểm, phát triển bảo hiểm thương mại là quá trình triển khai dịch
Trang 29vụ bảo hiểm thương mại của tổ chức bảo hiểm, thực hiện quá trình truyền thông
và mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thương mại, thực thi các giải pháp nhằmnâng cao tỷ lệ tổ chức và cá nhân tham gia, tức là chỉ đơn thuần phát triển về sốlượng và tỷ lệ người tham gia Theo cách liếp cận này, mối quan hệ giữa doanhnghiệp bảo hiểum và đối tượng tham gia bảo hiểm được thể hiện nhằm triển khaidịch vụ bảo hiểm thương mại một cách đảm bảo số lượng và chất lượng, đáp ứngnhu cầu phát triển bảo hiểm thương mại của tổ chức bảo hiểm và nhu cầu muabảo hiểm của cá nhân và tổ chức
- Theo cách tiêp cận tổng quát, phát triển bảo hiểm thương mại là quá trình triênkhai dịch vụ bảo hiểm thương mại của tổ chức bảo hiểm nhằm bảo tồn và tăngtrưởng nhu cầu sử dụng bảo hiểm thương mại, vùng hoặc quốc gia, là sự kết hợpgiữa gia tăng về số lượng đối tượng tham gia và nâng cao chất lượng dịch vụ bảohiểm thương mại, phát triển các dịch vụ bảo hiểm thương mại đa dạng với mạnglưới rộng khắp nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của công chúng trong một địaphương, vùng hoặc quốc gia
3.1.5 Khái niệm chính sách
“Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trêncác phương tiện truyền thông và trong đời sông xã hội Tuy nhiên, đây cũng làthuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng Theo từ điển tiếngAnh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đường lối hành động đượcthông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách ” Theo
sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định để giải quyếtmột vấn đề cụ thể, mà nó là một đường lối hay phương hướng hành động Cácchính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ các tổchức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xãhội, doanh nghiệp, nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó vàchúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó
Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như làmột đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc
Trang 30các hành động cụ thể David Easton (năm 1953) cho rằng “chính sách bao gồmmột chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện cácgiá trị” Smith (năm 1976) cho rằng: “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn
có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của cáclực lượng có quan hệ với nhau” Smith nhấn mạnh “không hành động” cũng như
“hành động” và nhắc nhở chúng ta rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vàocác quyết định tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết địnhchống lại sự thay đổi và khó quan sát vì chúng không được tuyên bố trong quátrình hoạch định chính sách” Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là nhữnghành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướngđồng thuận hay phản đối
Như vậy, có thể thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất đúng vềchính sách Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức cácquyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết địnhhoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể Những nỗ lựcđưa ra các định nghĩa khác nhau về chính sách cũng hàm ý rằng khó có thể xácđịnh được thời điểm cụ thể mà chính sách cần được ban hành Chính sách thường
sẽ tiếp tục tiến hoá trong giai đoạn thực hiện, chứ không chỉ cố định như tronggiai đoạn hoạch định chính sách
3.1.6 Chính sách phát triển bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại là một ngành kinh doanh đặc biệt riêng, có nhữngđóng góp không nhỏ cho nền kinh tế và toàn xã hội Với các quan điểm về bảohiểm thương mại nêu trên thì chính sách phát triển bảo hiểm thương mại đượcxem là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp củanhà nước được thể chế hoá để bảo đảm sự phát triển của ngành bảo hiểm thươngmại Do vậy, chính sách phát triển bảo hiểm thương mại khác với chính sáchkhác như chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng , sự khác biệt này bắtnguồn từ khía cạnh và tính chất của ngành bảo hiểm thương mại
Trang 313.1.7 Những kết quả đạt được sự nhất trí qua các công trình nghiên cứu
Thứ nhất: Các nghiên cứu trước đã nhấn mạnh vai trò của toàn cầu hóa hay
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế tác động lên nền kinh tế nói chung và ngànhbảo hiểm thương mại nói riêng ở các nước trên thế giới
Thứ hai: Các nghiên cứu nhất trí rằng tác động của hội nhập kinh tế quốc
tế lên ngành bảo hiểm thương mại có cả những tác động tốt và có cả những tácđộng tiêu cực Chính vì vậy, thị trường bảo hiểm thương mại ở các nước cần phảitận dụng những cơ hội, đồng thời cũng cần có những biện pháp và chính sách cụthể để hạn chế được những điểm tiêu cực có thể ảnh hưởng do quá trình toàn cầuhóa Các công trình đều có cách lý giải, lập luận khác nhau, phù hợp với đốitượng, nhiệm vụ nghiên cứu tạo nên cái nhìn đa chiều và hoàn chỉnh về chínhsách bảo hiểm thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia
Thứ ba: Các nghiên cứu đã thống nhất quan điểm về việc tác động của hội
nhập kinh tế quốc tế lên thị trường bảo hiểm thương mại Tuy toàn cầu hóa và hộinhập kinh tế quốc tế có tác động lên thị trường bảo hiểm thương mại nhưng mức
độ tác động ở mỗi nước khác nhau là không giống nhau Chính vì vậy, mỗi quốcgia cần có những chính sách phát triển thị trường bảo hiểm riêng, phù hợp vớiđặc điểm và yêu cầu của từng quốc gia Các nghiên cứu đã phân tích các nguyênnhân (khách quan, chủ quan, chủ yếu, thứ yếu) tác động đến quá trình thực hiện,triển khai chính sách bảo hiểm thương mại trong tại mỗi quốc gia trong thời gianqua Các nhà khoa học đều thống nhất ở một số nguyên nhân ảnh hưởng đến việcthực hiện chính sách bảo hiểm thương mại là chưa đủ mạnh
Thứ tư: dưới nhiều góc độ, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa
học đã có những kiến giải, dự đoán, định hướng khác nhau về thực thi chính sáchbảo hiểm thương mại Đồng thời, trong các công trình nghiên cứu đề xuất nhữngphương hướng và giải pháp; khuyến nghị cho chính phủ các nước nhằm thúc đẩy,nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong thời gian tới
Trang 323.1.8 Những khoảng trống và hướng nghiên cứu tiếp tục của luận án
Những nghiên cứu nêu trên của các tác giả là nguồn tham khảo quan trọnggiúp tác giả khái quát được mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, các nghiêncứu nêu trên vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa cập nhật, đòi hỏi có cách nhìntổng quát hơn và logic về chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại củamột số nước Châu Á Mặc dù, các nghiên cứu đã phần nào đánh giá được thựctrạng chính sách chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại của Việt Nam
ở từng khía cạnh tiếp cận khác nhau Các nghiên cứu còn giới hạn ở phạm vikhông gian, đề xuất của các nghiên cứu tại thời điểm hội nhập quốc tế của ViệtNam còn hạn chế, một số đề xuất đã được thực hiện sau Việt Nam tham gia cáchiệp định song phương, đa phương Có thể khẳng định, những kết quả của cácnghiên cứu trước đáng thuyết phục nhưng trên thực tế, vẫn còn những vấn đề đặt
ra cần phải tiếp tục nghiên cứu, đó là:
Thứ nhất: Tuy các nghiên cứu trước đó đề cập đến vai trò của chính sách
lên phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc
tế song lại chưa đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách hợp lý
Thứ hai: các nghiên cứu chưa phát triển hay nêu thực trạng chính sách phát
triển bảo hiểm thương mại của Thái Lan, Singapore và Việt Nam Chưa phân tíchsâu các bài học thành công và thất bại trong chính sách của các quốc gia đangphải đối mặt để điều chỉnh chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại củaquốc gia cho phù hợp
Thứ ba: Xét cho tới thời điểm hiện tại, số bài viết nghiên cứu về chính sách
phát triển ngành bảo hiểm thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ởcác nước còn hạn chế Với thị trường Việt Nam, chưa có tài liệu nào nghiên cứu
về đề tài này mà mới chỉ tập trung về chính sách phát triển nền kinh tế nói chunghay các biện pháp chung để phát triển thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hộinhập Vì vậy việc nghiên cứu tiếp theo của luận án sẽ đi vào làm rõ được các yếu
tố như nguồn nhân lực, tài chính, một cách khoa học nhằm đảm bảo thực hiệnchính sách bảo hiểm thương mại tại mỗi quốc gia cho người dân nói chung vànhững người dân yếu thế trong xã hội nói riêng
Trang 333.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
3.2.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử, duyvật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quanđiểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, các chính sách của Nhà nước vềbảo hiểm, đặc biệt là các chính sách về phát triển ngành bảo hiểm thương mại
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Ngoài việc sử dụng các phương pháp luận nghiên cứu, NCS còn sử dụngCác phương pháp nghiên cứu khoa học khác, cụ thể gồm: phương pháp phân tíchthống kê, phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp.Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:
+ Phương pháp thống kê mô tả với các tư liệu uy tín đối với thực trạng các chínhsách phát triển BHTM của Singapore, Thái Lan và Việt Nam
+ Ngoài ra tác giả sử dụng 1 số phương pháp như hội thảo, khảo sát ý kiếnchuyên gia
3.3 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu
3.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể hoàn thành mục đích nghiên cứu, nghiên cứu sinh cần phải hoànthành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát, hệ thống hóa các khái niệm và xây dựng khung phân tích,đánh giá về chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại
Trang 34- Phân tích thực trạng chính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mạicủa Singapore, Thái Lan trong giai đoạn 2007 – 2017, và Việt Nam trong giaiđoạn 2018 – 2022.
- Chỉ ra các mặt tích cực và hạn chế cũng như nguyên nhân đối với cácchính sách phát triển ngành bảo hiểm thương mại của một số nước nêu trên đồngthời rút ra bài học cho Việt Nam
- Trên cơ sở đánh giá và rút ra bài học từ các chính sách phát triển bảohiểm thương mại của Singapore và Thái Lan, luận án đề xuất một số giải pháphoàn thiện các chính sách cho Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách phát triển ngành bảo hiểmthương mại ở một số quốc gia Đông Nam Á và Việt Nam
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu chính sách phát triểnngành bảo hiểm thương mại của Thái Lan, Singapore và Việt Nam xét trênphương diện hoạch định và thực thi chính sách
5 Kết cấu của Luận án
Tác giả dự kiến luận án có kết cấu 4 chương
Trang 35CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Một số công trình nghiên cứu trong nước
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa, trong lịch sử nền văn minh nhân loại
mà thậm chí cho tới hiện nay, người ta vẫn chưa xác định được bảo hiểm xuấthiện từ khi nào Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy được phế tích của những ngôinhà, tác phẩm nghệ thuật, hoặc những dấu tích còn sót lại của các nền văn minhxưa kia, tuy nhiên, việc tái lập một cách chính xác cách thức mà những thị dânđầu tiên đã sử dụng để tổ chức các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế lại là mộtđiều khó khăn Tuy nhiên, trong số những dấu tích vật chất gây ấn tượng của vănminh thời tiền sử, thời cổ đại, thời trung cổ và thời cận đại, các kho lúa nơi mọingười dự trữ lương thực để mọi người sử dụng trong trường hợp khẩn cấp
Như vậy bảo hiểm xuất hiện như là một phương cách xử lý rủi ro, tổn thất
mà con người phải đối phó hàng ngày trong đời sống sinh hoạt sản xuất củamình Cách xử lý đó dự trên ý niệm "Cộng đồng hóa rủi ro, hiểm họa
Lịch sử bảo hiểm thế giới cho thấy ý niệm cộng đồng hóa nói trên đã hình
Trang 36thành từ xa xưa, mặc dù, còn ở hình thức rất thô sơ
- Trung Quốc - 4500 năm trước công nguyên Người ta cho rằng ở thời kỳnày các nhà lái buôn Trung Quốc đã biết hợp tác tổ chức chuyên chở tài sản củamỗi người phân tán trên nhiều thuyền khác nhau Cách làm như vậy, giúp chomỗi người tránh việc phải gánh chịu tổn thất toàn bộ số hàng của mình Đâychính là cách làm "phân tán rủi ro", "cộng đồng hóa trước những rủi ro"
- Baby love - 1700 năm trước công nguyên và Athenes - 500 năm trướccông nguyên Xuất hiện một hệ thống cho vay với lãi suất rất cao để mua và vậnchuyển hàng hóa Nếu hàng hóa bị mất mát, hư hại (do bất khả kháng) người vaykhông phải hoàn trả khoản tiền đã vay Hệ thống này sau này còn được gọi là
"cho vay mạo hiểm lớn"
- Xứ Rhodes - 916 năm TCN Hoàng đế xứ Rhodes đã ban hành luật để bảo
vệ các thương gia có hàng hóa bị tổn thất vì lợi ích chung của hành trình Các chủhàng và chủ tàu được hưởng lợi trên các tổn thất đó phải cùng nhau gánh chịu.Thể chế này ngày nay vẫn còn và được gọi là "quy tắc tổn thất chung"
- Rome Tồn tại một hệ thống cho vay nặng lãi được gọi là "cho vay mạohiểm lớn" Sự cho vay trong các trường hợp mạo hiểm lớn đã sinh ra sự lạmdụng, do đó bị nhà nước bằng một sắc lệnh vào năm 1237 Chính sự cấm đoánnày làm cho các chủ ngành hàng cho vay (không nặng lãi) mà có thể chắc chắnthu lại được số tiền đã cho vay Từ đó dần dần hình thành và đưa vào sử dụngmột hệ thống mới và đó là cơ sở sinh ra bảo hiểm hàng hải Các nhóm nhà buônchấp nhận được bảo hiểm giá trị con tàu và hàng hóa chuyên chở nhờ vào việc trảmột khoản tiền qui định Cuối cùng vào thể kỷ 14, thỏa thuận bảo hiểm hàng hảiđầu tiên ra đời
- Italia - 1347 Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu giữ đến ngày nayđược phát hành tại Gênes Ở Pháp, còn giữ được một bản hợp đồng phát hành từnăm 1437 cũng bởi các nhà bảo hiểm Genois
- Hội bảo hiểm đầu tiên ra đời vào năm 1424 ở Gênes - Italia cho vậnchuyển đường biển và đường bộ
Trang 37- Anh Quốc 1960 Nữ hoàng Anh Quốc cho phép các hoạt động BHTMbảohiểm được thực hiện trong thời gian 90 năm Năm 1720, các nhà bảo hiểmLLoyd's ra đời và sau đó, 60 năm họ nắm giữ 60% rủi ro hàng hải trên thế giới.
- Cũng ở Anh Quốc 1966 Xảy ra một vụ cháy lớn thiêu huỷ gần 13.000 tòanhà ở Luân Đôn làm nảy sinh nhu cầu bảo hiểm hỏa hoạn: 6 công ty bảo hiểmhỏa hoạn ra đời sau đó (1667) Bảo hiểm hỏa hoạn dần dần lan sang các nướcChâu Âu khác như Pháp (1686)
- Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm sau bảo hiểm hàng hải nhưng do thiếu
cơ sở khoa học nên bị cấm đoán bởi nhà thờ Đến thế kỷ 17, Ferma, Pascal và sau
đó là Bernqnlli khai sinh và phát triển xác suất thống kê toán Cơ sở khoa học củabảo hiểm đã hình thành Công ty bảo hiểm Nhân thọ ra đời đầu tiên ở Anh vàonăm 1762
- Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, bảo hiểm phát triển để đảm bảo cho hàngloạt các rủi ro mới: bệnh, ô tô, hàng không
Cũng như nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm thương mại ra đời khá
sớm Đây là loại hình bảo hiểm có tính chất kinh doanh Trước công nguyên ở AiCập những người thợ đẽo đá đã biết thành lập “ quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạnnhân trong các vụ tai nạn Từ đó, hoạt động mang tính chất bảo hiểm phát triểndần theo sự phát triển của xã hội loài người Những nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiệnliên tục Năm 1182, ở miền Bắc nước Italia xuất hiện bản hợp đồng bảo hiểmhàng hoá vận chuyển bằng đường biển; năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn ởAnh xuất hiện; năm 1759 công ty bảo hiểm Nhân thọ đầu tiên ra đời ở Mỹ; năm
1846 công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới được thành lập ởĐức vv Có thể nói, các nghiệp vụ bảo hiểm kế tiếp nhau ra đời ở tất cả cácnước trên thế giới Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thương mại nói riêng ngàycàng quan trọng đối với nền kinh tế, nó trở thành nhu cầu của mọi người, mọiđơn vị kinh tế; là động lực phát triển kinh tế - và có đóng góp xứng đáng vàoGDP của mỗi quốc gia
Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngànhbảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan Tuy nhiên,
Trang 38hiện nay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảohiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếuđược của mình đối với nền kinh tế Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi theodõi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cũng như tất cả các ngành kinh tếkhác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá Công
ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp tráchnhiệm của các công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợpđồng Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanhtoán và đòi nợ theo đúng hợp đồng
Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công tyđược chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố HồChí Minh Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động BHTMbảo hiểm
ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành Công tytrực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý côngtác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước.Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nêncác sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảohiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo 14 hiểm Có thể nói, thời giannày, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển
Giai đoạn sau 1986 đến nay: năm 1986, Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sảnViệt Nam lần thứ VI diến ra vào năm này đã đưa ra chính sách đổi mới, tạo thuậnlợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của phápluật Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư
từ nhiều quốc gia, khu vực Hoạt động sản xuất - kinh doanh từng bước pháttriển, đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổimới để đáp ứng nhu cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới Sự xuất hiện của các công
ty bảo hiểm mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nướcngoài sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm ở nước ta.Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động BHTMbảo hiểm đã được
Trang 39Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam.
Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chứcbảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế Mặc dùvậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời:Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO và các công ty liên doanh bảo hiểm như:UIC, VIA, Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các công ty bảohiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Namđang phát triển ngày một sôi động Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sựxuất hiện của các công ty mới đã tạo điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽtrong một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt Các công ty liên tục hoànthiện những sản phẩm cũ, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hìnhnghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấp dẫn Người tham gia bảo hiểm có thể tự
do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch vụ bảo hiểm với mức phí cạnh tranhnhất Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng,chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được rộng mở Không chỉ có vậy, để nângcao tính cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chútrọng Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềmnăng phát triển
Trong chính sách phát triển bảo hiểm thương mại, ở Việt Nam đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu có nội dung liên quan, như:
Phạm Thị Định (2004), "Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam" Luận án tập trung nghiên cứu: Những vấn đề lý luận
chung về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm; kinh nghiệm của cácnước về quản lý hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Phân tích thựctrạng hoạt động hoạt động đầu tư của các DNBH Nhà nước ở Việt nam bao gồmBảo Việt, Bảo Minh và PVI - đưa ra hệ thống các giải pháp phát triển hoạt độngđầu tư của các DNBH nhà nước ở Việt Nam Như vậy, đề tài chỉ nghiên cứu mộtmảng trong hoạt động BHTMcủa 3 DNBH là hoạt động đầu tư tài chính mà chưanghiên cứu đến chính sách phát triển của bảo hiểm thương mại Luận án cũng
Trang 40giới hạn ở 3 DNBH lớn trên thị trường, không nghiên cứu cho toàn bộ thị trườngtrong nước
Đoàn Minh Phụng (2007), "Nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập", Luận án tập trung nghiên cứu: -Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Phân tích thực trạng hiệuquả kinh doanh BHPNT của các DNBH Nhà nước ở Việt Nam bao gồm BảoViệt, Bảo Minh và PVI - đưa ra hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả của cácDNBH nhà nước ở Việt Nam Như vậy, đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinhdoanh của ba DNBH nhà nước, không nghiên cứu cho toàn bộ thị trường
Hoàng Trần Hậu và Hoàng Mạnh Cừ (2011) "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam", Đề tài
tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơbản về thị trường bảo hiểm; công tác quản lý, giám sát Nhà nước đối với thịtrường bảo hiểm - Phân tích thực tế hoạt động quản lý, giám sát của Nhà nướcđối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay Đề xuất hệ thống các giải pháp
và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát Nhà nước đối với thịtrường bảo hiểm ở Việt Nam Đề tài có những đóng góp mới quan trọng là nghiêncứu về rủi ro và đo lường rủi ro trong hoạt động BHTMcủa doanh nghiệp bảohiểm; nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề của công tác quản lý, giám sát Nhànước đối với thị trường bảo hiểm như: nguyên tắc, mô hình và nội dung quản lý,giám sát
Như vậy, mặc dù đã có một số nghiên cứu có liên quan như trình bày trên,nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về “Chính sách phát triểnngành bảo hiểm thương mại ở một quốc gia Đông Nam Á và bài học cho ViệtNam” Đây chính là khoảng trống được tác giả tập trung nghiên cứu trong luậnán
1.2 Các công trình nước ngoài