CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Khái ni ệm, ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghi ệp 1.1.1 Khái ni ệm phân tích tài chính doanh
SỞ LÍ LUẬN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH
Khái ni ệm, ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu tài chính của kỳ hiện tại với các kỳ trước nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất – kinh doanh của DN Quá trình này không chỉ cung cấp thông tin cho nhà quản trị để đánh giá khách quan hiệu quả tài chính và khả năng vượt qua thử thách mà còn phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN như nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, cổ đông hiện tại và tương lai, khách hàng, cấp quản lý cấp trên, bảo hiểm, người lao động, nhà nghiên cứu và sinh viên Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, việc phân tích tài chính một cách đầy đủ và chính xác có ý nghĩa rất lớn giúp nhà đầu tư lựa chọn và ra quyết định đầu tư có hiệu quả.
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là quá trình vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học nhằm đánh giá chính xác tình hình tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, giúp các đối tượng quan tâm nắm bắt thực trạng và tình hình tài chính giữa các yếu tố liên quan Quá trình này cũng dự báo các chỉ tiêu tài chính trong tương lai và nhận diện rủi ro tài chính có thể gặp phải, từ đó đề ra các quyết định chiến lược phù hợp với lợi ích của các bên liên quan và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính.
Có nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế - tài chính của doanh nghiệp; mỗi đối tượng quan tâm theo góc độ và mục tiêu khác nhau Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, việc phân tích hoạt động tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng các yêu cầu của từng đối tượng Nhờ đó, phân tích hoạt động tài chính ngày càng được hoàn thiện và phát triển, nhưng đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp trong nội dung và phương pháp của phân tích.
Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp gồm các nhà quản lý, cổ đông hiện tại và tương lai, cùng những người tham gia vào đời sống kinh tế của doanh nghiệp Nhóm các bên cho doanh nghiệp vay vốn như ngân hàng, tổ chức tài chính, người mua trái phiếu và các doanh nghiệp khác cũng theo dõi sát sao các chỉ số tài chính để đánh giá khả năng thanh toán và triển vọng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nhà nước và các nhà phân tích tài chính đóng vai trò đánh giá mức độ rủi ro, tính minh bạch và hiệu quả quản lý, từ đó tác động đến quyết định đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp.
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục tiêu riêng biệt Do đó, phân tích hoạt động tài chính theo từng đối tượng giúp làm rõ cách họ tiếp cận vốn, đánh giá rủi ro và tối ưu hóa lợi ích, đồng thời làm nổi bật vai trò của thông tin tài chính trong từng bối cảnh Cụ thể, quá trình này xác định nhu cầu thông tin, tiêu chí đánh giá và cách sử dụng báo cáo tài chính để hỗ trợ các quyết định đầu tư, quản trị và giám sát, phù hợp với từng nhóm người dùng và mục tiêu của họ.
Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà quản lý
Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhất tình hình tài chính của công ty và từ đó thu thập được nhiều thông tin phục vụ cho quá trình phân tích Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp nhà quản lý nắm bắt hiệu quả sử dụng nguồn lực, đánh giá khả năng thanh toán, và tối ưu hóa dòng tiền cũng như lợi nhuận Mục tiêu của phân tích tài chính là hỗ trợ quyết định quản trị, nâng cao hiệu suất hoạt động, dự báo rủi ro tài chính và cung cấp cơ sở cho các quyết định chiến lược, từ đó đáp ứng các yêu cầu về sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả quản trị và đưa ra quyết định đúng đắn, nên xây dựng các chu kỳ đánh giá định kỳ cho giai đoạn đã qua, nhằm đo lường kết quả hoạt động quản lý và nhận diện các biến động tài chính Quá trình này đồng thời kiểm tra tính cân bằng tài chính, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, cũng như rủi ro tài chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tối ưu dòng tiền, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro và đảm bảo sự bền vững về lợi nhuận.
Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp là yếu tố then chốt cho sự thành công lâu dài, từ các quyết định đầu tư và huy động tài trợ đến phân phối lợi nhuận và quản trị chiến lược Việc phân tích kỹ lưỡng nguồn lực, rủi ro và cơ hội tăng trưởng giúp điều chỉnh kế hoạch tài chính và ưu tiên đầu tư, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và bền vững Đồng thời, sự đồng bộ giữa bối cảnh thị trường, hiệu quả vận hành và mục tiêu dài hạn sẽ tối ưu hóa lợi ích cổ đông, tăng cường thanh khoản và ổn định tài chính cho doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính
- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích hoạt động tài chính làm rõ tầm quan trọng của dự báo tài chính, vì dự báo là nền tảng của hoạt động quản trị và ra quyết định hiệu quả trong doanh nghiệp Dự báo tài chính không chỉ làm sáng tỏ các chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung của tổ chức, nhất quán với chiến lược và mục tiêu phát triển Khi phân tích dữ liệu tài chính, doanh nghiệp có thể dự đoán dòng tiền, chi phí và lợi nhuận tương lai để tối ưu ngân sách, phân bổ nguồn lực và quản trị rủi ro Nhờ đó, dự báo tài chính trở thành công cụ then chốt hỗ trợ quản lý và định hướng chiến lược ngắn hạn và dài hạn, đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của tổ chức.
Phân tích hoạt động tài chính đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là cổ đông góp vốn cho doanh nghiệp quản lý, chấp nhận rủi ro và hưởng lợi từ tiền lời cổ tức cùng thặng dư giá trị của vốn Họ có thể là cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khác và đặc biệt quan tâm đến giá trị cũng như triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp Thu nhập của nhà đầu tư đến từ cổ tức và sự tăng giá trị vốn, hai yếu tố này phụ thuộc phần lớn vào lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra Trong thực tế, nhà đầu tư thường đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp và câu hỏi chủ chốt là mức tiền lời bình quân trên mỗi cổ phiếu là bao nhiêu Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư không hài lòng với lợi nhuận được ghi nhận trên sổ sách kế toán và cho rằng lợi nhuận kế toán có thể chênh lệch rất xa với lợi nhuận thực tế.
Để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả, nhà đầu tư dựa vào các chuyên gia phân tích tài chính—những người trung gian nghiên cứu thông tin kinh tế và tài chính, cung cấp cái nhìn sâu về thị trường Họ có các cuộc tiếp xúc trực tiếp với ban quản trị doanh nghiệp nhằm làm rõ triển vọng phát triển và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất cổ phiếu trong tương lai Qua quá trình đánh giá toàn diện và dữ liệu thị trường, các chuyên gia này giúp nhà đầu tư nhận diện cơ hội và rủi ro, từ đó đưa ra quyết định đầu tư dựa trên phân tích chuyên môn và thông tin thực tế trên thị trường tài chính.
Phân tích tài chính dành cho nhà đầu tư nhằm đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện và ước đoán giá trị cổ phiếu dựa trên nghiên cứu báo cáo tài chính, khả năng sinh lời và phân tích rủi ro trong hoạt động kinh doanh Quá trình này kết hợp xem xét các chỉ tiêu tài chính cốt lõi, đánh giá sức khỏe tài chính và so sánh với chuẩn ngành để đưa ra quyết định đầu tư có căn cứ.
Phân tích hoạt động tài chính đối với các nhà đầu tư tín dụng
Các nhà đầu tư tín dụng cung cấp vốn cho doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh Khi cho vay, họ phải đánh giá kỹ lưỡng khả năng trả nợ của khách hàng nhằm đảm bảo khả năng hoàn vốn và thu nhập từ lãi suất tiền cho vay Do đó, phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay tập trung vào xác định khả năng trả nợ của khách hàng, đánh giá rủi ro tín dụng và xác định tiềm năng sinh lợi của mỗi khoản cho vay dựa trên mức lãi suất và điều kiện vay.
Phân tích cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn có những nét khác nhau rõ rệt Đối với cho vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp và khả năng ứng phó khi nợ đến hạn trả Đối với cho vay dài hạn, nhà cung cấp tín dụng phải tin chắc vào khả năng hoàn trả vốn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, bởi việc trả vốn và lãi phụ thuộc vào mức sinh lời của hoạt động kinh doanh.
Phân tích ho ạt động tài chính đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
Người hưởng lương trong doanh nghiệp là người lao động có thu nhập chính từ tiền lương, bên cạnh đó một số người còn có vốn góp và nhận được lợi nhuận từ hoạt động sản xuất - kinh doanh Do vậy, ngoài tiền lương, thu nhập từ lợi nhuận phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp giúp họ nhận diện mức độ ổn định của thu nhập và định hướng công việc được phân công vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích để xác định giá trị kinh tế, đánh giá mặt mạnh và mặt yếu của doanh nghiệp, nhận diện nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ đó giúp từng đối tượng đưa ra quyết định phù hợp với mục tiêu của mình.
1.1.3 Mục tiêu của phân tích tài chính
Trình t ự và các bước tiến hành phân tích tài chính
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng giải thích và minh chứng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nhằm cung cấp nền tảng tin cậy cho quá trình phân tích và dự báo tài chính Quá trình này tích hợp dữ liệu từ báo cáo tài chính, sổ sách kế toán và các yếu tố thị trường để đánh giá sức khỏe tài chính, nhận diện rủi ro và dự báo dòng tiền, lợi nhuận và nhu cầu vốn Việc áp dụng các phương pháp phân tích tài chính hiện đại giúp doanh nghiệp ra quyết định quản trị hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Kết quả phân tích tài chính hỗ trợ cấp quản trị và các bên liên quan hiểu rõ thực trạng tài chính để hoạch định chiến lược tài chính và đầu tư phù hợp.
Thông tin kế toán bao gồm dữ liệu từ nội bộ và bên ngoài, cùng với các thông tin về số lượng và giá trị, trong đó các số liệu kế toán phải phản ánh trung thực nội dung được trình bày trong báo cáo tài chính; vì vậy, phân tích tài chính trên thực tế chủ yếu dựa vào việc đọc và diễn giải các báo cáo tài chính Có bốn báo cáo tài chính cơ bản cần nắm vững: bảng cân đối kế toán, bảng xác định kết quả kinh doanh (báo cáo thu nhập), bảng lưu chuyển tiền tệ (báo cáo ngân lưu) và thuyết minh báo cáo tài chính.
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Dữ liệu trên bảng cho biết giá trị tài sản theo cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó, giúp đánh giá tổng thể tình hình tài chính, sự phân bổ nguồn lực và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp.
Dựa vào bảng cân đối kế toán, doanh nghiệp có thể nhận định và đánh giá khái quát tình hình tài chính một cách toàn diện Bảng cân đối kế toán gồm hai phần chính là tài sản và nguồn vốn (gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu), cho thấy cơ cấu và mức độ huy động nguồn lực từ các nguồn tài trợ khác nhau để hình thành tài sản, từ đó hỗ trợ đánh giá khả năng thanh toán, thanh khoản và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, cho thấy nguồn lực và tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong báo cáo tài chính, tài sản được phân chia thành hai loại chính: tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động) và tài sản dài hạn (nhóm tài sản cố định, tài sản vô hình và các đầu tư dài hạn), nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng thanh toán và mức độ đầu tư của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Nguồn vốn phản ánh cách hình thành giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính và được phân thành hai loại chính: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Việc nắm bắt và phân tích nguồn vốn giúp hiểu rõ cơ cấu tài chính của công ty, đánh giá khả năng thanh toán và hỗ trợ các quyết định quản trị rủi ro dựa trên mức nợ và vốn tự có tại báo cáo.
Trong đó: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế cho Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 244/2009/TT-BTC Đối với Bảng cân đối kế toán, Thông tư 200 bổ sung thêm một số chỉ tiêu và đặc biệt bổ sung bảng CĐKT áp dụng cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục Bên cạnh đó, Thông tư còn bổ sung các chỉ tiêu quan trọng như tài sản dở dang dài hạn, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang dài hạn và lợi nhuận chưa phân phối được tách thành hai chỉ tiêu riêng: lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đến kỳ trước và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối kỳ này.
Bảng xác định kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cùng với các hoạt động khác của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Nội dung của bảng kết quả kinh doanh gồm các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động, mức độ sinh lời và hiệu quả sử dụng nguồn lực, từ đó giúp người đọc đánh giá tình hình tài chính và hiệu suất làm việc của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
- Phần 1: Lãi, lỗ: phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác
Phần 2 tập trung vào tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, phản ánh việc tuân thủ các nghĩa vụ tài chính như thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và các khoản phải nộp khác; đánh giá mức độ đầy đủ, đúng hạn và minh bạch của các khoản nộp, nhận diện nguyên nhân nợ đọng nếu có và tác động đến ngân sách, tuân thủ pháp lý và uy tín của tổ chức.
Thông tư 200 vẫn giữ nguyên các chỉ tiêu trong báo cáo thu nhập
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, cung cấp cho người dùng căn cứ để đánh giá khả năng tạo ra tiền và cách sử dụng số tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh Có hai phương pháp để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính
Thông tư 200 chỉnh sửa một số chỉ tiêu tài chính, trong đó lãi lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được ghi nhận thay cho lãi lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện trước đây Thông tư cũng bổ sung thêm các chỉ tiêu mới như Các điều chỉnh khác và Tăng, giảm chứng khoán kinh doanh để phản ánh đầy đủ biến động và tác động của biến động tỷ giá đối với báo cáo tài chính.
Bảng thuyết minh báo cáo tài chính được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết, giúp nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn thực tế hoạt động của doanh nghiệp Thuyết minh báo cáo tài chính gồm những nội dung cơ bản nhằm làm rõ các yếu tố và sự kiện liên quan đến các con số trên báo cáo tài chính, từ đó nâng cao mức độ minh bạch và hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình phân tích và ra quyết định.
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
- Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng
- Các chính sách kế toán áp dụng
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng CĐKT
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày.
Theo thông tư 200, thuyết minh Báo cáo tài chính được trình bày chi tiết hơn so với trước Thêm một số thông tin như:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp: Chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường, tuyên bố về khả năng so sánh trên thông tin BCTC
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng CĐKT (bảng cân đối kế toán) cần làm rõ các nội dung sau: phải thu của khách hàng là từ các bên liên quan; tài sản thiếu chờ xử lý được chi tiết theo từng loại; nợ xấu và tài sản dở dang dài hạn được ghi nhận đầy đủ nhằm tăng tính minh bạch, hỗ trợ đánh giá tình hình tài chính và thuận lợi cho công tác kế toán, kiểm toán.
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo KQKD:
• Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Trong trường hợp ghi nhận doanh thu cho thuê tài sản là tổng số tiền nhận trước, DN phải thuyết minh thêm và so sánh sự khác biệt giữa ghi nhận doanh thu theo phương pháp phân bổ dần theo thời gian cho thuê với ghi nhận toàn bộ doanh thu tại thời điểm nhận tiền.
Việc ghi nhận doanh thu cho toàn bộ số tiền nhận trước có thể làm tăng lợi nhuận và dòng tiền ở thời điểm hiện tại, nhưng đồng thời tạo nguy cơ suy giảm lợi nhuận và dòng tiền trong tương lai khi doanh thu được ghi nhận trước tiến độ cung cấp hàng hóa, dịch vụ Điều này ảnh hưởng đến thông tin mà nhà đầu tư dựa vào để đánh giá EPS của DN, vì EPS có thể bị phóng đại ngắn hạn nếu không phản ánh đúng thực tế hoạt động và tiến độ dự án Do đó, nhà đầu tư cần cân nhắc phương pháp ghi nhận doanh thu để có cái nhìn toàn diện về hiệu quả sinh lợi và khả năng thanh toán của DN.
• Chi phí sản xuất, kinh doanh theo yếu tố: hướng dẫn rõ tài khoản để lấy chi phí bao gồm cả CĐKT và KQKD.
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là xử lý thông tin đã thu thập được
Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp so sánh là công cụ được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng, nhằm làm rõ sự khác biệt và đặc trưng riêng của đối tượng nghiên cứu để các đối tượng quan tâm có căn cứ ra quyết định lựa chọn Khi áp dụng phương pháp so sánh, nhà phân tích cần chú ý đến các yếu tố như tiêu chí so sánh phù hợp, nguồn dữ liệu đáng tin cậy, tính khách quan và bối cảnh kinh tế liên quan để tránh sai lệch kết quả; đồng thời đảm bảo sự nhất quán giữa các đối tượng so sánh và xem xét các yếu tố ngoại cảnh có thể tác động đến kết quả phân tích Việc thực hiện tốt phương pháp so sánh giúp đánh giá ưu nhược điểm, nhận diện các xu hướng và từ đó hỗ trợ quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh chiến lược tài chính một cách hiệu quả.
So sánh với mục tiêu đánh giá
Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu đòi hỏi sự đồng bộ ở cả bốn yếu tố: nội dung kinh tế của chỉ tiêu phải được thể hiện thống nhất, phương pháp tính toán phải nhất quán, thời gian đo lường và đơn vị đo lường cũng phải được chuẩn hóa Khi có sự nhất quán này, chỉ tiêu nghiên cứu mới có thể so sánh được giữa các kỳ, các nhóm hoặc các nghiên cứu một cách chính xác và đáng tin cậy.
Gốc so sánh có thể được chọn là gốc về không gian hoặc về thời gian, tùy thuộc mục đích phân tích Về không gian, ta so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác và khu vực này với khu vực khác; loại so sánh này thường được dùng để xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với mức bình quân ngành và bình quân khu vực Lưu ý rằng khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà vẫn không ảnh hưởng đến kết luận phân tích Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hoặc kế hoạch, dự toán Cụ thể, việc xác định gốc thời gian sẽ giúp nhận diện xu hướng và hiệu quả của chiến lược theo từng mốc thời gian được phân tích.
Để xác định xu hướng và tốc độ phát triển của một chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được chọn là giá trị của chỉ tiêu ở kỳ trước hoặc ở một chu kỳ trước (ví dụ năm trước) Khi đó, ta so sánh giá trị của chỉ tiêu ở kỳ phân tích với giá trị của nó ở các kỳ gốc khác nhau nhằm nhận diện sự biến động và mức độ tăng trưởng theo thời gian.
Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ được giao, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Do đó, tiến hành so sánh trực tiếp giữa trị số thực tế và trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu để xác định mức độ đạt được so với dự toán Việc so sánh này cho phép nhận diện khoảng cách giữa kỳ vọng và kết quả thực tế, từ đó điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch và biện pháp triển khai nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả công việc.
Trong phân tích, các dạng so sánh được sử dụng chủ yếu là so sánh xu hướng, so sánh cơ cấu và so sánh với số bình quân So sánh xu hướng hay còn gọi là so sánh theo chiều ngang, được thực hiện bằng cách phân tích sự biến động bằng số tuyệt đối và bằng số tương đối giữa các đối tượng hoặc thời kỳ So sánh cơ cấu hay còn gọi là so sánh theo chiều dọc tập trung vào sự phân bổ tỷ lệ giữa các thành phần của dữ liệu hoặc giữa các nhóm So sánh với số bình quân cho phép đánh giá mức độ lệch khỏi giá trị trung bình, từ đó nhận diện những bất thường hoặc xu hướng trung bình trong tập dữ liệu Những hình thức so sánh này giúp làm rõ sự khác biệt và tương quan giữa các yếu tố trong phân tích.
Phân tích xu hướng các báo cáo tài chính sẽ làm nổi bật biến động của một khoản mục nào đó qua thời gian và việc phân tích này sẽ làm nổi tình hình đặc điểm về lượng và tỷ lệ các khoản mục theo thời gian
Phân tích theo xu hướng giúp đánh giá khái quát tình hình biến động của các chỉ tiêu tài chính, từ đó đánh giá tình hình tài chính Đánh giá đi từ tổng quát đến chi tiết, sau khi đánh giá ta liên kết các thông tin để đánh giá khả năng tiềm tàng và rủi ro nhận ra những khoản mục nào có biến động cần tập trung phân tích xác định nguyên nhân Sử dụng phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối hoặc số tương đối
So sánh bằng số tuyệt đối phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu Khi thực hiện so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ nhận thấy rõ sự biến động về quy mô của chỉ tiêu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc, từ đó đánh giá nhất quán xu hướng và mức độ biến động của dữ liệu.
Y1 : Trị số của chỉ tiêu phân tích Y0 : Trị số của chỉ tiêu gốc
So sánh bằng số tương đối khác với số tuyệt đối ở chỗ nó cho phép nắm bắt kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng số tương đối để đánh giá hiệu quả, khả năng nhạy cảm và sự liên hệ giữa các yếu tố kinh tế thay vì chỉ dựa vào giá trị tuyệt đối Các loại số tương đối được áp dụng phổ biến gồm các tỉ lệ, tỷ suất và các chỉ số so sánh giữa các kỳ hoặc giữa các đơn vị, giúp làm nổi bật biến động và sự khác biệt giữa các chỉ tiêu.
Số tương đối động thái là công cụ dùng để phản ánh nhịp độ biến động và tốc độ tăng trưởng của một chỉ tiêu, thường được trình bày ở hai dạng chính: (1) số tương đối định gốc, được tính bằng yi/y0 với i = 1 đến n, cho thấy sự biến đổi so với kỳ gốc cố định; (2) số tương đối liên hoàn, được tính bằng y(i+1)/yi với i = 1 đến n, thể hiện mức biến động từ kỳ này sang kỳ sau Việc áp dụng cả hai công thức này cho phép so sánh biến động của chỉ tiêu theo thời gian, nhận diện xu hướng và đánh giá mức tăng hoặc giảm tương đối giữa các giai đoạn một cách trực quan và hiệu quả cho các phân tích thống kê và báo cáo.
Số tương đối kế hoạch là thước đo phản ánh mức độ hoàn thành và các nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần thực hiện trong kỳ dựa trên một số chỉ tiêu nhất định Nó cho thấy phạm vi công việc cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra, từ đó hỗ trợ đánh giá tiến độ thực thi kế hoạch, quản trị nguồn lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện trong kỳ của doanh nghiệp so với mục tiêu gốc, cho biết doanh nghiệp đã đạt được bao nhiêu phần trăm kế hoạch Số tương đối có thể được thể hiện dưới dạng chỉ số hoặc tỷ lệ phần trăm và được tính bằng công thức phổ biến: (kết quả thực hiện / mục tiêu gốc) × 100% Việc đánh giá bằng số tương đối giúp so sánh hiệu quả giữa các kỳ, giữa các bộ phận và với các chuẩn mục tiêu, từ đó cung cấp cơ sở cho quyết định quản trị và điều chỉnh kế hoạch.
Chỉ số (tỷ lệ %) thực hiện so với gốc của chỉ tiêu nghiên cứu = Trị số chỉ tiêu thực hiện x100 / Trị số chỉ tiêu gốc
Trong báo cáo quy mô tổng thể, từng khoản mục được thể hiện bằng tỷ lệ so với một khoản mục làm gốc, với tỷ lệ chuẩn là 100%, giúp dễ dàng so sánh và đánh giá các khoản mục trên báo cáo.
Phương pháp so sánh số tương đối kết cấu (chỉ tiêu bộ phận trên chỉ tiêu tổng thể) cho phép phân tích cơ cấu tài chính bằng cách chuẩn hóa từng thành phần, tạo điều kiện so sánh dễ dàng giữa các chỉ tiêu Theo đó, ta có thể thấy rõ sự tăng giảm của từng chỉ tiêu bộ phận so với tổng thể và nhận diện cách thức đóng góp của mỗi phần vào cơ cấu chung Từ phân tích này, ta đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và xu hướng biến động của cơ cấu tài chính để hỗ trợ quyết định quản trị.
So sánh với số bình quân
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN KHO VẬN MIỀN NAM
Gi ới thiệu khái quát về công ty
1990 Thành lập Xí nghiệp Dịch Vụ Kho Vận Giao Nhận (Sotrans F&W)
1992 Thành lập Xí nghiệp Đại Lý Giao Nhận Vận Tải Quốc Tế (Sotrans Logistics)
1993 Thành lập văn phòng đại diện tại Đồng Nai
1999 Thành lập chi nhánh Sotrans tại Hà Nội
2000 Thành lập chi nhánh Sotrans tại Cần Thơ
2001 Đạt chứng nhận ISO 9001:2000 trong lĩnh vực dịch vụ logistics
2002 Thành lập văn phòng đại diện Công Ty Kho Vận Miền Nam tại Bình Dương
2007 Sotrans được chuyển đổi thành công ty cổ phần với tên mới là Công Ty Cổ Phần Kho Vận Miền Nam
2010 Thành lập Xí Nghiệp Giao Nhận Vận Tải Quốc Tế Tiêu Điểm (Sotrans Focus)
Việc thành lập Cảng Kho Vận (Sotrans ICD) và Xí Nghiệp Vật Tư Xăng Dầu (Sotrans Petrol) đánh dấu bước phát triển chiến lược của SOTRANS trong lĩnh vực logistics và dầu khí Từ đó, SOTRANS đã gặt hái nhiều thành tích nổi bật như giải thưởng Thương hiệu mạnh Việt Nam, huy chương lao động hạng nhất và giải thưởng thương mại dịch vụ, khẳng định uy tín và sức cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường.
2013 Góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Hai thành viên bất động sản SORECO
Trong năm 2014, Công Ty Cổ Phần Kho Vận Miền Nam – Sotrans đã xây dựng kho Sotrans Long Bình tại số 1B Hoàng Diệu, Quận 4, TP.HCM, Việt Nam, nhằm tăng cường năng lực lưu trữ và vận chuyển hàng hóa Kho Sotrans Long Bình nằm trong mạng lưới kho bãi của Sotrans và liên hệ qua ĐT: 84 838253009, Fax: 84 838266593, Email: info@sotrans.com.vn, website: www.sotrans.com.vn Thông tin này được trích từ Báo cáo thường niên 2014 của Sotrans.
Ngành nghề kinh doanh bao gồm cho thuê kho, bãi, cảng, nhà xưởng và văn phòng làm việc; xếp dỡ, giao nhận hàng hóa; dịch vụ đại lý vận tải bằng đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt và vận tải đa phương thức; đại lý tàu biển, môi giới hàng hải, dịch vụ logistics và thủ tục hải quan; kinh doanh kho ngoại quan.
Chúng tôi cung cấp các giải pháp logistics tích hợp với CFS (gom hàng, phát hàng lẻ) và ICD (cảng thông quan nội địa), kết nối hiệu quả với Trung tâm phân phối (logistics center) để tối ưu chuỗi cung ứng Hoạt động sản xuất và kinh doanh các sản phẩm dầu nhờn, đồng thời thực hiện bán buôn và bán lẻ xăng dầu, dầu nhớt các loại đáp ứng đa dạng nhu cầu thị trường Bên cạnh đó, chúng tôi kinh doanh vật tư thiết bị vận tải và cung cấp dịch vụ kho, bốc xếp, giao nhận hàng hóa, tạo nền tảng logistics trọn gói cho khách hàng.
2.1.3 Tình hình nhân sự, đánh giá sự đáp ứng với tình hình hoạt động, kinh doanh hiện nay
Hiện nay Sotrans sở hữu đội ngũ hơn 351 cán bộ công nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực chủ chốt gồm kinh doanh kho bãi, kinh doanh xăng dầu, dịch vụ giao nhận vận tải nội địa và quốc tế, cùng với quản lý cảng thông quan nội địa Mạng lưới phủ kín khắp toàn quốc và hệ thống đại lý giao nhận toàn cầu, đi kèm cơ sở vật chất lên tới hàng trăm ngàn mét vuông kho bãi, cảng và thiết bị bốc dỡ, vận chuyển container hiện đại đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Sotrans đã xây dựng thương hiệu mạnh trong nước và quốc tế với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 20% đến 30%.
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẠI HỘI ĐỒNGCỔ ĐÔNG
BANCHỨC NĂNG ĐƠN VỊ THÀNH
PHÒNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
PHÒNG KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
BAN KI ỂM SOÁT NỘI BỘ
XÍ NGHI ỆP ĐLGNVTQUỐC TẾ
XÍ NGHI ỆP DV KHO VẬN GIAO Ậ
XÍ NGHIỆP DV KHO BÃI CẢNG
XÍ NGHIỆP GNVTQT TIÊU ĐIỂM
XÍ NGHIỆP VẬT TƯ XĂNG DẦU
Bảng 2.1: Doanh số từng bộ phận của Sotrans từ năm 2012 đến năm 2014 ĐVT: triệu đồng
XN đại lý giao nhận vận tải quốc tế 143,335 90,326 140,259
XN dịch vụ giao nhận 96,693 155,931 179,540
XN dịch vụ kho, bãi, cảng 52,375 27,352 36,646
XN giao nhận vận tải quốc tế tiêu điểm 67,434 119,805 169,294
XN vật tư xăng dầu 176,237 175,908 232,721
Nhìn vào bảng kết quả từ báo cáo thường niên 2014 của Sotrans, hầu hết các đơn vị trong công ty đều ghi nhận mức tăng trưởng khá tốt, phần lớn nhờ sự liên kết nội bộ được đẩy mạnh Đáng chú ý là doanh thu của XN giao nhận vận tải quốc tế tiêu điểm và XN vật tư xăng dầu tăng mạnh nhất Cụ thể, doanh thu của XN giao nhận vận tải quốc tế tiêu điểm năm 2012 đạt 67,434 triệu đồng và tiếp tục tăng lên 119,805 triệu đồng năm 2013, 169,294 triệu đồng năm 2014 Doanh thu tăng lên nhờ doanh nghiệp áp dụng các phương pháp mới nhằm thúc đẩy doanh thu.
Vận tải quốc tế ghi nhận sự gia tăng lượng khách hàng mới và mở rộng thị trường, đi kèm với sản lượng từ khách hàng hiện hữu tăng lên Công ty khai thác thêm một số đại lý tại tuyến đường Châu Âu và Châu Á theo yêu cầu của khách hàng Đồng thời tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ với các hãng tàu và hãng hàng không mới tham gia thị trường Việt Nam để mở rộng mạng lưới vận tải và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Vận chuyển hàng không ghi nhận mức tăng khá cao về năng suất và sản lượng so với cùng kỳ, cho thấy hiệu quả vận hành đang được cải thiện rõ rệt Dù nền kinh tế chung vẫn còn nhiều khó khăn và cạnh tranh giữa các công ty giao nhận ngày càng gay gắt, ngành này vẫn duy trì và phát triển được tỷ suất lợi nhuận trên vốn ở mức cao, cho thấy khả năng tối ưu hóa chi phí và quản trị rủi ro của các doanh nghiệp trong lĩnh vực vận chuyển hàng không.
Chúng tôi tập trung phát triển lượng khách hàng lớn, đều đặn và ổn định, đồng thời mở rộng mạng lưới đại lý mới với mức giá cạnh tranh và nguồn hàng được xác định rõ, kể cả vận chuyển bằng Sea và Air Việc đa dạng hóa khách hàng và đại lý cùng với khả năng đáp ứng hàng hóa theo yêu cầu sẽ tối ưu hóa chuỗi cung ứng, tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị trường một cách bền vững.
Hoạt động giao nhận nội địa được tối ưu hóa bằng cách đưa thiết bị cơ giới tham gia trực tiếp vào quá trình đóng gói hàng hóa trong container, đảm bảo tính chính xác và an toàn cho hàng hóa Đồng thời, chúng tôi tổ chức đội ngũ nhân viên giao hàng thường trực tại khu công nghiệp nhằm đảm bảo tiến độ vận chuyển, quản lý kho bãi và duy trì chuỗi cung ứng nội địa liên tục.
Vào năm 2015 tại Hải Yên và khu công nghiệp Hải Hà, cạnh tranh trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa đã chuyển từ các công ty giao nhận tư nhân vốn ít sang các công ty giao nhận nước ngoài nhận hàng chỉ định Các chủ hàng lớn như Dutch Lady và Colgate ngày càng sử dụng nhiều đơn vị dịch vụ logistics nên yêu cầu ổn định mức giá trong một năm, yếu tố này trở thành bất lợi cho hoạt động giao nhận và điều chỉnh chuỗi cung ứng.
Hoạt động kinh doanh kho bãi của công ty được khởi động từ việc đầu tư xây dựng kho Sotrans Long Bình và đưa vào hoạt động từ cuối năm 2014 Công ty mở rộng thị trường kho bãi tại Long An với diện tích 5.000 m2 và đẩy mạnh công tác lưu trữ, quản lý hàng hóa Để nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng, hệ thống quản lý kho bằng phần mềm được đưa vào vận hành và hoạt động hiệu quả Hệ thống kho của công ty hoạt động rất tốt và luôn đầy hàng Tuy nhiên, nhiều chủ hàng bán thẳng tại mạn tàu nên lượng hàng gửi kho không nhiều và kế hoạch lưu kho chưa chính xác Thời gian lưu kho ngắn, số lượng hàng gửi kho ít và đa dạng mặt hàng khiến hệ số sử dụng diện tích thấp.
Hoạt động khai thác cảng ICD cho thấy lượng hàng thông qua Sotrans ICD giảm khoảng 8%, trong khi lượng hàng rỗng thông qua tăng khoảng 30% Công tác nâng cấp và sửa chữa bãi đã được triển khai: đưa vào sử dụng 2.300 m2 diện tích và mở rộng thêm 5.000 m2 bãi do di dời Kho ngoại quan, nhằm cải thiện khả năng tiếp nhận và xử lý hàng hóa Đồng thời, cảng đưa vào sử dụng một xe nâng hàng mới và một xe nâng đã được đại tu sửa chữa để đảm bảo hoạt động hiệu quả và ổn định.
Trong năm 2014, hoạt động kinh doanh xăng dầu ghi nhận chiết khấu hoa hồng tương đối cao so với năm 2013 Công ty đã chủ động ký hợp đồng mua bán với nhiều nhà cung cấp khác nhau nhằm so sánh giá và mua hàng ở mức giá tối ưu, từ đó đẩy lãi gộp lên Bên cạnh đó, công ty thành lập Phòng Kinh doanh xăng dầu để tập trung khai thác mặt hàng dầu HFO ở mức giá sỉ Thông tin được trích từ Báo cáo thường niên 2014 của Sotrans.
Phát triển hoạt động kinh doanh: Trong năm 2014 công ty đã có những tăng trưởng nhất định về doanh thu và lợi nhuận Doanh thu tăng 30%, lợi nhuận tăng 22%
Các ngành nghề kinh doanh tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, đồng thời mở rộng diện tích kho tại các khu vực chiến lược như Long Bình, Long An và Phú Mỹ để nâng cao năng lực lưu trữ và logistics Quản lý công nợ được kiểm soát chặt chẽ, không phát sinh công nợ xấu Các dự án vận hành hiệu quả: dự án kho Sotrans Long Bình đã triển khai đúng tiến độ, hiện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; dự án liên doanh với Gefco đã ký kết hợp đồng hợp tác và đang từng bước thành lập liên doanh Công tác tuyển dụng được đẩy mạnh nhằm chuẩn bị cho hoạt động trong năm 2015.
Những mặt chưa làm được
Phân tích tình hình tài chính Sotrans
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính Sotrans 2.2.1.1 Phân tích xu hướng (chiều ngang)
Phân tích xu hướng bảng cân đối kế toán giai đoạn 2012 - 2014
Tỷ lệ(%) Nguyên nhân Đánh giá
Lượng tiền mặt và tiền gửi thanh toán tăng lên
TSNH tăng là một dấu hiệu tốt
I Tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền gửi ngân hàng kỳ hạn dưới 3 tháng giảm.
Tốt, DN chủ động trong hoạt động SXKD, không tốt vì bị giới hạn cơ hội đầu tư
2 Các khoản tương đương tiền
II Các khoản ĐTTC NH -223 -8.35 218 8.90
Mua thêm chứng khoán ngắn hạn
Tùy vào giá cổ phiếu đang nắm giữ
III Các khoản phải thu NH 5,405 9.11 54,909 84.77
1 Phải thu KH 287 0.51 30,986 54.60 Áp d ụng chính sách bán chịu
Giúp DN gi ữ chân được khách hàng
3 Các khoản phải thu khác 4,638 127.36 3,103 37.48
4 Dự phòng phải thu NH khó đòi
Tốt, DN chủ yếu làm dịch vụ, nhưng nếu thị trường đang cần sản phẩm thì DN không thể cạnh tranh, mất thị phần
Tạm ứng cho nhân viên và ký quỹ, ký cược
Tùy vào hoạt động kinh doanh
1 Chi phí trả trước ngắn hạn -503 -49.98 336 66.84
2.Thuế GTGT được khấu trừ 7,226 256.61 264 2628.88
3 Thuế và các khoản phải trả nhà nước
Tốt, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ
Mua thêm máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải…
Tốt, chú trọng vào HĐKD chính và nhằm tạo ra chất lượng tốt cho
II Các khoản ĐTTC DH 1,530 91.07 -3,210 -100.00
Thanh lý kho ản đầu tư vào công ty SDB
Tăng vốn về cho DN
1 Đầu tư vào công ty con 1,530 - -1,530 -100.00
2 Đầu tư và công ty liên kết - - -1,680 -100.00
Trả trước chi phí s ửa chữa và b ảo trì
1.CP trả trước dài hạn 1,298 317.80 3,244 190.07
T ốt, mở rộng qui mô
Khoản mục tài sản được cấu thành bởi tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
TSNH năm 2013 tăng 19,424 triệu đồng chiếm 14.28% so với năm 2012 Năm
Trong năm 2014, tổng tiền tăng 35.384 triệu đồng, chiếm 22,76% so với năm 2013 TSNH tăng lên chủ yếu do tiền tăng, gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng dưới kỳ hạn 3 tháng Năm 2013 tiền tăng 27.166 triệu đồng, tương đương 659,5% so với năm 2012; đến năm 2014, TSNH tăng thêm 10.834 triệu đồng, tăng 34,63% so với năm 2013 Lượng tiền tăng lên giúp DN chủ động trong chi tiêu và hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng nếu để lượng tiền mặt quá nhiều cũng giới hạn các cơ hội đầu tư nhằm tạo ra khả năng sinh lời cho DN.
Thứ hai, TSNH tăng do khoản phải thu tăng lên, trong đó nổi bật là khoản phải trả trước cho người bán tăng lên khá mạnh Năm 2013, khoản phải thu tăng 481 triệu đồng, tương ứng với 45,10% so với năm 2012; sang năm 2014, mức tăng đột biến lên 21.397 triệu đồng so với năm trước cho thấy xu hướng tăng trưởng mạnh của các khoản mục ngắn hạn.
Trong báo cáo tài chính năm 2013, tỷ lệ 1382.99% cho phần trả trước chủ yếu dành cho các bên không phải liên quan, và các khoản phải thu khác đóng vai trò tiếp theo Năm 2013 tăng 4,631 triệu đồng tương ứng 127.36%, và năm 2014 tăng thêm 3,103 triệu đồng tương ứng 37.48% so với năm 2013; các khoản tăng này gồm phí vận chuyển trả hộ, cổ tức phải thu và các khoản khác Thuế GTGT được khấu trừ cũng tăng đáng kể, cho thấy lượng nguyên vật liệu đầu vào của doanh nghiệp đã tăng lên Doanh nghiệp đang mở rộng hoạt động kinh doanh nhằm thúc đẩy doanh thu ở các lĩnh vực khác.
Vì hoạt động của DN chủ yếu là dịch vụ, hàng tồn kho giảm đáng kể trong hai năm liên tiếp: năm 2013 giảm 1.695 triệu đồng, tương ứng 46,20% so với năm 2012; sang năm 2014, hàng tồn kho tiếp tục giảm 920 triệu đồng, tương ứng 46,61% so với năm 2013.
TSDH giảm vào năm 2013 nhưng lại tăng vào năm 2014 Cụ thể như sau, TSDH năm 2013 giảm 1,211 triệu đồng tương ứng với 3.64% so với năm 2012, nhưng năm
Trong năm 2014, TSDH tăng 33.341 triệu đồng, tương ứng mức tăng 104,09% so với năm 2013 Biến động của TSDH được kết quả bởi sự tăng giảm của TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình Năm 2013, TSCĐ hữu hình giảm do một số tài sản đã khấu hao hết và một số TSCĐ không còn đủ điều kiện ghi nhận là TSCĐ hữu hình theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính; giá trị còn lại của các TSCĐ này được phân bổ hết vào kết quả hoạt động kinh doanh trong vòng 1–3 năm Đối với TSCĐ vô hình, năm 2013 giảm 219 triệu đồng, tương ứng 16,19% so với năm 2012, trong khi năm 2014 tăng 169 triệu đồng, tương ứng 14,86% so với năm 2013.
Tỷ lệ(%) Nguyên nhân Đánh giá
A NỢ PHẢI TRẢ 10,949 26.85 48,405 93.57 Đầu tư vào XDCB, mở rộng qui mô
DN chú trọng vào hoạt động kho, bãi
I Nợ ngắn hạn 10,967 27.27 43,811 85.59 Được hưởng TDTM và chi phí xây dựng, phí dịch vụ chuyên nghiệp tăng
Tốt, DN luôn biết khai thác vốn của đối tác để phục vụ hoạt động SXKD
2 Người mua trả tiền trước 899 224.12 -1,045 -80.36
3 Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
6 Các KPT, phải nộp ngắn hạn 94 3.33 1,489 51.22
7 Quỹ khen thưởng, phúc lợi -509 -86.73 -77,889 -100.00
Trợ cấp thôi việc và nhận ký quỹ, ký cược tăng
Tùy vào tình hình kinh doanh của DN
Trích lập quỹ và LNST chưa phân phối tăng lên
Tốt, giúp DN chủ động trong việc sử dụng vốn
I VCSH 7,263 5.65 17,397 12.81 LNST chưa phân phối
DN hoạt động có lời
NV 18,212 10.76 68,726 36.65 Tốt, DN luôn chủ động về vốn
Nguồn vốn tăng qua các năm là do nợ phải trả cùng với VSCH tăng lên Cụ thể như sau:
Nợ ngắn hạn năm 2013 tăng 10,967 triệu đồng tương ứng với 27.27% so với năm
2012 và năm 2014 tăng 43,811 triệu đồng tương ứng với 85.59% so với năm 2013 Nợ phải trả tăng chứng tỏ một điều DN vẫn đang rất cần vốn
Nợ ngắn hạn tăng và nợ dài hạn giảm mạnh cho thấy một số khoản nợ dài hạn đang được chuyển đổi sang nợ ngắn hạn, phản ánh xu hướng tối ưu hóa cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp đang chú trọng trả bớt nợ dài hạn để giảm áp lực lãi vay, đồng thời vẫn cần vốn cho hoạt động kinh doanh để duy trì và mở rộng hoạt động.
Trong báo cáo, NNH tăng lên chủ yếu do khoản phải trả người bán tăng lên, cho thấy doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn từ đối tác Phải trả người bán năm 2013 tăng 4.916 triệu đồng, tương ứng 17,05% so với năm 2012, và năm 2014 tăng lên 61.243 triệu đồng, tương ứng 181,45% so với năm 2013 Sự tăng trưởng của khoản phải trả người bán phản ánh áp lực thanh toán và sự phụ thuộc vốn từ đối tác trong chu trình mua bán của doanh nghiệp.
NDH năm 2013 giảm 18 triệu đồng tương ứng với 3.13% so với năm 2012 và năm 2014 tăng 4,594 triệu đồng tương ứng với 835.15% so với năm 2013 Đối với một
DN có qui mô như Sotrans thì với khoản NDH như vậy là không nhiều DN đang muốn cắt giảm chi phí trả lãi đối với các khoản NDH
Vốn chủ sở hữu (VCSH) của Sotrans tăng lên chủ yếu nhờ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng, khiến VCSH của công ty tiếp tục tăng Cụ thể, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2013 tăng đã đóng góp trực tiếp vào mức tăng của vốn chủ sở hữu và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh tích cực của Sotrans Sự gia tăng LNST chưa phân phối cũng củng cố nguồn vốn và tăng cường khả năng đầu tư cho các dự án trong tương lai.
2,799 triệu đồng tương ứng với 19.40% so với năm 2012 Năm 2014 so với 2013 tăng 16,193 triệu đồng tương ứng 93.98%
Nhìn chung, tổng TS và tổng NV của Sotrans tăng qua từng năm, và năm tới mức tăng trưởng cao hơn năm trước là dấu hiệu tích cực cho những nỗ lực của Sotrans trong thời kỳ kinh tế còn khó khăn Lĩnh vực Logistics ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn với các công ty có vốn nước ngoài Sotrans cần phấn đấu nhiều hơn nữa, mở rộng thị trường tiềm năng và giữ vững thị phần hiện có để tăng cường vị thế trên thị trường.
Cần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và cấu trúc lại nguồn vốn để tăng trưởng ổn định trong thời gian tới
Phân tích xu hướng bảng xác định KQKD giai đoạn 2012 – 2014
1 DTBH và CCDV 53,923 8.88 211,467 31.98 DT tăng là một điều tốt
4 GVHB và CCDV 45,850 9.27 217,731 40.27 Tăng nhanh hơn DT, chưa quản lý tốt CP
5 LNGBH và CCDV 8,073 7.18 -7,264 -6.03 Giảm, không tốt
6 DT H ĐTC -546 -9.84 6,767 135.21 Tăng, được chia cổ tức
Trong đó: CP lãi vay -13 - 837 -
8 CP bán hàng 4,118 5.69 -21,768 -28.47 Giảm, tùy vào chiến lược bán hàng của DN
9 CP quản lý DN 4,344 32.71 18,544 105.23 Tăng, phụ thuộc quyết định khen thưởng, tăng lương…
10.LN thuần từ HĐKD -1,288 -3.99 3,390 10.95 Tăng, HĐKD có hiệu quả
14 LN trước thuế -1,021 -3.11 4,254 13.37 Tăng, DN kinh doanh có hiệu quả
15.CP thuế TNDN hiện tại -282 -3.51 1,015 13.09
16 LNST TNDN -739 -2.98 4,004 16.64 Tăng, DN kiểm soát được
Lợi ích của cổ đông thiểu số - - -12 -
Nhìn chung kết quả hoạt động kinh doanh của Sotrans năm 2014 khả quan hơn năm 2013; năm 2013 LNST của Sotrans giảm so với năm 2012, chủ yếu do doanh thu tăng trưởng chậm hơn so với GVHB, trong khi doanh thu hoạt động tài chính giảm mạnh nhưng chi phí lại tăng lên quá cao dẫn đến lợi nhuận từ hoạt động KD (LNG từ HĐKD) giảm so với năm 2012 Đến năm 2014, DN đẩy mạnh tiêu thụ HTK nên HTK giảm 920 triệu đồng tương ứng 46,61%, và tín dụng thương mại được áp dụng hiệu quả, giúp KPT khách hàng tăng 30,986 triệu đồng tương ứng 54,60% so với năm 2013; GVHB năm 2014 tăng 217,731 triệu đồng tương ứng 40,27% so với năm 2013 và DT HĐTC tăng 135,21% tương ứng 6,767 triệu đồng so với năm 2013 GVHB gồm có GVHB dịch vụ và GVHB của bán hàng, trong khi DT của bán hàng là 228,948 triệu đồng năm 2014 nhưng GVHB lên tới 220,118 triệu đồng, chiếm tỷ trọng khá cao Sở dĩ DT HĐTC tăng mạnh là nhờ DN rút vốn từ công ty liên kết SDB, không đầu tư thêm; cổ tức và lợi nhuận từ đầu tư cổ phiếu, lãi tiền gửi ngân hàng và chênh lệch TGHĐ nhờ có sử dụng ngoại tệ trong giao dịch đã đóng góp vào sự tăng trưởng này.
Một năm 2013, thu nhập khác của DN tăng 381 triệu đồng so với năm 2012, tương ứng với 63.26%, chủ yếu do DN thanh lý nhiều TSCĐ và nhận được bồi thường lớn khoảng 662 triệu đồng Đến năm 2014, thu nhập khác giảm 699 triệu đồng, tương ứng với 71.06% so với năm 2013, nguyên nhân là DN không thanh lý TSCĐ nhiều như năm 2013 và cũng không nhận được bồi thường từ đơn vị khác.
CP tài chính của DN do lãi vay chiếm tỷ trọng lớn ngoài ra còn có phần lỗ trong chênh lệch tỷ giá hối đoái đã thực hiện
CP khác tăng do DN bị phạt thuế 141 triệu đồng vào năm 2014 Ngoài ra, chi phí từ việc nhượng bán thanh lý TSCĐ so với năm 2013 có sự tăng lên Năm 2013 tăng 584.3% là do các yếu tố nội tại của doanh nghiệp tác động lên chi phí và doanh thu trong kỳ trước.
DN trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ổn định ở giai đoạn 2012-2014, tuy nhiên DN cần mở thêm nhiều hướng đi mới để thúc đẩy doanh thu, nâng cao chất lượng dịch vụ và xem xét lại đối thủ cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế hiện nay nhằm tìm ra chiến lược tăng trưởng riêng cho mình.
Phân tích xu hướng Bảng lưu chuyển tiền tệ giai đoạn 2012 – 2014
(Lãi)/lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện -0.534 -766.74 21 -4521.76 Lãi từ hoạt động đầu tư 316 -6.04 -2,680 54.54
3.LN từ HĐKD trước thay đổi VLĐ -1,171 -3.50 1,994 6.18
Thay đổi các khoản phải thu 2,465 34.54 -54,522 -1167.14
Giảm mạnh, tùy vào chính sách bán hàng thu tiền của DN
Thay đổi hàng tồn kho 1,305 334.93 -775 -45.73
Thay đổi các khoản phải trả 3,402 85.91 39,456 535.94
Tăng mạnh, DN được hưởng chính sách TDTM tốt
Thay đổi CP trả trước -201 3338.36 -3,374 1633.83
Tiền lãi vay đã trả 4 -33.46 -828 9680.70
Tiền thu khác từ HĐKD -68 -5.43 -1,183 -100.00 Tiền chi khác từ HĐKD 3,473 -74.84 -3,370 288.61
Không tốt, HĐKD sử dụng tiền nên không tạo ra được dòng tiền dương
II.LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐĐT
1 Tiền chi mua sắm, xây dựng TSCĐ -1,010 128.87 -35,349 1970.09
Tăng, DN chú trọng vào việc nâng cấp máy móc, thiết bị
2 Tiền thu thanh lý, nhượng bán TSCĐ 269 32,929.48 -202 -74.87
3 Tiền chi góp vốn đơn vị khác -1,530 - 1,530
4.Tiền thu do bán khoản góp vốn đơn vị khác
5 CT và LN được chia -490 -9.25 1,255 26.13
LCT THUẦN TỪ HĐĐT -2,761 -61.21 -24,434 -1396.44 HĐĐT sử dụng tiền niều hơn là tạo ra tiền
III LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐTC
1 Tiền vay NH, DH nhận được -11,736 -89.23 85,398 6029.43 Tăng, do DN đang cơ cấu lại nguồn vốn
2 Tiền chi trả nợ gốc vay 11,736 -89.23 -85,398 6029.43
3 CT đã trả cho cổ đông 5,033 -27.41 3,295 -24.73
HĐTC sử dụng tiền nhưng quacác năm đều giảm, tốt vì đã trả các khoản nợ
Tiền và TĐT đầu năm 5,638 9.92 19,926 31.89 Ảnh hưởng của thay
TGHĐ quy đổi ngoại tệ 19 -91.60 2 -140.25
Tiền và tương đương tiền cuối năm 17,355 27.78 -22,713 -28.45
Dòng tiền cuối năm giảm, không tốt cho hoạt động DN
Dòng lưu chuyển tiền tệ là công cụ quản trị tài chính quan trọng của doanh nghiệp, cho phép mở rộng hoạt động, thay thế tài sản cần thiết, tận dụng các cơ hội thị trường và chi trả cổ tức cho cổ đông Bảng lưu chuyển tiền tệ cho biết khả năng tạo tiền mặt, tình hình quản lý tài sản và các nghĩa vụ pháp lý ngoài vốn chủ sở hữu, đồng thời chi tiết các khoản đầu tư vào tài sản sản xuất và đầu tư tài chính của doanh nghiệp Nó giúp cả nhà quản lý và nhà nghiên cứu trả lời các vấn đề cấp thiết liên quan đến tiền mặt và dòng tiền, từ đó đánh giá hiệu quả vận hành và mức độ rủi ro tài chính Theo nguyên tắc ghi sổ kép, mỗi sự tăng lên hoặc giảm xuống của một khoản mục sẽ làm tăng hoặc giảm tiền mặt và được thể hiện qua sự thay đổi của dòng tiền trên bảng lưu chuyển tiền tệ.
Nhìn vào cấu trúc dòng tiền của Sotrans, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là nguồn tiền chính Năm 2013 cho thấy sự tăng trưởng mạnh so với năm 2012, nhưng sang năm 2014 dòng tiền kinh doanh lại sụt giảm so với năm 2013 Nguyên nhân không phải do hoạt động kinh doanh không hiệu quả mà là khoản phải thu của Sotrans tăng mạnh vào năm 2013, khiến dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng và giảm mạnh ở năm sau.