Chúng ta có thể nhận định rằng: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Khái quát về NHTM
Ngân hàng hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa; đồng thời khi nền kinh tế hàng hóa tiến lên tới trình độ cao hơn – kinh tế thị trường – ngân hàng ngày càng được hoàn thiện và khẳng định vai trò là một định chế tài chính thiết yếu.
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với các nội dung như nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cùng với việc cung ứng các dịch vụ thanh toán; ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh liên quan, trong đó hoạt động ngân hàng được hiểu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với các nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; các nội dung này được quy định tại Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH, ban hành ngày 26/12/1997).
1.1.2 Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM), giống như các loại hình doanh nghiệp khác, vận hành với mục tiêu sống còn là lợi nhuận và sự ổn định tài chính Tuy nhiên, nhờ hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng – một môi trường kinh doanh đặc thù – NHTM có một số điểm khác biệt so với các doanh nghiệp ở các ngành nghề thông thường, từ cơ cấu nguồn vốn, quản lý rủi ro và chu trình cho vay đến quy trình huy động vốn, tuân thủ pháp lý và sự giám sát của cơ quan nhà nước.
Tiền vừa là phương tiện kinh doanh, vừa là mục đích kinh doanh, đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh (Lê Phúc Minh Chuyên, 2015)
Vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn của người khác, hoạt động theo cơ chế “đi vay để cho vay”
Hoạt động chứa nhiểu rủi ro do quan hệ với nhiều khách hàng và trên nhiều lĩnh vực
Trong ngân hàng, sản phẩm được hiểu là dịch vụ tài chính, và một số sản phẩm đặc biệt như tín dụng đóng vai trò quan trọng Tín dụng là một quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn, tạo ra những lợi thế riêng cho ngân hàng so với các sản phẩm khác Theo Lê Phúc Minh Chuyên (2015), tín dụng không chỉ cấp vốn mà còn là yếu tố then chốt trong chiến lược cạnh tranh và phát triển dịch vụ ngân hàng.
Tính liên kết của hệ thống trong quá trình kinh doanh giữa các ngân hàng luôn có mối quan hệ hợp tác liên kết
Trong ngân hàng, các sản phẩm có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ với nhau, khiến việc tách riêng từng sản phẩm hoặc từng nhóm sản phẩm để đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh trực tiếp gặp nhiều khó khăn Do đó, việc đo lường hiệu suất thường phải xem xét ở phạm vi tổng thể của hệ thống sản phẩm, vì kết quả tài chính phản ánh cả tập hợp chứ không phải từng sản phẩm riêng lẻ (Lê Phúc Minh Chuyên, 2015).
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế
Nhìn chung, NHTM có ba chức năng cơ bản: chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng tạo tiền (Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn, 2012)
1.1.3.1 Chức năng trung gian tài chính
Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (NHTM) Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn, đồng thời vừa là người đi vay vừa là người cho vay và hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay Hoạt động này tạo lợi ích cho các bên tham gia như người gửi tiền và người đi vay.
1.1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán Ở đây, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh cùa họ Các NTHM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó
Theo Đặng Thị Việt Đức và Phan Anh Tuấn (2012), việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, vì chức năng này thúc đẩy lưu thông tiền tệ an toàn và hiệu quả Đồng thời, với chức năng này, ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như thanh toán điện tử, chuyển khoản và thẻ, góp phần nâng cao tính tiện dụng và tốc độ giao dịch trong hoạt động kinh doanh và trao đổi hàng hóa.
Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng giúp các chủ thể kinh tế tiết kiệm chi phí và thời gian giao dịch, đồng thời bảo đảm an toàn khi thanh toán; nhờ đó, nó thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán và lưu chuyển vốn, góp phần phát triển kinh tế Việc thanh toán qua ngân hàng làm giảm lượng tiền mặt lưu thông, giúp tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như in ấn, đếm nhận và bảo quản tiền Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này tăng lợi nhuận thông qua phí thanh toán và mở rộng nguồn vốn cho vay thể hiện trên dư có của khách hàng Đồng thời, nó là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.
(Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn, 2012)
Chức năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng lượng tiền và các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của xã hội Tiền không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra, đóng vai trò chủ chốt trong nguồn tiền giao dịch Nhờ đó, tiền ghi sổ và tiền thanh toán do hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại góp phần lưu thông và cân đối cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế (Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn, 2012)
Chức năng tín dụng ngân hàng cho thấy mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế Khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng, từ đó đẩy mạnh cung tiền và lưu thông tiền tệ trên thị trường Khi hoạt động cho vay được mở rộng, nguồn tiền trong nền kinh tế được tăng lên, nâng cao thanh khoản và kích thích chi tiêu cũng như đầu tư Do đó, sự tăng trưởng của tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung tiền và hỗ trợ sự phát triển kinh tế.
Chức năng của ngân hàng thương mại là một tập hợp các hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau; chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản, làm nền tảng cho các chức năng khác Đồng thời, khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền, nguồn vốn tín dụng được tăng lên và hoạt động tín dụng được mở rộng.
1.1.4 Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngân hàng một cách thường xuyên, tập trung vào các nghiệp vụ chủ yếu như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
1.1.4.1 Nhận tiền gửi Đây là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức các hình thức:
Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế hàng hóa, luôn có một số người tạm thời thừa vốn và có vốn nhàn rỗi cùng với nhu cầu cho vay, đồng thời cũng có những người tạm thời thiếu vốn và có nhu cầu đi vay Quan hệ này hình thành khi vốn được dịch chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, với điều kiện hoàn trả vốn và lãi suất theo thỏa thuận, từ đó hình thành lợi nhuận từ việc chuyển giao quyền sử dụng vốn vay Đây chính là quan hệ tín dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lãi suất, nhằm đáp ứng nhu cầu của cả người vay và người cho vay Lãi suất được xác định để bù đắp chi phí và mang lại lợi ích cho hai bên, từ đó hình thành một quan hệ tín dụng bình đẳng, có lợi cho cả hai phía và mang tính thỏa thuận.
Quan hệ tín dụng đã hình thành và tồn tại từ rất xa xưa; thậm chí hình thức tín dụng sơ khai đã xuất hiện ngay sau khi xã hội nguyên thủy tan rã Qua thời gian, quan hệ tín dụng phát triển với nhiều hình thức, từ đơn giản đến phức tạp, từ các mô hình ở cấp cộng đồng đến hệ thống tài chính hiện đại Sự chuyển hóa liên tục của tín dụng phản ánh sự tiến bộ của nền kinh tế, đồng thời mở rộng nguồn vốn lưu thông, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng ở mọi quy mô Nhờ đó, tín dụng không chỉ là công cụ trao đổi mà còn là động lực tăng trưởng và cân đối nguồn lực trong xã hội.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo từng giai đoạn, các hình thức tín dụng ngày càng được hình thành và nâng cao trình độ Qua sự vận động của kinh tế và xã hội, các loại tín dụng như tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng đã xuất hiện, mỗi loại có điều kiện kinh tế - xã hội riêng biệt Hiện nay, các hình thức tín dụng này vẫn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước.
1.2.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Trong các hình thức tín dụng, tín dụng ngân hàng là một hình thức vô cùng quan trọng, đóng vai trò chủ đạo trong cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế Nó là nguồn cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp và các cá nhân, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng Với sự phát triển của công nghệ ngân hàng hiện đại, tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên tiện lợi, an toàn và linh hoạt, đồng thời tăng khả năng tiếp cận vốn ở cả thị trường trong nước và quốc tế.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tác nhân, thể nhân khác trong nền kinh tế Trong mối quan hệ này, ngân hàng đóng vai trò cấp vốn và quản lý rủi ro tín dụng, còn người vay là các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vốn để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu Đây là cơ chế kết nối nguồn vốn với nhu cầu thực tế của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nhưng đòi hỏi thẩm định tín dụng và sự tuân thủ các quy định để duy trì sự ổn định tài chính (Dương Đăng Chinh, 2005)
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định, kèm theo một chi phí nhất định Theo Nguyễn Minh Kiều (2005), tín dụng ngân hàng là cơ chế cấp vốn mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng để họ có thể sử dụng nguồn vốn đó trong các mục đích nhất định, với cam kết hoàn trả đầy đủ đúng thời hạn và chi phí tín dụng được xác định trước.
Từ những định nghĩa trên, chúng ta đúc kết được rằng:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội, với ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian chuyển vốn từ người có vốn sang người cần vốn Đây không phải là chuyển vốn trực tiếp từ nơi thừa sang nơi thiếu mà là quá trình dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua ngân hàng Bản chất của quan hệ tín dụng ngân hàng gồm vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, đồng thời là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là mối quan hệ bình đẳng, mang lại lợi ích cho hai bên.
1.2.2 Chức năng và vai trò của tín dụng ngân hàng 1.2.2.1 Chức năng của tín dụng ngân hàng
Chức năng tập trung và phân phối nguồn tài chính trong nền kinh tế được thể hiện qua mối quan hệ giữa tập trung trong mua vốn và phân phối trong bán vốn, nhằm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính cho tăng trưởng Quá trình tập trung vốn kết nối tiết kiệm và đầu tư, tăng cường khả năng huy động vốn từ khu vực dân cư, doanh nghiệp và tổ chức, đồng thời tối ưu chi phí và thời gian huy động Chức năng phân phối vốn đảm bảo dòng tiền được hướng tới các ngành, dự án có tiềm năng sinh lời, kích thích đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế Quan hệ giữa mua vốn và bán vốn hình thành cơ chế vận hành của thị trường vốn, giúp cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực và mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung.
Tín dụng là quá trình chuyển dịch vốn từ các chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi sang các chủ thể có nhu cầu vốn để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng Nó là sự vận động của vốn từ những cá nhân, doanh nghiệp chưa sử dụng sang những đối tượng cần vốn nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu tài chính Nhờ sự vận động này, các chủ thể vay vốn nhận được một phần vốn tiền tệ để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo dòng tiền cho tiêu dùng Tín dụng kết nối nguồn vốn dư với nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng bằng cách tăng thanh khoản và hỗ trợ các hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, phân phối tín dụng qua ngân hàng đóng vai trò quan trọng hàng đầu Tín dụng ngân hàng huy động nguồn vốn nhàn rỗi và các khoản tiền dành dụm nhỏ lẻ từ các tầng lớp dân cư để hình thành quỹ cho vay, từ đó cấp vốn cho những nơi cần bổ sung thêm nguồn vốn cho quá trình tái sản xuất Cả hai mặt huy động vốn và phân bổ tín dụng đều dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Qua hệ thống ngân hàng, tiền tệ luân chuyển nhanh hơn, dẫn tới tăng tốc độ vòng quay vốn và nâng cao hiệu quả sinh lời của vốn đồng thời giảm chi phí tiền mặt lưu thông Bên cạnh các chức năng thanh toán và thanh khoản, ngân hàng cũng là một đơn vị kinh doanh; vì vậy mục tiêu sinh lời luôn được đặt lên hàng đầu và được xem là yếu tố sống còn mà mọi quyết định hay kế hoạch của ngân hàng đều phải tính tới.
Chức năng kiểm soát và phản ánh tổng hợp các mặt hoạt động của nền kinh tế được thể hiện qua hai giác độ là vi mô và vĩ mô Ở giác độ vi mô, thông qua tín dụng ngân hàng, ngân hàng có thể kiểm soát việc sử dụng vốn trước, trong và sau khi vay của khách hàng để có những hành vi ứng xử và biện pháp xử lí kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn Ở giác độ vĩ mô, thông qua cung tín dụng, Chính phủ biết được mức tăng trưởng sản lượng, công ăn việc làm và mức lạm phát của nền kinh tế, từ đó kiểm soát được sự lành mạnh về tài chính của người dân (Nguyễn Thị Mùi, 2006).
1.2.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Trong mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng tác động định hình đến hoạt động của nền kinh tế Đặc biệt ở nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy đầu tư, lưu thông vốn và tăng trưởng kinh tế Do đó, sự ổn định và hiệu quả của tín dụng ngân hàng là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính và nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Nhờ nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng, các doanh nghiệp có thể bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hoặc mở rộng nguồn vốn, đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra bình thường, đồng thời mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới để tăng tính cạnh tranh Tín dụng đã đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội.
Một số vấn đề cho vay dành cho khách hàng cá nhân trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vô điều kiện cho ngân hàng.
Cho vay là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ ngân hàng thương mại (NHTM) sang người vay; sau một khoảng thời gian xác định, giá trị này được hoàn trả với mức cao hơn so với ban đầu do lãi suất và phí tín dụng, phản ánh sự tăng trưởng giá trị trong giao dịch cho vay (Nguyễn Đăng Dờn, 2009).
Cho vay là hình thức chuyển nhượng vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn trong một thời gian nhất định và với một chi phí nhất định do hai bên thỏa thuận Đối tượng vay vốn gồm cá nhân là người Việt Nam và người nước ngoài, hộ gia đình Đối tượng cho vay bao gồm cho vay kinh doanh, sản xuất; cho vay phát triển kinh tế gia đình; cho vay để thực hiện các phương án sản xuất, kinh doanh phục vụ đời sống khác; cho vay tiêu dùng; cho vay mua sắm hàng tiêu dùng, vật dụng gia đình và phương tiện giao thông như ô tô, xe máy.
Cho vay là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn phong phú và đa dạng của khách hàng Vì vậy, ngân hàng cung cấp nhiều hình thức cho vay khác nhau và luôn xác định các tiêu chí phân loại tín dụng để thiết lập quy trình cho vay phù hợp, từ đó quản lý và kiểm tra dễ dàng Có nhiều cách phân loại tín dụng dựa trên các căn cứ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu; tuy nhiên, theo Lê Văn Tư (2008), người ta thường phân loại theo một số tiêu thức phổ biến nhằm chuẩn hóa quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả tín dụng.
1.3.2.1 Căn cứ vào mục đích cho vay
Cho vay với mục đích sản xuất nhằm hỗ trợ các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp và các cơ sở sản xuất các mặt hàng thực phẩm, tiêu dùng và thủ công mỹ nghệ tiếp cận nguồn vốn cần thiết để nâng cao năng suất và mở rộng quy mô kinh doanh Các khoản tín dụng được thiết kế linh hoạt cho nhu cầu vốn ngắn hạn và trung hạn, giúp mua giống, vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị và nguyên liệu chế biến; từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và tạo thêm việc làm tại địa phương Chính sách cho vay này hướng tới khởi động chu trình sản xuất tại cộng đồng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững và hỗ trợ ngành sản phẩm nông nghiệp và thủ công mỹ nghệ tiếp cận thị trường một cách hiệu quả.
Cho vay với mục đích kinh doanh: Đây là các tiều thương kinh doanh nhiều loại hàng hóa
Cho vay với mục đích tiêu dùng: Như mua sắm trang thiết bị, dụng cụ tiện nghi trong gia đình, nhu cầu học tập, du lịch…
Cho vay với mục đích sửa chữa, xây dựng nhà ở
Cho vay khác: Gồm các loại không xếp hạng trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán
1.3.2.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay
1.3.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Cho vay không đảm bảo, hay còn gọi là cho vay tín chấp, là hình thức cho vay không yêu cầu tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba Việc cấp vốn dựa chủ yếu vào uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng, thay vì giá trị tài sản đảm bảo Đây là lựa chọn linh hoạt cho người vay có hồ sơ tín dụng tốt và thu nhập ổn định, nhưng thường đi kèm lãi suất cao và điều kiện vay chặt chẽ hơn so với các khoản vay có bảo đảm Người vay nên cân nhắc giữa nhu cầu vốn nhanh và rủi ro thanh toán nợ, đồng thời đọc kỹ điều khoản liên quan để tránh phí phạt và chi phí ẩn.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay có sự bảo đảm của tài sản thế chấp, cầm cố hay có bảo lãnh của bên thứ ba
1.3.2.4 Căn cứ vào phương thức cho vay
Cho vay từng lần là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ký hợp đồng riêng cho từng khoản vay khi có nhu cầu, nhằm quản lý vốn và ràng buộc pháp lý cho từng giao dịch Mỗi lần khách hàng muốn vay vốn, hợp đồng mới được ký từ đầu và các điều kiện như số tiền, lãi suất và kỳ hạn cho từng lần vay được xác định cụ thể Đặc điểm nổi bật của cho vay từng lần là sự linh hoạt và khả năng kiểm soát rủi ro cho ngân hàng, phù hợp với các khoản vay ngắn hạn hoặc đột xuất, khác với các hình thức cho vay theo hạn mức.
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cấp vốn giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó hai bên ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng và duy trì hạn mức này trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Hạn mức cho phép khách hàng rút vốn nhiều lần không vượt quá mức đã được phê duyệt, giúp quản trị dòng tiền linh hoạt và tối ưu hóa kế hoạch tài chính Việc quản lý dư nợ và chi phí lãi vay được thực hiện dựa trên số tiền thực tế rút và thời hạn sử dụng hạn mức, đồng thời hạn mức có thể được điều chỉnh khi nhu cầu vốn thay đổi.
Cho vay theo dự án đầu tư là hình thức cấp vốn của ngân hàng cho khách hàng để thực hiện các dự án đầu tư, nhằm phát triển sản xuất, mở rộng hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ, đồng thời đáp ứng các yêu cầu đời sống Ngân hàng cấp vốn dựa trên tính khả thi và hiệu quả của dự án đầu tư, với thời hạn và điều kiện phù hợp nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính cho các dự án phục vụ đời sống và tăng trưởng kinh tế xã hội Việc thực hiện cho vay theo dự án đầu tư giúp khách hàng huy động vốn, tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
1.3.2.5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng
Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Thay vì cho vay trực tiếp, người cho vay gián tiếp nắm quyền đòi nợ bằng cách mua lại các chứng từ nợ từ các bên liên quan, từ đó hình thành nguồn vốn dựa trên giá trị của các tài sản nợ có sẵn Mô hình này giúp tăng thanh khoản thị trường và phân bổ rủi ro tín dụng, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn một cách linh hoạt Các yếu tố như khế ước, chứng từ nợ, thanh toán và thời hạn thanh toán được dùng để xác định giá trị cho vay và rủi ro, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả nội dung cho người tìm kiếm.
1.3.2.6 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, đảm bảo người vay phải trả gốc và lãi đúng theo lịch trình được nêu trong hợp đồng Loại cho vay này có thể có một kỳ hạn trả nợ duy nhất, hoặc có nhiều kỳ hạn trả nợ khác nhau tùy nội dung thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay Ngoài ra, một số hình thức cho vay có thời hạn cho phép hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không xác định một kỳ hạn cố định, mang lại sự linh hoạt cho quá trình trả nợ.
Cho vay không có thời hạn là loại cho vay mà ngân hàng có quyền yêu cầu thanh toán nợ bất cứ lúc nào, hoặc người đi vay có thể tự nguyện trả nợ khi cần thiết, miễn là phải báo trước một thời gian hợp lý Thời gian báo trước này có thể được quy định hoặc thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, giúp cân bằng quyền lợi giữa ngân hàng và người vay.
1.3.3 Nguyên tắc hoạt động cho vay
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, căn cứ Điều 6 Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng ngân hàng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn trả nợ vay của khách hàng Để thực hiện điều này, mỗi lần vay vốn, khách hàng phải làm giấy đề nghị vay vốn, ghi rõ mục đích sử dụng vốn và kèm theo phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn đúng như mục đích đã cam kết; nếu ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì ngân hàng có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn.
Nguyên tắc hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi
Nguyên tắc tín dụng bắt nguồn từ bản chất của giao dịch cung cầu vốn, bởi vì tín dụng là một hình thức giao dịch quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Trong thời gian cam kết này, ngân hàng và người vay thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng về việc ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị vốn cho người vay Hợp đồng tín dụng xác lập các điều kiện như thời hạn, lãi suất và các biện pháp đảm bảo, đồng thời quy định nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên Quá trình cấp vốn qua tín dụng phản ánh cơ chế phân bổ nguồn lực tài chính dựa trên sự tin tưởng và cam kết giữa ngân hàng và người vay Do đó, tín dụng đóng vai trò thiết yếu trong huy động và sử dụng vốn cho sản xuất và tiêu dùng, đồng thời tuân thủ nguyên lý cung cầu vốn.
Rủi ro khi cho vay
Là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được Do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng
Biểu hiện của rủi ro là khi nợ xấu ngày càng lớn và lãi chưa thu hồi ngày càng tăng
Nguyên nhân phát sinh rủi ro nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan Dù quá trình xét duyệt cho vay của cán bộ tín dụng được thực hiện cẩn thận và kỹ lưỡng, rủi ro nợ xấu vẫn có thể phát sinh Vì thế, nguyên nhân nợ xấu không chỉ từ phía chủ quan của NHTM mà còn đến từ khách hàng và các yếu tố khách quan bên ngoài.
1.4.1 Nguyên nhân từ phía các NHTM
Rủi ro tín dụng có thể phát sinh từ hai nguyên nhân chủ quan chính: quá trình phân tích và thẩm định tín dụng không kỹ dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay, và ngay cả khi quyết định cho vay đúng đắn, thiếu kiểm tra, kiểm soát sau cho vay khiến khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích mà ngân hàng không kịp thời phát hiện để ngăn chặn (Lê Văn Tư, 2008) Vì vậy, nâng cao chất lượng phân tích và thẩm định tín dụng cùng với tăng cường quản trị rủi ro sau cho vay và giám sát việc sử dụng vốn là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Đạo đức của cán bộ tín dụng và người phê duyệt tín dụng là yếu tố then chốt để ngăn ngừa cho vay dựa trên lợi ích riêng và đảm bảo quyết định tín dụng được thực thi công bằng, minh bạch Cần xem xét nghiêm túc tinh thần trách nhiệm và tránh các hành vi cho vay vì mục đích cá nhân Hiệu quả của công tác tổ chức, kiểm tra và giám sát trong hệ thống ngân hàng còn hạn chế, dẫn tới chậm trễ trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm Việc tăng cường chuẩn mực đạo đức và nâng cao hiệu quả giám sát sẽ nâng cao khả năng nhận diện và xử lý sai phạm một cách nhanh chóng và hiệu quả.
1.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Nguyên nhân từ phía khách hàng dẫn tới nợ xấu của ngân hàng bao gồm trình độ quản lý nguồn vốn kém và đầu tư dàn trải không hợp lý, gây thất thoát và thiếu vốn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Khi khách hàng cung cấp thông tin tài chính không trung thực, thẩm định khả năng trả nợ sẽ sai lệch, từ đó dẫn đến quyết định cho vay không chính xác và tăng rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, thái độ thiếu thiện chí trả nợ và hiệu quả thu hồi nợ của ngân hàng cũng yếu, khiến nợ xấu ngày càng nhiều.
Trong môi trường tự nhiên biến động, khách hàng vay vốn đối mặt với nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh như thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, dịch bệnh và chiến tranh, có thể dẫn tới phá sản doanh nghiệp và làm giảm khả năng trả nợ của người đi vay.
Môi trường kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng, vì đây là lĩnh vực rất nhạy cảm với biến động kinh tế – xã hội Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Ngược lại, sự suy giảm tăng trưởng hoặc bất ổn kinh tế có thể làm tăng rủi ro nợ xấu và gây khó khăn cho việc thu hồi nợ, từ đó tác động tiêu cực đến chất lượng danh mục cho vay và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng và giám sát yếu tố kinh tế vĩ mô là cần thiết để duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng trong mọi biến động của nền kinh tế.
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp rơi vào thua lỗ và phá sản, sức mua của người tiêu dùng giảm sút khiến hàng hóa ứ đọng và chu kỳ cung cầu bị lệch lạc Các khoản vay ngân hàng khó trả dẫn tới nợ quá hạn tăng nhanh và nợ xấu gia tăng, gây áp lực lên hệ thống tài chính và tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế cũng như đời sống xã hội.
Trong bối cảnh lạm phát cao, rủi ro tín dụng tăng lên do tâm lý người gửi tiền lo mất giá và người đi vay có xu hướng tăng cầu vay vốn cũng như kéo dài kỳ hạn vay Điều này ảnh hưởng đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, làm các khoản đầu tư của ngân hàng trở nên kém hiệu quả và có thể dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng.
Trong bối cảnh môi trường pháp lý và chính sách vĩ mô do Chính phủ thiết lập, hoạt động của các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng đáng kể Sự điều chỉnh về quy hoạch hạ tầng, biến động cơ chế lãi suất và các chính sách thuế có thể làm thay đổi chi phí vốn, dòng tiền và điều kiện cho vay Những biến đổi này tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng và năng lực tài chính của ngân hàng, buộc các ngân hàng phải đánh giá rủi ro cho vay và điều chỉnh chiến lược tín dụng Do đó, sự phối hợp giữa khung pháp lý, chính sách kinh tế và hoạt động ngân hàng là yếu tố nền tảng cho sự ổn định và tăng trưởng của hệ thống tài chính.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mỗi quốc gia là một thành phần không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu Hoạt động kinh tế của một nước có thể lan tỏa và ảnh hưởng đến các nước khác, khiến mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ Sự hình thành các khu vực kinh tế và khu vực mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA cho thấy rõ mức độ ảnh hưởng của các nước trong khu vực và thế giới lên các nước thành viên Vì vậy, bất kỳ biến động về kinh tế, chính trị hay an ninh và quân sự ở bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tác động đến các nước khác, gây biến động kinh tế trong nước và khu vực, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động ngân hàng.
Một số chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay
Chỉ tiêu tín dụng cho vay của ngân hàng phản ánh toàn bộ các khoản tín dụng cấp cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm cả vốn đã được thu hồi và vốn còn nợ chưa thu hồi Đây là thước đo quan trọng để đánh giá quy mô hoạt động cho vay, khả năng quản lý vốn và hiệu quả thu hồi nợ của ngân hàng.
Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về được khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định nào đó
Dư nợ là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu được vào một thời điểm xác định Để xác định dư nợ, ngân hàng căn cứ sự chênh lệch giữa hai chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ để tính ra số dư nợ chưa được thu hồi Chỉ số này giúp đánh giá mức độ thanh khoản của các khoản cho vay và hỗ trợ quản trị rủi ro tín dụng, đồng thời cung cấp cơ sở cho đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng.
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không có khả năng trả nợ cho ngân hàng và không có lý do chính đáng Khi điều này xảy ra, ngân hàng sẽ chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản nợ quá hạn, cho thấy mức độ rủi ro tín dụng và tình trạng nợ xấu tăng lên.
Các tỷ số đánh giá hiệu quả tín dụng
Tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng đo lường khả năng huy động nguồn vốn từ các kênh khác nhau và phản ánh mức độ chủ động của ngân hàng trong việc tìm kiếm và huy động tiền gửi, trái phiếu và các công cụ huy động vốn khác Đối với ngân hàng thương mại (NHTM), tỷ lệ này càng cao cho thấy ngân hàng có nguồn lực tài chính ổn định và khả năng quản trị vốn linh hoạt hơn, từ đó cải thiện khả năng cho vay, đầu tư và duy trì thanh khoản an toàn Việc nắm bắt và tối ưu hóa tỷ lệ huy động vốn giúp ngân hàng tăng tính cạnh tranh, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn và tăng cường sự tự chủ tài chính trước biến động thị trường.
1.6.2 Dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn sử dụng của ngân hàng, hay gọi là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn Chỉ số càng cao cho thấy mức độ tập trung vốn tín dụng vào cho vay càng lớn, phản ánh cấu trúc nguồn vốn và rủi ro tập trung tín dụng Dựa vào chỉ tiêu này, có thể so sánh biến động theo từng năm để đánh giá xu hướng và mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng Việc theo dõi hàng năm giúp nhận diện sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn và điều chỉnh chiến lược huy động vốn và phân bổ cho vay, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích cho đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro và quy mô cho vay của ngân hàng.
Chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng vốn để cho vay của ngân hàng cho thấy mức độ hiệu quả trong khai thác vốn huy động và cho vay Chỉ số càng cao thì khả năng sử dụng vốn cho vay càng hiệu quả; ngược lại, chỉ số thấp cho thấy vốn đang bị trệ và lãng phí, làm giảm hiệu quả hoạt động Sự trệ vốn và lãng phí có thể ảnh hưởng tới doanh thu và tỷ lệ lãi thu được từ hoạt động cho vay Do đó, theo dõi và tối ưu chỉ tiêu này là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả quản trị vốn, tối đa hóa lợi nhuận và tăng sức cạnh tranh của ngân hàng.
1.6.3 Dư nợ trên tổng vốn huy động
Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) phản ánh ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy động, đồng thời cho thấy hiệu quả sử dụng vốn huy động và mức độ chủ động tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động LDR cao cho thấy ngân hàng đang tận dụng vốn huy động để cho vay nhiều hơn và tối ưu hóa lợi nhuận, trong khi LDR thấp gợi ý nguồn vốn huy động chưa được khai thác tối đa và có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng và thanh khoản Việc quản trị LDR giúp đánh giá rủi ro tín dụng và sự ổn định tài chính của ngân hàng, đồng thời cung cấp thông tin quan trọng cho quyết định đầu tư và đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng huy động vốn của ngân hàng: nếu chỉ tiêu vượt quá 1 thì ngân hàng chưa huy động vốn hiệu quả, nguồn vốn huy động tham gia cho vay còn ít và khả năng huy động vốn chưa được tối ưu; nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 1 thì ngân hàng chưa sử dụng toàn bộ nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, dẫn tới lãng phí.
1.6.4 Nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu nợ quá hạn cho thấy tình hình nợ quá hạn tại ngân hàng và phản ánh khả năng quản lý tín dụng ở khâu cho vay cùng với việc đôn đốc thu hồi nợ đối với các khoản vay Đây là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng và mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Khi tỷ lệ nợ quá hạn cao, chất lượng tín dụng bị xem là kém và ngược lại khi tỷ lệ này giảm, chất lượng tín dụng được cải thiện Việc theo dõi chỉ tiêu này giúp ngân hàng điều chỉnh chính sách cho vay, quản lý rủi ro và tối ưu hóa dòng tiền từ các khoản cho vay.
Hệ số hiệu quả tín dụng đo lường hiệu quả thu nợ của ngân hàng trong một khoảng thời gian với doanh số cho vay xác định, cho biết ngân hàng sẽ thu được bao nhiêu vốn từ hoạt động cho vay trong kỳ đó Hệ số này càng cao cho thấy khả năng thu hồi nợ và quản lý tín dụng tốt hơn, được xem là chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng và hiệu quả sử dụng vốn.
Chương 1 đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động, cách thức mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng tiêu dùng tại các NHTM nói chung và HDBank Phú Nhuận nói riêng Chúng ta cũng đã thấy được hoạt động tín dụng – đặc biệt tín dụng tiêu dùng là một trong những hoạt động quan trọng của các NHTM, nhất là trong điều kiện hiện nay, mức sống của người dân ngày một tăng lên, xu hướng hiện đại hóa và chủ trương đa dạng hóa của hoạt động ngân hàng để khẳng định vị thế trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt
Vấn đề được đặt ra là nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM – Chi nhánh Phú Nhuận nhằm đánh giá hiệu quả, rủi ro và các yếu tố tác động đến tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng, gồm cải thiện quy trình thẩm định và phê duyệt, tăng cường quản trị rủi ro và tuân thủ, tối ưu hóa sản phẩm và dịch vụ, đẩy mạnh số hóa quy trình và nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng để đạt được tăng trưởng tín dụng an toàn và lợi nhuận cho ngân hàng.
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP PHÁT TRIỂN TP.HCM – CHI NHÁNH PHÚ NHUẬN
Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM – Chi nhánh Phú Nhuận
2.1.1 Lịch sử hình thành 2.1.1.1 Lịch sử hình thành HDBank
Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 47/QĐ-UB ngày 11/02/1989 của Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh và có giấy phép hoạt động số 00019/NH-GP ngày 06/06/1992 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp, với tên gọi lúc thành lập là Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà Thành Phố Hồ Chí Minh.
HDBank chính thức hoạt động từ ngày 04/01/1990, là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên của cả nước với vốn điều lệ ban đầu 3 tỷ đồng; đến cuối năm 2010, vốn điều lệ của HDBank đã lên tới 3.000 tỷ đồng Với sứ mệnh phát triển nhà ở và chỉnh trang đô thị, góp phần xây dựng TP.Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, HDBank xác định hoạt động trên nền tảng cung cấp giải pháp tài chính cho lĩnh vực nhà ở và đô thị Ngân hàng thực hiện kinh doanh tổng hợp và đa dạng trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh tiền tệ và tín dụng thông qua đầu tư vốn, huy động vốn và các dịch vụ liên quan đến nhà ở; đồng thời tập trung huy động vốn và quản lý mọi nguồn vốn để phục vụ chương trình phát triển nhà và chỉnh trang đô thị, và tư vấn cho Ủy ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh về các chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở và chỉnh trang đô thị.
Trong 21 năm hoạt động và phát triển, nhờ vào chiến lược kinh doanh lấy khách hàng là trọng tâm, HDBank từng bước xây dựng được vị thế và khẳng định thương hiệu là một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam với quy mô và chất lượng dịch vụ tốt HDBank đã có nhiều sự đổi mới, cải tiến trong cơ cấu quản trị ngân hàng, nhân sự, dịch vụ, và công nghệ, trong đó nhân sự có được sự đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, nhiều vị trí chủ chốt được đảm nhận bởi những cá nhân xuất sắc, giỏi chuyên môn và giàu kinh nghiệm, qua đó đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của ngành tài chính ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Đây là thành quả của giai đoạn 1 dự án Tái cấu trúc (2009 - 2011) nhằm mục tiêu xây dựng HDBank thành một ngân hàng bán lẻ, đa năng, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quản lý, công nghệ, nhân lực, tài chính Bên cạnh đó, các gói sản phẩm mới như thẻ tín dụng quốc tế HDBank, E-banking, dịch vụ Topup đang được triển khai, áp dụng và cải tiến liên tục nhằm phục vụ tốt hơn cho khách hàng Song song với việc xây dựng ngân hàng bán lẻ, HDBank bước đầu xây dựng mô hình ngân hàng đầu tư để mở ra một hướng mới trong kinh doanh vốn Mặc dù là một ngân hàng TMCP có qui mô không lớn, nhưng nếu xét về tỷ số đánh giá hiệu quả hoạt động lợi nhuận/vốn cổ phần (ROE), HDBank có thể sánh ngang với các ngân hàng TMCP hàng đầu ở Việt Nam hiện nay
Ngày 19/09/2011, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 2096/QĐ-NHNN chấp thuận đổi tên Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà thành phố Hồ Chí Minh thành Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh Tên Việt đầy đủ mới là Ngân hàng Phát triển thành phố Hồ Chí Minh và tên viết tắt là HDBank; tên tiếng Anh đầy đủ là Ho Chi Minh City Development Joint Stock Commercial Bank và tên viết tắt tiếng Anh vẫn là HDBank Theo quy định này, ngày 17/03/2012, HDBank đã tổ chức Lễ công bố Tên và Thương hiệu mới trên toàn hệ thống, giới thiệu với đông đảo khách hàng và công chúng Tên gọi và thương hiệu mới của ngân hàng.
Với hơn 24 năm hoạt động tại Việt Nam, HDBank ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ nhờ liên tục đầu tư nguồn lực và công nghệ, đồng thời triển khai các dự án trong và ngoài nước nhằm nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ Động lực tăng trưởng đến từ việc phát triển đội ngũ nhân sự chất lượng cao, áp dụng công nghệ hiện đại và mở rộng quy mô hoạt động trên thị trường quốc tế lẫn nội địa Mục tiêu của ngân hàng là trở thành ngân hàng đa năng, hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, phục vụ mọi nhu cầu tài chính của khách hàng và đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Trong năm 2013, HDBank tích cực tham gia và tiên phong thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành ngân hàng của Chính phủ và NHNN thông qua dự án sáp nhập DaiABank vào HDBank; đồng thời mua lại 100% vốn của công ty Tài chính SGVF – công ty tài chính do Tập đoàn Société Générale của Pháp đầu tư tại Việt Nam, mở đầu cho chiến lược phát triển mới Với sức mạnh hội nhập, HDBank không ngừng lớn mạnh và cam kết đem lại lợi ích tối đa cho khách hàng, đối tác, cán bộ nhân viên và cộng đồng xã hội.
2.1.1.2 Lịch sử hình thành của HDBank Chi nhánh Phú Nhuận
HDBank CN Phú Nhuận, thành lập ngày 04/04/1994, là chi nhánh đầu tiên của HDBank tại TP.HCM, có địa chỉ tại 174 Phan Đăng Lưu, Phường 3, Quận Phú Nhuận, với số điện thoại (08) 39 954 554 và fax (08) 39 955 310 Chi nhánh này sở hữu con dấu riêng và bảng tổng kết riêng, được tự chủ lợi nhuận và vận hành bởi hơn 30 nhân viên, hoạt động theo mục tiêu và định hướng của HDBank.
HDBank – CN Phú Nhuận là cánh tay nối dài của hệ thống HDBank tại quận Phú Nhuận, góp phần vào chiến lược mở rộng mạng lưới phục vụ và cung cấp đa dạng sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng Chi nhánh Phú Nhuận nằm ở vị trí thuận tiện, gần khu chợ Bà Chiểu và chợ Tân Định, cùng khu dân cư quanh đường Phan Xích Long, từ đó tăng khả năng tiếp cận và phục vụ cộng đồng Đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, chuyên nghiệp và nhiệt tình chính là điểm mạnh nổi bật giúp chi nhánh thu hút khách hàng đến giao dịch và trải nghiệm dịch vụ tại Phú Nhuận.
Việc nằm gần các khu vực có nền kinh tế phát triển cao và ổn định là một lợi thế cạnh tranh rất lớn, giúp chi nhánh dễ dàng tiếp cận với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như khách hàng cá nhân đầy tiềm năng Vị trí chiến lược này tăng cường kết nối mạng lưới đối tác và mở rộng quy mô kinh doanh, đồng thời tối ưu hóa cơ hội hợp tác và tăng trưởng doanh thu Đặc biệt, khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), lợi thế địa bàn càng được khai thác tối đa, thúc đẩy hội nhập thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu.
Trong những năm gần đây, nhờ tích cực tổ chức các chương trình hoạt động xã hội, tên tuổi của HDBank được nhiều khách hàng biết đến, từ đó lượng khách hàng tăng lên và mở ra cơ hội phục vụ tốt hơn cũng như tăng lợi nhuận Dù là ngân hàng có quy mô nhỏ, HDBank ngày càng nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ chất lượng sản phẩm được cải tiến, chi phí dịch vụ ở mức thấp và dịch vụ phục vụ tận tâm, niềm nở Tại chi nhánh Phú Nhuận, HDBank – CN Phú Nhuận đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt các chỉ tiêu kinh doanh đã đề ra cho khu vực, dù phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng thương mại khác được mở rộng và đẩy mạnh Nhờ đó, HDBank vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tốt trong thời gian qua.
2.1.2 Nhiệm vụ của HDBank Phú Nhuận
HDBank Phú Nhuận là chi nhánh lớn của Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM, hoạt động như một ngân hàng kinh doanh đa năng, cung cấp đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trong quá trình hoạt động, chi nhánh Phú Nhuận nhận nhiệm vụ từ Hội sở, đẩy mạnh huy động vốn và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế và nước ngoài; đồng thời phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và kỳ phiếu Chi nhánh cũng chú trọng quan hệ đối ngoại để thu hút vốn ủy thác đầu tư từ NHNN, các tổ chức kinh tế quốc gia và quốc tế cùng các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế – văn hóa – xã hội, đồng thời tập trung đầu tư theo hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Chúng tôi thực hiện bán các sản phẩm tín dụng và dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ đa dạng đối tượng khách hàng, từ đó nâng cao tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ và mở rộng nguồn doanh thu từ hoạt động ngân hàng.
Tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, có chính sách thích hợp nhằm ngăn chặn rủi ro tín dụng
Tăng cường năng lực tài chính, áp dụng lãi suất huy động vốn và cho vay linh hoạt theo tín hiệu cung cầu của thị trường
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của HDBank Phú Nhuận 2.1.3.1 Bộ máy tổ chức của HDBank – Chi nhánh Phú Nhuận
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của HDBank – CN Phú Nhuận hiện nay
(Nguồn: HDBank CN Phú Nhuận)
Giám Đốc Dịch vụ Khách hàng
Trưởng phòng Kế toán, Giao dịch, Kho quỹ
Giao dịch viên Kiểm ngân
Bảo vệ, Tạp vụ Hành chính,
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban
HDBank – Chi nhánh Phú Nhuận được tổ chức thành 4 bộ phận chính: Phòng kế toán – Kho quỹ, Phòng QHKH CN, Phòng QHKH DN và Phòng hành chính, nhằm thực hiện đầy đủ các chức năng nhiệm vụ liên quan đến quản trị tài chính và quản lý dòng tiền, chăm sóc khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp, cũng như đảm bảo hoạt động hành chính của chi nhánh được thông suốt.
Phòng kế toán – Kho quỹ bao gồm các bộ phận Kế toán tiền gửi, Kế toán cho vay và bộ phận ngân quỹ Phòng kế toán thực hiện các chức năng quản lý tiền mặt và các giao dịch liên quan đến tiền gửi, cho vay và quỹ, bao gồm ghi sổ kế toán, đối chiếu quỹ, kiểm soát dòng tiền, xử lý thanh toán và lập báo cáo tài chính liên quan đến tiền gửi và cho vay, đồng thời đảm bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán và quy định nội bộ.
Trong hoạt động giao dịch, chúng tôi giao tiếp với khách hàng để nắm bắt nhu cầu, tiếp nhận yêu cầu và tư vấn giải pháp phù hợp; thu thập hồ sơ và thông tin khách hàng để đảm bảo tính đầy đủ và chính xác; trực tiếp thực hiện các giao dịch với khách hàng và quản lý tài khoản một cách chuyên nghiệp, từ việc xác thực thông tin đến cập nhật trạng thái giao dịch và bảo mật dữ liệu.
Thực trạng cho vay tiêu dùng tại HDBank Phú Nhuận
Chúng tôi cung cấp các khoản vay đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính của khách hàng: cho vay du học giúp người đi học và gia đình trang trải học phí và chi phí sinh hoạt khi học ở nước ngoài; cho vay mua ô tô hỗ trợ bạn tiếp cận phương tiện di chuyển với lãi suất cạnh tranh và thời hạn trả nợ linh hoạt; cho vay mua nhà dự án dành cho người mua căn hộ tại các dự án bất động sản với thủ tục nhanh gọn và điều kiện thuận lợi; cho vay đối với người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài nhằm hỗ trợ thu nhập và gửi về quê hương; và cho vay kinh doanh tại chợ, giúp các tiểu thương mở rộng quy mô kinh doanh hoặc nâng cấp mặt bằng với hạn mức phù hợp Các gói vay được thiết kế đi kèm lãi suất hấp dẫn, thời hạn linh hoạt và quy trình thẩm định nhanh chóng để tối ưu hóa trải nghiệm vay vốn cho mọi đối tượng.
Cho vay tiêu dùng có bảo đảm bằng số dư tài khoản, số thẻ tiết kiệm Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán
Cho vay hộ sản xuất kinh doanh cá thể: hỗ trợ vốn lưu động Cho vay thực hiện phương án sản xuất kinh doanh phục vụ đời sống khác
2.2.2 Chính sách và quy chế cho vay cá nhân Lợi ích
Khách hàng sẽ được giải quyết thủ tục vay vốn một cách thuận lợi và nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình và chu đáo Quy trình vay vốn tại đây được tối ưu hóa để tiết kiệm thời gian, mang lại sự an tâm và dịch vụ tư vấn kịp thời cho mọi nhu cầu, từ khởi động hồ sơ đến giải ngân.
Cán bộ HDBank sẽ tư vấn miễn phí cho khách hàng các thủ tục liên quan đến khoản vay
Số tiền cho vay, thời hạn cho vay và lãi suất cho vay linh hoạt, hợp lý, phù hợp với nhu cầu của khách hàng hiện nay
Ngân hàng sẽ hỗ trợ tối đa đến 70% tổng nhu cầu vốn của khách hàng
Sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hay trong khế ước nhận nợ
Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo quy định của Hội đồng quản trị Điều kện vay vốn
Có năng lực pháp luật dân sự, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Mục đích sử dụng vốn vay hợp lý
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc dự án đầu tư phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật; và có kế hoạch vay vốn, trả nợ
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Các trường hợp cấp tín dụng không có tài sản đảm bảo có quy định riêng
Một số điều kiện khác tùy theo hình thức cho vay được quy định cụ thể tại các hướng dẫn
HDBank và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp khả năng của khách hàng, thời hạn thu hồi vốn của phương án, dự án đầu tư
Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng
Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
Lãi suất cho vay tối thiểu cho từng loại cho vay được Tổng Giám đốc ban hành sau khi được Hội đồng Quản trị phê duyệt, bảo đảm phù hợp với chi phí vốn, tình hình thị trường và lợi thế cạnh tranh, và tuân thủ đầy đủ các quy định của NHNN Việt Nam trong từng thời kỳ.
Các đơn vị trực thuộc ngân hàng không được cho vay dưới mức lãi suất tối thiểu quy định; mọi trường hợp cho vay với lãi suất dưới mức tối thiểu nhằm thực hiện chính sách ưu đãi khách hàng phải được Hội đồng Quản trị chấp thuận.
Cho vay theo hạn mức tín dụng;
Cho vay theo dự án đầu tư;
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng;
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ;
Cho vay theo hạn mức thấu chi;
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm;
Kiểm tra, giám sát vốn vay
Sau khi cấp tín dụng, ngân hàng duy trì việc kiểm tra và giám sát khách hàng một cách thường xuyên nhằm sớm phát hiện và xử lý các tình huống xấu có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Quá trình giám sát tập trung vào đánh giá diễn biến tình hình tài chính và thanh toán của khách hàng, mức độ nợ, biến động nguồn thu và sự tuân thủ các điều kiện cấp tín dụng, đồng thời đánh giá rủi ro liên quan đến tài sản đảm bảo Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể điều chỉnh hạn mức tín dụng, lãi suất hoặc áp dụng các biện pháp xử lý nợ phù hợp nhằm bảo đảm khả năng trả nợ và tối ưu hóa rủi ro cho cả hai bên.
Tình hình sử dụng vốn vay và thực hiện phương án vay vốn của khách hàng;
Tình hình trả nợ gốc, lãi vay của Ngân hàng;
Tình trạng của tài sản đảm bảo tiền vay;
Tình hình tài chính của Ngân hàng;
Tình hình sản xuất kinh doanh khả năng cạnh tranh của khách hàng;
Các thông tin về thị trường mà khách hàng đang hoạt động;
Những trường hợp không được cho vay:
Thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc của Ngân hàng và các chức danh tương đương;
Cán bộ, nhân viên của Ngân hàng thực hiện thẩm định và xét duyệt cấp tín dụng;
Bố mẹ, vợ chồng và con của thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc của ngân hàng và các chức danh tương đương được xem là người thân liên quan đến quản trị và tuân thủ.
Cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của Ngân hàng), cổ đông sáng lập;
2.2.3 Quy trình cho vay tiêu dùng cá nhân
Trước khi phân tích tình hình cho vay tiêu dùng, ta sẽ xem quy trình cho vay tiêu dùng nói chung và quy trình cho vay tiêu dùng của HDBank Phú Nhuận để làm cơ sở so sánh Bài viết giải thích các bước từ tiếp nhận hồ sơ, thẩm định tài chính và khả năng trả nợ cho đến phê duyệt tín dụng, giải ngân và quản lý nợ, nhằm giúp độc giả nắm được cách các ngân hàng triển khai cho vay tiêu dùng một cách bài bản Đặc biệt, quy trình tại HDBank Phú Nhuận được phân tích chi tiết từ tiếp nhận hồ sơ, xác minh thông tin, đánh giá rủi ro đến quyết định cấp vốn, kèm theo các yếu tố như lãi suất, thời hạn vay, điều kiện trả nợ và yêu cầu về tài sản đảm bảo Qua so sánh này, người đọc có thể thấy rõ sự đồng bộ và khác biệt giữa quy trình cho vay tiêu dùng nói chung và quy trình của HDBank Phú Nhuận, từ đó hiểu được ảnh hưởng tới trải nghiệm khách hàng và hiệu quả quản trị rủi ro.
Quy trình cho vay tiêu dùng chung bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán – thanh lý hợp đồng tín dụng Trong quá trình này, hồ sơ được thẩm định và xác minh đầy đủ, các bước phê duyệt được thực hiện nghiêm ngặt, sau đó khách hàng ký hợp đồng vay và nhận giải ngân theo đúng thỏa thuận Quản lý rủi ro, theo dõi nợ và tuân thủ quy định được duy trì xuyên suốt cho đến khi khách hàng hoàn tất nghĩa vụ trả nợ và kế toán viên thực hiện thanh lý hồ sơ hợp đồng tín dụng.
Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ và thông tin cần thiết từ khách hàng, cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định hồ sơ, trình duyệt và phê duyệt; kết quả phê duyệt hoặc từ chối sẽ được thông báo cho khách hàng trong thời gian sớm nhất có thể, nhưng không quá thời hạn quy định.
10 ngày Trường hợp phức tạp có thể kéo dài theo sự thỏa thuận với khách hàng Quy trình cho vay gồm các bước sau:
Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về lập hồ sơ vay vốn
Thẩm định các điều kiện vay vốn
Xác định phương thức cho vay
Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện vay vốn và lãi suất cho vay của ngân hàng
Lập tờ trình thẩm định cho vay
Tái thẩm định cho vay
Ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, giao nhận giấy tờ và TSĐB
Kiểm tra, giám sát khoản vay
Thu nợ lãi và gốc; xử lý những phát sinh
Thanh lý hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay
Giải chấp TSĐB Lưu giữ hồ sơ tín dụng và hồ sơ đảm bảo tiền vay
Tiếp nhận và hướng dẫn KH lập hồ sơ vay vốn
Quy trình cho vay tiêu dùng của HDBank
Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng
Tiếp xúc, tư vấn và tiếp nhận nhu cầu cấp tín dụng:
CV QHKH trao đổi với khách hàng: tiếp xúc trực tiếp hoặc theo kế hoạch marketing, giới thiệu ngân hàng, nắm bắt nhu cầu của khách hàng và tư vấn sử dụng các sản phẩm tín dụng phù hợp dựa trên tham khảo tài liệu “Sản phẩm tín dụng” để đảm bảo thông tin chính xác và tuân thủ quy trình bán hàng.
CV QHKH thực hiện cập nhật báo cáo về thông tin liên hệ khách hàng
Khi khách hàng đồng ý sử dụng sản phẩm tín dụng, cần hướng dẫn khách hàng lập đầy đủ Giấy đề nghị vay vốn và Phương án vay vốn theo mẫu quy định; đối với dự án đầu tư cho vay trung và dài hạn, yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu liên quan đến dự án và sau đó lập Phiếu đề nghị cung cấp hồ sơ tín dụng theo mẫu để yêu cầu khách hàng nộp bộ hồ sơ vay vốn phù hợp; dựa trên các hồ sơ nhận được, tiến hành đánh giá sơ bộ hồ sơ cấp tín dụng nhằm xác định tính khả thi và mức độ rủi ro trước khi quyết định cấp tín dụng.
CV QHKH thực hiện đánh giá hồ sơ vay nhằm xác định xem hồ sơ có đáp ứng các điều kiện cơ bản của sản phẩm vay, bao gồm điều kiện khách hàng, mục đích vay và tài sản bảo đảm Trong trường hợp hồ sơ chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này, CV QHKH sẽ đề nghị khách hàng bổ sung hồ sơ hoặc đề xuất lựa chọn sản phẩm vay phù hợp hơn.
Trường hợp đáp ứng các yêu cầu trên thì tiếp tục thực hiện các bước kế tiếp
Bước 2: Kiểm tra trước cấp tín dụng
Tra soát thông tin lịch sử tín dụng của khách hàng:
CV QHKH sử dụng thông tin trong hồ sơ vay vốn, thực hiện tra cứu đến Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)
Trong quy trình cấp tín dụng, khi khách hàng đang có nợ quá hạn và không phù hợp với quy định của sản phẩm tín dụng, ngân hàng sẽ thông báo từ chối cấp tín dụng Quy định này giúp đảm bảo tuân thủ chuẩn mực sản phẩm tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng cho ngân hàng Khách hàng sẽ nhận được thông tin rõ ràng về trạng thái nợ và các phương án cải thiện hồ sơ tín dụng để xem xét lại trong tương lai.
Phân tích thực trạng cho vay tiêu dùng cá nhân tại HDBank – Chi nhánh Phú Nhuận
2.3.1 Tình hình cho vay khách hàng cá nhân
Bảng 2.2 : Tình hình cho vay KHCN
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Bảng 2.3: So sánh tình hình cho vay KHCN qua các năm
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013) Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay KHCN
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Nhìn chung, trong giai đoạn 2011–2013, doanh số cho vay và doanh số thu nợ có xu hướng tăng Tình hình dư nợ tăng trưởng không ổn định trong giai đoạn này.
Về doanh số cho vay, doanh số cho vay khách hàng cá nhân có tỷ trọng tăng dần qua các năm Năm 2011, tỷ trọng này đạt 45,75% và doanh số là 181.634 triệu đồng; sang các năm tiếp theo, phần đóng góp của khách hàng cá nhân tiếp tục mở rộng, cho thấy xu hướng tăng trưởng của kênh cho vay cá nhân và tác động tích cực đến kết quả kinh doanh.
2012, cho vay khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng 49,19% (tăng 3,44%), đạt 240.312 triệu đồng, tăng 58.678 triệu đồng với lượng tương đối là 32,31% so với năm 2011 Đến
Doanh số Cho Vay Doanh số Thu Nợ
Dư nợ năm 2013 đạt 384.403 triệu đồng, chiếm 57,92% tổng dư nợ và tăng 144.091 triệu đồng, tương ứng mức tăng 59,96% so với năm trước Trong giai đoạn 2011–2013, dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là năm 2012 tín dụng bị đình trệ, HDBank Phú Nhuận vẫn duy trì nhịp độ tăng trưởng cần thiết Thành quả này đến từ sự nỗ lực của cả đội ngũ HDBank trong việc khám phá, đáp ứng nhu cầu tín dụng tiêu dùng của khách hàng; đa dạng hóa sản phẩm tín dụng tiêu dùng, đưa đội ngũ chuyên viên tiếp thị tới tận các khu chợ và khu vực dân cư, triển khai các gói vay mới với lãi suất thấp và thủ tục giải ngân nhanh chóng.
Trong khuôn khổ lý thuyết, doanh số cho vay ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng Trong giai đoạn 2011–2013, doanh số cho vay liên tục tăng qua các năm, cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển Song song với những tín hiệu tích cực từ hoạt động tín dụng, nghiệp vụ quản lý nợ vay cũng có bước tiến, giúp doanh thu và lợi nhuận ngân hàng tăng lên khi nợ xấu được giảm và tốc độ lưu chuyển vốn nhanh hơn.
Doanh số thu nợ KHCN của chi nhánh ngân hàng có xu hướng tăng từ 2011 đến 2013: năm 2011 đạt 137.675 triệu đồng, sang năm 2012 tăng lên 228.770 triệu đồng (tăng 4,17%), và tiếp tục tăng trong năm 2013 lên 42.403 triệu đồng Sự tăng trưởng liên tục cho thấy chi nhánh ngân hàng đã ngày càng tối ưu công tác quản lý và thu hồi nợ Nguyên nhân chính cho đà tăng này là ngoài việc phát triển các gói vay hấp dẫn, HDBank Phú Nhuận đã tăng cường thắt chặt quản lý tình hình tín dụng, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn và kiểm tra lịch sử tín dụng của khách hàng một cách thận trọng qua hệ thống CIC, khiến doanh số thu nợ của ngân hàng tăng theo từng năm.
Như đã biết, doanh số cho vay phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng nhưng chưa phản ánh được hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả của đơn vị vay; hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở việc khách hàng trả nợ đúng hạn Khi KH trả nợ đúng hạn cho NH, chứng tỏ NH đã sử dụng vốn vay một cách hiệu quả và có thể luân chuyển nguồn vốn dễ dàng; do đó doanh số thu nợ cũng là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng theo từng thời kỳ Theo bảng số liệu trên, HDBank – CN Phú Nhuận đã sử dụng tốt nguồn vốn huy động để cho vay cá nhân.
2.3.2 Doanh số cho vay cá nhân theo mục đích sử dụng vốn
Khái niệm: dựa vào mục đích sử dụng vốn, ta phân loại như sau:
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: mục đích là tài trợ cho hoạt động sản xuất ở các lĩnh vực công thương, nông nghiệp
Cho vay tiêu dùng cá nhân: mục đích là giúp người tiêu dùng có tài chính để trang trải nhu cầu nhà ở, phương tiện đi lại,…
Bảng 2.4: Doanh số cho vay cá nhân theo mục đích sử dụng
( Đơn vị tính: Tỷ đồng)
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Cho vay cá nhân theo mục đích sử dụng vốn là số tiền ngân hàng cho dân để đáp ứng các mục đích như sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và nhà ở Các khoản cho vay này được thiết kế nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn cho từng mục đích sử dụng, từ sản xuất và kinh doanh đến tiêu dùng và nhà ở Trong 3 năm qua, doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn có xu hướng tăng liên tục qua các năm, cho thấy nhu cầu vốn cho các mục đích sử dụng ngày càng lớn.
Biểu đồ 2.3: Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Cho vay sản xuất kinh doanh – dịch vụ là hình thức cấp vốn cho nhóm khách hàng vay nhằm mục đích sản xuất và kinh doanh dịch vụ; nhóm khách hàng này bao gồm các cơ sở sản xuất mặt hàng tiêu dùng và các hộ cá thể kinh doanh trong các trung tâm chợ lớn, các shop giày dép, quần áo thời trang.
Qua bảng số liệu, nguồn vốn vay từ hoạt động sản xuất – kinh doanh và dịch vụ (SXKD – DV) luôn chiếm tỷ trọng lớn so với các khoản vay còn lại Sự phát triển của nền kinh tế đồng thời thúc đẩy tăng trưởng của cơ sở sản xuất và hộ gia đình kinh doanh, khiến nhu cầu vốn ngày càng tăng và đẩy các khoản tín dụng cho mục đích SXKD – DV giữ vị thế chi phối trong tổng dư nợ cho vay.
Trong năm 2011, chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu khiến doanh số cho vay trên thị trường chung giảm mạnh, đặc biệt đối với nhóm vay SXKD – DV Doanh số cho vay của nhóm đối tượng này chỉ đạt 42.4 tỷ đồng, thấp nhất trong giai đoạn 3 năm, cho thấy tác động tiêu cực của khủng hoảng lên tín dụng cho lĩnh vực sản xuất và dịch vụ.
Đến năm 2012, con số cho vay vẫn ở mức 101.2 tỷ đồng, dù đã tăng 138% so với năm 2011; sang năm 2013, nền kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, mang lại tín hiệu tích cực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Vì vậy, trong năm 2013 doanh cho vay đã tăng trưởng vượt bậc, tăng 150.1% so với năm 2012, lên 253.1 tỷ đồng và đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2011–2013 Cho vay sản xuất kinh doanh – dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến tình hình tín dụng nói chung cũng như lợi nhuận của ngân hàng, bởi nhóm vay này chịu tác động trực tiếp từ nền kinh tế trong nước và ngoài nước Đáng chú ý là năm 2012 được xem là thời điểm bị ảnh hưởng mạnh của suy thoái kinh tế toàn cầu.
Trong lĩnh vực SXKD - DV, các phân khúc Nhà ở, Ô tô và Tiêu dùng được theo dõi sát sao để bắt kịp biến động thị trường Lãnh đạo luôn nhạy bén điều chỉnh lãi suất nhằm tối ưu hóa lợi ích cho ngân hàng, từ đó tạo đà tăng trưởng lợi nhuận cho ngân hàng.
Trước đây, khi có nhu cầu xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở, người dân thường vay mượn từ người thân, tự tích cóp hoặc tiết kiệm; rất ít người nghĩ tới vay vốn từ ngân hàng Từ năm 2004 trở đi, hệ thống dịch vụ ngân hàng được nâng cấp và phát triển nhanh chóng, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng để cải thiện cuộc sống, trong đó có nhu cầu về nhà ở Vì vậy, nhiều ngân hàng nói chung và chi nhánh nói riêng đã và đang đẩy mạnh cấp tín dụng cho vay nhà ở, đáp ứng nhu cầu xây dựng, sửa chữa của các hộ gia đình và cá nhân Những sản phẩm cho vay nhà ở ngày càng đa dạng và tiện lợi, phù hợp với túi tiền người dân, đồng thời góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản và tăng nguồn vốn cho hộ gia đình.
Nhìn vào bảng số liệu, năm 2011 NH chỉ dành ra 26.8 tỷ đồng cho khoản vay này vì nền kinh tế khi ấy gặp nhiều khó khăn, nhu cầu sửa chữa và xây dựng nhà ở còn khá hạn chế Đến năm 2012, doanh số cho khoản vay này đạt 52.2 tỷ đồng, tăng 94.7% so với năm 2011.
2011) và vào năm 2013, mức vay đạt 87.2 tỷ đồng Có thể nói, trong giai đoạn 2011 –
Vào năm 2013, thị trường bất động sản trong nước rơi vào trạng thái ảm đạm với giá đất và nhà ở trên toàn quốc sụt giảm rõ nét, diễn biến không đồng nhất và khá phức tạp, kèm theo hiện tượng đóng băng thị trường Vì những yếu tố này, HDBank Phú Nhuận đã tỏ ra thận trọng đối với các khoản vay liên quan đến bất động sản, dẫn đến doanh số cho vay ở phân khúc này ở mức thấp trong giai đoạn 2011–2013.
Phân tích các chỉ tiêu trong hoạt động cho vay
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay tại chi nhánh Phú Nhuận
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2011 2012 2013
1 Tổng nguồn vốn Tỷ đồng 2738.74 3111.94 3578.73
2 Vốn huy động Tỷ đồng 2408.44 2806.54 3255.59
3 Doanh số thu nợ Tỷ đồng 40.02 274 301.4
4 Tổng dư nợ Tỷ đồng 629.98 1060 1706.6
5 Nợ quá hạn Tỷ đồng 2.59 1.32 1.27
6 Dư nợ bình quân Tỷ đồng 606.2 845 1022.45
7 Tổng dư nợ / Tổng nguồn vốn % 23 34 47.68
9 Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ % 0.41 0.12 0.07
10 Doanh số thu nợ/ Dư nợ bình quân
2.4.1 Phân tích tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu phản ánh lượng vốn cho vay của ngân hàng so với tổng vốn huy động được dùng để đánh giá mức độ sử dụng nguồn vốn và khả năng huy động vốn của ngân hàng Chỉ số này cho thấy ngân hàng cho vay bao nhiêu trong tổng vốn huy động, từ đó phản ánh hiệu quả huy động vốn và tiềm năng mở rộng hoạt động cho vay Theo Lê Quyết Tâm (2010), đây là thước đo quan trọng đánh giá sức mạnh tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng thông qua mối quan hệ giữa cho vay và huy động vốn.
Trải qua ba năm hoạt động đầy khó khăn, đặc biệt năm 2012 với nhiều biến cố xảy ra và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động tín dụng của chi nhánh, tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn của ngân hàng vẫn ở mức thấp Chỉ tiêu này cho thấy một mặt cho vay chưa tốt, mặt khác cho thấy công tác huy động vốn được thực hiện tốt (Lê Quyết Tâm, 2010) Dù ở mức thấp, tỷ lệ dư nợ trên nguồn vốn năm 2013 đạt 47,68%, tăng so với 2011 (23%) và 2012 (34%) Đây cũng là dấu hiệu đáng mừng cho HDBank Phú Nhuận trong bối cảnh 2011–2013 khi các ngân hàng trên thế giới và Việt Nam nói riêng trải qua nhiều biến động, khiến mọi hoạt động khó kiểm soát và dễ bị xáo trộn.
DN nói chung và NH nói riêng lâm vào nguy cơ lỗ nặng hoặc phá sản
2.4.2 Phân tích tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu cho vay so với nguồn vốn huy động phản ánh không chỉ lượng cho vay so với vốn huy động mà còn cho biết hiệu quả sử dụng vốn huy động và mức độ ngân hàng chủ động tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tranh thủ vốn huy động, nhưng nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, vốn huy động tham gia cho vay ít và khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa tốt; ngược lại, chỉ tiêu nhỏ hơn 1 cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí (Lê Quyết Tâm, 2010).
Qua bảng số liệu, trong ba năm 2011–2013 ngân hàng đã không khai thác triệt để nguồn vốn huy động từ khách hàng, thể hiện qua các chỉ tiêu lần lượt 26%, 38% và 52,42% ở năm 2011, 2012 và 2013 Những con số này ở mức thấp cho thấy tiềm năng tăng cường vốn huy động còn nhiều, do vậy cần nhìn lại giai đoạn để xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp cải thiện huy động vốn.
Trong giai đoạn 2011–2013, tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn khi sản xuất và tiêu dùng đều bị gián đoạn, khiến khách hàng hạn chế vay vốn và ngân hàng thận trọng hơn trong phê duyệt tín dụng, từ đó nguồn vốn huy động không được khai thác tối đa để sinh lời và duy trì tăng trưởng.
2.4.3 Phân tích tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ quá hạn tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín dụng tại ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém , và ngược lại (Lê Quyết Tâm, 2010)
Qua bảng số liệu, ta nhận thấy dư nợ của ngân hàng tăng qua các năm nhưng tỷ lệ nợ quá hạn giảm và luôn ở mức thấp Năm 2011, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức 0.41%, thì qua đến năm 2012, tỷ lệ này giảm và chỉ còn ở mức 0.12%, năm 2013 lại tiếp tục giảm, tất cả luôn nằm dưới mức cho phép là 5% của NHNN Có được kết quả này là do chi nhánh đã rút được kinh nghiệm qua những bài học về khủng hoảng tín dụng trên thế giới, từ đó có những bước chuẩn bị và đề phòng, bắt đầu dè chừng với các khoản vay, không cho vay ồ ạt mà sẽ suy xét cẩn thận hơn, đề ra các giải pháp hữu hiệu, cứng rắn trong việc xử lý nợ, nhằm tối thiểu hóa rủi ro
2.4.4 Phân tích vòng quay vốn tín dụng (doanh số thu nợ/ dư nợ bình quân)
Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng và thời gian thu hồi nợ, cho biết ngân hàng thu hồi vốn nhanh hay chậm Vòng quay vốn càng nhanh được xem là tốt, phản ánh hiệu quả quản lý vốn và giảm thiểu rủi ro tín dụng, từ đó làm tăng tính an toàn cho các quyết định đầu tư (Nguyễn Giang, 2012).
Vòng quay vốn tín dụng của HDBank Phú Nhuận trong ba năm qua diễn biến khá chậm Nguyên nhân một phần là các món vay chưa đến hạn thu hồi khiến dư nợ bình quân tăng cao, từ đó kéo theo vòng quay vốn tín dụng chậm lại Bên cạnh đó, doanh số thu nợ có gia tăng, nhưng tốc độ tăng không thể theo kịp với sự gia tăng của dư nợ bình quân, khiến vòng quay vốn tín dụng vẫn ở mức thấp Do đó, trong định hướng sắp tới, ngân hàng tập trung vào cải thiện hiệu quả quản lý nợ và tối ưu hóa dư nợ bình quân nhằm đẩy nhanh vòng quay vốn tín dụng và tăng cường khả năng thu hồi.
NH cần quan tâm nhiều hơn đến các khoản nợ đã đến hạn và nợ quá hạn, triển khai các biện pháp đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn để tăng doanh số thu nợ, đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn tín dụng và từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động cùng chất lượng nghiệp vụ tín dụng của chi nhánh Các biện pháp tập trung vào xây dựng quy trình nhắc nợ linh hoạt, ứng dụng công nghệ quản lý nợ hiện đại và kết nối chặt chẽ giữa các bộ phận thu hồi nợ với chăm sóc khách hàng Việc tăng cường quản trị rủi ro nợ xấu và củng cố niềm tin của khách hàng sẽ giúp chi nhánh duy trì nguồn vốn ổn định và nâng cao hiệu quả tín dụng nói chung.
Chương 2 dựa trên những số liệu thực tế và cụ thể về hoạt động tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Phát triển TP.HCM – chi nhánh Phú Nhuận, từ đó đưa ra những phân tích tổng quan về tình hình hoạt động, đối tượng khách hàng vay vốn, doanh số cho vay và dư nợ tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh Hơn nữa, dựa trên các chỉ tiêu nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng đã đưa ra ở chương 1, chương 2 đã tiến hành đánh giá thực trạng mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh thời gian qua Mặc dù đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ, song chi nhánh Phú Nhuận vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế làm giảm khả năng phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh
Trên cơ sở đó, chương 3 sẽ đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và củng cố những thành tựu trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Phát triển TP.HCM, tập trung cải thiện quy trình cấp tín dụng, nâng cao quản trị rủi ro, tối ưu hóa nguồn vốn và dịch vụ khách hàng để đảm bảo tăng trưởng tín dụng tiêu dùng bền vững và hiệu quả hơn.