Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực phát triển của các thành phần kinh tế. Môi trường kinh doanh bình đẳng nếu không có sự xuất hiện của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trên thực tế, các chủ thể kinh doanh thực hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng tinh vi, đa dạng và rất khó phát hiện. Việc cạnh tranh không lành mạnh không những tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng mà nó còn tác động không nhỏ đến nền kinh tế của nước ta như nguồn thu doanh nghiệp suy giảm, nhiều doanh nghiệp đóng cửa khiến nguồn thu thuế của nhà nước cũng bị ảnh hưởng Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin phép đi vào giải quyết các yêu cầu ở đề bài số 5, làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận môn luật cạnh tranh của mình. Đề bài: Thế nào là hành vi cạnh trang không lành mạnh? Phân tích từng loại hành vi cạnh trang không lành mạnh bị cấm được quy định trong luật cạnh tranh năm 2018 và liên hệ thực tiễn thực hiện (chọn 2 hành vi để liên hệ thực tiễn)? Giải pháp kiểm soát kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh?
Trang 1MỤC LỤC
Trang:
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Khái quát chung về hành vi cạnh trang không lành lạn theo Luật cạnh tranh 2018 2
1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh 2
2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2
3 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2
4 Phân loại cạnh tranh không lành mạnh 3
II Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm được quy định trong Luật cạnh tranh 2018 5
1 Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm 5
2 Thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh 11
III Giải pháp hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực phát triển của các thành phần kinh tế Môi trường kinh doanh bình đẳng nếu không có sự xuất hiện của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trên thực tế, các chủ thể kinh doanh thực hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng tinh vi, đa dạng và rất khó phát hiện Việc cạnh tranh không lành mạnh không những tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng mà nó còn tác động không nhỏ đến nền kinh tế của nước
ta như nguồn thu doanh nghiệp suy giảm, nhiều doanh nghiệp đóng cửa khiến nguồn thu thuế của nhà nước cũng bị ảnh hưởng
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin phép đi vào giải quyết các yêu cầu ở
đề bài số 5, làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận môn luật cạnh tranh của mình
Đề bài: Thế nào là hành vi cạnh trang không lành mạnh? Phân tích từng loại
hành vi cạnh trang không lành mạnh bị cấm được quy định trong luật cạnh tranh năm 2018 và liên hệ thực tiễn thực hiện (chọn 2 hành vi để liên hệ thực tiễn)? Giải pháp kiểm soát kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh?
Trang 3NỘI DUNG
I Khái quát chung về hành vi cạnh trang không lành lạn theo Luật cạnh tranh 2018
1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh.
Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018, hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác
Như vậy có thể hiểu cạnh tranh không lành mạnh là tất cả những hành động trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng Cạnh tranh không lành mạnh là phương thức cạnh tranh mà các doanh nghiệp thực hiện bởi những cách thức không lành mạnh với mục đích gây phản cạnh tranh Cạnh tranh không lành mạnh có thể làm hạn chế cũng như triệt tiêu cạnh tranh đồng nghĩa với việc triệt tiêu động lực phát triển kinh tế và xâm hại lợi ích của cộng đồng cũng như xã hội
2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được hiểu là những hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường
về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng Tại khoản 1 điều 10 bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu có quy định rằng:
“Bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”.
Tại Việt Nam, định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy
định tại khoản 6 Điều 3 của Luật cạnh tranh Việt Nam 2018 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”.
3 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu
Trang 4dùng Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là hiện thực đã xảy ra hoặc cũng có thể chỉ
là tiềm năng khi có căn cứ để xác định hậu quả chắc chắn sẽ xảy ra nếu không có biện pháp ngăn chặn hành vi
Về đối tượng thực hiện: Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp
Nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề Đôi khi, thực
tế phát sinh những tình huống một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền thông… thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp, ví dụ tung tin không trung thực về doanh nghiệp, về hàng hóa dịch vụ…
Đối tượng chịu thiệt hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng Những nhóm doanh nghiệp chịu thiệt hại do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường được hiểu là các đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp thực hiện hành vi Đối với người tiêu dùng, khi các cơ quan chức năng đã xác định được có ảnh hưởng của hành vi không lành mạnh lên người tiêu dùng, cần có sự khoanh vùng, định vị rõ ràng Bên cạnh đó còn có một đối tượng không mang tính tiêu biểu đó là Nhà nước Đối với trường hợp này, chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước khi bị xâm hại tại những nền kinh tế Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường
Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh Tuy nhiên, “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh”
là thuật ngữ mang tính trừu tượng và khó xác định Bởi vậy đặc điểm này đòi hỏi
cơ quan xử lý phải có những hiểu biết và có được sự đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường để có thể phân định được rằng hành vi nào là hành vi đi ngược lại với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh trong một thời điểm nhất định, bên cạnh đó cũng đòi hỏi pháp luật cạnh tranh cần được chỉnh lý, bổ sung để phù hợp với thực tiễn
4 Phân loại cạnh tranh không lành mạnh.
Phụ thuộc vào từng tiêu chí và từng mục đích, ta có thể có nhiều cách để phân loại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Xét một cách khái quát, ta có thể chia các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành ba nhóm đó là: Các hành vi
Trang 5mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác; Các hành vi mang tính chất công kích hay cản trở; Các hành vi lừa dối, lôi kéo bất chính khách hàng
- Các hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác
Đây là nhóm hành vi không cạnh tranh điển hình, thường được thực hiện dưới các cách thức như:Gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, giá trị doanh nghiệp khác đạt được, xâm phạm bí mật kinh doanh để sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác, Phương pháp để xác định được hành vi gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa
là đặt ra sự so sánh giữa các dấu hiệu để nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp đang
sử dụng bị coi là đã có hành vi sử dụng những thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng
Nhóm hành vi trên cũng là dạng hành vi gần với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sự khác biệt chỉ nằm ở đối tượng bị xâm phạm
Ví dụ, đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đối tượng bị xâm phạm là tài sản trí tuệ cụ thể của doanh nghiệp đã được xác lập quyền thông qua việc đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ Còn đối với trường hợp cạnh tranh không lành mạnh, đối tượng bị xâm phạm có phạm vi rộng hơn, bao gồm tất cả giá trị, thành quả mà doanh nghiệp cạnh tranh đạt được một cách hợp pháp thông qua quá trình kinh doanh chẳng hạn như những yếu tố công khai như uy tín thương hiệu, chỉ dẫn thương mại hay không công khai như bí mật kinh doanh Nhưng không phải mọi dạng thành quả đầu tư, lợi thế cạnh tranh đều được bảo vệ, có những đối tượng có được từ kết quả phát triển kinh tế xã hội, khoa học kĩ thuật chung của ngành, khi đó các doanh nghiệp có quyền tiếp cận và sử dụng tự do để thúc đẩy hiệu quả kinh doanh
Trong quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến người tiêu dùng cũng được tính đến khi việc lợi dụng uy tín, thành quả đầu tư của người khác gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ, uy tín hay khả năng kinh doanh của bên vi phạm
- Các hành vi mang tính chất công kích hay cản trở
Nhóm hành vi này có bản chất chung là tấn công vào đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu hoặc làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh thông qua các hoạt động như lôi kéo, mua chuộc nhân viên của đối thủ, đưa thông tin sai trái làm
Trang 6mất uy tín đối thủ cạnh tranh, và nhiều các thủ đoạn khác Các hành vi này được thực hiện dưới rất nhiều cách thức đa dạng Những hành vi này không điển hình và đôi khi khó phát hiện hơn nhóm hành vi trên nhưng các bên liên quan có thể sử dụng các quy định trực tiếp về gây thiệt hại và bồi thường thiệt hại của pháp luật dân sự hoặc cả hình sự để giải quyết tranh chấp một cách triệt để, thay vì áp dụng riêng quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, các hành vi được coi là các hành vi mang tính chất công kích hay cản trở doanh nghiệp khác gồm: hành vi ép buộc trong kinh doanh, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
- Các hành vi lừa dối, lôi kéo bất chính khách hàng
Bản chất của hành vi này là tạo ra lợi thế cạnh tranh gian dối để lôi kéo khách hàng đặc biệt là người tiêu dùng Trên thị trường hiện nay có các hành vi kinh doanh bất chính đã và đang phổ biến như quảng cáo lừa dối, khuyến mại nhử mồi, chào hàng quấy rối hay ép buộc.Dưới góc độ cạnh tranh, lôi kéo khách hàng là cách thức doanh nghiệp thực hiện nhằm vào khách hàng, người tiêu dùng bằng cách đưa ra lý do để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình, tin tưởng những thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình, từ đó tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến thái độ và quyết định mua của khách hàng, người tiêu dùng Tuy nhiên, để lôi kéo khách hàng, các chủ thể kinh doanh sẵn sàng thực hiện các hành
vi trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh dẫn đến gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích doanh nghiệp khác
Những dạng hành vi này khiến cho thị trường trở nên không minh bạch, tạo nên sự sai lệch về giao dịch giữa các chủ thể tham gia thị trường dẫn đến kết quả là môi trường kinh doanh chung sẽ bị ảnh hưởng
II Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm được quy định trong Luật cạnh tranh 2018
1 Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm
1.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Hiện nay Luật cạnh tranh chưa có định nghĩa cụ thể về chỉ dẫn gây nhầm lẫn tuy nhiên dựa vào các đặc điểm của hành vi này ta có thể nhận thấy chỉ dẫn gây nhầm lẫn bao gồm hai dạng vi phạm cụ thể sau đây:
Trang 7- Hành vi sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh
- Hành vi kinh doanh các sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn
+ Đối tượng của hành vi
Đối tượng của hành vi là các chỉ dẫn thương mại của sản phẩm Luật cạnh tranh không có định nghĩa cụ thể về chỉ dẫn thương mại mà chỉ liệt kê một số đối tượng được coi là chỉ dẫn thương mại bao gồm: tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và những dấu hiệu khác theo quy định của Chính phủ
Chỉ dẫn thương mại là một dấu hiệu cũng như cơ sở quan trọng để khách hàng có thể nhận biết sản phẩm của một doanh nghiệp cụ thể và là những dấu hiệu
để phân biệt chúng trong những sản phẩm cùng loại trên thị trường
+ Về hình thức thể hiện
Hai hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn được liệt kê ở trên có cấu thành pháp lý khác nhau Đối với hành vi sử dụng các chỉ dẫn chứa đựng những thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý làm sai lệch các nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ với mục đích cạnh tranh doanh nghiệp được giả định vi phạm đã sử dụng các chỉ dẫn thương mại có nội dung trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn của doanh nghiệp khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng
Còn hành vi kinh doanh sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn thì chỉ
áo dụng đối với những doanh nghiệp tham gia vào việc phân phối các sản phẩm có
sử dụng chỉ dẫn gây nhầm
+ Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn với doanh nghiệp khác luôn mang bản chất bóc lột
Khi sử dụng các thông tin làm cho khách hàng nhầm lẫn doanh nghiệp vi phạm đã có ý dựa dẫm vào danh tiếng của sản phẩm khác hoặc của doanh nghiệp khác để tiêu thụ sản phẩm của mình đã hưởng thành quả đầu tư của người khác một cách bất chính Dưới góc độ pháp lý, hành vi vi phạm đã xâm hại quyền được bảo hộ các thành quả đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường,
sự cạnh tranh luôn là động lực thúc đẩy các nhà kinh doanh phải tìm mọi cách khẳng định vị trí của mình và của sản phẩm trong thói quen tiêu dùng của thị
Trang 8trường Dưới góc độ quyền lợi của người tiêu dùng, hành vi vi phạm với những thông tin gây nhầm lẫn, đã tác động trực tiếp đến ý thức của khách hàng, làm cho
họ không thể lựa chọn đúng sản phẩm mong muốn đã xâm phạm đến quyền tự do lựa chọn của người tiêu dung Hành vi này thực sự nguy hại cho xã hội khi sản phẩm bị giả mạo các chỉ dẫn thương mại lại là sản phẩm kém chất lượng
1.2 Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
Các hành vi vi phạm bí mật kinh doanh có thể xác định thành 3 nhóm hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh, cụ thể như sau:
- Hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh là việc doanh nghiệp tìm cách có được các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác một cách bất chính Để cấu thành những hành vi này cần xác định hai điều kiện cơ bản như sau:
Doanh nghiệp vi phạm đang nỗ lực tiếp xúc hoặc góp nhặt những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác
Việc tiếp cận, thu thập thông tin là bất chính, không lành mạnh Tính chất bất chính của hành vi được thể hiện thông qua phương cách mà doanh nghiệp sử dụng
để tiếp cận, thu thập bí mật kinh doanh
- Hành vi tiết lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh
Biểu hiện của hành vi doanh nghiệp đã để cho người khác biết các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác trong các tình huống sau:
Không được phép của chủ sở hữu;
Vi phạm hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật
Theo Luật cạnh tranh cho dù với động cơ và mục đích gì, hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh chỉ cần có đủ hai tình huống trên sẽ bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
- Sử dụng bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác
Việc doanh nghiệp sử dụng bí mật kinh doanh của người khác cho hoạt động kinh doannh của mình bị coi là cạnh tranh không lành mạnh nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:
Không được phép của chủ sở hữu bí mật đó;
Trang 9Nhằm mục đích kinh doanh, xin giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm Trong trường hợp này, pháp luật không quan tâm đến nguồn gốc, tính hợp pháp của bí mật kinh doanh mà chỉ cần xác định tính không được phép của chủ sở hữu đối với việc sử dụng là đủ để kết luận về sự vi phạm
1.3 Ép buộc trong kinh doanh
Khoản 2 Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2018 định nghĩa về ép buộc trong kinh doanh cụ thể như sau: “Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó” Theo khái niệm trên hành vi ép buộc trong
kinh doanh có cấu thành pháp lý bao gồm các yếu tố sau:
- Đối tượng của hành vi là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác Từ dấu hiệu này, có thể thấy, bằng hành vi của mình doanh nghiệp vi phạm đã không trực diện giao tiếp với doanh nghiệp khác, mà tác động đến khách hàng hoặc đối tác của họ Khách hàng, đối tác kinh doanh có thể là các tổ chức, cá nhân đang giao dịch hoặc sẽ giao dịch của doanh nghiệp khác; có thể là người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân có giao dịch với doanh nghiệp bị xâm phạm
- Hình thức của hành vi là doanh nghiệp vi phạm dùng thủ đoạn đe dọa hoặc cưỡng ép những đối tượng trên để buộc họ không được giao dịch, ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác Dấu hiệu này được làm rõ từ những nội dung sau đây:
Việc đe dọa hoặc cưỡng ép được thực hiện nhằm khống chế ý chí của khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác Doanh nghiệp vi phạm có thể trực tiếp hoặc gián tiếp với vai trò tổ chức hoặc thuê mướn người khác thực hiện các thủ đoạn đe dọa, cưỡng ép các đối tượng trên Phương thức đe dọa, cưỡng ép rất đa dạng và không giống nhau trong các vụ việc cụ thể
Yêu cầu được doanh nghiệp vi phạm đưa ra cho người bị đe dọa, bị cưỡng ép
là không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác Yêu cầu này có thể được đặt ra công khai hoặc ẩn chứa trong thủ đoạn đe dọa, cưỡng ép để các đối tượng bị tác động phải hiểu ngầm
- Sự không lành mạnh của hành vi được chứng minh bằng các hậu quả gây ra cho khách hàng (người tiêu dùng, đối tác của doanh nghiệp khác) và doanh nghiệp
bị xâm hại:
Với khách hàng, quyền lựa chọn của họ bị xâm phạm do bị ngăn trở, bị cưỡng ép mà không thể thiếp lập được giao dịch, không tiếp tục thực hiện được
Trang 10giao dịch theo ý chí của mình Quyền lựa chọn bị khống chế sẽ dẫn đến khả năng khách hàng phải giao dịch với doanh nghiệp vi phạm hoặc người được chỉ định Dấu hiệu ép buộc khách hàng phải giao dịch với mình hoặc với người mà mình chỉ định khi điều tra về hành vi ép buộc không được đặt ra
Hành vi này mang bản chất côn đồ trong kinh doanh, có thể gây ra những xáo trộn trong xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an ninh của cộng đồng, là những dấu hiệu không lành mạnh trong đời sống kinh doanh đòi hỏi pháp luật và công quyền phải thẳng tay trừng trị
Với các doanh nghiệp khác, việc không thiết lập được, không thực hiện được những giao dịch của họ với khách hàng có thể làm cho tình hình kinh doanh bị ngăn trở, rối loạn Mặc dù đối tượng của hành vi ép buộc trong kinh doanh là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp vi phạm, song thủ đoạn cản trở khách hàng thiết lập, thực hiện giao dịch cũng đã làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bị cản trở hoặc bị hạn chế
1.4 Gièm pha doanh nghiệp khác
Gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó Cấu thành pháp lý của hành vi này bao gồm các yếu tố sau:
- Hình thức của hành vi là việc trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác Việc đưa thông tin có thể được thực hiện một cách trực tiếp từ doanh nghiệp vi phạm, hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông, báo chí Những doanh nghiệp vi phạm có thể thực hiện hành vi công khai hoặc không công khai
- Hậu quả của hành vi là gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị thông tin nói đến Uy tín của doanh nghiệp phản ảnh niềm tin và sự yêu thích của khách hàng đối với doanh nghiệp hoặc sản phẩm Sự giảm sút uy tín của doanh nghiệp bị xâm hại thể hiện ở sự giảm sút một cách bất thường các giao dịch, doanh số bán ra, doanh thu của doanh nghiệp, số lượng khách hàng so với trước đó Những ảnh hưởng xấu của hành vi gièm pha đối với tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh thể hiện ở các số liệu
kế toán thống kê, những biến động bất thường của tình hình tài chính, những sự kiện làm rối loạn hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp
1.5 Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của người khác