4.3 Kết quả điều tra nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng 4.4 Diện tích các loại hình canh tác chính tại 6 thôn, 3 xã nghiên 4.5 Biểu phỏng vấn cán bộ huyện Vị Xuyên cho câu hỏi: Cô
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Ở ngoài nước
Theo FAO (2005), toàn cầu có trên 350 triệu ha rừng và đồng cỏ bị đốt cháy mỗi năm, trong đó đến 95% nguyên nhân bắt nguồn từ hoạt động của con người như mở rộng sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở các nước đang phát triển; đồng thời khai thác rừng cho mục đích giải trí và du lịch ở cả nước phát triển lẫn đang phát triển cũng góp phần Để hạn chế mất rừng do cháy và nâng cao hiệu quả công tác PCCCR, cần tăng cường nhận thức của cộng đồng về phòng cháy chữa cháy rừng, bởi cộng đồng là người trực tiếp tham gia quản lý, tổ chức và triển khai các hoạt động PCCCR Mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng, hay PCCCR dựa vào cộng đồng, đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng trong bảo vệ rừng và giảm thiểu cháy rừng.
Thuật ngữ quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng (CBFIM) được đặt ra bởi Sameer Karki tại Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) tại Bangkok, Thái Lan năm 2000 Kể từ khi thuật ngữ này được công nhận đã có nhiều bài báo, phân tích, nghiên cứu, các chương trình đào tạo về vấn đề này được triển khai tại nước này
Zhang và các cộng sự (2003) định nghĩa quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng như một cách tiếp cận trong đó người dân có sự hiểu biết sâu sắc về phòng cháy chữa cháy và tự nguyện tham gia trong việc quản lý lửa
Mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, từ châu Phi, Mỹ Latinh và Bắc Mỹ đến Úc, Ấn Độ và Philippin, nhằm tăng cường vai trò của người dân trong phòng cháy chữa cháy rừng Tham gia cộng đồng cho phép cảnh báo sớm, tổ chức diễn tập ứng phó, quản lý chất cháy và thực hiện các biện pháp quản lý rừng có kiểm soát Thành công từ các khu vực này cho thấy sự kết nối giữa người dân, cơ quan chức năng và nguồn lực địa phương là chìa khóa để giảm thiệt hại do cháy rừng, bảo vệ sinh kế và tăng khả năng phục hồi của hệ sinh thái.
Vào năm 1996, Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ Môi trường và Du lịch chọn khu vực Caprivi ở đông bắc Namibia làm khu vực thí điểm để phát triển một mô hình kiểm soát cháy rừng dựa vào cộng đồng, nhằm thử nghiệm các phương án quản lý đám cháy do cộng đồng địa phương tham gia (Jurvelius, 1999; Kamminga).
Khu vực thí điểm gồm 1,2 triệu ha tài nguyên rừng tốt nhất của Namibia và nằm trong khu vực cận nhiệt đới Phần lớn diện tích là đất thuộc địa phương, nhưng một phần quan trọng còn là rừng của nhà nước, công viên quốc gia và khu bảo tồn động vật hoang dã Trước khi bắt đầu dự án, 70-80% rừng trong khu vực thí điểm hàng năm bị cháy và hầu hết các vụ cháy do con người gây ra.
Chương trình thu hút sự tham gia của đông đảo người dân địa phương thông qua các hoạt động đa dạng như tham dự các chương trình phim truyền hình và học hỏi kỹ năng phòng cháy chữa cháy, giúp tăng cường nhận thức và sự chủ động trong bảo vệ rừng Những nỗ lực này đã giúp giảm 54% diện tích rừng bị cháy hàng năm ở khu vực, chứng tỏ hiệu quả của sự tham gia cộng đồng Kết quả khảo sát cho thấy nên chuyển giao trách nhiệm và thẩm quyền phòng cháy chữa cháy rừng cho cộng đồng địa phương để tăng cường sức mạnh và tính bền vững của công tác bảo vệ rừng.
Ở Ấn Độ, ủy ban quản lý rừng được thành lập ở cấp thôn bản liên quan đến người dân nhằm bảo vệ và bảo tồn rừng Hiện nay có 36.165 ủy ban trên toàn quốc, bao phủ diện tích hơn 10.240.000 ha (Bahuguna và Singh, 2001; Kumar, 2001) Các ủy ban này cũng được trao trách nhiệm bảo vệ và phòng chống cháy rừng Vì vậy, kế hoạch kiểm soát cháy rừng hiện đại đang được sửa đổi và các ủy ban này là thành phần không thể thiếu trong chiến lược phòng chống cháy rừng ở Ấn Độ, do PCCCR bằng máy bay đã thực sự chưa hiệu quả và khá tốn kém.
Ở Philippines, nhằm thúc đẩy và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, mục tiêu của chương trình là tăng cường nhận thức cộng đồng, hình thành mạng lưới tình nguyện viên và lực lượng phản ứng nhanh tại địa phương, đào tạo kỹ năng an toàn và ứng phó cháy rừng cho người dân và cán bộ cấp cơ sở, cải thiện hệ thống giám sát và báo động sớm, tăng cường phối hợp giữa chính quyền địa phương, tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp địa phương, triển khai các biện pháp quản lý rừng bền vững để giảm thiểu rủi ro và thiệt hại, đồng thời đo lường hiệu quả thông qua các chỉ số như tỷ lệ phát hiện sớm, thời gian ứng phó và mức độ tham gia của cộng đồng.
- Tổ chức và tăng cường thành viên cộng đồng để họ có thể làm việc hướng tới một nỗ lực chung;
- Tăng cường ý chí chính trị của cộng đồng và các đơn vị chính quyền địa phương đối với việc bảo tồn/ bảo vệ tài nguyên rừng;
Việc kết hợp các sáng kiến bảo tồn và bảo vệ rừng với nỗ lực phát triển ở cấp cộng đồng nhằm bảo vệ hệ sinh thái, cải thiện sinh kế và tăng cường sự tham gia của người dân địa phương vào quản lý rừng Để đạt được mục tiêu này, các mục tiêu cụ thể được định rõ nhằm tăng độ che phủ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển kinh tế xanh bền vững gắn với rừng; nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe của cộng đồng thông qua quản lý nước và rác thải hiệu quả; xây dựng năng lực địa phương bằng giáo dục và đào tạo; thiết lập các mô hình quản trị minh bạch, có sự tham gia và giám sát của người dân; và đảm bảo nguồn lực tài chính bảo tồn từ các nguồn lực bền vững.
- Giới hạn/ ngăn chặn, nếu không hoàn toàn loại trừ, sự xuất hiện của cháy rừng ở các cộng đồng của tỉnh;
- Điều chỉnh việc sử dụng lửa của nông dân thông qua việc cấp giấy phép để theo dõi;
- Theo dõi và ghi lại các lần xuất hiện của lửa tại các khu vực rừng của mỗi cộng đồng một cách thường xuyên;
- Tiếp tục điều tra nguyên nhân vụ cháy và đề xuất chính sách cho các cơ quan có liên quan để xử lý
Một phương thức khác của chiến lược này là huy động toàn bộ cộng đồng tham gia vào kế hoạch khen thưởng: các cộng đồng không để xảy ra cháy rừng, không khai thác gỗ bất hợp pháp hoặc có ít cháy rừng sẽ nhận được phần thưởng trị giá 200.000 peso, tương đương khoảng 4.000 USD (Pogeyed, 1998).
Dù các phương pháp và phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng đã được phát triển ở mức cao, thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ở cả các nước phát triển có hệ thống hiện đại như Mỹ, Úc, Nga; trong nhiều trường hợp, việc khống chế đám cháy vẫn bất toàn, và ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy được xem là yếu tố then chốt Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và các giải pháp xã hội cho phòng chống cháy rừng (Cooper, 1991) Hiện nay, các giải pháp xã hội chủ yếu tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân và mức xử phạt đối với người gây cháy Tuy vậy, thực tế còn ít các nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chia sẻ lợi ích, quy định của cộng đồng, phong tục tập quán, nhận thức và kiến thức của người dân đối với cháy rừng; cũng còn rất ít những mô hình do cộng đồng bản địa tổ chức và thực hiện tự chủ, hoặc có nhưng chịu sự tác động từ các chương trình và chính sách của nhà nước, chưa thật sự do cộng đồng tự khởi xướng Rất ít nghiên cứu cho thấy cộng đồng địa phương là những người quan trọng nhất với vai trò lớn nhất trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, và những căn cứ này có thể làm nền tảng để xây dựng các giải pháp kinh tế - xã hội cho phòng chống cháy rừng.
Ở trong nước
- Về công tác PCCCR nói chung
Những năm gần đây, Nhà nước ngày càng tăng cường chỉ đạo và đầu tư cho công tác PCCCR (phòng cháy và chữa cháy rừng) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng được hoàn thiện dần, tạo khung pháp lý đồng bộ, rõ ràng và thuận lợi cho công tác quản lý, phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả cháy rừng Cụ thể, đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn liên quan nhằm tăng cường quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả PCCCR và chuẩn hóa các quy trình triển khai tại địa phương và doanh nghiệp.
- Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 vê việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;
Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép nhằm tăng cường quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng; chỉ thị giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, đẩy mạnh tuyên truyền, phối hợp giữa các cơ quan chức năng và nâng cao hiệu quả quản lý rừng ở cơ sở để bảo vệ hệ sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững.
Chỉ thị số 3318/CT-BNN-KL, ban hành ngày 06/11/2008 bởi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhằm tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR và chống người thi hành công vụ Chỉ thị nhấn mạnh tăng cường bảo vệ rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi xâm hại rừng hoặc cản trở lực lượng thi hành công vụ Qua đó, mục tiêu là nâng cao hiệu quả quản lý rừng, bảo vệ tài nguyên rừng và bảo đảm an ninh cho hoạt động thi hành pháp luật liên quan đến rừng.
Chỉ thị số 3767/CT-BNN-KL ngày 18/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR mùa khô 2009-2010 nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trong phạm vi toàn quốc trước và trong mùa khô Chỉ thị yêu cầu huy động nguồn lực, tăng cường lực lượng ứng trực, tăng cường kiểm tra, tuyên truyền và phối hợp giữa các cấp, ngành và địa phương để giảm thiệt hại do cháy rừng.
- Chỉ thị số 270/2010/CT-TTg ngày 12/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng;
- Chỉ thị số 25/CT-BNN-TCLN ngày 06/01/2011 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và PCCCR;
Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng và bảo vệ hệ sinh thái Chỉ thị nhấn mạnh tăng cường công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các cấp, ngành và lực lượng chức năng để ngăn chặn phá rừng, bảo vệ rừng và đảm bảo an toàn cho lực lượng thi hành công vụ khi thực thi nhiệm vụ.
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
- Công điện số 300/CĐ-TTg ngày 06/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phòng cháy, chữa cháy rừng
Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và hướng dẫn cho Chi cục Kiểm lâm ở địa phương nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng Đồng thời, các văn bản này được trình cấp có thẩm quyền để tổ chức các hội nghị, cuộc họp toàn quốc nhằm triển khai các Chỉ thị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng đã được hoàn thiện từng bước, thể chế hóa chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng; Ban Chỉ đạo Trung ương về PCCCR nay là Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, cùng Ban Chỉ huy PCCCR cấp tỉnh, huyện, xã ở những vùng rừng dày đã đi vào hoạt động hiệu quả Vai trò của chủ rừng được tăng cường; ý thức của cộng đồng và toàn xã hội về PCCCR có chuyển biến tích cực Kinh nghiệm chỉ đạo, điều hành và kiểm tra, kiểm soát cháy rừng của các cấp chính quyền và lực lượng chữa cháy rừng ngày càng được cải thiện; phương châm 4 tại chỗ trong chữa cháy rừng đã được quán triệt và phát huy hiệu quả Những tiến bộ này góp phần giảm thiểu nguy cơ cháy rừng, và ở hầu hết địa phương đã thành lập ban chỉ huy PCCCR cấp và tổ đội PCCCR thôn bản sẵn sàng tham gia PCCCR.
- Một số các nghiên cứu về cháy rừng trong nước
Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đề xuất phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng dựa trên số ngày khô hạn liên tục Ông xây dựng bảng tra cấp độ nguy hiểm cháy rừng căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho từng mùa khí hậu trong năm.
Trong các dự án thử nghiệm được ghi nhận, Phó Đức Đỉnh (1993) đã thực hiện đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt, còn Phan Thanh Ngộ (1995) tiếp tục thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt.
Ngay từ đầu năm 2003, Cục Kiểm lâm đã hợp tác với nhóm nghiên cứu thuộc đề tài KC.08.24 của Trường Đại học Lâm nghiệp để xây dựng phần mềm cảnh báo lửa rừng Dự án nhằm nâng cao khả năng nhận diện và dự báo cháy rừng, cung cấp công cụ hỗ trợ quyết định cho công tác quản lý và ứng phó thiên tai, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rừng.
Năm 2005, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã thực hiện một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên”, nhằm đề xuất các biện pháp hiệu quả để phòng ngừa và khắc phục hậu quả cháy rừng ở hai vùng này.
Trong giai đoạn 2006–2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt thực hiện đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp và phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam" (Bế Minh Châu, 2010).
Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định trong công tác phòng cháy chữa cháy, tình hình cháy rừng ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp Trong giai đoạn 2002-2011, cả nước xảy ra 7.380 vụ cháy rừng và thiệt hại diện tích lên tới 49.837 ha, bình quân 715 vụ cháy mỗi năm và 4.984 ha rừng bị thiệt hại mỗi năm Đặc biệt, vào những năm hạn hán bất thường và thời kỳ cao điểm của hiện tượng El Niño, tình trạng cháy rừng trở nên nguy hiểm hơn.
Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, Việt Nam ghi nhận 198 vụ cháy rừng gây thiệt hại 15.548 ha rừng, trong đó hai vụ cháy lớn là U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại 5.415 ha; giá trị lâm sản thiệt hại ước khoảng 290 tỷ đồng, chưa kể hàng chục tỷ đồng chi phí chữa cháy và phục hồi rừng của Nhà nước Đầu năm 2010 xảy ra vụ cháy rừng tại Vườn quốc gia Hoàng Liên làm cháy hơn 800 ha rừng, năm 2012 xảy ra cháy rừng tại Khu rừng phòng hộ Nam Hải Vân, Thành phố Đà Nẵng làm thiệt hại hơn 100 ha rừng Chi phí huy động lực lượng chữa cháy rừng rất lớn, đời sống người dân tại địa phương bị đảo lộn, ảnh hưởng của cháy rừng lên hệ sinh thái kéo dài và cần thời gian mới khôi phục được.
- Về các mô hình cộng đồng tham gia PCCCR ở Việt Nam
Việc phát động sự tham gia của cộng đồng vào PCCCR đã được triển khai ở hầu khắp các địa phương, nhưng phần lớn nơi này chưa xây dựng được mô hình PCCCR bài bản trong cộng đồng, đặc biệt là mô hình cộng đồng tự nguyện PCCCR, bởi thực tế người dân chỉ tham gia khi được huy động chữa cháy rừng khi có đám cháy Điều này khiến việc phát hiện đám cháy và công tác chữa cháy rừng thời gian qua tại địa phương chưa hiệu quả, vì chúng ta thường chỉ tìm cách chữa cháy mà chưa chú trọng phòng cháy tại chính cộng đồng Thực tế cho thấy chữa cháy rừng đòi hỏi nguồn nhân lực lớn, địa hình đồi núi phức tạp khiến việc tiếp cận đám cháy rất khó khăn và nguy hiểm; do đó, dựa hoàn toàn vào lực lượng PCCCR là các tổ đội sẽ không đạt được hiệu quả như mong đợi, cần có sự liên kết và thực hiện đồng bộ giữa phòng ngừa và chữa cháy trong cộng đồng.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác PCCCR tỉnh Hà Giang
- Đánh giá được thực trạng mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư
- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản.
Đối tượng nghiên cứu
Công tác PCCCR, các mô hình PCCCR trong cộng đồng.
Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Mô hình PCCCR trong một số cộng đồng thôn bản của huyện Vị Xuyên
- Thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 03/2015 đến tháng 10/2015.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến cháy rừng ở các cộng đồng thôn bản
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản.
Phương pháp nghiên cứu
Sau khi khảo sát sơ bộ các xã của huyện Vị Xuyên và phỏng vấn nhanh cán bộ Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Hà Giang cùng cán bộ KNKL huyện Vị Xuyên, chúng tôi thu thập được những thông tin ban đầu về tình hình quản lý rừng, hoạt động bảo vệ rừng và nhu cầu hỗ trợ từ cấp địa phương Dữ liệu sơ bộ cho thấy sự phối hợp giữa các cấp trong lĩnh vực lâm nghiệp còn nhiều thách thức, đồng thời KNKL và Chi cục Lâm nghiệp đang tích cực triển khai các biện pháp tăng cường nhận thức, quản lý đất đai và bảo vệ rừng ở các xã trong huyện Kết quả bước đầu này sẽ định hình kế hoạch hành động và các giải pháp phù hợp với đặc thù của huyện Vị Xuyên, hướng tới phát triển lâm nghiệp bền vững và tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng.
Vị Xuyên và chính quyền địa phương các xã của huyện Vị Xuyên, tác giả đưa ra một số kết luận về địa điểm nghiên cứu như sau:
Trong khuôn khổ nghiên cứu toàn huyện, sẽ lựa chọn 03 xã là Lao Chải, Thuận Hòa và Trung Thành; tại mỗi xã sẽ chọn 02 thôn nhằm đại diện cho khu vực và có các đặc điểm sau: diện tích rừng đủ lớn; rừng ở các xã và thôn có nhiều trạng thái khác nhau; đã từng bị cháy rừng hoặc có nguy cơ cháy rừng; và có mô hình PCCCR được triển khai trong cộng đồng.
Trong khu vực nghiên cứu, mỗi thôn chọn 20 hộ gia đình để phỏng vấn Số cán bộ huyện được phỏng vấn là 7 người, trong đó có 5 người thuộc Hạt Kiểm lâm và 2 người từ các phòng ban phụ trách các hoạt động liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp của huyện Bên cạnh đó, một số cán bộ xã, thôn tại khu vực nghiên cứu cũng được phỏng vấn với tổng số 12 người (6 cán bộ xã và 3 cán bộ mỗi thôn).
Trong quá trình xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp cho đề tài, mỗi thôn được tổ chức thành một nhóm thảo luận và tiến hành ba hội thảo nhằm thu thập ý kiến và đánh giá từ cộng đồng Đối với cán bộ cấp huyện và cấp xã, cũng tiến hành các hội thảo để lấy ý kiến đóng góp và đánh giá các đề xuất.
Phương pháp này được triển khai xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài thông qua các hình thức như hội thảo, họp nhóm chuyên gia, bài nhận xét góp ý và phỏng vấn trực tiếp; các ý kiến của các chuyên gia được ghi nhận và tổng hợp, phân tích để làm cơ sở cho đánh giá và điều chỉnh nội dung nghiên cứu Việc xin ý kiến chuyên gia được thực hiện ở các khía cạnh quan trọng như phương pháp tiếp cận, phương pháp đánh giá và các tiêu chí liên quan nhằm nâng cao tính khách quan và chất lượng của kết quả nghiên cứu.
Phương pháp chuyên gia được áp dụng ngay từ khi xây dựng thuyết minh đề tài và các đề cương chuyên đề, nhằm định hình mục tiêu, phạm vi và cấu trúc nội dung nghiên cứu Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện các nội dung của đề tài, phương pháp này tiếp tục được vận dụng để lựa chọn phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu, sắp xếp các phần nội dung một cách logic và điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp với thực tế Nhờ sự nhất quán giữa thuyết minh đề tài, đề cương và kết quả cuối cùng, chất lượng và tính khả thi của đề tài được nâng cao.
2.5.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 2.5.3.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Các số liệu, tài liệu, thông tin sau đây sẽ được tác giả thu thập và kế thừa:
- Số liệu về diện tích rừng của huyện điều tra (cấp huyện, xã, thôn)
- Số liệu về diện tích rừng, loại rừng bị cháy hàng năm của tỉnh, huyện, xã, thôn bản điều tra
- Nguyên nhân gây cháy rừng
- Các biện pháp PCCCR hiện đang được tỉnh cũng như huyện, xã, thôn bản thực hiện
- Các báo cáo, các dự án đang triển khai thực hiện có liên quan đến nghiên cứu
- Các loại bản đồ: Bản đồ giao đất giao rừng, bản đồ quy hoạch ba loại rừng
- Quyết định, nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện PCCCR tại địa phương
2.5.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trường Đề tài sử dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) sau đây để thu thập các thông tin và số liệu ngoài hiện trường:
- Phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm huyện, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn, cán bộ xã, thôn phụ trách lâm nghiệp… của huyện, xã, thôn bản nghiên cứu Công cụ này sẽ được thực hiện trước khi đến thôn bản nhằm tìm hiểu tình hình chung về công tác quản lý bảo vệ rừng, công tác PCCCR của các thôn bản, các mô hình PCCCR tại địa phương, tình hình cháy rừng và các hoạt động của người dân liên quan đến rừng và đất rừng (chủ yếu là các hoạt động sinh kế như: canh tác nương rẫy, săn bắn, thu hái lâm sản, đốt
- Phỏng vấn hộ gia đình: Được thực hiện thông qua bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị và kiểm tra trước Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống Chủ đề phỏng vấn gồm: Tác hại của cháy rừng, nguyên nhân của cháy rừng, thực trạng công tác PCCCR, giải pháp cho PCCCR, nhiệm vụ của mỗi đối tượng trong PCCCR, những khuyến nghị về chính sách cho PCCCR…
Nhóm thảo luận gồm 5–7 người hoặc nhiều hơn tùy theo số lượng hộ, sự phân tán của các hộ và đầy đủ thành phần kinh tế hộ trong thôn bản, được tiến hành sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn HGĐ Các cuộc thảo luận được tổ chức theo khung thảo luận chuẩn đã chuẩn bị sẵn và được hỗ trợ bởi công cụ phân tích cây vấn đề, giúp người dân xác định nguyên nhân chính gây cháy rừng ở địa phương và những yếu tố liên quan Công cụ này cũng giúp cộng đồng nhận diện hậu quả của cháy rừng đối với chính mình, từ đó đề xuất các giải pháp PCCCR (phòng cháy chữa cháy rừng) phù hợp với điều kiện thực tế của cộng đồng Quá trình thảo luận nhóm còn giúp cộng đồng tự đánh giá kết quả đạt được, nhận diện khó khăn gặp phải trong quá trình PCCCR và từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp cho mô hình PCCCR dựa trên cộng đồng.
Kết quả phân tích vấn đề giúp cộng đồng nhận diện nguyên nhân cháy rừng, xác định nguyên nhân chính và ưu tiên các biện pháp can thiệp phù hợp Dựa trên kết quả này, họ sẽ tự thảo luận, đề xuất những giải pháp có thể tự triển khai tại địa phương và làm rõ những hỗ trợ từ bên ngoài mà cần có để tăng hiệu quả phòng cháy chữa cháy.
Trong quá trình tham gia các mô hình PCCCR, cộng đồng tự xác định những khó khăn gặp phải và tự tìm kiếm giải pháp để giải quyết chúng, đồng thời phân loại rõ ràng đâu là khó khăn nội tại và đâu là khó khăn từ các yếu tố bên ngoài Họ đánh giá mức độ khắc phục được nhờ nỗ lực của chính mình và xác định những điểm cần hỗ trợ từ bên ngoài thông qua quá trình trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm trong nhóm Việc nhận diện sự khác biệt giữa các loại khó khăn giúp cộng đồng điều chỉnh hoạt động PCCCR, tăng khả năng chủ động và tối ưu hóa sự phối hợp với các nguồn lực ngoài nhóm để vượt qua thách thức.
Kết quả thảo luận nhóm cung cấp cho cộng đồng cái nhìn toàn diện về các mô hình PCCCR có thể được áp dụng, giúp người dân nhận diện mô hình phù hợp với hoàn cảnh địa phương và từ đó lựa chọn mô hình tối ưu nhất để triển khai Thông tin từ thảo luận làm rõ ưu nhược điểm của từng mô hình PCCCR, tăng cường sự đồng thuận và chuẩn bị cho các bước thực hiện dựa trên nhu cầu thực tế của cư dân Việc xác định mô hình PCCCR phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và tính bền vững trong cộng đồng.
2.5.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp
- Tiến hành tổng hợp và lượng hóa số liệu phỏng vấn
- Tiến hành phân tích ảnh hưởng của người dân đối với mỗi mô hình
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của từng mô hình:
+ Sự tham gia của người dân đối với mô hình + Hiệu quả mang lại
+ Kinh phí cho mô hình + Ưu, nhược điểm của mỗi mô hình
- Tổng kết và đưa ra nhận xét cho 3 nội dung nghiên cứu chính:
Đánh giá thực trạng và nguyên nhân cháy rừng tại Vị Xuyên cho thấy thời tiết khô hạn, sự tác động của canh tác và lâm nghiệp kết hợp cùng công tác quản lý rừng chưa đồng bộ là những yếu tố chủ đạo dẫn đến cháy rừng ở địa phương Đánh giá các hình thức PCCCR đang áp dụng tại Vị Xuyên cho thấy cần tăng cường hiệu quả của các biện pháp như tuần tra định kỳ, phát hiện sớm, chữa cháy tại chỗ và huy động cộng đồng ở các khu vực có nguy cơ cao Đề xuất và đưa ra các mô hình nâng cao hiệu quả PCCCR gồm: ứng dụng công nghệ giám sát (GIS, drone, cảm biến), hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu thời tiết và ngưỡng cháy; mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng; kế hoạch tài chính bền vững cho PCCCR; và cơ chế phối hợp liên ngành giữa lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương và người dân Những mô hình này nhằm giảm thiểu rủi ro cháy rừng, cải thiện công tác chữa cháy và nâng cao khả năng phục hồi của hệ sinh thái rừng Vị Xuyên.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ, XÃ HỘI: KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương
Vị Xuyên là huyện vùng núi thấp của tỉnh Hà Giang Huyện có tọa độ địa lý từ 104°23′30″ đến 105°09′30″ kinh độ Đông và từ 22°29′30″ đến 23°02′30″ vĩ độ Bắc Trung tâm huyện là Thị trấn Vị Xuyên, nằm trên trục Quốc lộ 2 và cách thị xã Hà Giang khoảng 20 km về phía Nam.
Huyện có địa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp biên giới với Trung Quốc; Thị xã Hà Giang và huyện Quản Bạ;
- Phía Nam giáp huyện Bắc Quang;
- Phía Đông giáp huyện Bắc Mê và tỉnh Tuyên Quang;
- Phía Tây giáp huyện Hoàng Su Phì
Huyện Vị Xuyên thuộc vùng núi thấp của tỉnh Hà Giang, với địa hình phức tạp và chia cắt mạnh, khiến khu vực này có nhiều thách thức về giao thông và phát triển Độ cao trung bình trên 500 m so với mực nước biển cùng với độ dốc lớn hình thành nên nhiều tiểu vùng mang đặc điểm riêng biệt, làm cơ sở cho các nghiên cứu về địa hình, khí hậu và tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.
- Tiểu vùng núi cao: Bao gồm các xã Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức,
Vùng Thanh Thủy, Thượng Sơn, Quảng Ngần, Cao Bồ, Phương Tiến có độ cao trung bình trên 1.000 m, điều kiện lý tưởng cho phát triển các cây đặc sản như chè Shan, quế và thảo mộc; đồng thời thuận lợi cho chăn nuôi đại gia súc và phát triển nghề rừng.
- Tiểu vùng núi trung bình: Bao gồm các xã Trung Thành, Bạch Ngọc,
Vùng Ngọc Minh, Ngọc Linh, Minh Tân, Thuận Hòa, Việt Lâm và Linh Hồ có độ cao trung bình từ 500 - 800 m, mang lại điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chè, chăn nuôi gia súc và trồng rừng Đây là khu vực có tiềm năng nông nghiệp cao, giúp đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương Việc khai thác nguồn lực tự nhiên tại độ cao này có thể thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông lâm kết hợp.
- Tiểu vùng thung lũng và núi thấp: Bao gồm các xã Tùng Bá, Phong
Vùng Quang, Kim Linh, Phú Linh, Kim Thạch, Đạo Đức và các khu vực Thị trấn Vị Xuyên, Thị trấn Việt Lâm có độ cao trung bình dưới 500 m, tạo nền tảng địa hình thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Nhờ điều kiện này, vùng có tiềm năng lớn cho phát triển lúa nước, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
Huyện Vị Xuyên nằm trong khu vực khí hậu Đông Bắc với đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do nằm sâu trong lục địa nên huyện ít chịu ảnh hưởng của mưa bão mùa hè và gió mùa Đông Bắc mùa đông so với vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Chế độ gió tại đây thể hiện sự đối lập rõ rệt theo mùa: mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam và Tây Nam kéo dài từ tháng Năm đến tháng Mười, mang đến thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều.
Mùa đông ở huyện kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió mùa đông bắc thổi mạnh khiến thời tiết lạnh và khô, ít mưa Đây là đặc trưng nổi bật của khí hậu địa phương và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất Các đặc điểm chính của khí hậu và thời tiết ở huyện bao gồm nhiệt độ thấp, độ ẩm thấp và lượng mưa rất ít, cùng với sương mù vào sáng sớm ảnh hưởng đến tầm nhìn và sinh hoạt ngoài trời.
- Nhiệt độ trung bình năm: 22,6 O C
- Nhiệt độ cao trung bình năm 27,5 O C
- Nhiệt độ thấp trung bình năm 19,6 O C
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối 1,5 O C
- Độ ẩm không khí bình quân năm 80 %
- Số giờ nắng trung bình năm 1.500 giờ
- Số ngày có sương mù trong năm từ 33 - 34 ngày
Vị Xuyên có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Mùa đông lạnh khô giúp vụ đông trở thành vụ chính và phù hợp trồng nhiều loại rau màu ngắn ngày có giá trị cao Hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa, thường gây xói mòn, thoái hóa và sạt lở ở những khu vực địa hình dốc, hiểm trở.
Huyện Vị Xuyên có hệ thống sông suối khá dày đặc, phần lớn là các con suối nhỏ có độ dốc lớn; duy chỉ sông Lô là con sông lớn nhất, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, chảy về cửa khẩu Thanh Thủy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua Thị xã Hà Giang và huyện Vị Xuyên trước khi đổ vào địa phận tỉnh Tuyên Quang Dòng sông Lô có nhiều thác ghềnh; mùa khô mực nước trung bình của sông dao động từ 0,6 đến 1,5 mét, bề rộng lòng sông trung bình khoảng 40 mét.
Ở hạ lưu sông, độ sâu cột nước có thể lên tới 50 m; càng về phía hạ lưu, chiều sâu này càng tăng lên và dòng sông xuất hiện các bãi bồi với cát sỏi có thể khai thác làm vật liệu xây dựng.
Việc khai thác nguồn nước sông Lô để phục vụ sản xuất gặp nhiều hạn chế do mực nước mùa khô chênh lệch với mặt đất sản xuất nông nghiệp khá lớn Các hệ thống suối nhỏ có độ dốc lớn và dòng chảy mạnh tạo tiềm năng đáng kể cho xây dựng các công trình thủy điện nhỏ, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện.
Hiện nguồn nước ngầm ở huyện vẫn chưa có kết quả thăm dò đầy đủ, nhưng qua sơ bộ khảo sát tại các giếng nước ăn của người dân ở độ sâu trên 20 m cho thấy trữ lượng đủ dùng cho sinh hoạt và kể cả mùa khô Kết quả này cho thấy nước ngầm có tiềm năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, song việc khai thác gặp nhiều thách thức vì địa hình đồi núi dốc, khiến nguồn nước nằm ở độ sâu lớn Do đó, đầu tư khai thác nước ngầm hiện nay gặp trở ngại về tính phức tạp và hiệu quả thấp.
Do ảnh hưởng của địa hình và sự khác biệt lớn về độ cao cùng tác động của các tiểu vùng khí hậu, hệ thực vật của huyện rất phong phú và đa dạng Sự phân hóa theo độ cao và điều kiện khí hậu tạo nên nhiều sinh cảnh khác nhau, làm cho thành phần loài và tầng thực vật địa phương thêm phong phú Trên địa bàn huyện có các kiểu rừng đa dạng, từ rừng ở vùng núi cao đến rừng ở thung lũng và ven sông, bao gồm rừng hỗn hợp lá rộng – lá kim, rừng ngập nước và các hình thức rừng khác tùy thuộc vào đặc điểm địa hình và khí hậu của từng tiểu vùng.
Rừng trên núi đá vôi là kiểu rừng đặc trưng tồn tại trên địa hình đá vôi, thường có cấu trúc hai tầng cây Tầng trên cao từ 15 đến 20 mét, trong đó các loài phổ biến là Nghiến và Trai chiếm ưu thế Tầng cây thấp hơn gồm các loài như Mạy Tèo và Ô rô, thích nghi với điều kiện đá vôi khô và nghèo dinh dưỡng Thực vật phụ sinh như Phong Lan và dây leo thường gặp trên các bờ đá và thân cây, tạo thành mạng lưới đa dạng cho hệ sinh thái của khu rừng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thực trạng và nguyên nhân cháy rừng ở huyện Vị Xuyên
Vị Xuyên, huyện vùng thấp thuộc tỉnh Hà Giang, có tổng diện tích tự nhiên 149.524,99 ha, diện tích rừng 102.900,5 ha (chiếm 68,8%), trong đó 24.319,6 ha là rừng đặc dụng; địa hình phức tạp với đa dạng đồi núi thấp, sườn thoải xen kẽ thung lũng tạo thành những cánh đồng rộng lớn và hệ thống sông ngòi, ao hồ thích hợp cho phát triển nông nghiệp Độ cao trung bình từ 300 đến 400 m so với mặt nước biển, phía Tây có núi Tây Côn Lĩnh cao 2.419 m, sông Lô chảy qua địa bàn huyện với chiều dài 70 km.
Vị Xuyên có quốc lộ 4C và quốc lộ 2 chạy qua
Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng từ 18 – 25 o C Lượng mưa trung bình khá lớn, vào khoảng 3.000 – 4.000 mm/năm
Vị Xuyên có dân số ước tính khoảng 96.168 người, thuộc 15 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,1%, tiếp đến là Dao, Kinh, Mông, Nùng và các dân tộc khác Hoạt động sản xuất và khai thác tài nguyên rừng truyền thống như chặt phá rừng, đốt rừng lấy đất làm nương rẫy và chăn thả gia súc đã làm diện tích rừng thu hẹp, khiến nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao như Nghiến, Pơ Mu, Đinh bị khai thác kiệt quệ và tài nguyên rừng suy giảm.
Trong báo cáo PCCCR do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang trình bày, huyện Vị Xuyên được xác định là một trong những huyện trọng điểm về cháy rừng của tỉnh Từ năm 2012 đến 2014, toàn huyện xảy ra 03 vụ cháy rừng, và các vụ cháy này tập trung vào một năm duy nhất trong giai đoạn trên.
Trong năm 2012, diện tích rừng bị cháy lên tới 49,8 ha, trong đó rừng trồng chiếm 36,9 ha Đối tượng bị cháy chủ yếu là rừng trồng và trảng cỏ, thuộc loại rừng đặc dụng và rừng sản xuất Nguyên nhân cháy đến nay vẫn chưa xác định Thời điểm xảy ra cháy rừng từ tháng 2 đến tháng 5, đúng vào mùa khô hạn và nắng nóng, đồng thời là thời điểm người dân làm nương.
Bảng 4.1 Biểu phỏng vấn cán bộ huyện Vị Xuyên cho câu hỏi: Nguyên nhân gây cháy rừng do đâu, đâu là nguyên nhân chính?
PV Địa chỉ/đơn vị công tác Chức vụ Câu trả lời
Vị Xuyên Hạt trưởng - Do đốt nương làm cháy lan vào rừng và cháy từ TQ sang
Vũ Đức Quỳnh Hạt kiểm lâm huyện
- Do đốt nương dẫn đến cháy lan, hoặc do dùng lửa khi chăn thả gia súc
Phạm Văn Hội Hạt kiểm lâm huyện
Kiểm lâm địa bàn xã Thuận Hòa
- Cháy do đốt nương làm cháy lan vào rừng Đàm Chí Phương
Kiểm lâm địa bàn xã Lao Chải
- Do đốt nương, trẻ chăn trâu đốt sưởi nhưng khi về không dập lửa làm cháy lan vào rừng, cháy lan từ TQ sang
Kiểm lâm địa bàn xã Trung Thành
- Các xã thuộc địa bàn quản lý không xảy ra cháy mà chỉ có cháy lan từ xã khác
Nông Việt Hùng Phòng NN huyện Vị
Cán bộ kỹ thuật - Do đốt nương
Phó ban - Do đốt nương và cháy từ TQ sang
Rừng trồng Trảng cỏ, cây
Năm trồng SL Thiệt hại
Lao Chải Bản Phùng 1 12 12 ĐD 22/2/2012 Đốt nương
Cháy lan từ bên Trung Quốc sang
Ngọc Khuổi Giò 1 1.5 1.5 1999 SX 4/5/2012 Đốt gỗ lấy than Chưa XĐ 40
Hình 4.1: Diện tích các loại rừng bị cháy của huyện Vị Xuyên từ năm 2012- T6/2014
4.1.2 Nguyên nhân gây cháy rừng ở Vị Xuyên
Phân tích thực trạng cháy rừng ở huyện Vị Xuyên cho thấy những năm gần đây tình hình cháy rừng đã có chuyển biến tích cực, nhưng công tác PCCCR (phòng cháy chữa cháy rừng) vẫn đòi hỏi sự chú trọng và nỗ lực liên tục Để PCCCR hiệu quả, cần nhanh chóng giải quyết các vấn đề phát sinh ảnh hưởng tới công tác PCCCR, làm rõ các nguyên nhân gây cháy rừng và những nguyên nhân khiến tình hình cháy vẫn khó kiểm soát.
Rừng tự nhiênRừng trồngTràng cỏ, cây bụi
Bảng 4.3 Kết quả điều tra nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng đồng thôn bản tại huyện Vị Xuyên Đối tượng
PV Nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng đồng
Cán bộ huyện Vị Xuyên
- Nguyên nhân chính là do người dân đốt nương rẫy làm cháy lan vào rừng và phát đốt rừng để làm nương
- Dùng lửa để khai thác gỗ, đốt củi lấy than và đốt ong lấy mật
Thị trường buôn bán lâm sản tại địa phương và khu vực từng diễn ra khá phổ biến nhờ thuận lợi về giao thông và mạng lưới vận chuyển hàng hóa thông suốt Trong vài năm gần đây, hoạt động này đã giảm đáng kể, nhưng vẫn ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
- Do người dân đốt nương rẫy và đốt rừng làm nương rẫy gây cháy rừng
- Dùng lửa không cẩn thận khi đi lấy củi
- Sơ ý khi dùng lửa khi đi xuyên qua rừng (đi lại qua các bản khác)
- Người dân chưa thực sự quan tâm đến công tác PCCCR vì rừng do xã quản lý
- Sử dụng lửa để săn bắt động vật
Bản Phùng – Xã Lao Chải
- Do người dân đốt nương làm cháy lan vào rừng
Bản Lùng Chu Phùng – Xã lao Chải
Ý thức của người dân còn kém khi đốt nương và thiếu biện pháp đảm bảo an toàn, thường đốt vào chiều tối và không trông coi Thời điểm đốt nương rơi vào mùa hanh khô, gió Bắc mạnh, khiến ngọn lửa dễ lộ và khó kiểm soát Nếu không tuân thủ các nguyên tắc an toàn và không có sự giám sát, ngọn lửa có thể lan sang khu vực lân cận, gây cháy rừng và thiệt hại về người và tài sản.
PV Nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng đồng bén lửa vào rừng
- Nguyên nhân chính là do người dân không cẩn thận khi đốt nương làm rẫy
- Đem lửa vào rừng khi thu hái lâm sản (lấy chít, dược liệu…)
- Cháy lan từ xã khác sang
- Do cháy lan từ xã Bạch Ngọc sang
- Do đem lửa vào rừng khi thu hái lâm sản ngoài gỗ
- Nguyên nhân chính là do cháy lan từ xã khác sang
- Nguyên nhân là do đem lửa vào rừng khi thu hái lâm sản
- Dùng lửa khi đi lấy củi
Nguyên nhân chính dẫn đến cháy rừng ở xã là do thiếu ý thức của người dân về PCCCR Họ thường mang lửa vào rừng khi thu hái lâm sản và khai thác gỗ, hoặc để lửa hoạt động gây cháy do sự bất cẩn Vì vậy, tăng cường nhận thức về PCCCR và thực hành an toàn khi làm việc ở rừng là yếu tố then chốt để giảm thiệt hại và ngăn cháy rừng hiệu quả.
- Dùng lửa đốt ong lấy mật
- Các vụ cháy khác xảy ra là do đốt nương rẫy không đúng kỹ thuật, do đốt gỗ, củi lấy than
- Đem lửa vào rừng khi lấy củi
Nhìn chung các vụ cháy đều xảy ra do người dân khi đi rừng dùng lửa bất cẩn gây cháy
Thôn Hòa Bắc – xã Thuận Hòa
Ý thức của người dân còn chưa cao trong việc quản lý lửa khi đi lấy củi hoặc chăn thả gia súc đốt sưởi ấm, dẫn tới nguy cơ cháy rừng Khi về nhà, nhiều người bỏ qua việc dập lửa khiến ngọn lửa lan vào rừng gây thiệt hại về môi trường và tài sản Để khắc phục, cần tăng cường tuyên truyền về an toàn cháy rừng, nâng cao ý thức cộng đồng và thực thi các biện pháp quản lý việc sử dụng lửa ở vùng rừng và khu vực lân cận Các biện pháp như cảnh báo, giáo dục người dân và xử lý vi phạm có thể giảm thiểu rủi ro cháy rừng.
Dựa vào số liệu thu thập ở bảng 4.2, tác giả đánh giá rằng có ba nguyên nhân chính dẫn đến cháy rừng Có sáu nguyên nhân khác đóng góp vào việc tình hình cháy rừng vẫn rất khó kiểm soát.
Ở nhiều thôn xã được đề cập trong đề tài, canh tác nương rẫy là hoạt động chủ yếu để cung cấp lương thực và thực phẩm cho người dân Do điều kiện địa hình đồi núi và thổ nhưỡng tương đối khó khăn, diện tích đất nông nghiệp hạn chế nên người dân phần lớn sống dựa vào nương rẫy Tuy nhiên, một thực trạng thường gặp là người dân đốt nương rẫy để làm nương và có thể làm cháy lan vào rừng, dẫn đến phát đốt rừng để mở rộng vùng sản xuất Vì vậy, canh tác nương rẫy vẫn đóng vai trò thiết yếu đối với đời sống sinh kế của các hộ ở các thôn, xã được nghiên cứu.
Bảng 4.4 Diện tích các loại hình canh tác chính tại 6 thôn,
Xã Thôn Diện tích các loại hình canh tác chính
(đơn vị: ha) Đất nương Đất ruộng Đất vườn Rừng
Ở Trung Sơn, quá trình canh tác nương rẫy của nhiều hộ dân cho thấy ý thức người dân còn hạn chế và không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, dẫn đến cháy lan và thiệt hại trên diện tích sản xuất Tình trạng này nhấn mạnh sự cần thiết của công tác tuyên truyền và tập huấn về kỹ thuật canh tác an toàn, quản lý lửa và các biện pháp phòng cháy để giảm rủi ro cháy rẫy, từ đó nâng cao hiệu quả và tính bền vững của canh tác nương rẫy tại địa phương.
Hình 4.2: Đốt rừng làm nương rẫy (Thuận Hòa – tháng 9/2015)
Hoạt động khai thác gỗ bằng lửa, đốt củi lấy than và đốt ong lấy mật vẫn diễn ra tại huyện Vị Xuyên, theo thống kê của hạt kiểm lâm cho thấy lâm sản ngoài gỗ (như mật ong) đang có diễn biến hết sức phức tạp Người dân tham gia chủ yếu là các gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu lương thực thực phẩm và ở xa cơ quan quản lý nên công tác kiểm soát gặp nhiều khó khăn Trong quá trình đi rừng, việc sử dụng lửa bất cẩn đã gây nên cháy rừng Đồng thời tâm lý lo sợ và thiếu sự huy động của cộng đồng khiến tình trạng cháy lan rộng đến khi lực lượng chức năng mới có mặt là không kịp thời.
Hình 4.3: Khai thác gỗ rừng đốt lấy than củi (Trung Thành - tháng
Hình 4.4: Đốt ong lấy mật (Trung Thành – tháng 8/2015)
Thị trường buôn bán lâm sản ở địa phương và khu vực trước đây rất thuận lợi, nhưng trong vài năm gần đây đã giảm đáng kể, mặc dù vẫn ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Việc các thương lái Trung Quốc đẩy mạnh thu mua lâm sản thời gian đầu đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý Trong hai ba năm gần đây, hoạt động thu mua của các thương lái Trung Quốc đã giảm hẳn, mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho công tác bảo vệ và quản lý rừng.
Hình 4.5: Khai thác trộm gỗ rừng ở Vị Xuyên (Thuận Hòa – tháng
Ngoài ra còn một số các nguyên nhân khác như:
Ở một số xã, do lo sợ ảnh hưởng đến thành tích nên không khai báo tình hình cháy rừng, khiến huyện không thể xác định đúng mức độ nguy cơ và triển khai các biện pháp PCCCR cùng các hỗ trợ liên quan một cách phù hợp và hiệu quả Hệ quả là công tác PCCCR gặp khó khăn, để tình hình cháy rừng diễn biến ngày càng phức tạp và nghiêm trọng.
Thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư
Quá trình nghiên cứu đánh giá tại các thôn bản của các xã của huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, qua nghiên cứu nhận thấy tại các cộng đồng dân cư chưa có một mô hình PCCCR nào trong cộng đồng, do cộng đồng tự khởi xướng hay được định hướng từ bên ngoài Công tác PCCCR đang được thực hiện tại các cộng đồng dựa trên phương án PCCCR của tỉnh, huyện và được triển khai về các xã thôn, trong đó tại mỗi huyện sẽ có 01 ban chỉ huy PCCCR cấp huyện, Hạt kiểm lâm chịu trách nhiệm tham mưu cho lãnh đạo huyện về công tác PCCCR của huyện, xây dựng phương án PCCCR hàng năm, lập kế hoạch PCCCR hàng năm, tại mỗi xã sẽ có 01 ban chỉ huy PCCCR cấp xã trong đó đại diện các ban ngành của xã là thành viên, tại mỗi xã cũng có 01 đội xung kích về PCCCR, và tại mỗi thôn sẽ có 01 tổ đội PCCCR hay tổ chỉ huy PCCCR-BVR, thành phần tham gia là trưởng các ban ngành
Căn cứ điều kiện thực tế của từng huyện, các ban chỉ huy cấp huyện và cấp xã, cùng với tổ đội xung kích cấp xã và tổ đội PCCCR cấp thôn có sự khác biệt về thành phần tham gia, quy mô số lượng người tham gia, cách thức hoạt động và phân công nhiệm vụ nhằm phù hợp với đặc thù địa phương.
Tại huyện Vị Xuyên, công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR được tổ chức có hệ thống từ cấp huyện xuống cấp thôn bản Các tổ chức PCCCR của xã gồm Ban chỉ huy PCCCR cấp xã, đội xung kích PCCCR, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu hộ, và tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và PCCCR thôn bản Sự phối hợp giữa các cấp và các tổ chức này giúp tăng cường lực lượng, phương tiện và phương án bảo vệ rừng, đồng thời nâng cao khả năng ứng phó với thiên tai trên địa bàn.
4.2.1 Mô hình PCCCR cấp xã 4.2.1.1 Ban chỉ huy PCCCR
Mô hình này đang được áp dụng ở tất cả các xã trên toàn huyện
Thành phần tham gia gồm Phó chủ tịch UBND phụ trách khối nông lâm làm trưởng ban, phó ban là xã đội trưởng và trưởng công an xã, các ban viên là đại diện các ban ngành của xã, và các thành viên đều hoạt động kiêm nhiệm.
Không có kinh phí hỗ trợ
- Tổ chức cho các thôn xây dựng phương án PCCCR cấp thôn
- Thành lập các tổ, đội PCCCR tại các thôn bản
- Chỉ đạo các ban nghành, cán bộ phụ trách thôn phối phối hợp tổ chức tuyên truyềnvận động nhân dân thực hiện công tác PCCCR
- Thông tin kịp thời cấp dự báo cháy rừng và các biện pháp phòng cháy cho
- Thường xuyên kiểm tra đôn đốc các thôn bản, các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng
- Tổ chức triển khai phương án đã được phê duyệt
- Lập biên bản những thiệt hại về người và tài sản do cháy rừng gây ra
Mỗi tháng, các quỹ định kỳ báo cáo công tác PCCCR (Phòng cháy chữa cháy rừng) và thiệt hại do cháy rừng gây ra, gửi đến Ban chỉ đạo PCCCR cấp huyện và Hạt Kiểm Lâm huyện để theo dõi, tổng hợp và chỉ đạo xử lý.
Cuối mỗi vụ khô hanh, xã tổ chức sơ kết và tổng kết rút kinh nghiệm về công tác PCCCR (phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ) tại địa phương để đánh giá kết quả, chỉ ra tồn tại và đề xuất biện pháp khắc phục Hoạt động này nhằm củng cố hệ thống PCCCR ở xã, tăng cường công tác tuyên truyền, huấn luyện và kiểm tra tại cộng đồng, đồng thời nâng cao ý thức và sự chủ động của người dân và các cơ quan liên quan trong các tình huống cháy nạn Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm, xã đề ra phương hướng và nhiệm vụ cho những năm tiếp theo, tập trung vào cải thiện hiệu quả PCCCR, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn.
+ Lập kế hoạch về quản lý bảo vệ rừng, PCCCR hàng năm cho xã
+ Bố trí lịch trực cho các thành viên trong ban
Ban đã phân công nhiệm vụ cho các thành viên và phối hợp với kiểm lâm địa phương để thực hiện tuần tra rừng, tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng Đồng thời, ban trực tiếp tham gia chữa cháy rừng của xã khi có sự cố, đảm bảo an toàn cho người dân và hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.
+ Xử lý các vụ vi phạm về quản lý tài nguyên rừng, PCCCR tại địa phương Tham gia xác minh các vụ vi phạm về các vấn đề trên
Hiệu quả đạt được của ban hoạt động là giảm thiểu tình trạng cháy rừng nhờ công tác tuần tra và giám sát; tuy nhiên trên thực tế hiệu quả chưa cao vì hầu hết các thành viên làm kiêm nhiệm, nên họ không dành được nhiều thời gian cho công việc tuần tra rừng Địa bàn rộng và địa hình khó khăn khiến công tác tuần tra gặp nhiều thách thức, đặc biệt ở những khu vực xa đường sá Những khu vực gần và được tuần tra thường xuyên hiếm khi xảy ra cháy, trong khi những địa điểm ở xa, đường đi khó khăn lại rất khó phát hiện đám cháy hoặc nếu phát hiện cũng không kịp chữa cháy.
Thành phần chủ yếu của đội ngũ là các cán bộ phụ trách các ban ngành của xã, do đó việc tăng cường phối hợp giữa các ban ngành trong công tác PCCCR sẽ đạt hiệu quả cao hơn Sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị là nền tảng để triển khai đồng bộ các hoạt động PCCCR, từ công tác dự báo, tuyên truyền đến xử lý khi có sự cố Việc phân công rõ ràng trách nhiệm và thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả giúp tối ưu hóa nguồn lực, tăng cường khả năng ứng phó nhanh nhạy và giảm thiểu thiệt hại cho cộng đồng Vì vậy, củng cố mạng lưới cán bộ xã chịu trách nhiệm cho từng ban ngành và xây dựng quy trình phối hợp chuẩn là yếu tố then chốt cho công tác PCCCR thành công.
Đây là một mô hình có cấp quản lý và xây dựng kế hoạch PCCCR gần như bám sát cơ sở, nên sẽ tác động mạnh đến công tác tuyên truyền và ý thức của người dân Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp quản lý và cơ sở giúp thông điệp tuyên truyền nhất quán và lan tỏa sâu rộng hơn, từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng về PCCCR Tuy nhiên, sự gắn kết này cũng đòi hỏi nguồn lực phù hợp và hệ thống đánh giá hiệu quả liên tục để đảm bảo thông tin được truyền đạt đúng cách và người dân nắm bắt được các nội dung cốt lõi.
+ Các thành viên của ban làm kiêm nhiệm nên không có nhiều thời gian tuần tra;
+ Ban hoạt động dựa trên trách nhiệm mà không được hỗ trợ kinh phí nên không khuyến khích được các thành viên hoạt động tích cực
+ Phương tiện, dụng cụ chữa cháy thô sơ và thiếu
+ Rừng của xã, thôn do xã và ban quản lý thôn quản lý mà không giao cho các hộ nên họ không có trách nhiệm
+ Nhận thức của người dân về PCCCR thấp nên rất khó huy động họ tham gia chữa cháy
4.2.1.2 Ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng
Mô hình này đang được áp dụng ở những xã như: Lao Chải, Trung Thành, Minh Tân, Thanh Đức
Thành phần tham gia gồm Chủ tịch UBND xã đảm nhận vị trí trưởng ban; Phó ban là Phó chủ tịch UBND phụ trách khối nông lâm; xã đội trưởng và trưởng công an xã; các ban viên là đại diện của các ban ngành xã Các thành viên đều hoạt động kiêm nhiệm và không có kinh phí hỗ trợ.
+ Triển khai các kế hoạch, phương án PCCCR cho xã theo từng thời điểm thời tiết khí hậu khác nhau
Trực tiếp chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động liên quan đến PCCCR trên địa bàn xã, phối hợp với các thôn bản xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch tuần tra kiểm tra nhằm phát hiện sớm cháy rừng để có phương án xử lý kịp thời.
+ Họp giao ban giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thôn bản về công tác lâm nghiệp, đẩy mạnh tuyên truyền tới người dân
Hiệu quả đạt được cho thấy bước đầu triển khai tại một số thôn bản còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã xuất hiện tín hiệu đáng mừng khi công tác phòng chống cháy rừng phát huy được tác dụng nhất định Tuy nhiên, cũng giống như Ban chỉ huy PCCCR cấp xã, dù chức năng chuyên trách là phòng chống cháy rừng, các thành viên Ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng đều kiêm nhiệm và thiếu kinh phí hỗ trợ Thêm vào đó, Ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng cũng không có kinh phí để hỗ trợ các thôn, bản triển khai công tác này.
Trực tiếp được điều hành bởi lãnh đạo xã và trưởng các ban ngành đoàn thể, công tác triển khai diễn ra thuận lợi Các thôn, bản đã tích cực triển khai và thực hiện nghiêm túc các nội dung, kế hoạch được giao, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong toàn xã.
+ Tổ chức, thực hiện kiểm tra ngay khi bắt đầu mùa cháy nên công tác phòng chống được chú trọng hơn, ít để cháy rừng phát sinh hơn
+ Không có kinh phí hỗ trợ các thôn, bản để động viên người dân cùng tham gia
Việc các thành viên kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khiến thời gian dành cho công tác kiểm tra và phối hợp với các thôn triển khai kế hoạch phòng chống cháy rừng trở nên rất hạn chế.
+ Điều kiện địa hình, dân tộc, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, công tác phòng chống cháy rừng
4.2.1.3 Đội xung kích PCCCR, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu hộ
Mô hình này đang được áp dụng ở những xã : Ngọc Linh, Kim Linh, Kim Thạch, Linh Hồ, Xín Chải
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản
4.3.1 Đề xuất mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản
Trong thời gian qua, nhiều hoạt động quản lý bảo vệ rừng PCCCR đã được triển khai tại cộng đồng thôn bản trên hầu hết các tỉnh thành của nước ta, mang lại những thành công nhất định Nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng thôn bản dựa trên quy ước của cộng đồng và đảm bảo nghĩa vụ, quyền lợi công bằng cho các thành viên, từ đó thu hút sự tham gia nhiệt tình của người dân và tăng cường trách nhiệm cộng đồng.
Trên thực tế, sự đa dạng của các cộng đồng thôn, bản khiến không thể có một mô hình BVR và PCCCR chung cho toàn bộ cộng đồng Thay vào đó, cần có các loại hình BVR, PCCCR khác nhau, được thiết kế và điều chỉnh để phù hợp với từng điều kiện cụ thể của địa phương, nhằm tăng hiệu quả bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế và đảm bảo phát triển bền vững.
PCCCR là hoạt động quan trọng nhằm bảo vệ tài nguyên rừng và hạn chế tối đa tình trạng cháy rừng, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác BVR, PCCCR Ở nhiều địa phương, sức mạnh của cộng đồng được phát huy để trở thành người chủ động trong việc xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động cụ thể; tùy thuộc vào điều kiện tại mỗi nơi, tập quán canh tác và các yếu tố văn hóa sẽ hình thành những mô hình BVR, PCCCR khác nhau nhưng vẫn đảm bảo sự phù hợp và hiệu quả.
Kết quả điều tra và đánh giá về công tác PCCCR tại một số địa điểm nghiên cứu ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, cùng với tham khảo ý kiến của các chuyên gia đầu ngành, cho thấy tính phù hợp và tiềm năng thực thi của PCCCR trong cộng đồng Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu đề xuất hai mô hình PCCCR trong cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của Vị Xuyên, có thể triển khai và nhân rộng để nâng cao hiệu quả công tác PCCCR tại địa phương.
4.3.1.1 Mô hình PCCCR và BVR theo thôn bản Đây là hình thức tổ chức PCCCR chủ yếu hiện nay Hình thức tổ chức này dựa trên cơ sở vị trí địa lý và khu vực người dân sinh sống Phần lớn các thôn đều xây dựng quy ước/hương ước quản lý và PCCCR cộng đồng, tổ chức lực lượng tuần tra rừng chuyên trách hoặc phân công luân phiên các hộ gia đình trong thôn Trưởng thôn điều hành các công việc chung liên quan đến PCCCR cộng đồng Tuy Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận quyền hưởng lợi cho cộng đồng, song thực chất cộng đồng đang tự quản lý và toàn quyền sử dụng các sản phẩm đó Cộng đồng tham gia quản lý rừng tự nhiên của nhà nước theo chế độ khoán bảo vệ Đây là loại rừng tự nhiên thường được quy hoạch là rừng phòng hộ Nhà nước khoán cho cộng đồng thôn xóm bảo vệ và sử dụng ngân sách để chi trả công PCCCR, các thành viên trong cộng đồng được hưởng lợi từ rừng
Trong số 6 thôn được nghiên cứu, PCCCR có hai hình thức quản lý: rừng sản xuất được giao cho hộ gia đình quản lý và rừng phòng hộ do thôn quản lý Ba thôn chủ yếu là rừng phòng hộ nên không giao cho hộ mà thôn quản lý Đối với các thôn này, dù ở hình thức quản lý rừng nào thì mỗi thôn đều có một tổ PCCCR, và việc này chỉ phụ thuộc vào một nhóm người, do đó hiệu quả PCCCR không cao.
Nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình PCCCR dành cho các thôn chưa giao rừng cho hộ gia đình hoặc có phần lớn diện tích rừng chưa được giao cho hộ gia đình quản lý Mô hình quản lý như sau nhằm thiết lập cơ chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng, tăng cường quyền tự chủ của thôn, bảo vệ rừng bền vững và tối ưu hóa lợi ích cho người dân địa phương Mô hình tập trung vào xác định phạm vi rừng, cơ chế giao đất giao rừng, giám sát bảo vệ rừng và hỗ trợ kỹ thuật, nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan.
Hình 4.8: Mô hình PCCCR và bảo vệ rừng thôn bản
- Thành phần tham gia: Ban quản lý thôn, bản và các hộ gia đình của thôn, bản
Ban quản lý thôn chịu trách nhiệm phân chia các tổ PCCCR, mỗi tổ gồm khoảng 8-10 hộ gia đình sống gần nhau để thuận tiện cho hoạt động và quản lý sau này Các hộ ở khu vực lân cận sẽ được thành lập thành một tổ nhằm tăng hiệu quả phối hợp giữa các hộ Mỗi tổ sẽ được giao một diện tích rừng nhất định, ưu tiên giao rừng ở gần khu vực sinh sống của tổ để thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát và bảo vệ rừng.
Tổ tự lên phương án bảo vệ rừng PCCCR cho diện tích rừng được thôn giao Mỗi tổ cử một tổ trưởng, tổ trưởng chịu trách nhiệm phân công lịch tuần tra rừng cho các tổ viên và giám sát việc thực hiện trong tổ Mỗi tổ viên cũng có trách nhiệm giám sát việc thực hiện PCCCR của các thành viên trong tổ Các tổ trong thôn/bản cũng có trách nhiệm giám sát hoạt động của các tổ khác trong thôn.
+ Hàng tháng các tổ họp đánh giá kết quả hoạt động, và có một cuộc họp toàn thôn để đánh giá kết quả hoạt động của các tổ
+ Mặc dù mỗi một tổ đều có kế hoạch PCCCR riêng nhưng đều phải tuân thủ quy ước của thôn/bản về PCCCR
+ Dễ dàng tiếp cận đến khu vực rừng bảo vệ cũng như khu vực rừng có nguy cơ cháy
+ Chủ động hơn trong công tác PCCCR
+ Huy động được sự tham gia trực tiếp của người dân, các hộ gia đình trong thôn
+ Phát huy được tinh thần đoàn kết trong toàn thôn
+ Việc chia sẻ lợi ích sẽ là rất khó khăn
+ Mức kinh phí để triển khai thực hiện là không đủ dung Ban Quản lý thôn không đủ kinh phí để triển khai thực hiện
4.3.1.2 Mô hình PCCCR và BVR theo nhóm hộ
Mô hình quản lý rừng này đã được triển khai ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và tỉnh Lâm Đồng ở miền Nam, mang lại hiệu quả tích cực cho công tác bảo vệ rừng và PCCCR Nhóm hộ hình thành từ các hộ gia đình cư trú liền kề trong phạm vi một thôn, một xóm hoặc từ những hộ gia đình có quan hệ huyết thống hoặc họ hàng; cũng có thể từ những cá nhân cùng lứa tuổi và mong muốn tham gia quản lý rừng Nhóm hộ tự phân công nhiệm vụ để bảo vệ rừng và PCCCR, có thể cùng tham gia tuần tra rừng hàng ngày, hàng tuần hoặc luân phiên Một số nhóm hộ có rừng ở gần nhau liên kết bảo vệ rừng và PCCCR để tăng hiệu quả quản lý.
Kết quả các nghiên cứu điểm ở một số tỉnh như Hòa Bình, Lâm Đồng…cho thấy mô hình QLRNH có thể quản lý rừng một cách thành công
Trong một số trường hợp, các nhóm QLRNH quản lý rừng tốt hơn so với mô hình QLRTB, điển hình là các nhóm hộ ở thôn Cài (tỉnh Hòa Bình) hoặc ở Khu C (tỉnh Lâm Đồng) Ở hình thức QLRNH, lợi ích từ rừng đối với mỗi hộ gia đình được đánh giá đáng kể, và sự tương đồng về sở thích, dòng tộc và nơi sống gần gũi được coi là những yếu tố góp phần quan trọng vào tính hiệu quả của việc giám sát và thực thi các quy định quản lý rừng bởi nội bộ các thành viên trong nhóm Nhờ vậy, chi phí quản lý trong quản lý rừng cũng được giảm thiểu.
So với hình thức QLRTB, hình thức QLRNH có đặc trưng là nhóm hộ quản lý rừng khá nhỏ và đồng nhất về thành phần dân tộc hoặc sở thích của các hộ thành viên Thông thường, kích thước của một nhóm hộ quản lý rừng không lớn hơn 20 hộ.
Mặc dù hình thức QLRNH chưa được công nhận về mặt pháp lý, nó vẫn tồn tại như một thực thể khách quan ở nhiều vùng trên cả nước Tại một số tỉnh như Hòa Bình, Thanh Hóa, Đắk Lắk và Lâm Đồng, một số mô hình QLRNH đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi các cơ quan địa phương theo hình thức thí điểm.
Ở một số địa phương, mô hình quản lý theo nhóm hộ chủ yếu hình thành một cách không chính thức, đa dạng hơn và phát triển qua nhiều con đường khác nhau, thể hiện quá trình tự điều chỉnh trong quản lý dựa trên điều kiện địa phương.
Ở Hà Giang, với những thôn bản đã giao đất cho hộ gia đình, nên áp dụng hình thức quản lý rừng theo nhóm hộ Thực tế cho thấy công tác BVR (bảo vệ rừng) và PCCCR tại các thôn bản còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa cao khi quản lý ở cấp độ hộ gia đình riêng lẻ Quản lý rừng theo nhóm hộ sẽ tăng cường sự đồng thuận của cộng đồng, cải thiện tuân thủ pháp luật về rừng và chia sẻ lợi ích giữa các hộ, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng bền vững cho tỉnh.
Kết luận
Qua nghiên cứu và đánh giá, đề tài đã đi đến một số kết luận sau:
- Về thực trạng và nguyên nhân cháy rừng và công tác PCCCR ở Vị Xuyên:
Thực trạng cháy rừng ở huyện Vị Xuyên vẫn diễn biến rất phức tạp, với nhiều yếu tố rủi ro tác động mạnh lên công tác phòng cháy chữa cháy và bảo vệ rừng Mặc dù đã có sự giảm thiểu về số vụ và diện tích cháy, vẫn còn nhiều bất cập và khó khăn cần được giải quyết, từ công tác quản lý, phối hợp giữa các cấp, đến nhận thức cộng đồng và các biện pháp kỹ thuật Trạng thái rừng trồng được xác định là khu vực dễ cháy nhất, nên lại ghi nhận mức độ cháy cao và cần các giải pháp quản lý lâm phần và phòng cháy chữa cháy hiệu quả hơn để giảm thiệt hại.
Nguyên nhân cháy rừng chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố chủ quan như sự bất cẩn trong canh tác nương rẫy và trình độ dân trí còn thấp dẫn đến việc áp dụng kỹ thuật không đúng quy cách; kinh tế lạc hậu khiến đời sống người dân lệ thuộc nhiều vào rừng và tăng nguy cơ cháy rừng Tình trạng bệnh thành tích và báo cáo không trung thực hoặc chưa đầy đủ về các vụ cháy rừng cũng làm méo mó bức tranh thực tế Bên cạnh đó vẫn còn các yếu tố khách quan như thiên tai, thời tiết bất thuận và tác động từ Trung Quốc.
Thực trạng công tác PCCCR vẫn dừng ở các mô hình chung: huyện mở rộng xây dựng khung mẫu rồi chuyển xuống xã để xã triển khai theo chỉ đạo cấp trên, song chưa xuất hiện hiệu quả mang tính địa phương từ từng xã Việc thiếu sự đánh giá cụ thể trên từng xã khiến kết quả triển khai PCCCR vẫn mang tính hình thức, khó đo lường và khó nhân rộng Để tăng hiệu quả, cần chuyển đổi từ mô hình tổng quát sang các giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc thù từng xã, đồng thời tăng cường giám sát, đánh giá và điều chỉnh dựa trên thực tế địa bàn Vai trò của cấp xã cần được đẩy mạnh hơn trong việc thực thi, giám sát và rút kinh nghiệm từ các mô hình PCCCR đã thử nghiệm để nhân rộng những mô hình có hiệu quả.
Hiện nay tại các xã của huyện đang triển khai đồng bộ các hình thức phòng cháy chữa cháy (PCCC) và PCCCR, tập trung vào việc xây dựng các tổ đội PCCC của xã hoặc của thôn, thành lập ban chỉ huy và ban chỉ đạo về PCCCR, và thành lập các tổ xung kích hoạt động trong lĩnh vực BVR, PCCCR.
- Về thực trạng các mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản ở Vị Xuyên: Quá trình nghiên cứu đánh giá tại các thôn bản của các xã của huyện
Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, tác giả nhận thấy tại các cộng đồng chưa có một mô hình PCCCR nào được hình thành; các hình thức hiện có phần lớn do cộng đồng tự khởi xướng hoặc bị định hướng từ bên ngoài, và đa số vẫn là những chỉ đạo từ cấp trên được áp dụng hàng năm để củng cố và kiện toàn.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các mô hình PCCCR và BVR, cần đưa ra các mô hình nhằm tối ưu hóa công tác PCCCR Trong đó, mô hình PCCCR và BVR theo thôn bản và mô hình PCCCR và BVR theo nhóm hộ là hai khung làm việc chính, nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng, tăng cường tính đồng bộ giữa các cấp và nâng cao kết quả triển khai PCCCR tại cơ sở.
+ Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện mô hình như:
Xây dựng phương án PCCCR rừng có sự tham gia ở cấp xã, thôn; Xây dựng quy ước PCCCR ở cấp thôn có sự tham gia.
Tồn tại
Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu và trình độ bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại
- Phương pháp nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở tính chất đại diện chứ chưa thật sự đi sâu đến tất cả các xã trên địa bàn huyện Vì thế đề tài đánh giá chắc chắn sẽ còn một số thiếu sót, hạn chế
Về thực trạng công tác PCCCR huyện Vị Xuyên, bài viết cho thấy phần lớn thông tin còn phụ thuộc vào yếu tố khách quan và thiếu dữ liệu hệ thống Tác giả mới nêu được một số ít thông tin về các hoạt động PCCCR mà huyện đã và đang triển khai, chưa đi sâu vào nghiên cứu đánh giá cụ thể và toàn diện Việc thiếu dữ liệu chi tiết khiến cho việc đánh giá hiệu quả, mức độ tuân thủ và tiến độ triển khai ở địa phương gặp nhiều hạn chế Để tăng tính đúng đắn và tham khảo cho các quyết định, cần thực hiện các nghiên cứu bài bản hơn, thu thập dữ liệu từ hiện trường và so sánh với các chuẩn mực và hướng dẫn PCCCR ở cấp quốc gia Bài viết có thể mở rộng bằng cách đề xuất các khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện công tác PCCCR tại huyện Vị Xuyên và tăng cường an toàn cho người dân.
- Các giải pháp đưa ra mới dừng lại ở mức đề xuất chưa thực sự có điều kiện để thực hiện trên thực tế
Mặc dù có ảnh hưởng của yếu tố dân tộc đối với quản lý bảo vệ rừng và PCCCR tại địa phương, tác giả chưa có điều kiện phân tích và đánh giá mối liên hệ giữa yếu tố này với quá trình quản lý bảo vệ rừng ở địa phương Mỗi dân tộc có một phương thức quản lý bảo vệ rừng riêng, phản ánh truyền thống hay luật tục của họ Nếu những luật tục có lợi được vận dụng và phát huy, sẽ mang lại tác động tích cực cho quá trình BVR và PCCCR tại địa phương.
Khuyến nghị: 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cần có cơ sở lý luận vững chắc và quy trình đánh giá chặt chẽ đối với công tác PCCCR của địa phương cũng như các mô hình PCCCR đang áp dụng, nhằm mang lại kết quả rõ ràng, cụ thể và thuyết phục hơn Việc này giúp đánh giá hiệu quả thực tiễn, đồng thời đề xuất giải pháp cải thiện để nâng cao tính khả thi và tin cậy của các mô hình PCCCR tại địa phương.
Chúng ta tiếp tục đầu tư thời gian và kinh phí để thực hiện triển khai và áp dụng thí điểm các mô hình có sự gắn kết, tham gia của người dân nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCCCR (phòng cháy chữa cháy rừng) Việc triển khai các mô hình này cần sự phối hợp đồng bộ giữa nhà nước, cộng đồng và các hộ dân ở địa bàn, đồng thời mở rộng phạm vi thí điểm để rút kinh nghiệm và nhân rộng những kết quả tích cực.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000), Cấp dự báo báo động và các biện pháp tổ chức thực hiện phòng cháy chữa cháy rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
2 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2004), Văn bản pháp quy về phòng cháy chữa cháy rừng, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội
3 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), Sổ tay kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội
4 Cục kiểm lâm (2000), Văn bản pháp qui phòng cháy chữa cháy rừng, Nxb
5 Bế Minh Châu (2001), Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến khả năng cháy của vật liệu dưới rừng thông góp phần hoàn thiện phương pháp dự báo cháy rừng tại một số vùng trọng điểm thông ở Miền Bắc Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Hà Tây
6 Bế Minh Châu (2002),Lửa rừng, NXB Nông nghiệp Hà Nội
7 Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng (1983),Phòng cháy chữa cháy rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
8 Phạm Ngọc Hưng (1998), Xây dựng phương pháp dự báo cháy rừng Thông nhựa (Pinus merkusii J.) ở Quảng Ninh, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội
9 Mai Văn Nam (2002), Nghiên cứu về quản lý rừng tràm ở đồng bằng sông
Cửu Long, Luận văn thạc sỹ, Đại học Cần Thơ
10 Phạm Minh Nguyệt (1987), Lửa rừng và biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, Tổng luận chuyên khảo khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp
11 Phan Thanh Ngọ (1996),Nghiên cứu một số biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng thông ba lá, rừng tràm ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Hà Nội
12 Vương Văn Quỳnh, Bế Minh Châu (2004),Công thức dự báo nguy cơ cháy rừng theo điều kiện thời tiết và kiểu trạng thái rừng tỉnh Hà Tây,
Sản phẩm hợp tác giữa Trường Đại học Lâm nghiệp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tây
13 Vương Văn Quỳnh và các cộng tác viên (2005),Nghiên cứu giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên, Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước, mã số KC0824 Bộ khoa học và công nghệ
14 Vương Văn Quỳnh (2012), “Tác động của biến đổi khí hậu đến nguy cơ cháy rừng ở các vùng sinh thái Việt Nam”,Tạp chí NNPTNT, (Số 10), tr14-15
15 Nguyễn Chí Thành (2002),Đánh giá bước đầu tổn thất về rừng, than bùn sau khi cháy và tình hình tái sinh rừng, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Đà Lạt
16 Đặng Trung Tấn (2002),Kết quả khảo sát bước đầu về tình trạng cháy rừng tràm năm 2002 ở Cà Mau và biện pháp phục hồi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Trường đại học Đà Lạt
17 Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Viết Phổ (1994), “Cháy rừng và biện pháp phòng chống có hiệu quả”,Tạp chí Lâm nghiệp, (Số 2), tr10-11
18 Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Viết Phổ (1994), “Cháy rừng và biện pháp phòng chống có hiệu quả”, Tạp chí Lâm nghiệp, (số 4+5), tr 8-9, tr 14-15
19 Võ Đình Tiến (1995), “Nghiên cứu phương pháp phân vùng trọng điểm cháy rừng cho tỉnh Bình Thuận”, Tạp chí Lâm Nghiệp, (Số 12), tr 6-7
20 Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi, Nguyễn Văn Tuấn (2001), Tin học ứng dụng trong lâm nghiệp, Hà Tây
21 Brown A.A (1979),Forest fire control and use, New york - Toronto
22 Mc Arthur A.G (1978), Luke R.H Bush fires in Ausralia,Canberra
23 Gromovist R., Juvelius M., Heikkila T, (19932),Handbook on forest fire,
24 Johnson Edward (1996), A Fire and Vegetation Dynamics, Cambridge
25 Sameer Karki (2002),Sự Tham gia và quản lý của cộng đồng trong công tác phòng cháy chữa cháy Rừng ở Đông Nam Á Dự án phòng cháy phữa cháy pừng Đông Nam Á JKPWB, Jakarta, Inđônêxia
26 Timi V Heikkila, Roy Gronqvist, Mike Jurvelius (2007), Wildland Fire