Trong những năm gần đây, riêng về chim các nhà khoa học đã xác định được có 828 loài [17] trong đó có một số loài chim mới được phát hiện ở Việt Nam như: Khướu vằn đầu đen Actinodura so
Trang 4LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Lê Đình Thủy
Hà Nội, 2010
Trang 5Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đình Thủy
Người phản biện 1:
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp này, tôi xin cảm
ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Khoa Sau Đại học, trường Đại học Lâm nghiệp Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS TS Lê Đình Thuỷ - người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như phân tích và tổng hợp số liệu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Viện Điều tra Quy hoạch rừng, lãnh đạo Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ cùng cán bộ của Phân viện đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian nghiên cứu và học tập
Trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ rất tận tình, chu đáo của UBND xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện, cung cấp các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh
tế của xã Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu đó
Xin cám ơn gia đình ông Phùng Đoài Học - chủ vườn chim Ngọc Nhị
xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực địa tại vườn chim
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cam đoan số liệu trong đề tài là số liệu thu thập thực tế, nếu có sai sót gì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 09 năm 2010
Tác giả
Trang 8MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam 3
1.2.Giới thiệu các sân chim, vườn chim ở Việt Nam 5
1.3.Quá trình hình thành và phát triển của vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội 7
1.4.Tình hình nghiên cứu chim ở vườn chim Ngọc Nhị 8
Chương 2 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU ……… 9
2.1.Vị trí địa lý 9
2.2.Điều kiện tự nhiên 13
2.3.Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 21
3.1.Mục tiêu nghiên cứu 21
3.2.Đối tượng nghiên cứu 21
3.3.Nội dung nghiên cứu 21
3.4.Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 23
Trang 9Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1.Thành phần loài chim, các loài làm tổ ở vườn chim 29
4.1.1 Thành phần loài 29
4.1.2 Tính đa dạng về các bậc taxon phân loại học khu hệ chim ở vườn chim Ngọc Nhị 34
4.1.3 So sánh tính đa dạng về thành phần loài chim của vườn chim Ngọc Nhị với các vườn chim khác 35
4.2.Thành phần loài và đặc điểm các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim Ngọc Nhị 36
4.2.1 Thành phần loài 36
4.2.2 Thành phần thức ăn của các loài chim làm tổ ở vườn chim 37
4.2.3 Đặc điểm sinh học, sinh sản của các loài chim làm tổ tập đoàn ở vườn chim 39
4.3.Hiện trạng và các yếu tố sinh thái ảnh hướng, tác động đến các loài chim làm tổ ở vườn chim 42
4.3.1 Thảm thực vật và các loài cây chim dùng làm tổ ở vườn chim Ngọc Nhị 42
4.3.2 Hiện trạng về các hoạt động quản lý, khai thác vườn chim 46
4.3.3 Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng 51
4.4.Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững vườn chim 61
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1.Kết luận 63
5.2.Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KHTN : Khoa học tự nhiên Nxb : Nhà xuất bản PTS : Phó tiến sỹ
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 11DANH MỤC BẢNG
2.1: Số liệu khí tượng thuỷ văn khu vực Ba Vì năm 2008 - 2009 14
4.1: Danh lục chim ở vườn chim Ngọc Nhị 29
4.2: Danh sách các loài chim mới ghi nhận tại vườn chim Ngọc Nhị 33
4.3: Cấu trúc các bậc taxon khu hệ chim vườn chim Ngọc Nhị 34
4.4: So sánh thành phần loài chim ở vườn chim Ngọc Nhị với một số
vườ vườn chim khác 36
4.5: Các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim Ngọc Nhị 36
4.6: Thành phần thức ăn của các loài chim làm tổ tập đoàn 38
4.7: Đặc điểm sinh sản của các loài chim làm tổ ở vườn chim 40
4.8: Nguyên liệu làm tổ của chim 41
4.9: Các loài thực vật là giá thể của chim làm tổ tập đoàn 44
4.10: Khả năng thích ứng của các loài trong lựa chọn loài cây 46
Trang 12DANH MỤC HÌNH
2.1: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2009 10
2.2: Sơ đồ vườn chim Ngọc Nhị 11
2.3: Bản đồ dẫn hướng đến vườn chim Ngọc Nhị 12
4.1: Thức ăn của chim 39
4.2: Lòng hồ Suối Hai bị bồi lấp 47
4.3: Hàng rào bảo vệ vườn 48
4.4: Nhà của du khách 49
4.5: Chòi quan sát chim 49
4.6: Nội quy của vườn 50
4.7: Một góc của vườn 51
4.8: Thuốc bảo vệ thực vật đã được sử dụng 54
4.9: Du khách đến thăm vườn 55
4.10: Rác thải của vườn 56
4.11: Các món ăn chế biến từ chim 56
4.12: Xác cò chết do dính bẫy 57
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú và đa dạng Trong những năm gần đây, riêng về chim các nhà khoa học đã xác định được có 828 loài [17] trong đó có một số loài chim mới
được phát hiện ở Việt Nam như: Khướu vằn đầu đen (Actinodura
sodangorum), Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu kon ka
kinh (Garrulax konkakinhensis) Hàng loạt các sân chim, vườn chim tự nhiên
là nơi tập trung số lượng lớn các loài chim đã thu hút hàng vạn khách du lịch trong nước và quốc tế tới thăm quan Cụ thể như sân chim Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu, Đầm Dơi, Cái Nước ở tỉnh Cà Mau Ngoài ra các vườn chim với diện tích nhỏ hơn cũng đóng góp một phần không nhỏ vào sự đa dạng về số lượng
và thành phần loài chim của Việt Nam
Từ những năm 60 trở về trước, ở đồng bằng sông Hồng có nhiều nơi hình thành những điểm tập trung sinh sống và làm tổ tập đoàn của một số loài chim nước, nhất là những loài cò, như ở Văn Hà, Mạch Tràng (tỉnh Vĩnh Phúc), Núi Chè (tỉnh Bắc Giang) Ngay như ở Hà Nội cũng đã từng có cả một phố cò đó là phố Lò Đúc Tuy nhiên trong quá trình phát triển của xã hội nhiều khu đầm lầy, đất ngập nước bị bỏ hoang đã được khai phá làm nông nghiệp, nhiều rặng tre, rừng cây bị chặt phá làm đất thổ cư hay khu công nghiệp Do đó, môi trường sống ngày càng bị thu hẹp nên các vườn chim ở vùng đồng bằng sông Hồng trở nên ít dần chỉ còn lại một số vườn như vườn chim Ngọc Nhị (xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội), vườn chim xã Tiến Xuân (huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá), vườn chim Hải Lựu (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), vườn chim xã Chi Lăng Nam (huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) Mặc dù trên thực tế, vai trò giá trị khoa học và kinh tế của các vườn chim là rất lớn, nhưng cho đến nay việc nghiên cứu về các vườn
Trang 14chim còn rất hạn chế, đặc biệt là về các vấn đề như: lịch sử hình thành, các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến vườn chim, thành phần loài chim làm tổ tập đoàn, thức ăn, phạm vi kiếm ăn vv
Để có cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát
triển bền vững vườn chim Ngọc Nhị, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến các loài chim làm tổ ở vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội ”
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam
Việt Nam là một trong các nước có khu hệ chim phong phú và đa dạng
ở Đông Nam Á Lịch sử nghiên cứu chim ở Việt nam có thể chia thành hai
giai đoạn chính: trước năm 1975 và sau năm 1975
Giai đoạn trước năm 1975
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu chim đầu tiên ở Việt Nam đều do
các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Loài Gà rừng Gallus gallus là loài
chim đầu tiên được nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu được ở Côn Đảo và được nhà sinh vật học Linnaeus mô tả vào giữa thế kỷ XVIII Sau đó
30 năm, năm 1789 Gmelin mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông Dương,
đó là loài Chim xanh Nam bộ Chloropsis cochinchinensis Vào khoảng giữa
thế kỷ XIX, một vài loài chim nữa ở Đông Dương được mô tả thêm Sau khi xâm chiếm miền Nam, người Pháp bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu thiên nhiên vùng này Thời gian đầu họ không tổ chức một cuộc sưu tầm nào lớn, nhưng từ năm 1862 đến năm 1874 nhiều đợt nghiên cứu chim khá qui mô do các nhà tự nhiên học nghiệp dư tiến hành, đã sưu tầm một số lượng mẫu vật rất lớn và được chuyển về Pháp để xác định Từ những năm 1874 đến 1903, M.E.Oustalet cho xuất bản công trình: “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” Từ năm 1905 đến 1907, Oustalet và Gmelin cho xuất bản tập “ Danh sách Chim miền Nam Nam Bộ” Vào thời gian đó, Bắc Bộ Việt Nam có Butan tổ chức sưu tầm chim và kết quả được công bố trong tập “ Mười năm nghiên cứu động vật” Tác giả đã ghi nhận được 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài Năm 1918, cuộc sưu tầm chim dưới sự chỉ đạo của Boden Kloss, với kết quả thu được là 1.525 tiêu bản Kết quả này
Trang 16được Robinson và Kloss thông báo trong tập: “ Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam” Công trình này ghi nhận 235 loài và loài phụ trong đó có 34 dạng mới cho khoa học Trong khoảng thời gian đó, nhà điểu học người Nhật Bản Kuroda phân tích bộ sưu tập chim do S.Txikia đã ghi nhận được 130 loài và loài phụ Công trình tổng hợp về “Chim Đông Dương” gồm 4 tập với 954 loài
và phân loài Năm 1951, danh sách chim Đông Dương được Delacour bổ sung hoàn thành và công bố gồm 1.085 loài và phân loài Trong giai đoạn này đáng chú ý là năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc khởi đầu hoạt động nghiên cứu chim của các nhà khoa học Việt Nam
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, nghiên cứu chim ở các tỉnh phía nam được tiếp tục bởi các nhà khoa học Việt Nam
Một số chương trình điều tra tổng hợp về tài nguyên sinh vật trong đó có chim
đã được tiến hành như: chương trình điều tra tổng hợp tài nguyên sinh vật đồng bằng sông Cửu Long, chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên 1 và Tây Nguyên 2 Đặc biệt là chương trình điều tra tổng hợp nghiên cứu giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật với Viện Hình thái tiến hoá Mátsơ cơva, Viện Động Vật Lêningrat (Viện Hàn lâm khoa học Nga) Trong nhiều năm, các nhà khoa học Việt Nam và Nga đã phối hợp khảo sát nghiên cứu về động vật, trong đó có chim tại trạm nghiên cứu rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai
Công trình về chim trong giai đoạn này đáng chú ý là cuốn sách “Chim Việt Nam, Hình thái và phân loại” tập I (1975) và Tập II (1981) của Võ Quý
Sau nhiều năm điều tra, khảo sát, danh sách chim Việt Nam từ 773 loài (Võ Quý, 1983) đã lên tới 828 loài (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995) Một số loài chim
quý hiếm, đặc hữu được nghiên cứu và tái phát hiện như: Sếu cổ đỏ (Grus
antigone), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis ), Gà lôi làm mào trắng
Trang 17(Lophura edwardsi), Gà so cổ hung (Arborphila davidi), Ngan cánh trắng (Cairina stuculata ), Quắm cánh xanh (Pseudibis davisoni), Mi núi bà (Crocias langbianus) và gần đây nhất là loài Vạc hoa (Gorsachius
magnificus) Một số loài mới cho khoa học đã được công bố Gà lôi làm đuôi
trắng (Lophura hatinhensis), Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis), Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu kon ka kinh (Garrulax
konkakinhensis) Điều đó cho thấy mặc dù công tác nghiên cứu chim đã tiến
hành một thế kỷ nay, nhưng vẫn còn các phát hiện mới về khu hệ chim cần khám phá ở các vùng miền khác nhau ở Việt Nam
1.2 Giới thiệu các sân chim, vườn chim ở Việt Nam
Hệ thống sân chim, vườn chim thực ra đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên mọi vùng miền trong cả nước Các vườn chim có lịch sử hình thành và diện tích không giống nhau, một số chỉ bó hẹp trong phạm vi từ 1-3
ha thường gọi là vườn chim, số khác rộng đến 5 - 10 ha hoặc hàng trăm ha và
gọi là sân chim như sân chim Bạc Liêu Các sân chim, vườn chim được hình
thành là do nhiều loài chim nước có tập tính làm tổ tập đoàn tụ tập sinh sống
Tại các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, những năm trước đây đã có trên 30 vườn cò [9] Đó là vườn chim ở Thới An (Cần Thơ), Duyên Hải và Trà Cú (Trà Vinh), Cái Bẹ (Cà Mau), Vàm Hồ (Bến Tre) và Đầm Dơi (Cà Mau) Một số sân chim đã được nghiên cứu là sân chim Duyên Hải, sân chim Bạc Liêu, sân chim Cà Mau, sân chim Thới An, sân chim Trà Cú, sân chim Chùa Hang, sân chim Vàm Hồ Nhiều nghiên cứu bước đầu về các loài chim
ở các sân chim vùng này đã được một số tác giả công bố Các nghiên cứu này bước đầu đã xác định được khoảng 20 loài chim nước làm tổ tập đoàn các sân chim như Cò trắng, Cò ngàng nhỡ, Cò ruồi, Cốc đế Có một số loài có
Trang 18tên trong Sách Đỏ Việt Nam ( 2007) như loài Quắm đầu đen Số lượng cá thể các loài ở các sân chim có thể lên đến vài chục ngàn con
Ở miền Đông Nam Bộ, tại khu vực cửa khẩu Mộc Bài, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, Tây Ninh, từ năm 2005, đàn cò trắng ước tính hàng ngàn con bay về trú ngụ trong khu rừng tràm nước rộng khoảng 600 ha [9] Ở miền Nam Trung bộ có thể kể đến vườn cò của gia đình ông Nguyễn Văn Hưng, thôn Vĩnh Xuân, xã Vĩnh Thái (Nha Trang) với hàng ngàn cá thể bay đi, bay
về trong vườn Nghiên cứu về các loài chim di cư vùng châu thổ sông Hồng, tập trung nhiều vào các loài chim di cư có công trình của Pedersen và cộng sự (1996) Ở miền Bắc, cũng tập trung một số vườn chim như vườn chim Ngọc Nhị (Hà Tây), vườn chim Núi Đấu (Hải Phòng), vườn chim Hải Lựu (Vĩnh Phúc), đảo Cò Chi Lăng Nam (Hải Dương), vườn cò Đông Xuyên (Bắc Ninh)[9]
Nghiên cứu tại vườn chim Ngọc Nhị, Nguyễn Lân Hùng Sơn (1999) đã xác định có 55 loài chim thuộc 30 họ, 10 bộ, trong đó có 5 loài chim nước làm tổ tập đoàn tại vườn Cò bợ, Cò trắng, Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi,Vạc [18]
Nghiên cứu ở vườn chim Đạo Trù (Vĩnh Phúc), Hoàng Thị Luyến (2008) đã xác định có 44 loài chim thuộc 7 bộ, 19 họ, với các loài chim nước xuất hiện ở vườn là Cò trắng, Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi, Cò bợ, Cò xanh, Vạc
Quan Thị Dung (2008) khi nghiên cứu ở vườn chim Hải Lựu, Lập Thạch, Vĩnh Phúc đã xác định được 40 loài chim, thuộc 21 họ, 6 bộ [9]
Trần Thị Miên (2008) [9], nghiên cứu tại vườn chim Chi Lăng Nam (Hải Dương), đã thống kê được 12 bộ, 30 họ và 51 loài Tác giả cũng đã bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim nước của khu vực về: biến động số lưọng, phân bố, thức ăn, mùa sinh sản vv
Như vậy, những nghiên cứu về các vườn chim chưa nhiều, một số vườn chim chưa được nghiên cứu kỹ và chưa có sự quan tâm thích đáng để bảo tồn
Trang 19các loài chim này Do đó cần tiếp tục có những nghiên cứu thêm về đặc điểm sinh học, sinh thái của từng loài, đặc điểm tự nhiên của từng vườn chim để đưa
ra biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý các vườn chim
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội
Ba Vì là một huyện của thành phố Hà Nội, có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có giá trị lớn về kinh tế và khoa học nhất là về cảnh quan môi trường Phục vụ phát triển du lịch sinh thái trong những năm gần đây, ở Ba Vì
đã hình thành một cụm cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn nhiều khách tham quan, nghỉ ngơi và giải trí Đó là VQG Ba Vì, hồ Suối Hai, Ao Vua, thác Hương, rừng thông Đá Chông, khu du lịch Đầm Long… Đặc biệt vườn chim Ngọc Nhị ở thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh đã thu hút nhiều khách tới tham quan
Vườn chim được hình thành chính thức bắt đầu từ năm 1975, trước đó vào năm 1972 có một vài đôi Cò trắng, Cò ngàng, Vạc bay đến làm tổ ở hai quả đồi khu vực xã Cẩm Lĩnh Ở quả đồi Rận phía Bắc, chúng bị những nhà dân ở đây săn bắt, riêng quả đồi Đưng ở phía Nam là đất của gia tộc anh Phùng Đoài Học, chim được bảo vệ tốt Tổng diện tích vườn chim sau khi được mở rộng cho đến nay là 10,6 ha
Từ vài cặp bay đến làm tổ, đến nay số lượng cá thể của loài chim làm
tổ tập đoàn ở vườn chim vào mùa sinh sản khi nhiều nhất tới 6000 - 7000 cá thể Việc nghiên cứu sinh thái, sinh học của các loài chim làm tổ ở vườn là cần thiết để làm cơ sở khoa học cho việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững vườn chim
Trang 201.4 Tình hình nghiên cứu chim ở vườn chim Ngọc Nhị
Trong những năm gần đây, vườn chim Ngọc Nhị đã được một số nhà khoa học và sinh viên đến nghiên cứu Năm 1991, Nguyễn Ngọc Chính khi nghiên cứu khu hệ chim ở đây đã ghi nhận được 17 loài trong đó có 9 loài cò với số lượng vào khoảng 5.000 – 7.000 cá thể Năm 1992, Đỗ Tước ghi nhận được 6 loài cò có số lượng khoảng 1.000 – 2.000 cá thể
Đáng chú ý nhất là công trình được nghiên cứu trong thời gian 2 năm
1993 - 1994 và đưa ra được nhiều số liệu là đề tài: “ Bảo vệ, khai thác và sử dụng lâu bền vườn chim Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội” do Sở Khoa học công nghệ và Môi trường Hà Tây (nay là Hà Nội) cùng với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tổ chức nghiên cứu Ngoài ra cũng phải kể đến bảng danh lục thực vật đồi cò Ngọc Nhị của PTS Trần Ninh (Khoa Sinh học, Trường Đại học KHTN Hà Nội) tiến hành xác định vào năm 1997 Luận văn tốt nghiệp Đại học của Nguyễn Lân Hùng Sơn “ Một số nghiên cứu bước đầu để bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý trong du lịch sinh thái vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Tây” năm 1999, đã ghi nhận được 55 loài chim với 6.800 cá thể và 96 loài thực vật
Trang 21Chương 2
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tác động qua lại giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên và kinh
tế xã hội đối với vườn chim, do đặc điểm vùng sống, phạm vi kiếm ăn rộng của các loài, phải xét đến trong phạm vi khu vực, không thể chỉ xét trong phạm vi nhỏ hẹp ngay tại vườn chim Chúng tôi đã xét điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội có liên quan hữu cơ với vườn chim ở phạm vi xã Cẩm Lĩnh, chứ không chỉ ở phạm vi thôn Ngọc Nhị
2.1 Vị trí địa lý
Xã Cẩm Lĩnh là một trong những xã có diện tích lớn nằm ở phía Tây huyện Ba Vì, Tp Hà Nội, cách trung tâm huyện 10 km, có diện tích tự nhiên 2.662 ha
Toạ độ địa lý: 21o23’ vĩ độ Bắc, 105015’ kinh độ Đông
Cách Sơn Tây khoảng 18 km và trung tâm Hà Nội khoảng 63 km theo đường Láng- Hoà Lạc- Sơn Tây - Suối Hai- Ngọc Nhị Cách sông Đà 2,8 km
và hồ Suối Hai 3,7 km
Phía Bắc giáp 2 xã Phú Sơn và Tòng Bạt
Phía Tây giáp xã Sơn Đà
Phía Đông giáp hai xã Vật Lại và Thuỵ An
Phía Nam giáp xã Ba Trại
(xem bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Cẩm Lĩnh ở trang sau)
Trang 22Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2009
Trang 23Hình 2.2: Sơ đồ vườn chim Ngọc Nhị
Trang 24Hình 2.3: Bản đồ dẫn hướng đến vườn chim Ngọc Nhị
Trang 252.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình, thổ nhưỡng
Xã Cẩm Lĩnh là một xã miền trung du của huyện Ba Vì, có độ cao và
độ dốc trung bình Diện tích gò đồi chiếm khoảng 45% tổng diện tích tự nhiên Ngoài những cánh đồng lúa trải rộng về phía Bắc, Đông và Đông Nam xen kẽ nhiều đầm hồ và đồi gò thấp [26] Một cách tổng quan có thể đánh giá hiện trạng đất đai trong khu vực như sau:
+ Đất đồi gò: chủ yếu là đất feralite nâu vàng phát triển trên đá mẹ
phiến thạch sét Chất đất từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, kết cấu viên hạt rất thích hợp cho cây rừng sinh trưởng và phát triển
+ Đất trồng lúa: có thành phần cơ giới thay đổi, song phổ biến nhất là
Khí hậu, thuỷ văn
Theo số liệu của Phòng dự báo Đài khí tượng thuỷ văn khu vực đồng bằng Bắc Bộ tại khu vực Ba Vì hai năm 2008, 2009, các số liệu đo được ở Đài trình bày trong bảng sau
Trang 26Bảng 2.1: Số liệu khí tượng thuỷ văn khu vực Ba Vì năm 2008 – 2009
Tháng Nhiệt độ trung
bình( o C )
Độ ẩm trung bình(%)
Lượng mưa (mm )
Số giờ nắng Số ngày mưa Bốc hơi
( Nguồn: phòng dự báo Đài khí tượng thuỷ văn khu vực đồng bằng Bắc Bộ)
Qua số liệu ở bảng trên cho thấy, khí hậu ở đây là khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu trong năm phân biệt thành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông rõ rệt
Mùa đông lạnh đôi khi có sương muối và ít mưa, mùa hè nóng nhiều mưa dông và mưa bão Lượng mưa trong năm tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 và rất ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Chế độ bức xạ của vùng nội chí tuyến,
Trang 27hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh Lần thứ nhất vào hạ tuần tháng 5, lần thứ hai vào trung tuần tháng 7 Nhờ thời gian chiếu sáng của mặt trời trong ngày đồng đều, nên hàng năm ở đây có khả năng thu được một lượng bức xạ mặt trời khá lớn, cân bằng bức xạ của các tháng đều dương
Độ ẩm không khí dao động quanh trị số trung bình là 85% Tháng có
độ ẩm trung bình cao nhất là tháng 4, độ ẩm trung bình lên tới 90% Tháng
có độ ẩm thấp nhất là tháng 1, độ ẩm trung bình là 82%
+ Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1515,7 – 1766,2 mm, nhưng phân bổ không đều trong năm mà tập trung vào mùa mưa Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% - 93% lượng mưa của cả năm Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 là 374,2 mm và cũng có số ngày mưa nhiều nhất là 20 ngày
Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 12 và cũng có số ngày mưa ít nhất là
6 ngày
+ Lượng bốc hơi nước
Lượng bốc hơi nước trung bình năm là 49,7 mm Lượng bốc hơi nước lớn nhất thường xuất hiện vào thời gian từ tháng 5 đến tháng 6, lượng bốc hơi lên tới 75,1 mm
+ Chế độ gió
Mùa mưa và mùa khô ở khu vực chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính:
gió đông nam và gió đông bắc Gió đông nam vào mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10, mang nhiều hơi nước và gây mưa lớn Gió mùa đông bắc có kèm
Trang 28theo mưa phùn gió rét thổi về từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Ngoài ra, đầu mùa hạ có gió mùa tây nam khô nóng thổi từng đợt vào các tháng 5, 6,7 Đặc biệt, đây cũng là khu vực thường xẩy ra dông lớn, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão mỗi khi có bão đổ bộ vào đồng bằng Bắc Bộ
2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
An Thái
Tổng giá trị sản xuất của xã ước đạt 70 tỷ 744 triệu đồng, bình quân giá trị làm ra 6,6 triệu đồng/người/năm Tổng sản lượng lương thực cây có hạt quy thóc ước đạt 4.649 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 460 kg/
người/năm
- Sản xuất nông nghiệp
Trang 29+Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng đạt 1.068,0 ha Tổng sản lượng quy thóc năm 2009 là 4.649 tấn Tổng giá trị từ trồng trọt cả năm đạt 21 tỷ
144 triệu đồng
+ Vụ chiêm xuân: diện tích gieo trồng đạt 603,0 ha, cây lúa 356,0 ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ ha, sản lượng đạt 1.961 tấn Cây ngô xuân 36,0 ha, năng suất 45 tạ/ha, sản lượng 162 tấn Cây khoai lang diện tích 7,0 ha, năng suất 60 tạ/ha, sản lượng đạt 4,2 tấn Cây lạc diện tích 41,5 ha, năng suất 25 tạ/ha, sản lượng đạt 4,2 tấn Cây đậu các loại diện tích 9,5 ha, năng suất 12 tạ/ha, sản lượng đạt 11,4 tấn
+ Vụ mùa: diện tích gieo trồng đạt 465,0 ha trong đó diện tích cây lúa
là 438,0 ha, năng suất đạt 51 tạ/ha, sản lượng đạt 2.325 tấn Cây màu vụ hè thu diện tích 27,0 ha; trong đó cây ngô 10,0 ha, năng suất 45 tạ/ha, sản lượng
45 tấn Cây khoai lang diện tích 12,0 ha, năng suất 60 tạ/ ha, sản lượng 72 tấn
Cây rau màu khác 5,0 ha
+ Làm tốt công tác khuyến nông, dự báo kịp thời tình hình sâu bệnh trên cây lúa và cây màu Tổ chức chiến dịch thu mua được 2.578 kg ốc và trứng ốc bươu vàng
- Sản xuất lâm nghiệp, vườn hộ
Trồng mới được 18,0 ha rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng theo dự
án 661 được 48,0 ha, các hộ đã chú trọng đến công tác chăm sóc cây ăn quả ở vườn hộ kết hợp trồng xen các cây ngắn ngày tăng thêm thu nhập và giữ độ
ẩm cho đất Bình quân thu thập từ vườn hộ và trồng rừng là 1,5 triệu đồng/hộ
- Chăn nuôi
+ Phong trào chăn nuôi tiếp tục được duy trì và phát triển tại các thôn
Tổng đàn trâu hiện có 603 con Đàn bò hiện có 1.239 con Đàn lợn hiện có là
Trang 3029.000 con Sản lượng lợn thịt xuất chuồng đạt 680.000 tấn, thu nhập từ chăn nuôi lợn ước đạt 23,5 tỷ đồng
Đàn gia cầm hiện có 250.000 con Sản lượng gia cầm xuất thịt ước đạt
850 tấn, giá trị ước đạt 10,7 tỷ đồng
Đàn cá ổn định với diện tích 140 ha và cho thu nhập khá Sản lượng thu hoạch ước đạt 220 tấn, giá trị ước đạt 2,5 tỷ đồng
Nghề nuôi ong lấy mật tiếp tục được duy trì ở các thôn và cho thu nhập
ổn định, năm 2009 toàn xã có khoảng trên 1.200 đàn ong, tổng sản lượng mật thu được là 20 tấn, giá trị ước đạt 1 tỷ 400 triệu đồng
Tổng thu nhập từ chăn nuôi đạt 39,6 tỷ đồng
+ Công tác thú y: làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn
Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ ngày được phát triển và cho thu nhập khá Các nghề phụ như: xây dựng, mộc được nhân rộng và phát triển ở các thôn tạo công ăn việc làm lúc nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho người lao động
- Văn hoá, giáo dục
Xã có một tổng đài truyền thanh công suất 800w với 25 loa phân bố đều ở 11 thôn Toàn xã thực hiện phong trào nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, mừng thọ, lễ hội và phong trào xây dựng Gia đình văn hóa, làng văn hóa Toàn xã có 2296 hộ đăng kí xây dựng gia đình văn hóa đạt 92%, có 1880 hộ đạt gia đình văn hóa cấp xã năm 2009 đạt 75,4% Đã có 6/11 thôn đạt làng văn hoá
Xã có hai đình chính là đình Bằng Tạ và đình Vô Khuy Tiến hành trùng tu di tích lịch sử văn hóa đình làng Vô Khuy, đề nghị xếp hạng di tích lịch sử đền Cẩm An
Trang 31Phong trào thể dục thể thao được phát triển đều ở 11 thôn và các nhà trường với các môn thi đấu như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, cờ tướng… Tham gia giải bóng chuyền tại huyện Ba Vì đạt giải ba Các câu lạc
bộ thể dục dưỡng sinh của Hội người cao tuổi tại các thôn được duy trì thường xuyên
Trường mầm non: tổng số có 24 lớp với 438 cháu; số cháu đến lớp nhà trẻ là 103 cháu Mẫu giáo số cháu đến lớp là 335 cháu Năm học 2008 -2009 nhà trường được UBND huyện Ba Vì công nhận là trường tiên tiến xuất sắc
Trường tiểu học: tổng số có 30 lớp; với 671 học sinh Năm học 2008 -
2009 nhà trường đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện, 7 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 4 giáo viên có sáng kiến, kinh nghiệm cấp thành phố, 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn
Trường trung học cơ sở: tổng số có 17 lớp với 547 học sinh Năm học
2008 - 2009 nhà trường đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện, 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn
Trong năm 2009 toàn xã có 51 em thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Trong đó thi đỗ đại học 23 em và thi đỗ cao đẳng 28 em
- Y tế
Trạm Y tế với 1 bác sĩ và 3 y sĩ đã thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, góp phần chăm lo sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trong xã
Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản Quản lý chặt chẽ công tác
vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn, không để xảy ra dịch bệnh
Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình; Tỷ lệ sinh tăng 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 8,6% giảm 5,9% so với cùng
kỳ năm ngoái
- Giao thông
Trang 32Giao thông trong xã chưa phát triển Toàn xã có 5 km đường nhựa, khoảng 15km được đổ bê tông và còn lại là đường đất, mặt đường nhỏ hẹp chất lượng xấu nên đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa
- Công tác quản lý và hoạt động du lịch sinh thái vườn chim Ngọc Nhị
Vườn chim Ngọc Nhị thuộc sở hữu tư nhân của gia đình ông Phùng Đoài Học, luôn có 3 người của gia đình và 5 lao động thường xuyên làm công tác bảo vệ và phục vụ du khách Do chủ nhân vườn chim đã có những đầu tư ban đầu trong phục vụ, nên vườn chim đã thu hút một lượng khách du lịch tương đối lớn Khách đến thăm vườn chim, họ là những du khách đến từ huyện Ba Vì, các huyện khác trong tỉnh Ngoài ra, hàng năm vườn chim còn đón một lượng khách lớn đến từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng Đặc biệt, vào mùa hè nhiều khách đến vườn chim từ thủ đô Hà Nội vào những ngày nghỉ cuối tuần
Trang 33Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đặt được các mục tiêu sau:
- Xác định tương đối đầy đủ thành phần các loài chim có ở khu vực nghiên cứu và các loài chim làm tổ ở vườn chim
- Xác định các yếu tố sinh thái chủ yếu tác động đến các loài chim làm
tổ ở vườn chim Ngọc Nhị
- Đề xuất các giải pháp khoa học nhằm bảo tồn, phát triển bền vững vườn chim
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được tập trung nghiên cứu của đề tài là các loài chim hiện diện ở khu vực vườn chim Ngọc Nhị , các yếu tố môi trường tạo nên các dạng sinh cảnh của vườn chim
Nghiên cứu các loài thực vật mà chim chọn làm giá thể, làm tổ hay chọn dùng làm vật liệu làm tổ Nghiên cứu các loài động vật là thức ăn của các loài chim ở các vùng đất ngập nước trong mùa sinh sản
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài đã tiến hành các nội dung nghiên cứu như sau:
- Điều tra thành phần loài chim tại vườn chim Ngọc Nhị
- Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài chim của vườn chim
Trang 34- Thành phần loài và đặc điểm các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim
- Nghiên cứu thức ăn của các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim
- Điều tra thành phần thực vật và xác định các loài cây chim dùng làm giá thể và vật liệu làm tổ ở vườn chim
- Hiện trạng và các yếu tố sinh thái tác động, gây ảnh hưỏng đến các loài chim ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp khoa học để bảo tồn và phát triển bền vững vườn chim
3.4 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại vườn chim Ngọc Nhị, thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội
Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010 Trong khoảng thời gian trên chúng tôi tiến hành 5 đợt nghiên cứu thực địa cụ thể như sau:
Tổng số thời gian thực địa là 50 ngày
Đợt 1: từ 20/3 – 30/3 Đợt 2: từ 14/4 – 22/4 Đợt 3: từ 10/5 – 22/5 Đợt 4: từ 16/6 – 25/6 Đợt 5: từ 20/7 – 31/7
Trang 353.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các nội dung và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, chúng
tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Cách tiếp cận để nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu đa dạng sinh học mang tính tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực Do vậy, mặc dù phạm vi đề tài này là các loài chim và các yếu tố sinh thái nhưng các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường vẫn được quan tâm
+ Phương pháp kế thừa
Phương pháp kế thừa được nhiều nhà nghiên cứu chim thực hiện, đặc biệt đối với chim là những động vật nhạy cảm và có khả năng vận động nhanh Do thời gian thực thực hiện đề tài có hạn, nên việc điều tra thực địa không thể có được đầy đủ thông tin về các loài chim Vì vậy, chúng tôi đã áp dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc những tài liệu, số liệu và các báo cáo
đã được công bố của các nhà khoa học về tính đa dạng thành phần loài của khu hệ chim ở vườn chim Ngọc Nhị Các số liệu, kết luận tham khảo sẽ được kiểm chứng trong quá trình điều tra thực địa để có được kết luận chính xác
+ Phương pháp điều tra trao đổi thông tin với nhân dân
Đây là công việc được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Nội dung phỏng vấn bao gồm các vấn đề: các loài chim có trong khu vực, tên địa phương, đặc điểm bên ngoài, nơi thường kiếm ăn, mùa sinh sản
Phỏng vấn là hoạt động rất quan trọng đối với việc điều tra chim vì ngưòi dân địa phưong là những người biết rõ khu mình đang sống cũng như các sản phẩm họ khai thác được Qua phỏng vấn ta có cái nhìn nhanh, khái quát về khu hệ chim ở đây
Trang 36Nguyên tắc nhất quán của việc phỏng vấn đó là phải tôn trọng ý kiến của người dân đưa ra, không được phản bác hoặc tỏ thái độ không vừa lòng
Trước khi phỏng vấn chuẩn bị sẵn hệ thống câu hỏi với những câu hỏi đơn giản, rõ ràng, có mục tiêu nhất định Trong khi phỏng vấn cần giao tiếp nhẹ nhàng, thoải mái để tạo không khí thân mật thuận lợi cho việc phỏng vấn Câu hỏi cần được lặp lại với nhiều người khác nhau đảm bảo thông tin thu được là tương đối chính xác
Chuẩn bị các hình vẽ, ảnh màu các loại chim, các sách nhận dạng chim
có màu Các hình và ảnh màu này được sử dụng khi phỏng vấn người dân ở khu vực vườn chim
Quá trình phỏng vấn được chia làm các bước:
Bước 1: Để người dân địa phương tự kể tên các loài chim mà họ đã
nhìn thấy hoặc biết được trong vùng, trong đó gợi ý để người được phỏng vấn
mô tả đặc điểm nhận dạng của từng loài
Bước 2: Đưa người được phỏng vấn xem các ảnh hoặc hình vẽ màu
trong tài liệu
Bước 3: Phân tích mẫu vật, tiến hành thu thập số liệu hoặc mẫu vật còn
lưu giữ ở các gia đình như: loài chim được nuôi, lông, mỏ, chân Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu: Phiếu điều tra qua nhân dân
STT Người được phỏng
vấn Loài chim Nơi gặp Số lượng Ghi chú
Trang 37Những thông tin mà người dân cung cấp là một phần quan trọng trong nghiên cứu khu hệ chim Thông tin của nhân dân ban đầu giúp chúng ta biết được lịch sử hình thành vườn chim, thành phần loài, tập tính sinh hoạt, mùa sinh sản Các thông tin này là cơ sở giúp chúng ta xây dựng lịch thời gian quan sát vào các thời điểm khác nhau trong ngày sao cho phù hợp nhất
+ Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên
Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản truyền thống và cho kết quả chính xác nhất trong nghiên cứu chim Các kỹ năng cơ bản trong phương pháp này được chúng tôi tham khảo các hướng dẫn trong một số tài liệu ở trong và ngoài nước
Việc nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên đòi hỏi người quan sát phải có những kiến thức nhất định về phân loại thông qua quá trình tìm hiểu, tích lũy kiến thức từ các tài liệu tham khảo, các mẫu lưu giữ trong bảo tàng và qua thực tế quan sát, đối chiếu thông qua các mẫu sống tại các cửa hàng chim cảnh, tập dượt định loại trong thiên nhiên tại những địa điểm dễ quan sát thông qua hướng dẫn của các chuyên gia nghiên cứu chim giàu kinh nghiệm
Quan sát nhận biết chim ngoài thiên nhiên được thực hiện như sau:
Quan sát trực tiếp bằng mắt thường khi tiếp cận được chim ở cự ly gần
Khi đi quan sát, cần ngụy trang quần áo, mũ và các dụng cụ phụ trợ có màu phù hợp với màu sắc của thảm thực vật Đi lại nhẹ nhàng, không gây tiếng động mạnh Chọn những điểm thuận lợi để quan sát, hạn chế tối đa việc làm chim sợ hãi khiến trứng rơi vỡ hoặc chim non rời tổ và hoảng sợ và rơi xuống đất có thể chết
Quan sát bằng ống nhòm ở cự ly xa Đồng thời chúng tôi cũng sử dụng máy ảnh để chụp hình chim từ xa Để định loại chính xác các loài chim, cần
Trang 38quan sát kỹ đặc điểm của từng loài về màu sắc lông, màu mỏ, màu mắt, màu chân
Có thể nhận biết chim qua tiếng kêu, tiếng hót Trước khi ra thực địa, nghe tiếng kêu, tiếng hót của các loài chim dự kiến có thể gặp qua băng ghi
âm, ghi nhớ đặc điểm phân biệt và nhận dạng Nhờ đó, những lúc ở ngoài thực địa, trong những thời điểm ánh sáng không đảm bảo cho việc quan sát được rõ ràng thì việc nhận dạng tiếng kêu, tiếng hót của các loài chim sẽ hỗ trợ rất tốt bổ sung thông tin cho việc định loại được chính xác
Mật độ các loài được đánh giá theo chỉ số phong phú, dựa vào tần suất bắt gặp trên thực địa (theo phương pháp của Trịnh Tác Tân,1973) Mật độ được đánh giá theo 4 cấp:
- Cấp hiếm: ( + ) loài tần suất bắt gặp nhỏ hơn 10%, hoặc không gặp trong quá trình điều tra, chỉ còn lại dấu vết hoặc nghe được từ thông tin của người dân địa phương
- Cấp ít: ( ++ ) loài ít gặp trong quá trình điểu tra, tần suất bắt gặp từ 10% - 20%
- Cấp trung bình: ( +++ ) loài trong quá trình điều tra có tần suất bắt gặp từ 20% - 30%
- Cấp nhiều: ( ++++ ) loài trong quá trình điều tra có tần suất bắt gặp lớn hơn 30%
+ Phương pháp xác định thức ăn
Để xác định thành phần thức ăn của các loài chim nước làm tổ tập đoàn tại vườn, chúng tôi tiến hành như sau:
- Quan sát trực tiếp các loài chim nước kiếm ăn ngoài tự nhiên
- Thu thập thức ăn do chim tha về và làm rơi vãi ở trong vườn
Trang 39- Gây nôn với chim non để xác định các loại thức ăn mới được mớm mồi từ chim bố mẹ
- Phân tích thức ăn từ diều các cá thể bị chết
+ Phương pháp phân tích, định loại tên chim trong phòng thí nghiệm
Việc định loại chim chúng tôi sử dụng các sách hướng dẫn nhận dạng chim có ảnh màu minh hoạ chim Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Việc phân tích định loại các loài chim chi tiết trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã
sử dụng một số sách định loại mô tả chi tiết hình thái của các loài chim hiện biết ở Việt Nam và một số đặc điểm sinh học, sinh thái hiện biết về các loài chim
Xây dựng danh lục theo hệ thống học của Richard Howard và Alick Moore, 1991
Tên phổ thông của các loài chúng tôi theo tài liệu của Võ Quý, Nguyễn Cử [17]
+ Phương pháp nghiên cứu tính đa dạng thực vật
Ở đây chúng tôi chỉ dừng lại ở nghiên cứu tính đa dạng loài Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu tính đa dạng loài là kết quả điều tra thống kê loài Để
có tài liệu tương đối chính xác về số lượng loài, kế thừa kết quả nghiên cứu của Lê Mạnh Tuấn (2001) thể hiện bằng danh lục thực vật vườn chim Ngọc Nhị, nhiều loài thực vật khác do chúng tôi thu mẫu ở vườn chim Những mẫu này đã được các chuyên gia thực vật phân loại và định tên
Để xác định các loài cây chim làm tổ, chúng tôi tiến hành quan sát trực tiếp các cây trong vườn vào mùa sinh sản Căn cứ vào số lượng và thành phần loài chim làm tổ trên từng loài cây mà phân loại cây chim ưa thích làm tổ
nhất, hoặc ít được dùng làm tổ
Trang 40+ Xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được ngoài thực địa ghi chép cẩn thận vào sổ thực địa Sau đó khi đưa về phòng thí nghiệm chúng tôi tiến hành nhập vào máy tính và sử dụng chương trình Microsoft Excel để xử lý thống kê sinh học