1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan cao học, van hoa toc nguoi văn học nghệ thuật các dân tộc việt nam trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn học nghệ thuật các dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay
Trường học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa tộc người
Thể loại Tiểu luận cao học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 38,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như vũ bão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá tộc người trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Coi trọng văn hoá truyền thống chính là coi trọng nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc. Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V khoá VIII đã nêu rõ: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá. Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống”. Xu thế trở về cội nguồn để khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mang tính tất yếu của thời đại. Muốn nhận diện được sự biến đổi văn hóa từ truyền thống đến hiện đại trong giao lưu hội nhập trên những bình diện mới giữa các quốc gia dân tộc hiện nay thì vấn đề bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa tộc người có ý nghĩa lớn lao trong việc tham gia đối thoại với các nền văn hóa, văn minh trong khu vực và có thể xa hơn, rộng hơn. Trong quá trình phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay, Đảng luôn chú trọng đến bản sắc dân tộc và tính thống nhất mà đa dạng của văn hóa Việt Nam. Đứng trước những cơ hội và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay và nguy cơ bị áp đảo bởi sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ văn hóa diễn ra trên phạm vi toàn cầu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn học nghệ thuật dân tộc Việt Nam. Từ những lí do đó, tôi chọn đề tài Văn học nghệ thuật các dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay làm bài viết tiểu luận môn Văn hóa tộc người.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như vũ bão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá tộc người trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Coi trọng văn hoá truyền thống chính là coi trọng nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V khoá VIII đã nêu rõ: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống” Xu thế trở về cội nguồn để khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mang tính tất yếu của thời đại Muốn nhận diện được sự biến đổi văn hóa từ truyền thống đến hiện đại trong giao lưu hội nhập trên những bình diện mới giữa các quốc gia dân tộc hiện nay thì vấn đề bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa tộc người có ý nghĩa lớn lao trong việc tham gia đối thoại với các nền văn hóa, văn minh trong khu vực và

có thể xa hơn, rộng hơn Trong quá trình phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay, Đảng luôn chú trọng đến "bản sắc dân tộc" và "tính thống nhất mà đa dạng" của văn hóa Việt Nam Đứng trước những cơ hội và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay và nguy cơ bị áp đảo bởi sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ văn hóa diễn ra trên phạm vi toàn cầu đã

và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn học nghệ thuật dân tộc Việt Nam

Từ những lí do đó, tôi chọn đề tài " Văn học nghệ thuật các dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay" làm bài viết tiểu

luận môn Văn hóa tộc người

Trang 2

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

DÂN GIAN VIỆT NAM

1.1 QUAN NIỆM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT DÂN GIAN

Văn học nghệ thuật dân gian là một thuật ngữ để chỉ các hoạt động văn học gắn liền với yếu tố nghệ thuật sử dụng trong diễn ca, diễn xướng dân gian hay nói cách khác là các loại hình nghệ thuật có gắn với yếu tố văn học

1.1.1 Định nghĩa văn học nghệ thuật dân gian

- Theo nghĩa rộng: Văn học nghệ thuật dân gian bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo ra Theo cách hiểu này, VHDG là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

- Theo nghĩa hẹp: Văn học nghệ thuật dân gian gồm 3 thành tố nghệ thuật ngữ văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian

1.1.2 Định nghĩa về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian

- Khoản 1, điều 23, luật sở hữu trí tuệ (2005) đã đề cập đến khái niệm

Văn học nghệ thuật dân gian theo đó “tác phẩm Văn học nghệ thuật dân gian

là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc một cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác”

Như vậy, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người, sự sáng tạo của người dân sống tại các khu vực địa lí cụ thể, cùng chia sẻ ngôn ngữ, văn hóa, cơ chế sinh nhai và các điều kiện sống Phong cách sống và những truyền thống dân gian được đặc thù hóa bằng bản sắc chung Tác phẩm dân gian là kết quả của những ý tưởng sáng tạo của dân tộc được thực hiện thông qua lời nói, mỹ thuật hoặc các hình thức

Trang 3

vật chất khác và được truyền dưới hình thức miệng hoặc văn bản hoặc thông qua hình thức khác và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.1.3 Đặc trưng của văn hóa dân gian

Là sản phẩm của cộng đồng phản ánh giá trị văn học nghệ thuật đặc trưng của một cộng đồng hoặc cùng miền, Văn học nghệ thuật dân gian mang những đặc trưng sau:

Thứ nhất, Văn học nghệ thuật dân gian là nền văn hóa được sinh ra trên

cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường sinh thái thiên nhiên Tác giả của nó là những nông dân, đây là thứ văn hóa nghệ thuật gắn chặt với các hoạt động thường ngày trong sản xuất và sinh hoạt, phản ánh cuộc sống tâm tư tình cảm của người nông dân bằng những hoạt động được thể hiện thông qua những biểu đạt đa yếu tố Mỗi biểu hiện của Văn học nghệ thuật dân gian thường được sáng tạo để phục vụ một hoạt động thường ngày đó Vậy Văn học nghệ thuật dân gian là thứ văn hóa nằm ngay trong cuộc sống thường ngày và là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống đó

Thứ hai, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian ra đời do sự sáng tạo

của cộng đồng, có thể là cộng đồng dân cư sinh sống ở một địa phương Nếu như các tác phẩm thông thường thì sản phẩm tạo ra là của một cá nhân hay nhóm cá nhân nào đó, nhưng đối với văn học nghệ thuật dân gian thì sản phẩm của sự sáng tạo này là của cộng đồng dân cư Đây là điểm khác biệt giữa văn học nghệ thuật dân gian với các loại hình văn hóa nghệ thuật khác

Thứ ba, thời gian ra đời và tồn tại của tác phẩm văn học nghệ thuật dân

gian thường không xác định được, nó phụ thuộc vào các yếu tố trao truyền, kế thừa và phát huy của các thế hệ sau

Thứ tư, văn học nghệ thuật dân gian đóng vai trò quan trọng trong việc

nhận dạng văn hóa của các tộc người trong văn hóa dân tộc

Trang 4

1.2 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT DÂN GIAN

1.2.1 Văn học dân gian

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó cộng đồng các dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số Mặc dù một số chưa có chữ viết, các dân tộc ấy đều có truyền thống âm nhạc lâu đời và kho tàng văn học truyền miệng Những kết quả lao động nghệ thuật hàng nghìn năm trước còn chắt chiu được qua bao nhiêu biến cố và thời gian, cũng như những tinh hoa mới nảy nở đều cần được bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Theo tên gọi thông thường, nước ta có trên sáu mươi dân tộc Theo tiêu chí (của giới chuyên môn) để xác định thành phần tộc người ở nước ta là: 1)

Sự cộng đồng về mặt ngôn ngữ 2) Có các đặc điểm chung về sinh hoạt - văn hóa 3) Có ý thức tự giác tộc người Lấy các tiêu chí đó để làm căn cứ, chúng

ta đã lập được bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, theo đó, số lượng các tộc người trong toàn quốc nếu không tính các ngoại kiều, là 54 Theo dòng chảy ngôn ngữ - dân tộc học, các dân tộc ở nước ta được sắp xếp thành các dòng: Nam Á với 05 loại hình ngôn ngữ, Nam - Đảo (Malayô-Pôlinêxia) với 01 loại hình ngôn ngữ, và Hán Tạng với 02 loại hình ngôn ngữ

Các dân tộc thiểu số của Việt Nam phần lớn sống ở những vùng rừng núi có vị trí quan trọng về quốc phòng và giàu có về tài nguyên thiên nhiên, bao gồm hai phần ba đất đai toàn quốc Nhưng, vốn từ lâu, xã hội các vùng ấy phát triển không đều nhau nên mỗi vùng lại có những đặc điểm riêng Về địa

lý, ta có thể tạm chia các vùng dân tộc thiểu số thành bốn vùng: 1 Đông Bắc

là địa bàn sinh tồn của người Tày, Nùng, 2 Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ

là địa bàn sinh tồn chủ yếu của người Mường, Thái và người H’mông, 3 Tây Nguyên là địa bàn sinh tồn của người Êđê, Bana, Xơ đăng, Cơ ho, Mnông, và,

4 Tây Nam bộ là địa bàn sinh tồn của người Chăm, Hoa

Trang 5

Do đặc điểm tình hình xã hội và địa lý đặc thù như vậy đã tạo nên truyền thống văn hóa riêng biệt của các dân tộc mà dấu ấn để lại rất rõ trong văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học dân gian Mặt khác, vì sống tiếp giáp với các nước láng giềng hoặc nguồn gốc là những dân tộc từ các nước đó di

cư sang, tùy theo khu vực cư trú, các dân tộc thiểu số nước ta đều ít nhiều chịu ảnh hưởng văn hóa của các nước láng giềng đó Cho nên, các tích hợp văn hóa theo thời gian thẩm thấu đã đi vào đời sống văn hóa, trong đó có bộ phận tinh hoa nhất là văn học Các dân tộc miền núi phía bắc Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc; một số dân tộc Tây Bắc chịu ảnh hưởng của văn hóa Lào; đồng bào Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của văn hóa Chiêm Thành cổ xưa; dân tộc Khơ me Nam bộ mang nhiều ảnh hưởng văn hóa Cam-pu-chia và phần nào của Ấn Độ Điều này biểu hiện rõ rệt trong lối kiến trúc nhà cửa, tập quán sinh hoạt hoặc tiếng nói, chữ viết Ví dụ, chữ Thái, chữ Lào đều cùng một hệ, chỉ khác nhau ít nhiều về cách phát âm; các dân tộc Tày, Nùng, Dao đều dùng chữ Hán hoặc mượn chữ Hán để đặt ra chữ Nôm dân tộc và dùng rộng rãi trong văn học Trên cơ sở cứ liệu, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm và so sánh 378 truyện kể của người Kinh và 201 truyện của người Tày trong đó nổi bật là các câu chuyện kể về Tài Ngào và Pựt Luông kiểu truyện này đã chuyển tải một quá trình tích hợp bền bỉ các giá trị văn hoá tộc người riêng trên cơ tầng một nền văn hoá chung – văn hóa nông nghiệp lúa nước gắn với việc sùng bái tự nhiên, coi trọng tín ngưỡng phồn thực và với tâm thức cội nguồn sinh ra từ một bào thai, cái trứng, quả bầu Truyện kể về người anh hùng văn hóa là sự phát triển lôgíc từ các hình tượng người khổng lồ kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ thành người anh hùng văn hóa với các motif tìm ra lửa, tìm ra lúa, sáng tạo những giá trị tinh thần, chống

lũ chống hạn Đặc biệt, qua đối sánh trực tiếp các truyện kể Lạc Long Quân,

Âu Cơ, Tản Viên (Việt) , Pựt Luông, Pư Lương Quân Slao Cải (Tày), chúng tôi nhận thấy quan hệ cội nguồn và sức mạnh dân tộc đã được tái tạo qua hình tượng nhân vật Thục Phán – An Dương Vương, một biểu hiện của

Trang 6

sự hòa hợp thống nhất Tày – Việt cả trong lịch sử, cả trong truyền thuyết từ đồng hình đến giao lưu Nhiều chứng cứ về sự giao lưu văn hoá giữa hai tộc người như tín ngưỡng thờ đá, thờ rùa, tục mặc áo lông chim, tục đãi dâu không đãi rể của người Tày đã được lặp lại trong nhiều truyện kể của người Kinh Kiểu truyện người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm phản ánh giai đoạn hình thành quốc gia thời Văn Lang Âu Lạc với tâm thức yêu nước

và thần thánh hóa người anh hùng dân tộc Đó là hình tượng Thánh Dóng (Việt), Nùng Chí Cao, Dương Tự Minh (Tày) Một số tác phẩm của dân tộc Thái như " xống chụ xon xao" ( tiễn dặn người yêu) về triết lý, đạo lý và văn hóa của người Thái Tác phẩm "đẻ dất đẻ nước" của người Mường; Sử thi -Khan "Đăm Săn của dân tộc Êđê khái quát về quá trình con người chinh phục thiên nhiên, lý giải các hiện tượng thiên nhiên, cốt lõi của các truyện kể dân gian về cội nguồn, về quá trình dựng nước và giữ nước của các tộc người Qua các tác phẩm văn học dân gian đó đã phản ánh tinh thần chống giặc ngoại xâm của các tộc người cũng như của cả dân tộc Việt Nam đã được chuyển giao qua nhiều thế hệ trên cơ sở của một ý thức chung là lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc mang một sắc màu tâm linh sâu sắc Truyện kể dân gian không phải là sáng tạo nghệ thuật thuần tuý tách khỏi các mục đích thực dụng Nó gắn với tín ngưỡng, phong tục và là một hình thức nhận thức cuộc sống của những tập thể, phản ánh trình độ tập thể Cái thực dụng được hoàn thiện sẽ mang ý nghĩa nghệ thuật, ý nghĩa đó được phản ánh ngay trong nội dung của mối quan hệ hiện thực - thẩm mỹ có tính nguyên hợp, tạo thành sức sống lâu bền và bản sắc độc đáo tộc người Truyện kể dân gian là khái niệm được dùng như một tên gọi chung cho loại hình tự sự dân gian với các thể loại như thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ dân gian… Thế giới thần thoại của các tộc người trên đất Việt không có thời gian thống trị dài lâu như thế giới thần thoại của Hy Lạp

Do sinh tồn trên một đất nước luôn phải đối diện với nhiều thách thức của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và điều kiện xã hội lịch sử nhiều biến động,

Trang 7

con người phải có tinh thần cộng đồng để tồn tại và phát triển Sự hình thành

ý thức dân tộc có cơ sở sâu xa từ yêu cầu khách quan của sự đoàn kết cộng đồng Hơn nữa, môi trường sống định cư làm ruộng nước cũng sớm tạo ra ý thức phải thực tiễn để sinh tồn, phải chấp nhận đối diện với thực tại để giữ đất, giữ nước Vì thế truyền thuyết đã tiếp bước thần thoại theo xu thế truyền thuyết hoá thần thoại Trên cốt nền của thần thoại, truyền thuyết đảm nhận hai chức năng: giáo dục ý thức lịch sử trong hoàn cảnh chưa có chữ viết, chưa có văn học thành văn, đồng thời thực hiện chức năng thoả mãn mỹ cảm Các yếu

tố của cổ tích được đan cài, được xâm nhập vào truyền thuyết, hay nói như các nhà nghiên cứu, cổ tích được hình thành ngay trong lòng truyền thuyết Chính vì thế trong các kiểu truyện dân gian hay trong một tác phẩm truyện kể dân gian, chúng ta luôn nhận diện được các tầng lớp văn hoá của các thời đại khác nhau được đan lồng, khúc xạ theo các hướng nhận thức thế giới bằng con đường huyền thoại hoá Tuy mỗi thể loại có mục đích, hoàn cảnh lịch sử

ra đời khác nhau, có nội dung phản ánh 13 những phương diện hiện thực khác nhau, có sự lựa chọn cách thức, phương tiện, chất liệu nghệ thuật khác nhau

và có số phận lịch sử khác nhau nhưng tất cả đều tạo nên một sự liên hoàn, đan lồng nhiều hình thức nghệ thuật trong một loại hình để đáp ứng nhu cầu nhận thức bằng trí tưởng tượng và bằng lưu truyền, diễn xướng

Về văn học nghệ thuật, chính sách đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra những triển vọng rất lớn Đảng ta đặc biệt quan tâm nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân các dân tộc và rất mực tôn trọng những di sản văn hóa nghệ thuật cũng như rất tôn trọng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc, đồng thời đã có đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn giúp cho các dân tộc phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình để xây dựng nền văn hóa mới

1.2.2 Về nghệ thuật dân gian

Trang 8

Nghệ thuật dân gian là một dạng sinh hoạt nghệ thuật độc đáo, thể hiện toàn bộ tính cách của một dân tộc, có thể nói rằng, mỗi dân tộc đều có một hình thức biểu diễn nghệ thuật dân gian phong phú như hát, múa, nghệ thuật diễn xướng dân gian và nghệ thuật tạo hình

Nghệ thuật dân gian tập trung phản ánh phong phú và sinh động suộc sống lao động hàng ngày của nhân dân Những bài dân ca mang đậm văn hóa của mỗi vùng miền, phản ánh tâm tư, tình cảm, cách ứng xử giữa con người với con người và con người đối với tự nhiên Mặc dù phần lớn các bài dân ca đều được duy trì theo lối truyền khẩu song nó vẫn được lưu giữ một cách có ý thức của người dân bởi các tác phẩm nghệ thuật diễn xướng là sản phẩm sáng tạo của cả cộng đồng, được cộng đồng lưu giữ và phát huy Nghệ thuật diễn xướng dân gian rất phong phú và đa dạng về thể loại, hình thức thể hiện như múa Rối ở miền Bắc, các điệu hò, điệu lý ở miền Trung và miền Nam đã phản ánh sự phong phú về đời sống tinh thần của nhân dân Nghệ thuật dân gian còn là sự cộng cảm, cộng mệnh, phát huy sự sáng tạo của tập thể trong sinh hoạt văn nghệ, là điều kiện hình thành các giá trị văn hóa mới, đóng góp vào kho tàng văn học nghệ thuật truyền thống của Việt Nam

Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT DÂN GIAN

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 HOẠT ĐỘNG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT DÂN GIAN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1.1 Điều kiện thuận lợi

Sau năm 1954, Việt Nam đã có thế và lực của một dân tộc độc lập, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Đây cũng là điều kiện để các giá trị văn học nghệ thuật dân tộc được quan tâm và phát triển Trong thời kỳ này, Đảng và nhà

Trang 9

nước rất quan tâm đến vấn đề phát triển các giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng văn hóa mới Sự quan tâm của Đảng về lĩnh vực văn học nghệ thuật dân tộc được thể hiện ở một số văn bản như: Nghị định số 206-NĐ/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27 tháng 11 năm 1961 về việc chính thức phê chuẩn các phương án chữ Tày - Nùng, chữ Mèo, chữ Thái cải tiến, đồng thời quy định phạm vi, mức độ sử dụng ba thứ chữ đó bước đầu đã phát huy tác dụng tích cực của các chữ viết dân tộc và đã góp phần làm cho nhân dân các dân tộc thêm tin tưởng vào chính sách dân tộc của Trung ương Đảng và Chính phủ

Nhằm mục đích đẩy mạnh hơn nữa phong trào học và dùng chữ dân tộc, tạo thêm điều kiện cho các dân tộc thiểu số tiến mau hơn nữa trong việc xây dựng cuộc sống mới, Hội đồng Chính phủ, trong phiên họp thường vụ ngày 21 tháng 5 năm 1969, đã quyết định những phương hướng, chủ trương

và biện pháp đối với công tác xây dựng và sử dụng các chữ dân tộc nói chung,

và đối với ba thứ chữ dân tộc Tày - Nùng, Mèo, Thái đã được ban hành Theo

đó, ngày 20 tháng 8 năm 1969, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 153-QĐ/HĐCP về việc xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết của các dân tộc thiểu số

Từ khi có Quyết định số 153-QĐ/HĐCP ngày 20 tháng 8 năm 1969, của Hội đồng Chính phủ, tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều

đã học và dùng tiếng, chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cả nước Nhà nước đã có chính sách phù hợp giúp đỡ nhân dân các dân tộc thiểu số học, nắm và sử dụng nhanh chóng, thành thục tiếng, chữ phổ thông Đồng thời tạo điều kiện cho người dân tộc mau chóng xoá nạn mù chữ và tiếp thu thuận lợi những kiến thức văn hoá, khoa học và kỹ thuật đồng thời thúc đẩy sự nghiệp phát triển văn hoá, văn nghệ của dân tộc mình Do đó, công tác thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hóa đã được tiến hành với một quy mô rộng lớn ở khắp miền núi và vùng dân tộc thiểu số Với các dân tộc đã có chữ viết riêng thì xúc tiến việc hoàn chỉnh theo những quy tắc tiên tiến; với các dân tộc chưa

có chữ viết thì tiến hành nghiên cứu để xây dựng chữ viết cho các dân tộc đó

Trang 10

Các sở, ty văn hóa miền núi đã dùng chữ quốc ngữ phiên âm tiếng dân tộc để

in thơ ca, in các tác phẩm văn học, phổ biến rộng rãi trong nhân dân

Bên cạnh việc tích cực đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ thuộc các dân tộc thiểu số, để thúc đẩy, hướng dẫn phong trào sáng tác và sinh hoạt văn nghệ, Chi hội Văn nghệ Việt Bắc chính thức thành lập là một bước tiến vượt bậc có tính chất tiên phong trong quá trình phát triển văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Tiếp theo là các tổ chức văn nghệ, nghiên cứu văn học và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc v.v được thành lập và củng cố

Trong thời kỳ 1945-1980, các dân tộc thiểu số Việt Nam đã đóng góp cho vườn hoa nghệ thuật nước nhà một đội ngũ sáng tác văn học với những tác phẩm mang dấu ấn của kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên những con người bị đè nén áp bức đã vươn thẳng lên làm chủ cuộc đời mình Với 45 tác giả thơ, 19 tác giả văn xuôi, 5 tác giả kịch bản sân khấu, 1 tác giả kịch bản điện ảnh và 3 tác giả phê bình tiểu luận Trong giai đoạn này, văn học các khu vực dân tộc thiểu số có những nét chung, đó là phản ánh trung thực đời sống lao động và đấu tranh của các dân tộc Tâm hồn, tình cảm phong phú của đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện rất đậm đà trong thơ văn Đồng thời, bộc lộ tính nhân đạo, tình xóm làng, tình đoàn kết và tinh thần lạc quan trước cuộc sống Đặc biệt, tình yêu nam nữ, lòng thủy chung được thể hiện rất đẹp trong nhiều áng thơ trữ tình đằm thắm; chứa đựng nhiều giá trị mang bản sắc dân tộc độc đáo và truyền thống văn học vô cùng phong phú Về nghệ thuật, văn học dân tộc thiểu số có đặc điểm chung là hồn nhiên, giàu hình ảnh, ngôn ngữ

cụ thể, kết cấu giản dị Tuy nhiên, văn học các dân tộc thiểu số còn có nhược điểm chung là phát triển mạnh về văn vần, văn xuôi mới phôi thai ở một vài dân tộc, phần lớn chưa vượt qua ranh giới giữa văn học thành văn và văn học dân gian

Ngày đăng: 20/12/2022, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w