TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ VĂN NGOẠN NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI BÒ SÁT REPTILIA VÀ ẾCH NHÁI AMPHIBIA TẠI KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN ĐỘNG CHÂU - KHE NƯỚC TRONG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đa dạng sinh cảnh từ đồng bằng, trung du đến vùng núi do địa hình phức tạp Nhờ đó, đất nước này thích hợp cho sự phát triển phong phú của động vật, đặc biệt là ếch nhái và bò sát.
Nỗ lực nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể như sau:
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
1962) Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main
Trong giai đoạn 1975-1996, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiến hành nhiều nghiên cứu tập trung vào khám phá đa dạng thành phần loài của bò sát và lưỡng cư ở nhiều vùng khác nhau trên toàn quốc Nổi bật trong thời kỳ này là các khóa định loài do Đào Văn Tiến thực hiện từ năm 1977 đến 1981, góp phần quan trọng vào công tác nghiên cứu đa dạng sinh học Việt Nam.
1982) Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và lưỡng cư đến năm 1996
Từ năm 1997 đến nay, việc ứng dụng phương pháp sinh học phân tử đã giúp khám phá thêm nhiều loài bò sát và lưỡng cư mới tại Việt Nam, bên cạnh phương pháp định loài hình thái truyền thống Đến năm 2005, tổng số loài bò sát và lưỡng cư đã tăng lên 458 loài, tăng lên 545 loài vào năm 2009 nhờ các nghiên cứu mới (Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2005; Nguyen et al., 2009) Các dữ liệu từ các trang web cơ sở dữ liệu của thế giới như Reptile Database và Amphibian Database hỗ trợ việc cập nhật và xác định các loài mới này.
Việt Nam hiện có khoảng 790 loài bò sát và ếch nhái tính đến năm 2020, trong đó có 288 loài ếch nhái, 214 loài thằn lằn, 248 loài rắn, 37 loài rùa và 3 loài cá sấu (Uetz & Hošek, 2020; Forst, 2020).
Các nghiên cứu về khu hệ ếch nhài và bò sát tại khu vực hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam gần đây cho thấy sự đa dạng phong phú của các loài Luu et al (2013) đã báo cáo tổng cộng 151 loài, gồm 101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư, trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình Ziegler et al (2014) cung cấp danh lục 102 loài, gồm 50 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát, trong đó có lần đầu tiên ghi nhận 8 loài ếch nhái và 12 loài bò sát tại tỉnh Hà Giang Các kết quả này cho thấy mức độ đa dạng sinh học lớn của hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam.
2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm
Trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2016, đã ghi nhận 8 loài mới tại huyện Hướng Hóa và 4 loài mới tại tỉnh Quảng Trị, góp phần mở rộng hiểu biết về đa dạng sinh học của khu vực này Pham et al (2017) đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái trong hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng, trong đó có 3 loài mới ghi nhận là Odorrana bacboensis, O graminea và Rhacophorus maximus, góp phần nâng cao kiến thức về đa dạng sinh học của khu vực.
Số lượng loài mới được khoa học công bố hàng năm đã tăng rõ rệt qua các giai đoạn Trong giai đoạn 1954-1975, chỉ có một loài bò sát mới được ghi nhận, trong khi từ 1976-1996, số loài mới tăng lên 16 (4 loài ếch nhái, 12 loài bò sát) Giai đoạn 1996-2005 ghi nhận 57 loài mới (28 ếch nhái, 29 bò sát), và trong 5 năm gần đây (2015-2020), số loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 123 loài tại Việt Nam, trong đó có 94 loài ếch nhái và 39 loài bò sát Các loài mới gần đây đã được công bố gồm 53 loài bổ sung vào hệ sinh thái của Việt Nam, trong đó có 33 loài ếch nhái và 20 loài bò sát, như Cyrtodactylus bobrovi được mô tả mới nhất.
Van Pham, Ngo, Hoang, The Pham & Ziegler, 2015; Cyrtodactylus Soni( Le,
Nguyen, Le & Ziegler, 2016); Dixonius Minhlei (Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer,
Brennan, Ngo & Nguyen, 2016); Oligodon Condaoensis (Nguyen, Nguyen, Le &
Murphy, 2016); Cyrtodactylus Gialaiensis (Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler,
2017); Cyrtodactylus Sonlaensis (Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017);
Opisthotropis Voquyi (Ziegler, David, Ziegler, Pham, Nguyen & Le, 2018);
Parafimbrios Vietnamensis (Ziegler, Ngo, Pham, Nguyen, Le & Nguyen, 2018);
Acanthosaura phongdienensis (Nguyen, Jin, Vo, Nguyen, Zhou, Che, Murphy &
Zhang, 2019); Cyrtodactylus taybacensis (Pham, Le, Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019);
Scincella badenensis (Nguyen, Nguyen, Nguyen & Murphy, 2019); Lycodon namdongensis (Luu, Ziegler , Ha, Le & Hoang, 2019); Oligodon rostralis (Nguyen,
Tran, Nguyen, Neang, Yushenko & Poyarkov, 2020); Rhacophorus vanbanicus
(Kropachev, Orlov, Ninh, and Nguyen, 2019); Megophrys caobangensis (Nguyen,
Pham, Nguyen, Luong, and Ziegler, 2020); Gacixalus trieng (Rowley, Le, Hoang,
Cao, and Dau, 2020); Kurixalus gracilloides (Nguyen, Duong, Luu, and Poyarkov, 2020);
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá thì Nguyen Thanh Luan et al
Nghiên cứu năm 2016 đã khảo sát từ năm 2015 đến 2016 và cập nhật danh mục các loài trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá Báo cáo này đã hoàn thiện danh lục với tổng cộng 31 loài bò sát và ếch nhái, thuộc 16 họ khác nhau trong 2 bộ.
Hiện tại, nhiều số liệu trong lĩnh vực của chúng ta đã cũ và chưa được cập nhật bổ sung mới nhất, gây khó khăn trong việc tham khảo chính xác Nhiều loài còn thiếu thông tin và dữ liệu dẫn chứng, do đó cần tiến hành điều tra bổ sung và cập nhật các dữ liệu mới nhất để đảm bảo độ chính xác và đáng tin cậy cho các nghiên cứu trong tương lai Việc này giúp nâng cao chất lượng và khả năng ứng dụng của các số liệu trong các công trình khoa học tiếp theo.
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về bò sát và ếch nhái tại Quảng Bình chủ yếu tập trung tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi có danh mục 151 loài với đa dạng sinh học phong phú gồm 50 loài lưỡng cư, 12 loài rùa, 31 loài thằn lằn và 58 loài rắn Tuy nhiên, các khu vực khác của tỉnh vẫn chưa được quan tâm đủ, đặc biệt là KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, chỉ mới được điều tra một lần vào năm 2015 với kết quả 67 loài, và các khu vực như Tiểu khu 528, 534, 533, 535 chưa có nghiên cứu đầy đủ Từ khi thành lập vào ngày 25/06/2020, khu vực này vẫn chưa có các nghiên cứu mới về loài bò sát, ếch nhái, vì vậy cần tiến hành các nghiên cứu bổ sung để cập nhật và mở rộng dữ liệu về đa dạng sinh học của khu vực.
Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, tỉnh Quảng Bình có diện tích rộng và đa dạng sinh thái, bao gồm rừng thường xanh, thủy vực và đồng ruộng, là môi trường sống của nhiều loài bò sát, ếch nhái Tuy nhiên, hoạt động của con người đã gây tác động tiêu cực đến quần thể bò sát, ếch nhái trong khu vực Nghiên cứu thành phần loài tại đây sẽ cung cấp cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả, góp phần khôi phục hệ sinh thái bò sát và ếch nhái, đồng thời bảo vệ nguồn gen quý giá.
Các nghiên cứu bổ sung thành phân loài, cập nhật hệ thống phân loại, phân bố và đánh giá tình trạng bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái là vô cùng cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học khu vực Điều này giúp đề xuất các phương pháp bảo tồn hiệu quả cho khu hệ bò sát, ếch nhái và động vật tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, được thành lập theo quyết định số 2156/QĐ-UNND ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, thuộc xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy Khu bảo tồn giáp với CHDCND Lào về phía Tây, xã Ngân Thủy phía Đông, xã Lâm Thủy phía Bắc, và KBTTN Bắc Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) phía Nam Khu DTTN có 22 tiểu khu, tổng diện tích lên đến 22.595,94 ha, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên quý giá của khu vực.
Có toạ độ địa lý: Từ 16° 55' 19'' đến 17° 4' 55'' vĩ độ bắc
Từ 106° 32' 50'' đến 106° 48' 26'' kinh độ đông
2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 2.1.2.1 Khí hậu
Khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành mùa khô từ tháng 4 đến đầu tháng 9, với đợt khô hạn gay gắt nhất vào tháng 6 và tháng 7 Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 12, đỉnh điểm vào cuối mùa thu (tháng 10 và tháng 11) Do khu vực không có trạm khí tượng riêng, dữ liệu khí hậu chủ yếu dựa trên số liệu 20 năm quan trắc tại trạm Khe Sanh, cách đó không xa, giúp cập nhật các chỉ tiêu khí tượng trung bình phù hợp để tham khảo.
- Nhiệt độ bình quân năm 22,3 0 C
- Nhiệt độ bình quân tối cao 25,8 0 C vào tháng 6,
- Nhiệt độ bình quân tối thấp 18,1 0 C vào tháng 1,
- Lượng mưa bình quân năm 2.079 mm,
- Lượng mưa bình quân tháng thấp nhất 18,8 mm vào tháng 2,
- Lượng mưa bình quân tháng cao nhất nhất 456,2 mm vào tháng 10,
Có 3 loại gió mùa chính thịnh hành trong khu vực Gió mùa đông- nam mang theo hơi ẩm và mưa lớn, thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 11 Gió mùa đông- bắc mang theo hơi lạnh và mưa phùn, thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Gió mùa tây- nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, thường khô và nóng nên mùa khô bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9
Khu vực này là vùng đầu nguồn của sông Long Đại và sông Kiến Giang, hai nhánh chính của sông Nhật Lệ, là một trong những hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình.
Khu vực có nhiều khe suối nhỏ tạo thành hai hệ sông chính là hệ sông Sa Ram và Khe Bang Hệ sông Sa Ram gồm các suối lớn như Khe Vàng, Khe Bung và suối Sa Ram, trong khi hệ Khe Bang có các suối lớn như An Bai, Rào Chân và Khe Bang Các sông suối trong khu vực thường ngắn, có độ dốc lớn, gây xâm thực sâu và thường dẫn đến lũ lụt, sạt lở đất, ảnh hưởng đến giao thông và sinh hoạt của người dân.
2.1.3 Địa hình và địa chất 2.1.3.1 Địa hình
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trong vùng núi thấp với địa hình tương đối dốc Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 500 -
Núi đồi có độ cao dao động từ dưới 1000 m so với mực nước biển, trong đó điểm thấp nhất là 120 m tại khu vực Khe Bang Điểm cao nhất là đỉnh 1220 m nằm ở ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Lào Các đỉnh núi còn lại chủ yếu có độ cao dưới 1000 m, tạo nên một vùng địa hình đa dạng và phong phú.
Vùng núi cao trên 700 m chỉ chiếm khoảng 10% diện tích khu vực, trong khi phần lớn (90%) là đồi núi dưới 700 m Theo Thái Văn Trừng (1978), đây là loại rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất thấp, hiện đang bị suy thoái và cực kỳ hiếm do dễ bị khai thác và tác động mạnh Do nguy cơ đe dọa cao, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên xếp loại loại rừng này là rừng có giá trị bảo tồn cao (WWF 2008) Trong khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, rừng trên vùng núi đất thấp chiếm tỷ lệ rất lớn, trở thành đối tượng cần được bảo tồn và là mục tiêu bảo vệ quan trọng trên toàn quốc.
2.1.3.2 Địa chất Địa chất vùng điều tra thuộc miền vòng trống Paleozoi rộng lớn thuộc đới Trường Sơn Bắc, có cấu tạo đặc thù với nhiều mặt cắt Paleozoi khá đầy đủ và dày
Vùng nghiên cứu gồm các trầm tích Odovic thượng và Silua, với thành phần bồi lắng đa dạng như sắt, cát, Conglonurat, cuội, sỏi, dăm Quá trình bồi lắng song song diễn ra cùng với xâm nhập của các khối magma axit như granite, daxit, rhyolit, hình thành các khối đá magma chủ yếu từ magma, granit, rhyolit, có đặc điểm mỏng, kết cấu hạt thô, tỷ lệ thạch anh lớn khó phong hóa Các loại đá trầm tích như sa thạch, cuội kết, dăm kết, conglomerat có cấu trúc hạt thô, bở, rời, dễ phong hóa, dễ rửa trôi và xói mòn Đất hình thành chủ yếu trên các loại phiến thạch sét, sa thạch và magma axit kết tính chua, phân bố đan xen phức tạp, dẫn đến sự đa dạng về độ phì nhiêu, phụ thuộc vào kiểu địa hình, thảm thực vật, độ cao và độ dốc của khu vực Trong vùng điều tra xuất hiện các thung lũng kiến tạo và xâm thực nằm dọc theo các con sông suối, làm nổi bật đặc trưng địa chất phong phú của khu vực.
Khu vực này có đa dạng phong phú về các kiểu thảm thực vật rừng, đặc biệt là thảm thực vật ở vùng núi thấp (dưới 700 m so với mực nước biển) Trong khi đó, tại các khu vực khác, do gần dân cư và dễ tiếp cận, các kiểu rừng này đã bị phá hủy và còn rất ít Tuy nhiên, tại khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, các kiểu thảm thực vật này còn khá nhiều, với diện tích khoảng trên 18.000 ha Công tác giải đoán ảnh vệ tinh và điều tra thực địa cho thấy tỷ lệ che phủ rừng trong khu vực đề xuất lên tới 99%, phản ánh mức độ bảo tồn cao của khu vực Theo phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978), các kiểu thảm thực vật chính và phụ của khu vực đã được trình bày chi tiết trong bảng 2.1, góp phần làm rõ đặc điểm đa dạng sinh học và tầm quan trọng của khu dự trữ này.
Bảng 2.1 Hiện trạng thảm thực vật
Stt Kiểu thảm thực vật Diện tích (ha) Tỷ lệ %
1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới 2.019,01 8,94
2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp 12.555,09 55,56
3 Kiểu rừng thứ sinh sau khai thác kiệt 6.261,39 27,71
4 Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau biến mất rừng 495,30 2,19
5 Kiểu rừng phát triển trên núi đá vôi 687,06 3,04
7 Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác 173,63 0,77
(Nguồn: Viện điều tra Quy hoạch rừng điều tra trong các năm 2009- 2011, Chi cục
Kiểm lâm và các chuyên gia rà soát bổ sung đầu năm 2018)
Dựa trên các tài liệu trước đây và kết quả khảo sát của các nhà khoa học quốc tế, Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp cùng Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam (VietNature) đã tiến hành điều tra từ năm 2014 đến 2017, ghi nhận sơ bộ 357 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm 76 loài thú, 214 loài chim, và 67 loài bò sát, ếch nhái (xem bảng 2.2).
Bảng 2.2 Thành phần loài động vật có xương sống tại Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong
Bộ Số loài IUCN SĐVN CITES NĐ 64 Nguồn
Nguồn: Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt (VietNature)
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong ghi nhận tổng cộng 76 loài thú đặc trưng của vùng Bắc Trường Sơn Các loài này đã được xác nhận qua các cuộc khảo sát trực tiếp và kết quả bẫy ảnh, thể hiện sự đa dạng phong phú của hệ động vật hoang dã tại khu vực Trong đó, các loài thú nổi bật phản ánh đặc trưng của sinh cảnh Bắc Trường Sơn đã được ghi nhận đầy đủ, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và nghiên cứu sinh thái khu bảo tồn.
Trong danh sách các loài động vật như Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Chà vá chân nâu, Vượn siki, Thỏ vằn, Tê tê Java, Gấu ngựa, Mang trường sơn, Mang lớn, Saola và Sơn dương, có hai loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cấp cao nhất là Tê tê Java và Saola, được xếp vào danh mục Rất Nguy cấp (CR).
Khu hệ chim KVNC là vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ với 214 loài chim được ghi nhận Trong đó, có 4 trong số 7 loài đặc hữu có phạm vi phân bố hẹp, gồm Trĩ sao, Khướu mỏ dài, Chích chạch má xám và Khướu má xám Hai loài đang bị đe dọa toàn cầu là Gà lôi lam mào trắng (CR) và Đuôi cụt bụng đỏ (VU), trong đó Gà lôi lam mào trắng chỉ được ghi nhận qua phỏng vấn thợ săn địa phương Dù đã có nhiều nỗ lực điều tra bằng phương pháp bẫy ảnh của Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam, các chuyên gia vẫn chưa ghi nhận được hình ảnh thực tế của loài Gà lôi lam mào trắng.
Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trong địa giới hành chính xã Kim Thủy, không có dân sinh sống trong phạm vi ranh giới, góp phần bảo tồn hệ sinh thái đặc sắc của khu vực.
Xã Lâm Thủy nằm gần xã Kim Thủy và có phần ranh giới tiếp giáp với khu bảo tồn thiên nhiên, tạo thành vùng đệm quan trọng trong khu vực Vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được xác định là diện tích nằm ngoài ranh giới của khu dự trữ thiên nhiên, thuộc địa phận của hai xã Kim Thủy và Lâm Thủy Việc xác định vùng đệm này giúp bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và duy trì các hoạt động bảo tồn bền vững tại địa phương.
2.2.1 Đặc điểm dân số và dân tộc
Hai xã vùng đệm thuộc khu vực miền núi rẻo cao, giáp biên giới, có mật độ dân số rất thưa thớt, nổi bật với các con số đáng chú ý như năm 2016, mật độ dân số trung bình của xã Kim Thủy là 75,34 người/km², còn xã Lâm Thủy chỉ đạt 5,97 người/km² Tỷ lệ tăng dân số cơ học của hai xã rất thấp, trong đó, năm 2015, dân số xã Kim Thủy là 3.661 người.
Năm 2016, dân số toàn huyện Lệ Thủy đạt 3.672 người, tăng trưởng dân số là 0,3% Tại xã Lâm Thủy, dân số năm 2015 là 1.355 người và tăng lên 1.360 người vào năm 2016, đạt tỷ lệ tăng dân số là 0,37% Các số liệu này được ghi nhận trong Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2017.
Dân tộc tại hai xã chủ yếu gồm người Kinh và Vân Kiều, trong đó người Vân Kiều chiếm đa số với tỷ lệ 73,6% tổng số hộ và 78,9% dân số Người Kinh chiếm 26,4% số hộ và 21,1% dân số của hai xã Cụ thể, xã Lâm Thủy có tới 94,1% dân cư là người Vân Kiều, trong khi xã Kim Thủy có 72,6% dân số thuộc dân tộc Vân Kiều.
Kim Thủy và Lâm Thủy là hai xã miền núi nằm sát biên giới Việt - Lào, nổi bật với vị trí địa lý chiến lược và cảnh quan thiên nhiên đẹp tự nhiên Đây là những xã có diện tích lớn nhất của tỉnh Quảng Bình, góp phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp và du lịch địa phương Vùng đất này không chỉ giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn là điểm đến thu hút du khách muốn khám phá vẻ đẹp hoang sơ của miền núi Quảng Bình.
2 xã là 71.527,16 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 94,47%
Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Đơn vị tính: ha
Stt Hạng mục Xã Kim
1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.449,91 404,8 1.854,71 2,59
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5 năm 2017)
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ 2,59%, dẫn đến ngành nông nghiệp cùng với lâm nghiệp là nguồn thu nhập chính của địa phương Số hộ kinh doanh thương mại dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng 0,97%, chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp để phát triển kinh tế bền vững.
2.2.3 Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng 2.2.3.1 Giáo dục Điều kiện cơ sở hạ tầng cho giáo dục đã được cải thiện rất nhiều Hầu hết các cụm thôn, bản đều có điểm trường mầm non Hiện tại, địa phương có nhiều chính sách ưu đãi đối với học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nên hầu hết trẻ em ở độ tuổi 5-6 tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100% Tỷ lệ mù chữ thấp, chỉ còn tồn tại ở những người lớn tuổi
Các xã đã có trạm y tế xây dựng kiên cố, thường nằm ở trung tâm xã, được trang bị đầy đủ thiết bị khám chữa bệnh, trong đó trạm Kim Thủy đạt chuẩn quốc gia Mỗi trạm có đội ngũ cán bộ y tế gồm bác sĩ, y sĩ, y tá và điều dưỡng, cùng y tá thôn bản ở các thôn Tuy nhiên, chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn bị ảnh hưởng do trình độ nghiệp vụ của cán bộ y tế còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh trong vùng.
Trong những năm qua, hệ thống tuyến đường chính tại xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy đã được nâng cấp và cải tạo, đặc biệt là tuyến đường mòn Hồ Chí Minh và đường tỉnh lộ 16, giúp mở rộng giao thương và nâng cao khả năng giao lưu hàng hóa với bên ngoài Những cải thiện này đã thay đổi diện mạo các xã, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống của người dân.
Xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy đã hoàn toàn có điện lưới cung cấp đến các bản làng, giúp nâng cao đời sống cộng đồng Các thôn, bản đều đã được cung cấp nước sạch dùng cho sinh hoạt hàng ngày, góp phần cải thiện điều kiện vệ sinh Đời sống sinh hoạt của người dân đã dần được nâng cao với trang thiết bị gia đình hiện đại hơn, trong đó tất cả các hộ đều đã có ti vi, một số hộ đã sở hữu tủ lạnh Những cải thiện này góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, hướng tới cuộc sống tiện nghi, văn minh hơn.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của dự án là cung cấp dữ liệu chính xác về các loài bò sát, ếch nhái và các loài liên quan nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý rừng bền vững Thông tin này sẽ giúp xây dựng cơ sở khoa học vững chắc để thúc đẩy các hoạt động bảo vệ các loài động vật hoang dã tại Khu Dự Trữ Tự Nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Việc thu thập dữ liệu về các loài bò sát và ếch nhái góp phần nâng cao hiểu biết về hệ sinh thái rừng ngập mặn và đảm bảo các hoạt động bảo tồn diễn ra hiệu quả, bền vững.
+ Đánh giá được mức độ đa dạng thành phần loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;
+ Đánh giá được phân bố các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh, theo độ cao tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;
+ Đề xuất được các giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong.
Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát, ếch nhái
- Phạm vi nghiên cứu: Tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian điều tra thực địa được thực hiện từ tháng
07 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 với tổng cộng 95 ngày thực địa với 38 lượt người tham gia, chi tiết xem bảng 3.1
Bảng 3.1 Nỗ lực nghiên cứu thực địa tại KDTTN Động Châu –
Khe Nước Trong Thời gian Số ngày thực địa Số lượt người tham gia
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá sự đa dạng thành phần các loài bò sát và ếch nhái trong khu vực nghiên cứu giúp xác định mức độ phong phú sinh vật của hệ sinh thái Nghiên cứu cũng tập trung so sánh sự tương đồng về thành phần loài giữa khu vực này với các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia lân cận và các khu vực có sinh cảnh tương tự ở Bắc Trung Bộ và phía Bắc Việt Nam Các phân tích này góp phần nâng cao hiểu biết về phân bổ loài, mức độ đa dạng sinh học, cũng như hướng đi trong công tác bảo tồn và quản lý hệ sinh thái tại khu vực nghiên cứu.
- Đặc điểm phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo các dạng sinh cảnh sống, theo độ cao ghi nhận loài
Đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu dựa trên các tiêu chí về tính đặc hữu, tính quý hiếm và mức độ bị đe dọa Việc xác định các loài có giá trị bảo tồn cao giúp xác định các khu vực cần ưu tiên để bảo vệ đa dạng sinh học Nhận diện các loài nguy cấp và đe dọa góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và hướng đến các biện pháp bảo tồn hiệu quả Đây là bước quan trọng để đề xuất các chiến lược bảo vệ phù hợp nhằm duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học khu vực.
- Xác định các nhân tố đe doạ đến quần thể bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Trong quá trình điều tra, các thiết bị và dụng cụ cần thiết bao gồm bản đồ địa hình, GPS, la bàn, đèn pin, dao, túi sơ cứu, gậy bắt rắn, máy ảnh, thước đo, túi vải đựng mẫu, cồn xử lý mẫu, bộ đồ mổ, xi lanh, nhãn, bút kim, bút chì, lọ nhựa đựng mẫu vật và sổ tay ghi chép để đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác Điều tra theo tuyến được thực hiện qua việc thiết lập 10 tuyến điều tra chính tại khu bảo tồn thiên nhiên Động, giúp phân chia phạm vi nghiên cứu một cách hệ thống và hiệu quả.
Châu - Khe Nước Trong là khu vực được nghiên cứu dựa trên bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh cảnh sống của các loài bò sát, ếch nhái Tuyến điều tra đã xác định các điểm phân bố chính của các loài động vật này, góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực Phương pháp nghiên cứu dựa trên phân tích sinh thái và các yếu tố tự nhiên giúp hiểu rõ hơn về quần thể và môi trường sống của các loài đặc hữu tại Châu - Khe Nước Trong.
Trong nghiên cứu này, các tuyến điều tra chính được thiết lập dựa trên các đường mòn tuần tra và giám sát do Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt thiết kế, đảm bảo kiểm kê các dạng sinh cảnh khác nhau trong khu vực Các tuyến điều tra phụ được xây dựng dựa trên tuyến chính để đi qua các điểm có nước, vách đá và thung lũng, giúp khảo sát toàn diện đa dạng sinh thái Mỗi tuyến điều tra đều được đánh dấu rõ điểm bắt đầu và kết thúc bằng các cây to hoặc địa vật cụ thể để đảm bảo tính chính xác trong khảo sát.
Chọn điểm thu mẫu: Tập trung vào các khu vực ẩm ướt như ven suối, vũng nước, vách đá, cửa hang, trên cây và quan sát dưới mặt đất
Ghi chép các ghi nhận: Ghi các toạ độ bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin
78s (Hệ toạ độ VN-2000), ghi chép vào sổ thực địa Ghi độ ẩm bằng máy Rocktrail Z29592 Chụp ảnh bằng máy ảnh Canon Rebel XL2
Thời gian thu mẫu: Thời gian điều tra quan sát và thu thập mẫu vật ban ngày từ 09:00 - 16:00, ban đêm từ 19:00 - 24:00
Phương pháp thu mẫu chính là thu thập mẫu vật bằng tay và các dụng cụ chuyên dụng như kẹp và gậy bắt rắn, đảm bảo độ chính xác và an toàn Mẫu vật thường được để trong túi vải hoặc túi nilon chắc chắn để bảo quản tốt Sau khi chụp ảnh và phân loại sơ bộ, những mẫu vật phổ biến sẽ được thả lại tự nhiên nhằm bảo vệ môi trường, trong khi các mẫu đại diện quan trọng sẽ được lưu giữ làm tiêu bản nghiên cứu để phục vụ các dự án khoa học trong tương lai.
Hình 3.1 Bản đồ các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu
Bảng 3.2 Các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Tên tuyến Tọa độ điểm đầu Tọa độ điểm cuối
Tuyến 1: Rum Ho- Ngọn khe Đan 567120 1881520 561230 1880562 Tuyến 2: Cầu Khỉ - Ngọn khe Le 567914 1878860 563779 1877580 Tuyến 3: Cầu Khỉ -Ngọn khe Vàng 567914 1878860 567308 1874016 Tuyến 4: Trung Đoàn - Ngọn khe Lương 571069 1878527 569796 1874130 Tuyến 5: Trung Đoàn - Ngọn khe Máy Bay 574068 1879075 569948 1876631 Tuyến 6: TK527 - Ngọn khe Gõ 582886 1876659 578856 1875438
Tuyến 9: Chốt Rộp - Ngọn Kiến Giang 579400 1883584 574639 1879478 Tuyến 10: An Bai - TK529 578114 1885597 574776 1881649
Trong quá trình gây mê, mẫu vật được xử lý trong vòng 24 giờ bằng cách dùng miếng bông thấm etyl acetate để đảm bảo an toàn và hiệu quả Các mẫu cơ hoặc mẫu gan để phân tích sinh học phân tử (DNA) cần được bảo quản kỹ lưỡng bằng cách lưu giữ trong cồn 95% để duy trì chất lượng mẫu, đồng thời được cách ly bằng formalin nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả phân tích.
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%
3.4.2 Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN 3.4.2.1 Phương pháp phân tích hình thái mẫu vật BSEN
Các chỉ số hình thái được sử dụng theo các nghiên cứu của Nguyen et al (2012) cho các loài ếch nhái, Phung & Ziegler (2011) cho các loài thằn lằn, và David et al (2012) dành cho các loài rắn Các chỉ số này được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với độ chính xác tối thiểu là 0,01 mm Trong đó, một số chỉ số chính đã được trình bày rõ ràng tại bảng 3.3 để làm rõ các đặc điểm hình thái của các loài nghiên cứu.
Bảng 3.3 Bảng các chỉ số đo chính của BSEN
Stt Kí hiệu Giải thích
1 SVL Chiều dài mút mõm đến hậu môn
2 HH Chiều cao tối đa của đầu
3 HL Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới
4 SNL Khoảng cách mút mõm đến mũi
5 SE Khoảng cách từ mõm đến mắt
6 NEL Khoảng cách từ góc trước của mắt đến mũi
7 SL Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt
8 ED Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang
9 TED Khoảng cách từ bờ trước của màng nhĩ đến góc sau của mắt
10 TD Đường kính lớn nhất của màng nhĩ
11 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu
12 IND Khoảng cách gian mũi (giữa 2 lỗ mũi)
13 AOD Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt
14 IOD Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ mắt
15 UEW Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên
16 FLL Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách
17 LAL Chiều dài cánh tay đo từ nách đến khuỷu tay
19 F2L Chiều dài ngón tay II
20 F3L Chiều dài ngón tay III (ngón dài nhất)
21 F4L Chiều dài ngón tay IV
22 FD3 Chiều rộng đĩa bám ngón tay III
23 MTTi Chiều dài củ bàn trong
Stt Kí hiệu Giải thích
24 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài
25 HLL Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn
26 FL Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)
27 TL Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)
28 FOT Chiều dài bàn chân (từ khớp cổ bàn đến mút ngón IV)
32 T4L Chiều dài ngón IV (ngón dài nhất)
34 TD4 Chiều rộng đĩa bám ngón chân IV
35 TBW Chiều rộng ống chân
36 MTTi Chiều dài củ bàn trong
37 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài Đuôi
3.4.2.2 Phương pháp định danh mẫu vật
Chúng tôi tiến hành so sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định danh lưu giữ tại Trường Đại học Lâm nghiệp để xác định chính xác loài Việc định loại dựa trên các tài liệu định danh uy tín như Inger et al (1999), Bain & Nguyen (2004), Bain et al (2006, 2009), Hendrix et al (2008), Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen Quang Truong et al (2012), và Ziegler & Vu Các nguồn tài liệu này cung cấp các tiêu chuẩn phân loại chính xác, giúp nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu về loài mẫu vật.
Dựa trên các tài liệu từ năm 2009 và các nguồn liên quan, tên khoa học và tên phổ thông của loài đã được xác định rõ ràng, theo nghiên cứu của Nguyen Van Sang et al (2009) cùng với các công bố mới nhất gần đây, góp phần nâng cao kiến thức về đặc điểm và phạm vi phân bố của loài.
3.4.3 So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực
Dựa trên số liệu thực địa và các công trình nghiên cứu đã công bố, nghiên cứu so sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa Khu ĐTTN Động Châu - Khe Nước Trong với các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia có sinh cảnh tương tự như KBTTN Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị), VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), và VQG Cúc Phương (Ninh Bình) Phương pháp phân tích thống kê sử dụng phần mềm PAST Statistic (Hammer et al 2001), trong đó dữ liệu được mã hóa theo dạng đối xứng (1: có mặt, 0: không có mặt) Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) được tính bằng công thức djk=2M/(2M+N), trong đó M là số loài ghi nhận ở cả hai khu vực, N là tổng số loài ghi nhận chỉ riêng ở một khu vực.
3.4.4 Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái 3.4.4.1 Phân bố theo sinh cảnh
Dựa trên phân chia dạng thảm thực vật của UNESCO 1973 và mức độ tác động của con người theo tài liệu “Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học (2003)”, cùng với hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu và kết quả thực địa, chúng tôi đánh giá phân bố các loài rắn tại ba dạng sinh cảnh chính: khu dân cư và đất nông nghiệp (ao, vườn quanh nhà, đất canh tác), rừng thứ sinh đang phục hồi (rừng sau nương rẫy, sau cháy, rừng khai thác mạnh, cây bụi), và rừng thường xanh ít bị tác động (rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn giao thường xanh) Kết quả sẽ được trình bày theo mẫu biểu 01 để thể hiện rõ sự phân bố và ảnh hưởng của từng dạng sinh cảnh đối với các loài rắn.
Mẫu biểu 01: Phân bố các loài rắn theo sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu
Sinh cảnh ghi nhận Sinh cảnh
3.4.4.2 Phân bố theo độ cao
Bain & Hurley (2011) phân chia khu vực Đông Dương dựa trên điều kiện tự nhiên gồm địa hình và thảm thực vật thành hai đai độ cao dưới 800 m và trên 800 m Tuy nhiên, do đặc điểm thực tế sinh cảnh và mức độ tác động của con người tại khu vực đô thị, chúng tôi điều chỉnh phân chia độ cao theo từng mức 400 m: dưới 400 m là khu vực dân cư, từ 400 m đến 800 m là rừng thứ sinh đang phục hồi, trên 800 m là rừng thường xanh ít chịu tác động Kết quả phân chia này sẽ được trình bày theo mẫu biểu 02 để thuận tiện phân tích và so sánh.
Mẫu biểu 02: Phân bố thành phần loài rắn theo độ cao tại KBT Nam Động
Tên phổ thông Đai cao (m)
3.4.5 Đánh giá tình trạng bảo tồn
Đánh giá tình trạng bảo tồn dựa trên các căn cứ pháp lý như Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ, cùng với các căn cứ khoa học từ Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN (2020) Hiện nay, chỉ ghi nhận các loài đặc hữu phân bố ở Việt Nam, phản ánh tầm quan trọng trong công tác bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học quốc gia.
Dựa trên kết quả đánh giá tình trạng bảo tồn kết hợp dữ liệu về phân bố các loài bò sát, ếch nhái, xác định khu vực ưu tiên bảo tồn là ưu tiên hàng đầu cho các hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học Việc xây dựng bộ tiêu chí phân vùng ưu tiên theo tiểu khu giúp xác định các khu vực có mức độ bảo tồn cao, trung bình và thấp, từ đó tập trung nguồn lực và chính sách vào các khu vực cần thiết nhất để bảo vệ các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp và đặc hữu Điều này cải thiện hiệu quả các hoạt động bảo tồn, góp phần duy trì sự đa dạng của hệ sinh thái và đảm bảo sự bền vững của các loài linh trưởng này.
Tư liệu nghiên cứu
- Đã phân tích đặc điểm hình thái của 207 mẫu bò sát, ếch nhái thu thập tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong năm 2018, 2019 và 2020
- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Trường Đại học Lâm Nghiệp (VNUF)
- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Bảo tàng khoa học VQG Cúc Phương
Các tài liệu trong nước và quốc tế về bò sát và ếch nhái bao gồm sách, tạp chí khoa học, báo cáo và luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Những nguồn này cung cấp thông tin đáng tin cậy nhằm phục vụ nghiên cứu và nâng cao kiến thức về các loài động vật này Việc tổng hợp các tài liệu liên quan giúp mở rộng hiểu biết về sinh thái, đặc điểm sinh học và các vấn đề bảo tồn của bò sát và ếch nhái.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước
Dựa trên kết quả phân tích 204 mẫu vật và quan sát 3 mẫu rùa, chúng tôi đã xác định được 56 loài động vật, gồm 34 loài bò sát và 22 loài ếch nhái, thuộc 42 giống (28 giống bò sát và 14 giống ếch nhái), thuộc hệ sinh thái Động Châu – Khe Nước Trong So sánh với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu mới bổ sung thêm 16 loài động vật (11 loài bò sát và 5 loài ếch nhái), mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học của khu vực.
Trong danh lục các loài bò sát và ếch nhái của Khu dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, đã ghi nhận 16 giống, gồm 11 giống bò sát và 4 giống ếch nhái thuộc 10 họ (7 họ bò sát và 3 họ ếch nhái) Trong đó, có 1 loài mới được ghi nhận cho tỉnh Quảng Bình Ngoài ra, có 3 họ bò sát và ếch nhái mới được bổ sung vào danh lục, nâng tổng số họ lên 21 với 83 loài Tuy nhiên, so với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), kết quả này chưa ghi nhận 3 họ gồm họ Thằn lằn chính thức Lacertidae, họ Trăn Pythonidae, và họ Rắn hổ mây Pareatidae; đồng thời không phát hiện 27 loài (15 loài bò sát và 12 loài ếch nhái) so với dữ liệu của nghiên cứu trước.
4.1.1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại K hu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Dựa trên phân tích 129 mẫu vật bò sát và quan sát 3 mẫu rùa, chúng tôi đã xác định được 34 loài bò sát mới Kết hợp với các nghiên cứu trước đó, danh mục bò sát tại khu du lịch Động Châu - Khe Nước Trong hiện nay gồm 49 loài thuộc 32 giống, 15 họ, 2 bộ Tuy nhiên, trong đợt nghiên cứu này, chúng tôi không ghi nhận 15 loài bò sát đã được ghi nhận trong tài liệu trước. -**Sponsor**Bạn muốn làm mới bài viết của mình cho chuẩn SEO hơn? Dựa trên phân tích và quan sát, chúng tôi đã xác định được 34 loài bò sát, và cập nhật danh lục bò sát tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong lên đến 49 loài Tuy nhiên, có 15 loài bò sát được ghi nhận trước đó mà chúng tôi không tìm thấy trong đợt nghiên cứu này Để tối ưu hóa nội dung quảng cáo Facebook của bạn, hãy thử [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/GoAXWfiA?user_id=983577), công cụ giúp bạn tự động hóa quảng cáo và đạt ROAS cao hơn nhờ AI được đào tạo bởi các chuyên gia hàng đầu.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã xác định tổng cộng 34 loài động vật qua phân tích mẫu vật, trong đó bổ sung thêm 11 loài bò sát mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong Đặc biệt, chúng tôi ghi nhận loài Rắn khuyết lào Lycodon laoensis có phân bố mới tại tỉnh Quảng Bình Ngoài ra, khảo sát còn đưa ra những phát hiện quan trọng về hệ sinh thái, bao gồm việc bổ sung 3 họ mới cho khu vực là họ Thằn lằn Rắn (Anguidae), họ Rắn bồng (Homalopsidae) và họ Rắn hổ xiên (Pseudoxenodontidae), góp phần làm phong phú thêm kiến thức về đa dạng sinh học của vùng.
Bảng 4.1 Danh lục các loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu –
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Nguồn tài liệu Phạm Thế Cường và cs (2019)
1 Acanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829) Ô rô vẩy x x
2 Calotes versicolor (Daudin, 1802) Nhông xám x x
3 C.emma Gray, 1845 Nhông em-ma x x
4 Physignathus cocincinus Cuvier, 1829 Rồng đất x x
Rửsler, Nguyen, Vu, Ngo & Ziegler, 2008
Thạch sùng ngón giả bốn vạch x X
6 Gekko reevesii (Linnaeus, 1758) Tắc kè x X
7 Hemidactylus frenatus (Schlegel, 1836) Thạch sùng đuôi sần x X
3 Lacertidae Họ Thằn lằn chính thức
8 Takydromus hani Chou, Nguyen & Pauwels,
4 Scincidae Họ Thằn lằn bóng
9 Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1857) Thằn lằn bóng đuôi dài x x
10 Plestiodon quadrilineatus Blyth, 1853 Thằn lằn tốt mã bốn vạch x x
1983) Thằn lằn cổ đuôi đỏ x x
12 S melanosticta (Boulenger, 1887) Thằn lằn cổ x x
13 Sphenomorphus indicus (Gray, 1853) Thằn lằn phê-nô ấn độ x x
14 S maculatus (Blyth, 1853) Thằn lằn phê-nô đốm x x
Bibron, 1839 Thằn lằn tai nam bộ x x
5 Anguidae Họ Thằn lằn rắn
16 Dopasia harti (Boulenger, 1899) * Thằn lằn rắn hác x
17 Python molurus (Linnaeus, 1758) Trăn đất x
19 Ahaetula prasina (Boie, 1827) Rắn roi thường x x
20 Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)* Rắn leo cây thường x
21 Boiga guangxiensis Wen, 1998* Rắn rào quảng tây x
22 B.kraepelini (Stejneger, 1902) Rắn rào k-ra-pe-lin x
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Nguồn tài liệu Phạm Thế Cường và cs (2019)
24 Chrysopelea ornata (Shaw, 1802) Rắn cườm X
25 Ptyas multicinctus (Roux, 1907) Rắn nhiều đai X x
26 Lycodon futsingensis (Pope, 1928) Rắn khuyết fut sing x
L ruhstrati abditus (Vogel, David, Pauwels, Sumontha, Norval, Hendrix, Vu & Ziegler,
28 Lycodon laoensis Günther, 1864** Rắn khuyết lào x
29 L.cf rosozonatum (Hu & Zhao, 1972) Rắn lệch đầu hồng x x
30 Oligodon chinensis (Günther, 1888)* Rắn khiếm trung quốc x
31 Oreocryptophis porphyraceus (Cantor, 1839) Rắn sọc đốm đỏ x
32 Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897 Rắn vòi x
8 Natricidae Họ Rắn nước chính thức
33 Parahelicops annamensis Bourret, 1934 Rắn bình mũi trung bộ x
34 Rhabdophis subminiatus (Schlegel, 1837) Rắn sãi cổ đỏ x
35 R chrysargos ( Shhlegel,1837)* Rắn hoa cỏ vàng x
36 Trimerodytes percarinatus (Boulenger, 1899) Rắn hoa cân vân đen x
9 Pareatidae Họ Rắn hổ mây
37 Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) Rắn hổ mây ham-tơn x
38 Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) Rắn cạp nong x
39 B multifasciatus Blyth, 1860 Rắn cạp nia bắc x x
40 Naja cf atra Cantor, 1842 Rắn hổ mang trung quốc x
41 Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)* Rắn bồng chì x
12 Pseudoxenodontidae Họ Rắn hổ xiên
42 Pseudoxenodon bambusicola Vogt, 1922* Rắn hổ xiên tre x
43 Protobothrops muscrosquamatus (Cantor, 1839) Rắn lục cườm x x
44 Trimeresurus stejnegeri Schmidt, 1925 Rắn lục xanh x x
14 Platysternidae Họ Rùa đầu to
45 Platysternon megacephalum Gray, 1930 Rùa đầu to x x
46 Cuora bourreti Obst & Reimann, 1994 Rùa hộp bua-rê x
47 C.mouhotii (Gray, 1862) Rùa sa nhân x
48 Cyclemys oldhamii Gray, 1863* Rùa đất sepon x
49 Sacalia quadriocellata (Siebenrock, 1903) Rùa bốn mắt x x
Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN ** Loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình
1Phạm Thế Cường và cs (2019)
Xét theo tính đa dạng về giống thì họ Rắn nước Colubridae đa dạng nhất với
Trong tổng số các loài bò sát ghi nhận được, có 10 giống chiếm 31,2%, tiếp theo là họ Thằn lằn chính thức Scincidae với 5 giống, chiếm 15,6% Các họ như Nhông (Agamidae), Tắc kè (Gekkonidae) và Rắn nước (Natricidae) đều ghi nhận 3 loài Ngoài ra, có 3 họ khác gồm Rắn hổ (Elapidae), Rắn lục (Viperidae) và Rùa đầm (Geoemydidae), mỗi họ đều có 2 giống Các họ còn lại đều chỉ ghi nhận duy nhất 1 giống, thể hiện sự đa dạng phong phú của các loài bò sát trong khu vực.
Họ Rắn nước Colubridae là họ đa dạng nhất với 14 loài chiếm 28,57% tổng số loài ghi nhận, thể hiện tính đa dạng thành phần loài cao Tiếp theo là họ Thằn lằn chính thức Scincidae, gồm 7 loài, chiếm 14,28% tổng số loài đã được ghi nhận Có 3 họ ghi nhận 4 loài gồm họ Nhông Agamidae, họ Rắn nước chính thức Natricidae, chiếm 8,16% tổng số loài Ngoài ra, còn có các họ như Geomydidae (Rùa đầm), Gekkonidae (Tắc kè), Elapidae (Rắn hổ), Viperidae (Rắn lục) và Pythonidae (Trăn), mỗi họ ghi nhận 2 loài Các họ còn lại đều chỉ ghi nhận 1 loài, thể hiện sự đa dạng phong phú của hệ động vật tại khu vực này (Xem hình 4.1 và bảng 4.1 để biết thêm chi tiết.)
Hình 4.1 Đa dạng các họ bò sát theo giống và loài
4.1.2 Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Kết quả phân tích 75 mẫu vật đã định danh được 23 loài ếch nhái, giúp cập nhật danh lục các loài tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Tổng cộng, nghiên cứu đã xác định có 34 loài ếch nhái thuộc 19 giống và 6 họ trong khu vực này Trong đó, có 5 loài ếch nhái mới được ghi nhận bổ sung cho Khu Vực Nghiên Cứu, mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học của khu vực Tuy nhiên, vẫn còn 12 loài ếch nhái được ghi nhận trong các tài liệu trước đó chưa được xác định rõ trong nghiên cứu này, góp phần thúc đẩy các nghiên cứu sâu hơn về hệ sinh thái trong khu vực.
Số giống Số loài nghiên cứu trước nhưng không ghi nhận được trong nghiên cứu này (Chi tiết xem bảng 4.2.)
Bảng 4.2 Danh lục các loài ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu
Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
2 Ingerophrynus macrotis (Boulenger, 1887) Cóc tai to x
3 Brachytarsophrys intermedia (Smith, 1921) Cóc mắt trung gian x x
5 Leptolalax aereus (Rowley, Stuart, Richards, Phimmachak & Sivongxay, 2010) Cóc núi nâu x
6 Megophrys maosonensis Boulenger, 1937 Cóc mắt bên x x
7 M microstoma Boulenger, 1903* Cóc núi miệng nhỏ x
8 M gerti (Ohler, 2003) Cóc núi gớt x
9 Microhyla heymonsi Vogt, 1911 Nhái bầu hây môn x x
10 M marmorata (Bain & Nguyen, 2004) Nhái bầu hoa cương x
11 M pulchra (Hallowell, 1861) Nhái bầu vân x x
4 Dicroglossidae Họ Ếch nhái chính thức
13 Limnonectes kiziriami Ye, Fei & Jiang,
14 L limborgi (Sclater, 1892) Ếch lim-boc x x
15 L poilani (Bourret, 1942) Ếch poa-lan x x
16 Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1937) Ếch gai sần x x
17 Amolops cremnobatus Inger et Kottelat,
18 Hylarana attigua (Inger, Orlov & Darevsky, Ếch đồng dạng x
Stt Tên khoa học Tên Việt Nam
20 Sylvirana guentheri (Boulenger, 1882)* Chẫu chuộc x
21 S maosonensis (Bourret, 1937)* Chàng mẫu sơn x
22 Odorrana chloronota (Günther, 1875) Ếch xanh x
23 O morafkai (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov
& Ho, 2003) Ếch mô-ráp-ka x
24 Rana johnsi Smith, 1921 Hiu hiu x x
25 Kurixalus banaensis (Bourret, 1939) Nhái cây bà nà x
26 K bissaculus (Taylor, 1962) Nhái cây sần nhỏ x x
27 Polypedates megacephalus Hallowell, 1861 Ếch cây đầu to x x
28 Rhacophorus annamensis Smith, 1924 Ếch cây trung bộ x x
29 Zhangixalus dennysi (Blanford, 1881)* Ếch cây đốm xanh x
1999 Ếch cây nếp da mông x
31 R orlovi Ziegler & Kohler, 2001 Ếch cây oóc-lốp x x
32 Theloderma asperum (Boulenger, 1886) Ếch cây sần a-x-pơ x
33 T corticale (Boulenger, 1903)* Ếch cây sần bắc bộ x
O RLOV & H O , 2005 Nhái cây trường sơn x x
Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Trong nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), họ Ếch nhái Ranidae được xác định là họ đa dạng giống nhất tại khu vực Đảo Tây Nam, chiếm 26,3% tổng số giống với 5 giống Họ Ếch cây Rhacophorus và họ Cóc bùn Megophrydae đều có 4 giống, trong khi họ Dicroglossidae ghi nhận 3 giống Họ Cóc Bufonidae có 2 giống, còn họ Nhái bầu Microhylidae chỉ tồn tại 1 giống Những số liệu này thể hiện rõ mức độ đa dạng sinh học của các họ amphibian tại khu vực này (xem hình 4.2 và bảng 4.2).
Hình 4.2 Đa dạng các họ ếch nhái theo giống và loài
Họ Ếch cây Rhacophorus có số lượng loài đa dạng nhất, với 10 loài chiếm 29,4% tổng số loài ếch, thể hiện sự phong phú về thành phần loài trong họ này Tiếp theo là họ Ếch nhái Ranidae, ghi nhận 8 loài, chứng tỏ sự phân bố rộng rãi của nhóm này Họ Cóc bùn Megophrydae có 6 loài, cho thấy mức độ đa dạng cao trong các loại cóc Họ Ếch nhái chính thức được ghi nhận với 5 loài, góp phần tăng đa dạng loài trong khu vực Ngoài ra, họ Nhái bầu Microhylidae có 3 loài, và họ Cóc Bufodidae ghi nhận 2 loài, như đã trình bày chi tiết trong hình 4.2 và bảng 4.2, phản ánh sự đa dạng phong phú của các nhóm loài này trong hệ sinh thái.
Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong
4.2.1 Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC
Trong nghiên cứu này, tôi đã mở rộng phân tích so với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019) bằng cách bổ sung thêm ba họ mới tại khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, đảm bảo ghi nhận chính xác các thay đổi và đặc điểm sinh thái của khu vực. -**Sponsor**Bạn là một người sáng tạo nội dung và cần giúp viết lại bài viết? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/vMIiTbLG?user_id=983577), bạn có thể tạo ra các bài viết được tối ưu hóa SEO dài 2.000 từ ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Giống như có một đội ngũ nội dung riêng mà không gặp rắc rối! Chúng tôi giúp bạn trích xuất những câu quan trọng chứa đựng ý nghĩa của đoạn văn mạch lạc, tuân thủ các quy tắc SEO Ví dụ, dựa trên đoạn "So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cs (2019), trong nghiên cứu này tôi đã bổ sung 3 họ cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, và ghi nhận mới," chúng tôi sẽ giúp bạn làm nổi bật những ý chính và viết lại một cách tối ưu nhất.
12 loài cho KVNC, trong đó có 10 loài bò sát có vảy và 1 loài rùa: Thằn lằn rắn hác
Dopasia harti (Boulenger, 1899), Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin,
1789), Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998), Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827), Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis
Lycodon laoensis, commonly known as the Laos wolf snake, was first described by Günther in 1864 and is renowned for its distinctive features and habitat preferences Oligodon chinensis, or the Central Chinese kukri snake, was identified by Günther in 1888 and plays a vital role in local ecosystems The yellow flower rat snake, Rhabdophis chrysargos, described by Schlegel in 1837, is notable for its vibrant coloration and ecological significance Hypsiscopus plumbea, or the blue pit viper, was scientifically classified by Boie in 1827 and is recognized for its unique morphology Additionally, the ornate bamboo snake, commonly known as the "Snake with a forked tongue," is an important species within its habitat, contributing to the biodiversity of the region These snake species are crucial for maintaining ecological balance and are key elements of regional biodiversity.
Pseudoxenodon bambusicola (Vogt, 1922), Rùa đất sepon Cyclemys oldhamii
(Gray, 1863) Một số đặc điểm hình thái của các loài này được trình bày cụ thể ở phần dưới đây:
Hình 4.3 Các loài bò sát ghi nhận mới tại KVNC
Họ Thằn lằn rắn Anguidae
1 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti (Boulenger, 1899)
Mẫu vật nghiên cứu (n = 1): 01 mẫu cái kí hiệu KNT.19.45 Đặc điểm nhận dạng: SVL 120,5 mm 16 hàng vảy giữa hai nếp gấp sườn;
Hàu vảy dọc nếp gấp sườn có mặt lưng màu nâu xám hoặc trắng-kem, với các sọc ngang sẫm màu dọc theo lưng Đặc điểm nổi bật gồm các sọc sẫm màu nhỏ chạy từ sau mắt đến chân đuôi, giúp dễ nhận biết loài này Bụng của chúng có màu trắng đục theo mô tả của Nguyen et al (2011), xác định chính xác các đặc điểm phân loại của hàu này.
Thông tin khác về mẫu: Mẫu vật được thu vào khoảng 9h30, ở ven đường mòn có nhiều lá khô, trong rừng phục hồi
Hình 4.4 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti
This article covers a diverse range of scientific topics, including the classification of various species and their anatomical features It highlights the importance of understanding different taxa such as Colubridae and Natricidae, as well as their distinctive characteristics like elapids and colubrids The content delves into the morphology and physiology of amphibians and reptiles, discussing elements like amphibian anatomy, skull morphology, and specialized gland structures such as parotids Furthermore, it explores various biological concepts including pseudoxenodontine and viperid snakes, with a focus on their evolutionary relationships and venom mechanisms Additionally, the article references groups like Platysternidae, Bufonidae, Megophryidae, Microhylidae, Dicroglossidae, Rhabdophoridae, and Geomyidae, emphasizing their ecological roles and adaptations within their respective habitats.
Phạm Thế Cường và cộng sự Nghiên cứu này
2 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)
Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu đực KNT.19.30 (SVL 685,2 mm, TaL
303 mm) Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của
Các nguồn như Smith (1943), Nguyễn Văn Sáng (2007), Ngô Đắc Chứng và Dương Đức Lợi (2016) mô tả đặc điểm hình thái của loài này: Dài đầu 20,2 mm, rộng đầu 9,6 mm, đầu phân biệt rõ ràng với cổ, dài tấm gian mũi 1,9 mm, dài tấm trước trán 2,5 mm, DSR 15-11-11 và bề mặt trơn nhẵn Vảy bụng gồm 201 chiếc, vảy đuôi chia đôi với tổng cộng 145 chiếc, vảy hậu môn chia rõ Môi trên có 9 tấm, tấm thứ 3,4,5 tiếp giáp mắt bên trái, tấm 4,5,6 tiếp giáp mắt bên phải, trong đó tấm thứ 5/6 là lớn nhất Môi dưới gồm 9 tấm, trong đó có 4 tấm tiếp giáp tấm sau cằm trước, 1 tấm nằm trước ổ mắt, 2 tấm sau ổ mắt, 2 tấm thái dương trước và 2/3 tấm thái dương sau.
Mẫu sống có màu sắc nổi bật, với mặt lưng vàng nâu đặc trưng Đặc điểm nổi bật là đường đen chạy từ mõm qua mắt đến bên gáy, giúp nhận diện dễ dàng loài này Ngoài ra, có một đường vàng nhạt viền đen chạy dọc theo sườn, tạo điểm nhấn độc đáo cho mẫu Môi, họng và bụng của mẫu có màu vàng rất nhạt, góp phần làm nổi bật tổng thể ngoại hình của chúng.
Mẫu vật bị chết do xe cán trên đường, phản ánh một số đặc điểm sinh thái của khu vực Hệ sinh cảnh xung quanh chủ yếu là rừng trồng keo, với nhiệt độ môi trường duy trì khoảng 27,0°C và độ ẩm đạt 65,0%, tạo điều kiện phù hợp cho sự phát triển của các loại cây trồng và sinh vật trong khu vực.
Thức ăn của loài là ếch nhái, thằn lằn và chim nhỏ (theo Nguyễn Văn Sáng, 2007)
Loài này phân bố rộng khắp tại Việt Nam, từ Điện Biên đến Cà Mau, đảm bảo khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau Ngoài ra, trên thế giới, chúng còn có mặt tại các quốc gia như Ấn Độ, Nê-pan, Trung Quốc và các khu vực Đông Nam Á, thể hiện tầm ảnh hưởng đáng kể của loài này trên phạm vi toàn cầu (Nguyen et al.).
2009) Loài ghi nhận phân bố mới cho KVNC
Hình 4.5 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Ảnh: Hà Văn Nghĩa)
3 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998)
Mẫu vật nghiên cứu gồm 01 mẫu cái (KNT.19.34) có đặc điểm hình thái phù hợp với mô tả của Ziegler et al (2007), với kích thước SVL 985 mm và TaL 380 mm Đầu dài hơn rộng (HL 23,32 mm, HW 13,2 mm), mắt to hình bầu dục, tấm thái dương trước 2/2, tấm sau thái dương 3/3, vảy môi trên 8/8 và vảy môi dưới 10/10, cùng hàng vảy thân đặc trưng.
23:15:15, vảy bụng 270; vảy dưới đuôi 145; kép
Màu sắc của mẫu sống gồm đầu và thân có màu nâu đỏ, nổi bật với các khoang màu đỏ đen phía trước thân Khi di chuyển về cuối thân, các khoang này trở nên mờ nhạt và không rõ ràng, tạo nên vẻ ngoài đa dạng và hấp dẫn Bụng của mẫu sống có màu vàng nhạt, làm tăng sự sinh động và thu hút của loài này trong môi trường tự nhiên.
Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật được thu khi đang trườn trên mặt đất rừng ở rừng thứ sinh tự nhiên
Hình 4.6 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis
4 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827)
Mẫu vật nghiên cứu gồm 1 mẫu đực (KNT.19.36) với đặc điểm hình thái phù hợp với mô tả của Hoàng Xuân Quang và cộng sự (2012), bao gồm chiều dài SVL 925 mm và chiều dài đuôi 180 mm Đầu dài, rõ ràng phân biệt với cổ; mắt trung bình, con ngươi tròn; lỗ mũi nằm giữa tấm mũi chia và có tấm mõm rộng hơn cao, có thể thấy phần từ phía trên Tấm gian mũi nhỏ hơn hai tấm trước trán; tấm trán dài hơn rộng, chạm vào tấm trước mắt tại một điểm Ngoài ra, mẫu vật có một tấm má dài hơn cao, nằm trên tấm mép trên thứ hai và thứ ba; tấm trước mắt cao, còn hai tấm sau mắt Tấm thái dương gồm 2 + 2 tấm, và có tổng cộng 9 tấm mép trên, trong đó tấm thứ 4 đặc biệt nổi bật.
Hình dạng và đặc điểm của các tấm mô tả rõ ràng trong bài, với 5 và 6 chạm mắt, 10 tấm mép dưới mỗi bên, trong đó 4 tấm đầu tiên chạm vào tấm sau cằm Tấm cằm có hình tam giác nhỏ hơn so với tấm mõm, và có 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất lớn hơn và tiếp xúc nhau, trong khi cặp thứ hai được phân cách bởi 1 + 2 vảy họng Vảy thân gồm 19 hàng, có gờ yếu trừ hàng ngoài cùng nhẵn, cùng với 227 vảy bụng, 60 vảy dưới đuôi kép, và tấm hậu môn còn nguyên Thân và đầu có màu nâu hồng, xung quanh mắt có 3 vệt đen nhỏ gồm 2 vệt chạy xuống môi và 1 vệt chạy ra sau, kết nối với vòng đen ở phía bên gáy Phần lưng màu nâu xám hay xám, với 4 sọc đen chạy dọc tới quá nửa thân, trong đó 2 sọc ở giữa lưng lớn, liên tục, còn 2 sọc bên mảnh hơn và đứt đoạn Bụng có màu vàng nhạt, tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của loài.
Phân bố: Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước
Hình 4.7 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus
5 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis (Pope, 1928)
Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu đực KNT19.35 (SVL 470,0 mm, TaL 130,0 mm) Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của
Bourret (1936), Nguyễn Văn Sáng (2007), Vogel et al (2009), Luu et al (2013b),
Các tác giả Nguyễn et al (2016), Pham et al (2017), Nguyễn et al (2018) mô tả đặc điểm giải phẫu của loài với thân dài, đầu phân biệt rõ ràng với cổ Cơ thể có hai tấm thái dương phía trước và ba tấm phía sau, cùng với một tấm má không chạm mắt và một tấm phía trước ổ mắt Về phần môi, môi trên có 8 tấm, trong đó tấm thứ 3, 4, 5 tiếp giáp với mắt, tấm số 6 là lớn nhất; môi dưới gồm 10 tấm, 5 tấm tiếp giáp với tấm sau của cằm DSR của loài là 17-17-15, với bề mặt trơn, có tấm bụng, tấm hậu môn đơn và vảy dưới đuôi.
Màu sắc mẫu sống: Màu sắc màu xám đen có 19 vòng trắng quanh thân, có
14 vòng trắng quanh đuôi, bụng màu trắng đục
Mẫu vật được thu vào ban đêm tại ven suối trong khu vực rừng thường xanh núi đất, từ 19h30 đến 21h20, khi nhiệt độ môi trường dao động từ 22,9 đến 24,1°C và độ ẩm không khí cao từ 88,0% đến 93,0% Các đặc điểm sinh thái của mẫu vật cho thấy nó thích nghi với môi trường ven suối có khí hậu ẩm ướt và điều kiện nhiệt độ nhẹ nhàng vào ban đêm.
Loài này phân bố rộng rãi tại Việt Nam, từ Lào Cai đến Đà Nẵng, và còn có mặt ở nhiều quốc gia châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Myanmar, Lào, Nhật Bản, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyen et al (2009, 2016) và Vogel et al (2009) Gần đây, loài còn được ghi nhận phân bố mới, mở rộng phạm vi địa lý của nó trong khu vực.
Hình 4.8 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis
6 Rắn khuyết lào Lycodon laoensis (Günther, 1864)
Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu cái kí hiệu thực địa KNT 19.42
Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC
4.3.1 Phân bố các loài bò sát theo đai cao
Có 20 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao dưới 400 m như: Thạch sùng đuôi sần, Hemidactylus frenatus, Ô rô vẩy Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám
Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus…
Có 25 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao từ 400 - 800m như: Ô rô vẩy
Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus, Rắn khiếm Trung Quốc Oligodon chinensis, Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysargos…
Có 5 loài bò sát được ghi nhận từ độ cao trên 800 m: Thạch sùng ngón giả bốn vạch Cyrtodactylus cf pseudoquadrivirgatus, Gekko reevesii, Rắn roi thường
Ahaetula prasina, Rắn lệch đầu hồng Lycodon rosozonatus, Rắn hổ xiên tre
Pseudoxenodon bambusicola Độ cao từ 400 – 800 m có mức độ đa dạng về loài với 25 loài bò sát ( so với
Trong đợt nghiên cứu này, đã ghi nhận 31 loài bò sát, cho thấy độ cao này phù hợp cho sự phát triển của nhiều loài Trong khi đó, tại độ cao 800 mét, chỉ có 5 loài bò sát được ghi nhận, có thể do điều kiện điều tra hạn chế và diện tích khu vực trên 800 mét không nhiều, dẫn đến số lượng loài được phát hiện còn chưa đầy đủ.
Hình 4.20 Phân bố các loài bò sát theo đai cao
4.3.1.2 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao
Dưới độ cao dưới 400 mét tại Khu vực Nước Nấm, các loài ếch nhái phong phú với tổng cộng 11 loài được ghi nhận Trong đó, các loài phổ biến bao gồm Nhái bầu hây môn (Microhyla heymonsi) và Nhái bầu vân (Microhyla pulchra) Phân tích số liệu cho thấy sự phân bố đa dạng của ếch nhái tại khu vực này, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và nghiên cứu đa dạng sinh học của vùng.
Từ 400 - 800m có 15 loài được ghi nhận gồm các loài như Ếch nhẽo
Limnonectes bannaensis, Ếch lim-boc Limnonectes limborgi, Ếch poa-lan
Limnonectes poilani, Cóc mắt bên Megophrys majo…
Từ độ cao 800m có 2 loài được ghi nhận gồm Ếch gai sần Quasipaa verrucospinosa, Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale
Ta thấy được độ cao từ 400 - 800 m thì số loài ghi nhận được nhiều nhất với
Trong đợt điều tra này, đã ghi nhận 15 trong tổng số 19 loài ếch nhái, cho thấy môi trường cao này là nơi phù hợp để nhiều loài ếch nhái sinh sống Điều này phản ánh tính đa dạng sinh học phong phú của khu vực, góp phần quan trọng vào các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu loài bản địa Các loài ếch nhái phát triển tốt tại môi trường cao, mở ra tiềm năng nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và sinh trưởng của chúng.
Sốloài Độ cao trên 800 m ghi nhận được số loài ít nhất với 2 loài do thời gian ít và sinh cảnh ở đây đi lại điều tra khó khăn
Hình 4.21 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao
4.3.2 Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh
Các tác giả khác nhau đã có cách phân chia sinh cảnh phù hợp với đối tượng và khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, dựa trên các yếu tố như đất đai, khí hậu và độ cao Trần Ngũ Phương (1970) đề xuất bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam dựa trên các yếu tố này, trong khi UNESCO (1973) phân chia thảm rừng thành hai lớp quần hệ chính Thái Văn Trừng (1999) tập trung vào các kiểu thảm thực vật khác nhau, còn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện các phân loại phù hợp với đặc điểm sinh thái vùng miền.
Trong nghiên cứu về đa dạng sinh học và phân loại các dạng sinh cảnh tại Việt Nam, Vũ Tấn Phương và cộng sự (2012) đã phân chia thành 10 kiểu rừng khác nhau, trong khi đó, theo quan điểm của Lê Nguyên Ngật (2003) trong "Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học," các dạng sinh cảnh được phân chia dựa trên đối tượng nghiên cứu, điều kiện tự nhiên như địa hình và thảm thực vật, cũng như mức độ tác động của con người Dựa trên các tiêu chí này, chúng tôi chia khu vực tự nhiên và cảnh quan (KVNC) thành ba sinh cảnh chính gồm: vùng dân cư và đất nông nghiệp như ao, vườn quanh nhà, đất canh tác; rừng thứ sinh đang phục hồi như rừng sau nương rẫy, sau cháy hoặc rừng bị khai thác mạnh, cây bụi; và rừng thường xanh ít chịu tác động, bao gồm rừng giàu, rừng cây lá rộng và rừng hỗn giao thường xanh.
4.3.2.1 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh
Dựa trên biểu đồ hình 4.22, có thể thấy rằng loài bò sát phân bố nhiều nhất ở dạng sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động, với tổng số 25 loài chiếm 50% tổng số loài bò sát trong khu vực Điều này cho thấy môi trường rừng thường xanh đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng loài bò sát và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên.
Sốloài bò sát tại KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng giàu chủ yếu ở các tiểu khu như 517,
Sinh cảnh này ghi nhận đa dạng các loài bò sát như Rồng đất, Thạch sùng ngón giả bốn vạch, Tắc kè và Rắn lục cườm, chứng tỏ môi trường này phù hợp để các loài bò sát sinh sống và phát triển Các loài bò sát này tận dụng các đặc điểm của sinh cảnh để thích nghi, phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên Nhờ vào sự đa dạng sinh học này, sinh cảnh trở thành nơi lý tưởng cho sự tồn tại và phát triển của nhiều loài bò sát khác nhau.
Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi tại Khu bảo tồn thiên nhiên, ghi nhận sự hiện diện của 16 loài bò sát, chiếm khoảng 32% tổng số loài bò sát trong khu vực Đây chủ yếu là khu vực rừng phục hồi tại các tiểu khu như 523, 527, và các khu vực lân cận Các loài bò sát phổ biến được ghi nhận trong sinh cảnh này bao gồm Thằn lằn bóng đuôi dài, Thằn lằn phê nô ấn độ và Rắn nhiều đai, cho thấy sự đa dạng sinh học phong phú trong khu vực.
Sinh cảnh ghi nhận số loài bò sát ít nhất là khu dân cư và đất nông nghiệp, với chỉ 7 loài chiếm 14% tổng số loài bò sát tại KDTTN Đây là các sinh cảnh chủ yếu phân bố các loài bò sát phổ biến như thằn lằn bóng đuôi dài, rắn sọc dưa, ô rô vảy, góp phần duy trì đa dạng sinh học của khu vực.
Hình 4.22 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh tại KVNC
4.3.2.2 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh
Dựa trên biểu đồ hình 4.23, sinh cảnh rừng thường xanh ghi nhận nhiều loài ếch nhái nhất, với 19 loài chiếm 38% tổng số loài ếch nhái trong khu bảo tồn thiên nhiên Các loài ếch nhái phổ biến ở sinh cảnh này bao gồm Cóc mắt bên, Ếch gai sần, Ếch cây trung bộ, thể hiện rằng đây là môi trường phù hợp nhất để các loài ếch nhái sinh sống và phát triển.
Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động
Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi ghi nhận 16 loài ếch nhái, chiếm 32% tổng số loài ếch nhái của khu dự trữ thiên nhiên; các loài được ghi nhận bao gồm Hiu hiu, Ếch cây oóc-lốp, Chàng mẫu sơn và nhiều loài khác, thể hiện sự đa dạng và sự phục hồi sinh thái tích cực của vùng rừng thứ sinh này.
Sinh cảnh ghi nhận ít loài ếch nhái nhất là khu dân cư và đất nông nghiệp, chiếm khoảng 12% tổng số loài ếch nhái của khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm các loài như ếch cây đầu to, chẫu chuộc, ngóe Do nằm gần khu dân cư, sinh cảnh này dễ bị tác động bởi hoạt động của con người, ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài ếch nhái Các hoạt động khai thác và buôn bán ếch nhái làm thức ăn vẫn diễn ra diễn ra, vì vậy phần lớn các loài ghi nhận tại sinh cảnh này đều là các loài phổ biến, dễ bắt gặp.
So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam
Để đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài của bò sát và ếch nhái giữa các khu bảo tồn lân cận có sinh cảnh tương tự với khu động thái Động Châu - Khe Nước Trong, chúng tôi dựa vào dữ liệu thành phần loài từ ba khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, gồm KBTTN Bắc Hướng Hoá theo Nguyen Thanh Luan et al (2016) và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng theo Luu et al., nhằm xác định mức độ đa dạng và sự tương đồng về loài trong các khu bảo tồn này.
(2013), VQG Cúc Phương theo Nguyễn Huy Quang và cs (2018)
Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động
Kết quả đánh giá cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có đa dạng thành phần loài lớn hơn so với KBTTN Bắc Hướng Hoá, nhưng vẫn kém đa dạng hơn so với VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, điều này phù hợp với diện tích rộng hơn và số lượng nghiên cứu nhiều hơn ở các VQG này Các phân tích chỉ số Sorensen-Dice cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có mức độ tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái cao nhất với VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (djk = 0,51), và thấp nhất với KBTTN Bắc Hướng Hóa (djk = 0,39) Sự khác biệt này có thể do KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cùng nằm trong cùng khu vực địa lý và thuộc cùng tỉnh, đồng thời các nghiên cứu về thành phần loài tại KBTTN Bắc Hướng Hóa còn hạn chế, khiến dữ liệu chưa phản ánh đầy đủ thực tế đa dạng sinh học của khu vực này.
Bảng 4.3 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) về đa dạng loài bò sát, ếch nhái giữa một số KBTTN và VQG Địa điểm Động Châu-Khe
Bắc Hướng Hoá Động Châu-Khe
KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, Vườn Quốc gia Cúc Phương và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tạo thành một nhánh các khu vực gần nhau về mặt địa lý hoặc đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, góp phần vào hiểu biết về đa dạng sinh học địa phương Tuy nhiên, khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa vẫn chưa thực hiện nhiều nghiên cứu về bò sát và ếch nhái, làm nổi bật nhu cầu bổ sung dữ liệu sinh học tại khu vực này.
Hình 4.24 thể hiện sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái theo nhóm giữa các khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG) tại Việt Nam Dữ liệu này giúp đánh giá mức độ đa dạng sinh học và mối liên hệ giữa các khu bảo tồn, qua đó hỗ trợ công tác quản lý và bảo vệ các loài động vật có khả năng bị đe dọa Các phân tích dựa trên giá trị gốc nhánh và số lần nhắc lại đạt 1000, cung cấp nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu về hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu vực này.
Ghi chú: BHH: Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá;PNKB: VQG Phong Nha -
Kẻ Bàng; CP: VQG Cúc Phương; DC-KNT: KDTTN Động Châu - Khe Nước
Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa
4.5.1 Đánh giá tình trạng bảo tồn
Trong số 83 loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận tại khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Kẻ Nhan, có 14 loài quý hiếm và đặc hữu, chiếm tỷ lệ 16,86% tổng số loài Trong đó, có 8 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, chiếm 57,14% số loài quý hiếm và đặc hữu ghi nhận được, bao gồm 2 loài ở mức độ cực kỳ nguy cấp (CR) và 3 loài nguy cấp (EN), thể hiện tầm quan trọng của việc bảo tồn các loài động vật đặc hữu và quý hiếm trong khu vực.
Trong báo cáo này, có 03 loài bậc VU (Sẽ nguy cấp), chiếm 50% số loài quý hiếm và đặc hữu được ghi nhận theo IUCN 2020, trong đó có 01 loài bậc CR (Rất nguy cấp) và 03 loài bậc EN (Nguy cấp) Ngoài ra, có 07 loài nằm trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP, chiếm 50% tổng số loài quý hiếm và đặc hữu ghi nhận được; trong đó, nhóm IB bao gồm 01 loài thuộc danh mục cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo phụ lục I của Công ước CITES, còn nhóm IIB gồm 06 loài hạn chế khai thác theo phụ lục II của CITES Đặc biệt, có 03 loài đặc hữu Việt Nam, chiếm 21,42% tổng số loài quý hiếm, đặc hữu được ghi nhận, góp phần nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo vệ sinh vật đặc hữu quốc gia.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận chỉ có 5 trong số 14 loài bò sát và ếch nhái quý hiếm, bao gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to và Tắc kè Các loài quý hiếm còn lại đã được ghi nhận bởi Phạm Thế Cường và cộng sự (2019).
Các loài động vật như Liu điu xanh, Nhái cây bà nà, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang trung quốc, Rắn sọc đốm đỏ, Rùa hộp bua-rê, Rùa sa nhân, Trăn đất và Trăn gấm thể hiện mức độ hiếm có cao tại khu vực KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Sự hiện diện của các loài này cho thấy chúng đang ngày càng khan hiếm và cần được bảo vệ nghiêm ngặt để duy trì đa dạng sinh học của khu vực Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bảo tồn các loài đặc hữu và nguy cấp trong vùng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên ngày càng đa dạng và phong phú.
Bảng 4.4 Tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC
2 Tắc kè Gekko gecko VU
3 Liu điu xanh Takydromus hani VN
4 Trăn đất Python molurus CR VU IIB
5 Trăn gấm Python reticulatus CR IIB
6 Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis porphyraceus VU
7 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus EN
Rắn hổ mang trung quốc Naja atra
9 Rùa đầu to Platysternon megacephalum EN EN IB
10 Rùa hộp bua-rê Cuora bourreti (C galbinifrons) EN CR IIB
11 Rùa sa nhân Cuora mouhotii
12 Rùa bốn mắt Sacalia quadriocellata EN IIB
13 Nhái cây bà nà Kurixalus banaensis VN
14 Nhái cây trường sơn Philautus truongsonensis DD VN
4.5.2 Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC
Kết quả phân tích và tổng hợp dữ liệu cho thấy, trong nghiên cứu tại 17 tiểu khu rừng, tiểu khu 516 và 517 ghi nhận số lượng loài bò sát, ếch nhái nhiều nhất, với mỗi tiểu khu có tới 29 loài Điều này chiếm khoảng 51,8% tổng số loài ghi nhận được trong toàn bộ khu vực nghiên cứu, phản ánh mức độ đa dạng sinh học cao của hai tiểu khu này.
Tiếp theo là các tiểu khu 533, 534, 535 ghi nhận được lần lượt 26, 24, 20 loài bò sát, ếch nhái (xem hình 4.25 và bảng 4.5)
Hình 4.25 So sánh các loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được tại các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong
Các tiểu khu còn lại đều ghi nhận dưới 10 loài ở mỗi tiểu khu, (chi tiết về số loài ghi nhận ở mỗi tiểu khu xem hình 4.6 và phụ lục 4)
Dựa trên các ghi nhận về 05 loài quý, hiếm, bao gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to, Tắc kè, cùng với các loài bò sát và ếch nhái khác tại các tiểu khu rừng KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong, chúng tôi đã tiến hành phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn Các khu vực này được phân loại dựa trên các tiêu chí đề xuất trong bảng 4.5, thành 04 cấp độ gồm CAO, TRUNG BÌNH, THẤP, và CHƯA RÕ (chưa đủ dữ liệu để đánh giá) Việc phân vùng này giúp xác định các vùng cần ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái quan trọng để bảo vệ đa dạng sinh học trong khu vực.
Số loài ghi nhận cao nhất/TK
Số loài ghi nhận/TK
Số loài ghi nhận ít nhất/TK
Bảng 4.5 Tiêu chí đề xuất xếp hạng khu vực ưu tiên bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Cấp độ ưu tiên
Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức cao khi đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí quan trọng sau: đảm bảo sự đa dạng sinh học của các loài bò sát, ếch nhái; có giá trị nghiên cứu, giáo dục đặc biệt; hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Việc xác định các khu vực này giúp tăng cường các biện pháp bảo vệ, bảo tồn bền vững các loài động vật đặc trưng của hệ sinh thái rừng Điều này phù hợp với các nguyên tắc của bảo tồn đa dạng sinh học và hướng tới duy trì cân bằng sinh thái tự nhiên.
1 Có ít nhất 02 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)
2 Có trên 20 loài bò sát, ếch nhái
Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái khi đạt mức trung bình dựa trên ít nhất một trong các tiêu chí đề ra Việc xác định vùng bảo tồn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Các tiêu chí này giúp định hướng các hoạt động bảo tồn phù hợp nhằm duy trì và phục hồi các loài động vật đặc hữu Việc phân vùng ưu tiên bảo tồn góp phần nâng cao khả năng bảo vệ các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực này.
1 Có 01 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)
2 Có từ 11 đến dưới 20 loài bò sát, ếch nhái
Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức THẤP khi đáp ứng 02 (hai) tiêu chí sau:
1 Không có loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)
2 Có dưới 11 loài bò sát, ếch nhái
Hiện tại, chưa rõ các tiểu khu có đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá chính xác về đa dạng sinh học Kết quả phân tích cho thấy các tiểu khu 516, 517, và 533 đạt tiêu chí cấp độ ưu tiên cao do đáp ứng tiêu chí 1 với lần lượt 2, 3, và 3 loài quý hiếm, đặc hữu Ngoài ra, các khu này đều ghi nhận số lượng lớn loài bò sát và ếch nhái, lần lượt là 29, 29, và 26 loài, thể hiện tầm quan trọng của các tiểu khu này trong bảo tồn đa dạng sinh học.
Trong khu vực nghiên cứu, có 24 loài đáp ứng tiêu chí cấp độ ưu tiên CAO, chủ yếu là các rừng giàu có hệ thủy dày đặc nằm ở phía Tây của khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong Các tiểu khu 496, 522, 524, 525, 528, 529, 531, 538 được xếp vào nhóm phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái ở cấp độ TRUNG BÌNH, do có ít nhất một loài quý hiếm hoặc đặc hữu Các tiểu khu này chủ yếu nằm ở phía Đông của khu bảo tồn, diện tích rừng trung bình Các tiểu khu còn lại được xếp hạng phân vùng ưu tiên ở cấp độ THẤP, theo bảng 4.6, hình 4.26 và phụ lục 4 Việc đề xuất phân khu ưu tiên bảo tồn giúp các đơn vị chức năng và quản lý nắm rõ tình hình phân bố của các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực nhằm xây dựng chính sách và biện pháp bảo vệ các loài quý hiếm, góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.
Bảng 4.6 Số loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được phân theo các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong
Các loài quý hiếm, đặc hữu
Số loài thông thường khác 1
1Loài thông thường là loài không có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN
2020, Nghị định 06/2019/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và không phải loài đặc hữu
Hình 4.26 Bản đồ phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch
4.5.3 Các nhân tố đe dọ a
Mặc dù công tác quản lý bảo vệ rừng và thi hành pháp luật tại khu vực Động Châu - Khe Nước Trong đã được thực hiện nghiêm túc và quyết liệt, nhưng do khu vực xung quanh chủ yếu là dân tộc Vân Kiều và điều kiện kinh tế, sinh sống còn nghèo, người dân phụ thuộc vào tài nguyên rừng, nên các hoạt động khai thác trái phép vẫn thường xuyên xảy ra Qua điều tra, nghiên cứu và phỏng vấn, các cán bộ cùng người dân địa phương cho biết, các mối đe dọa chính đối với hệ sinh thái bò sát, ếch nhái của khu vực là do hoạt động săn bắt, khai thác trái phép và tác động của hoạt động con người Các vấn đề này cần được tăng cường quản lý, tuyên truyền và thực thi pháp luật nhằm bảo vệ đa dạng sinh học khu vực một cách hiệu quả. -**Sponsor**Looking to refine your article and ensure it's SEO-friendly? It sounds like you need a way to efficiently extract the most important sentences and rewrite them cohesively With [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/EPAViWHT?user_id=983577), you can instantly create SEO-optimized articles up to 2,000 words! Imagine saving over $2,500 a month by automating content creation, making it easier to manage and improve your existing articles without the usual hassle of hiring writers.
Hoạt động săn bắt, buôn bán và tiêu thụ trái phép động vật hoang dã là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy giảm các quần thể động vật trong khu vực đất ngập nước, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái Nguy cơ đe dọa lớn nhất đối với đa dạng sinh học ở đây chính là tình trạng săn bắt trái phép, nếu không được kiểm soát và ngăn chặn kịp thời sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Hình 4.27 ghi lại cảnh người dân Lâm Thủy đang chuẩn bị nướng hai cá thể Rồng đất, thể hiện rõ hoạt động phi pháp này gây ảnh hưởng đến các quần thể động vật địa phương.
Hình 4.27 Săn bắt các loài bò sát ếch nhái làm thực phẩm tại Lâm Thủy