--- NGUYỄN NGỌC MAI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VÀO TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI Chu
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan tới việc thành lập KBT và VQG
Trong nhiều thập kỷ qua, rừng trên thế giới bị xâm hại khiến diện tích rừng bị thu hẹp và chất lượng rừng bị suy giảm (theo Bùi Minh Tân, 2009) Cộng đồng quốc tế đã triển khai nhiều biện pháp bảo tồn và công tác bảo vệ rừng đã trở thành một vấn đề bức xúc.
Các quy định pháp luật ngày càng hoàn thiện và công tác đầu tư vào phương tiện, thiết bị cùng nguồn nhân lực được đặc biệt quan tâm nhằm tăng cường quản lý và bảo vệ rừng Tuy nhiên, dù có nhiều cố gắng, rừng vẫn bị tàn phá và tình trạng này đang có xu hướng gia tăng.
Vào năm 1872, Vườn quốc gia Yellowstone được thành lập tại Hoa Kỳ, đánh dấu vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới Dựa trên mô hình quản lý này, nhiều khu bảo tồn và vườn quốc gia ở các nước khác cũng áp dụng phương thức ngăn cấm người dân địa phương tiếp cận và khai thác tài nguyên trong khu vực bảo tồn Chính sách này gây ra nhiều hậu quả và nảy sinh mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và mục tiêu bảo tồn, khiến quyền sinh kế của người dân bị hạn chế và hiệu quả bảo tồn có thể không đạt được như mong đợi.
Ở các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp, vì để duy trì sự đa dạng sinh học khiến người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNR), trong khi sự phụ thuộc của họ vào rừng lại rất lớn (Lê Sỹ Trung).
2005 [26] cho thấy các KBT và VQG được thành lập chủ yếu nhằm mục đích quốc gia, nhưng ít chú ý đến nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương.
Tại hội nghị Liên hiệp quốc tế và Môi trường và phát triển bền vững tại Rio
Vào tháng 6 năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brasil, vấn đề phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã được chính thức công nhận Hội nghị đã đề ra một kế hoạch hành động nhằm cải thiện sinh kế của người dân dựa trên việc duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai cùng với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác (Trần Ngọc Lan, 1999) [13].
Những nghiên cứu của cộng đồng quốc tế từ đầu thập kỷ 80 nhằm nỗ lực nới lỏng chiến lược bảo tồn đã chỉ ra một hướng đi mới: liên kết quản lý khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG) với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương Mô hình này được khẳng định có tính ưu việt khi nhấn mạnh sự tham gia bình đẳng của cộng đồng, dựa trên nền tảng tôn trọng văn hóa trong quá trình ra quyết định Chiến lược bảo tồn như vậy vừa đảm bảo sinh thái vừa nâng cao đời sống địa phương, thúc đẩy sự đồng thuận và hiệu quả thực thi các nhiệm vụ bảo tồn nhờ gắn kết thực tiễn sinh kế của người dân sống quanh khu vực bảo tồn.
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG) khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân không chỉ được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà còn được công nhận là chủ hợp pháp của VQG và tham gia quản lý thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn bó với săn bắt cổ truyền [18].
1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBT và VQG Ở Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Lý do để khuyến khích sự tham gia này là nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [26]
Trong tác phẩm “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” của Gadgil và V.P Vartok (1976), các lùm cây thiêng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha được người dân địa phương bảo vệ như di sản của rừng tự nhiên và người dân không được khai thác bất kỳ sản phẩm nào từ chúng; mặc dù đã bị cấm, thực tế vẫn có trường hợp dân vào rừng khai thác gỗ trái phép và một số sản phẩm như cây thuốc, lá rụng, gỗ khô vẫn xuất hiện, cho thấy vai trò của những lùm cây thiêng trong hệ sinh thái và bảo tồn Ở Thái Lan, hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây tập trung vào quyền sở hữu và kiểm soát của Nhà nước mà bỏ qua tương tác giữa con người và nguồn tài nguyên, dẫn đến thất bại trong công tác bảo vệ rừng khi tỉ lệ phá rừng vẫn ở mức cao; một nghiên cứu tại vùng đệm của khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio ở Đông Bắc Thái Lan đề xuất một phương pháp quản lý mới dựa trên sự tham gia của cộng đồng địa phương nhằm bảo tồn bền vững.
Kết quả thảo luận cho thấy có cơ hội nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên nhiên, từ đó hình thành những cách quản lý nguồn tài nguyên hiệu quả và bền vững hơn trong tương lai [31].
Cũng tại Thái Lan, trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: Đồng quản lý rừng ở Thái Lan” của Poffenberger, M và McGean, B( 1993) đã có nghiên cứu điểm tại
VQG Dang Yai ở Đông Bắc và khu bảo hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan cho thấy sự tham gia tích cực của cộng đồng trong công tác bảo tồn và quản lý rừng Tại Dang Yai, nhờ phối hợp với cục lâm nghiệp Hoàng gia, người dân đã tự tổ chức các hoạt động bảo tồn và xây dựng hệ thống quản lý rừng nhằm đảm bảo ổn định môi trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của họ trong khu vực Tại Nam Sa, cộng đồng địa phương đã chứng minh được năng lực quản lý rừng phòng hộ và khẳng định sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên rừng nếu có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực từ phía chính phủ.
Trong tác phẩm “Thay đổi và NLKH bản địa” của Colfer C.J.P (1980) tại Đông Kalimamtan Qua nghiên cứu việc thu hái lâm sản phụ của người dân địa phương, tác giả đã nhận định rằng những sản vật đó được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được Tuy nhiên, những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007) [27, tr.8]
Các tác giả Dorji, D.C.Chavada, B.Thinley và Wangchuks lại cho rằng:
Rừng là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp gỗ củi, chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996) [27]
Trong thập niên 1990, Nick Salafky và các đồng sự thuộc Biodiversity Support Program ở Washington, DC cho rằng các nhà bảo tồn đã phát triển một cách tiếp cận mới nhằm kết hợp lợi ích kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học Những chiến lược này dựa trên thực hiện các hoạt động sinh kế gắn liền với bảo tồn, nhấn mạnh mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và người dân địa phương Các chủ thể địa phương có cơ hội hưởng lợi trực tiếp từ hệ sinh thái, từ đó hạn chế các tác nhân gây hại từ bên ngoài và tăng hiệu quả bảo tồn Sinh kế sẽ hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học chứ không cạnh tranh với nó, đồng thời chiến lược này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn Ngoài ra, các nhà bảo tồn có thể giúp người dân khai thác lâm sản ngoài gỗ hoặc phát triển du lịch sinh thái.
Tại Việt Nam
1.2.1 Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến rừng đặc dụng
Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển các khu RĐD (rừng đặc dụng) Hiện nay, hệ thống KBTTN của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng, bao gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học, cùng 3 khu bảo tồn biển, chứa đựng các hệ sinh thái và cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho các hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển, được xây dựng trên khắp các vùng miền cả nước [23].
Tháng 7 năm 1962, theo Quyết định số 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ, khu rừng cấm Cúc Phương được thành lập với diện tích 25.000 ha Trong những năm sau đó, Chính phủ tiếp tục ban hành các quyết định thành lập thêm các khu rừng cấm khác, như Nam Cát Tiên (1978), và mở rộng hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) để bảo vệ đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của đất nước.
Rây - Ngọc Linh (1982); VQG Côn Đảo (1984); VQG Cát Bà (1987); VQG Yokdon (1991); KBTTN đất ngập nước Xuân Thủy (1994); KBTTN Tràm Chim Tam Nông (1994) cho thấy danh sách các khu bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng, đóng vai trò chủ lực trong bảo vệ môi trường và ĐDSH toàn cầu Bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực, các khu bảo tồn này đang đối mặt với suy giảm ĐDSH do tác động của nhiều yếu tố.
Công tác bảo tồn phải được thực thi trên cơ sở các quy định pháp luật Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) được sửa đổi và ban hành ngày 03/12/2004, Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban Quản lý (BQL) xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sống trong các khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG).
Vào năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; tại văn bản này, quản lý RĐD được quy định rất rõ [3].
Rừng đăc dụng bao gồm các loại: VQG, KBTTN, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học [22, tr.45]
Trong VQG và KBTTN được chia thành 3 phân khu chức năng chính sau:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu dịch vụ - hành chính [22, tr.7]
VQG và KBTTN phải xây dựng vùng đệm liền kề, là vùng rừng, đất liền hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát biên giới với VQG và KBTTN; vùng đệm có thể bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn giáp ranh Vùng đệm được xác lập để ngăn chặn và giảm nhẹ sự xâm hại của con người đối với VQG và KBTTN Ban quản lý RĐD tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia bảo vệ, bảo tồn, khai thác lâm sản và các tài nguyên tự nhiên một cách hợp lý, đồng thời phát triển các dịch vụ du lịch sinh thái để tăng thu nhập và gắn sinh kế của người dân với hoạt động của khu rừng đặc dụng.
1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ người dân và TNR
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học và quản lý đã chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG) theo quan điểm bảo tồn - phát triển Họ tiến hành nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương, hướng tới cân bằng giữa bảo vệ hệ sinh thái và cải thiện đời sống cộng đồng.
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
Trong nghiên cứu năm 1997 về sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương đối với rừng, các tác giả cho thấy diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng do khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như tre, nứa, nấm, cây dược liệu và động vật hoang dã Những nguồn lâm sản này được xem là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân địa phương, khiến áp lực lên rừng ngày càng lớn và nhấn mạnh nhu cầu quản lý bền vững để bảo vệ hệ sinh thái rừng [8].
Nguyễn Bá Thụ (1997) đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ các khu bảo tồn ở Việt Nam, nhấn mạnh rằng các vấn đề tồn tại ở vùng đệm gồm nâng cao đời sống của người dân vùng đệm, chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi và gỗ lãng phí; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp và đẩy mạnh thâm canh để nâng cao năng suất cây trồng; nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh; và nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa phương.
Trong Hội thảo quốc gia năm 1999 với chủ đề “Để cuộc sống và môi trường của người dân miền núi được bền vững”, Võ Quý cho rằng để duy trì cuộc sống, nhiều hộ dân sống trong khu bảo tồn buộc phải khai thác tài nguyên tại chỗ, điều này lại mâu thuẫn với mục tiêu bảo vệ nguồn lực tự nhiên Do đó, giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi xem xét các yếu tố kinh tế - xã hội phức tạp và tìm những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao mức sống cho người dân, đặc biệt là người nghèo, đồng thời tăng cường nhận thức về bảo vệ thiên nhiên và môi trường, sử dụng hợp lý đất đai và rừng mà họ có trách nhiệm bảo vệ Người dân cũng cần được trao quyền tham gia quyết định cách khai thác và sử dụng tài nguyên để phù hợp với cuộc sống và sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu của Đỗ Anh Tuân (2001) được thực hiện tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pu Mat cho đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách bảo tồn tới kế sinh nhai của cộng đồng địa phương và thái độ của họ về chính sách bảo tồn” Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân địa phương do sự hưởng lợi từ KBT và mức độ chấp nhận của cộng đồng qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên rừng (TNR) Nghiên cứu đã xác định tỷ trọng thu nhập từ TNR trong tổng thu nhập chung của thôn, nhưng chưa cụ thể cho từng dân tộc Tác giả cho rằng, hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình ở vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình ở vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng.
Việc thành lập KBTTN năm 1997 đã dẫn đến giảm diện tích đất của địa phương từ 30% đến 71,4% và làm mất khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù đã triển khai một số chương trình hỗ trợ tại KBTTN Pù Mát, các chương trình này chưa bù đắp được những mất mát do việc thành lập KBTTN gây ra [32].
Các nghiên cứu đã phân tích và đánh giá sự phụ thuộc của cộng đồng địa phương vào rừng và đất rừng, nhưng chưa đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của người dân lên TNR Một số nghiên cứu gần đây đã nhắc đến vấn đề tác động của cộng đồng địa phương đến TNR, tuy nhiên phạm vi đánh giá vẫn chỉ giới hạn ở tác động của cộng đồng tại vùng đệm quanh các VQG và KBTTN.
Nguyễn Thị Phương (2003) [14] khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì - Hà Tây” đã chỉ ra rằng:
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã định lượng một cách sinh động ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đối với tổng thu nhập của hộ gia đình và làm rõ mối quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố tác động đến khai thác tài nguyên thiên nhiên tại KBTTN Na Hang Thông qua nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR ở khu vực này, kết quả cho thấy cách thức sử dụng lao động, vốn, công cụ và hoạt động sản xuất của hộ gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến mức thu nhập và mức độ khai thác tài nguyên Nghiên cứu nhấn mạnh sự liên kết giữa nguồn lực gia đình và hoạt động khai thác TNR, từ đó phân tích tác động của các yếu tố sản xuất lên khả năng tăng thu nhập và sự bền vững của tài nguyên tại KBTTN Na Hang Các phát hiện này cung cấp cơ sở cho các chiến lược quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế địa phương với trọng tâm vào sự hài hòa giữa thu nhập hộ gia đình và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Những nghiên cứu tại KBT L&SC Mù Cang Chải
Đến nay, KBT L&SC Mù Cang Chải chưa có nghiên cứu cụ thể nào đánh giá tác động của người dân tới TNR của KBT Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu đánh giá hoạt động sử dụng TNR và ảnh hưởng của điều kiện KT-XH lên các hoạt động này, và tập trung phần lớn ở xã Chế Tạo cũng như ở các xã vùng lõi của KBT.
Các báo cáo này nằm trong khuôn khổ dự án Hoàng Liên Sơn, được thực hiện với sự phối hợp giữa Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã quốc tế (FFI Việt Nam) và Chi cục Kiểm lâm Lào Cai.
Báo cáo "Sử dụng tài nguyên hoang dại/bán hoang dại của người dân địa phương và một số vấn đề sinh thái ở xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái" của Phan Thị Anh Đào (2002) phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng dân tộc bản địa và các hệ sinh thái, tập trung vào các hệ sinh thái cung cấp tài nguyên bán hoang dại/hoang dại Đồng thời, nghiên cứu đánh giá mối liên hệ giữa mức độ sử dụng tài nguyên và khả năng phục hồi, tính chống chịu của các hệ sinh thái tự nhiên này Trên cơ sở các kết quả phân tích, bài báo đề xuất các giải pháp cho việc sử dụng bền vững các loại tài nguyên này, kết hợp chặt chẽ với quản lý tài nguyên, bảo vệ sinh cảnh/loài vượn đen dựa trên quản lý có sự tham gia của cộng đồng địa phương [34].
Ngoài ra, các nghiên cứu của Hồ Hữu Nghị (2004) và Nguyễn Hữu Thắng (2002) đã tiến hành phân tích ảnh hưởng của thể chế và chính sách đối với KBT L&SC Mù Cang Chải Đồng thời, họ nhấn mạnh vai trò của điều kiện KT-XH đối với kết quả và hiệu quả của hoạt động KBT L&SC ở địa phương Những kết quả này cho thấy sự liên hệ chặt chẽ giữa thể chế, chính sách và bối cảnh KT-XH với mức độ phát triển và bền vững của KBT L&SC Mù Cang Chải.
Một số kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu
Quan hệ giữa cộng đồng dân cư với công tác bảo tồn ở các khu rừng đặc dụng được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhiều nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ, đồng thời lượng hóa hình thức và mức độ tác động của cộng đồng đến tài nguyên rừng ở một số khu rừng đặc dụng Một nhóm nghiên cứu khác tập trung phân tích mức độ phụ thuộc của người dân vào nguồn lực rừng Tuy vậy, các tiếp cận này mới chỉ dừng ở phân tích các tác động bất lợi và chưa đề cập tới các tác động tích cực từ phía người dân trong công tác bảo tồn Ngoài ra, các nghiên cứu vẫn đưa ra các giải pháp chung chung mang tính định hướng và chưa giải quyết triệt để các mâu thuẫn phát sinh từ thực tế.
Hiện nay, số lượng khu rừng đặc dụng của Việt Nam ngày càng tăng lên, với 164 khu rừng đặc dụng được ghi nhận theo thống kê của IUCN Mỗi khu rừng đặc dụng có đặc trưng riêng về quy mô, sinh thái, phân bố dân cư, và tình hình kinh tế - xã hội cùng phong tục tập quán khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng đồng người dân và các khu rừng đặc dụng nhằm đề xuất các giải pháp thu hút người dân tham gia công tác bảo tồn ở mỗi VQG, KBTTN trên phạm vi cả nước là cần thiết.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của người dân địa phương lên TNR tại KBT L&SC Mù Cang Chải, Yên Bái, thông qua phân tích các tác động và mối quan hệ phụ thuộc của họ vào TNR Bằng cách xem xét thực trạng khai thác, sử dụng đất đai và sinh kế của cộng đồng, bài viết làm rõ các yếu tố gây áp lực lên rừng và các động lực giúp quản lý bền vững Kết quả cho thấy sự phụ thuộc sinh kế và nhu cầu phát triển kinh tế của người dân đòi hỏi các biện pháp can thiệp tích hợp giữa bảo tồn và hỗ trợ sinh kế Trên cơ sở phân tích này, bài viết đề xuất các giải pháp như tăng cường truyền thông, cải thiện công cụ quản lý rừng và thúc đẩy mô hình quản lý rừng cộng đồng nhằm giảm áp lực lên TNR và nâng cao phúc lợi địa phương Những đề xuất này đóng góp cho chính sách bảo tồn và quản trị TNR tại KBT L&SC Mù Cang Chải, Yên Bái.
- Xác định được hình thức và mức độ tác động vào tài nguyên của cộng đồng địa phương đang sử dụng tại KBT;
- Xác định được các nguyên nhân chính dẫn đến tác động tích cực và bất lợi tới TNR;
- Đề xuất được các giải pháp nhằm giảm áp lực tác động của người dân vào các nguồn tài nguyên trong KBT.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác động tích cực và bất lợi của cộng đồng người dân sống tại KBT L&SC Mù Cang Chải, Yên Bái Bài viết phân tích vai trò của người dân đối với sự phát triển kinh tế và văn hóa địa phương đồng thời chỉ ra các thách thức về môi trường và sinh kế do hoạt động của khu bảo tồn gây ra Việc làm sáng tỏ các tác động này giúp làm rõ mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và KBT tại Mù Cang Chải, Yên Bái và từ đó gợi ý các biện pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững cho khu vực.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung xác định các tác động tích cực và bất lợi của cộng đồng dân cư sống bên trong khu bảo tồn (KBT) và vùng đệm đối với công tác TNR tại KBT L&SC Mù Cang Chải, Yên Bái Nghiên cứu làm rõ vai trò của người dân địa phương trong quản lý tài nguyên rừng và đánh giá ảnh hưởng của sinh kế, hoạt động khai thác lâm sản và tập quán sinh hoạt đến quá trình phục hồi rừng và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực này Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp tăng cường tham gia cộng đồng, cải thiện sinh kế bền vững và nâng cao hiệu quả TNR thông qua quản lý thích ứng, giáo dục pháp lý và hỗ trợ chính sách.
Đề tài phân tích các tác động tích cực và bất lợi của TNR ở KBT đối với các hộ gia đình (HGĐ) được phân loại theo mức độ giàu có của địa phương: khá, trung bình (hộ thoát nghèo) và nghèo Nghiên cứu dựa trên kết quả phân loại hộ gia đình do địa phương thực hiện và tham khảo phụ lục 01 để làm rõ các tiêu chí đánh giá và cơ cấu phân loại Kết quả cho thấy mức độ giàu có tác động đến mức độ tiếp cận TNR và các lợi ích nhận được, đồng thời phát sinh một số thách thức và rủi ro khác nhau giữa các nhóm Những phát hiện này gợi ý các biện pháp điều chỉnh ngân sách, chương trình hỗ trợ và chiến lược can thiệp phù hợp với từng nhóm HGĐ nhằm tối ưu hóa tác động tích cực và giảm nhẹ tác động tiêu cực của TNR ở KBT.
- Do cộng đồng người dân sống ở trong KBT và vùng đệm của KBT L&SC
Mù Cang Chải chủ yếu là dân tộc H’mông nên yếu tố dân tộc không ảnh hưởng tới việc phân chia các tác động của người dân tới KBT.
Nội dung nghiên cứu
Điều tra và phân tích các tác động tích cực và bất lợi của TNR đối với KBT và vai trò của TNR đối với kinh tế hộ của cộng đồng địa phương tại KBT là nội dung chính của nghiên cứu này Kết quả cho thấy TNR góp phần kiểm soát mật độ động vật và giảm áp lực lên hệ sinh thái, đồng thời mở ra cơ hội phát triển các hoạt động liên quan đến du lịch sinh thái và dịch vụ giáo dục cộng đồng, từ đó cải thiện thu nhập của hộ gia đình Tuy nhiên, các chi phí triển khai, nhu cầu quản lý và mức độ tham gia của người dân là những thách thức có thể giới hạn tác động tích cực của TNR và gây áp lực lên nguồn lực địa phương Bài viết nhấn mạnh vai trò của TNR trong kinh tế hộ của cộng đồng địa phương tại KBT khi được quản lý có sự tham gia của người dân và đề xuất giải pháp tăng cường lợi ích kinh tế đồng thời đảm bảo bảo tồn sinh thái.
- Điều tra và phân tích các nguyên nhân dẫn tới các tác động tích cực và bất lợi của cộng đồng địa phương đối với TNR tại KBT
Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp luận Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết hệ thống; quan điểm sinh thái nhân văn; quan điểm bảo tồn và phát triển; phương pháp tiếp cận có sự tham gia
Một là, vận dụng lý luận về lý thuyết hệ thống: hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau theo một tổ chức có trật tự và vận động theo các quy luật thống nhất Quan điểm này giúp nhận diện các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần, từ đó tối ưu hóa hoạt động và bảo toàn tính bền vững của cả hệ thống trong mọi hoàn cảnh.
Những tác động của người dân địa phương lên TNR là một phần của hệ thống kinh tế - xã hội và gắn liền với hệ thống tự nhiên; vì vậy để bảo tồn TNR một cách bền vững, các hoạt động của cộng đồng phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực lên hệ sinh thái.
Hai là quan điểm sinh thái - nhân văn được dùng để giải thích mối quan hệ giữa người dân địa phương và TNR Đề tài dựa trên tháp sinh thái - nhân văn do Park (1936) khởi xướng và sau đó được Teherani Kroenener (1992) cùng Nguyễn Bá Ngãi (2001) mô phỏng lại, nhằm làm rõ vai trò của cộng đồng địa phương trong quản lý và tác động đến TNR [21].
Mối quan hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR có xu hướng nghịch chiều: khi kinh tế địa phương gặp khó khăn, thu nhập và đời sống người dân bị ảnh hưởng, áp lực lên TNR tăng lên và hiệu quả bảo tồn có thể bị suy giảm Ngược lại, khi kinh tế địa phương được cải thiện và đời sống cộng đồng được nâng cao, nhận thức và sự tham gia của người dân vào bảo tồn TNR được tăng cường, từ đó hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương và bảo tồn TNR hiệu quả hơn.
Xã hội địa phương càng phát triển, điều kiện sống về vật chất và tinh thần được bảo đảm, và công tác bảo tồn TNR được thực hiện tốt thì những tác động bất lợi đến TNR sẽ càng giảm Việc nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng và quản lý tài nguyên một cách bền vững giúp tăng cường hiệu quả bảo tồn TNR, đồng thời nâng cao nhận thức và sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn Vì thế, phát triển địa phương đi đôi với bảo tồn TNR là chiến lược tối ưu để giảm thiểu tác động tiêu cực và duy trì nguồn lực thiên nhiên cho các thế hệ tương lai.
Ba là, quan điểm bảo tồn - phát triển: Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn
Quan điểm bảo tồn và phát triển của Sản (1992) cho rằng mục tiêu bảo tồn tài nguyên là liên kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển địa phương, nhằm đảm bảo vừa bảo vệ nguồn lực vừa đáp ứng các mục tiêu phát triển của cộng đồng Theo đó, bảo tồn được xem là nền tảng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực, thay vì chỉ giữ gìn ở trạng thái tách rời khỏi nhu cầu địa phương Nói cách khác, ba cách tiếp cận được nêu ra trong tài liệu [13] nhằm thực hiện sự liên kết giữa bảo tồn và phát triển một cách có hệ thống. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tối ưu hóa nội dung và chuẩn SEO với Pollinations.AI, dành riêng cho các nhà sáng tạo nội dung! [Ủng hộ sứ mệnh của chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi).
Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế, cách tiếp cận phát triển kinh tế, cách tiếp cận tham gia quy hoạch
Trong nghiên cứu này, tiếp cận có sự tham gia được áp dụng thông qua phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để thu thập thông tin PRA cho phép thu thập và phân tích dữ liệu từ chính người dân địa phương, bảo đảm thông tin phản ánh thực tế và có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương, như tăng cường sự ủng hộ về quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên (TNR) và đề xuất các giải pháp giải quyết xung đột liên quan đến tài nguyên.
2.5.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 2.5.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp có liên quan
- Trong quá trình thực hiện, đề tài đã thu thập các tài liệu cơ bản của khu vực nghiên cứu:
Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước có liên quan tới vấn đề nghiên cứu
Các báo cáo từ cơ quan kiểm lâm, các tổ chức bảo tồn và chính quyền địa phương về quản lý rừng và tình hình giao đất giao rừng tại khu bảo tồn (KBT) cho thấy những thách thức và cơ hội trong việc bảo vệ hệ sinh thái, đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp và phát triển bền vững Nội dung báo cáo tập trung vào quản lý rừng, công tác giám sát hiện trạng rừng, tuân thủ pháp luật và hiệu quả của các biện pháp bảo vệ rừng Đồng thời, các báo cáo nêu rõ tiến độ và kết quả của hoạt động giao đất giao rừng, quyền sử dụng đất của cộng đồng và các chủ thể liên quan, đi cùng với đề xuất nâng cao năng lực quản trị, tăng cường hợp tác liên ngành và ứng phó với biến đổi khí hậu Dữ liệu từ các nguồn này giúp hình thành cơ sở để xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát triển khu bảo tồn, đồng thời tăng cường an ninh rừng và sinh kế cho người dân địa phương.
Các tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu được thu thập tại địa phương như điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực
- Phương pháp thu thập tài liệu:
Liệt kê các số liệu thông tin cần thiết để có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung hay địa điểm thu nhập và dự kiến địa điểm cơ quan cung cấp thông tin
Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin
Tiến hành thu thập bằng cách ghi chép, sao chụp
Hình 2.1 Các bước thực hiện nghiên cứu
Thông tin cần thu thập
Lựa chọn khu vực điều tra
Tài liệu kế thừa ( Bản đồ, báo cáo, chính sách)
Số liệu điều tra (PRA , thảo luận nhóm…)
Tài nguyên rừng Đặc điểm KT - XH Sử dụng tài nguyên Nhận thức
Phân tích số liệu (Phân tích định tính và phân tích định lượng) Điều k iện tự n hiê n, d ân s in h kin h tế xã hộ i c ủa kh u vực Mức đ ộ sử dụ ng , s ự ph ụ th uộ c tài ng uy ên củ a ng ười dân v ào k hu bảo tồ n Ản h hưởn g củ a ch ín h sác h T hái độ c ủa ng ười dân th am g ia vào cô ng tác bả o tồ n
Kết luận và đề xuất
2.5.2.2 Chọn địa điểm nghiên cứu
Nguyên tắc chọn địa điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu Cụ thể:
Các xã lựa chọn nghiên cứu có thành phần dân tộc đại diện cho khu vực
Mỗi xã đại diện cho điều kiện về mức độ gần rừng, điều kiện giao thông, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận để phát triển kinh tế…
Mỗi bản được lựa chọn phải đại diện cho xã, các hộ gia đình được lựa chọn phỏng vấn đảm bảo đại diện cho bản
Các xã, bản đều đảm bảo có đủ loại kinh tế hộ: Hộ khá (1), hộ trung bình (2), hộ nghèo (3)
Kết quả lựa chọn xã nghiên cứu:
KBT L&SC Mù Cang Chải nằm tại 5 xã gồm Chế Tạo, Nậm Khắt, Dế Xu Phình, Lao Chải và Dế Xu Phình; việc lựa chọn xã làm điểm nghiên cứu cho đề tài được dựa trên các tiêu chí được đề cập ở phần dưới.
(1) Mức độ gần rừng: Chia ra các xã nằm trong vùng lõi hay vùng đệm, 1= Vùng lõi; 2 = Vùng đệm
(2) Thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Mông, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể 1= có dân tộc H’mông; 0 = Không có dân tộc H’mông
(3) Mức độ thuận tiện giao thông, đi lại: 1 = Thuận lợi; 0 = Không thuận lợi
(4) Có khả năng tiếp cận phát triển kinh tế, hướng ra bên ngoài: 1 Tốt; 2 = Trung bình; 3 = Không tốt
(5) Cơ sở hạ tầng: 1= Tốt; 2 = Trung bình; 3 = Không tốt Kết quả lựa chọn xã nghiên cứu điểm được trình bày trong Bảng 2.1:
Bảng 2.1 Kết quả lựa chọn các xã nghiên cứu điểm tại KBTL&SC MCC
TT Tên xã Tính đại diện của xã nghiên cứu
1 Chế Tạo 1 1 0 3 3 Chọn làm xã nghiên cứu
2 Dế Xu Phình 2 1 1 1 1 Chọn làm xã nghiên cứu
3 Púng Luông 2 1 1 2 2 Không lựa chọn
4 Nặm Khắt 2 1 0 2 2 Chọn làm xã nghiên cứu
5 Lao Chải 2 1 1 2 2 Không lựa chọn
(Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát, đánh giá của tác giả vào tháng 03 năm 2011)
Hình 2.2 Bản đồ các xã lựa chọn làm xã nghiên cứu điểm
Với 3 xã được lựa chọn trên, các thông tin cơ bản về số hộ, thành phần dân tộc được tổng hợp và trình bày dưới đây làm cơ sở cho việc xác định dung lượng mẫu điều tra, phỏng vấn
Bảng 2.2 Số hộ theo thành phần dân tộc của các xã nghiên cứu điểm
TT Tên xã Số bản/xã
Số người chia theo dân tộc Số bản lựa chọn khảo Mông Thái Kinh sát
Nguồn dữ liệu được tổng hợp từ số liệu của các xã tại KBT L&SC Mù Cang Chải, năm 2010 Trong khuôn khổ nghiên cứu, đã chọn 6 bản từ tổng số 25 bản của 3 xã làm địa điểm nghiên cứu cụ thể; danh sách các bản và mức đại diện của chúng được thể hiện ở Bảng 2.3.
Bảng 2.3 Kết quả lựa chọn các thôn nghiên cứu điểm tại KBT
Tên xã Tên bản Tính đại diện của thôn nghiên cứu
Dế Xu Phình Trung Sua 2 1 2
(Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát, đánh giá của tác giả vào tháng 03 năm 2011)
Ghi chú: Về tính đại diện của thôn nghiên cứu, được chú giải như sau:
(1) Mức độ gần rừng của bản với KBT: 3 = Trong KBT; 2 = Gần KBT; 1 = Xa KBT
(2) Mức độ thuận tiện giao thông, đi lại: 1 = Thuận lợi; 0 = Không thuận lợi
(3) Có khả năng tiếp cận phát triển kinh tế, hướng ra bên ngoài: 1 = Tốt; 2 Trung bình; 3 = Không tốt
Xác định dung lượng mẫu điều tra
Mẫu điều tra, phỏng vấn là một phần của tổng thể được chọn theo một phương pháp nhất định và có kích thước phù hợp Mẫu phải đảm bảo tính đại diện để thông tin thu được từ mẫu có thể suy rộng tới toàn thể dân số Do đó, thiết kế mẫu cần cân nhắc yếu tố ngẫu nhiên, phân tầng và kích thước mẫu phù hợp nhằm giảm sai số và tăng tính khả tín của kết quả điều tra.
Với nghiên cứu này, đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại
Trong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn
N: Số hộ của xã điều tra t: Hệ số ứng với mức tin cậy (t = 95%) d: Sai số mẫu (cho trước d = 5 - 10%)
S 2 : Phương sai của tổng thể (cho trước S 2 = 0,25) Kết quả tính toán số HGĐ cần lựa chọn phỏng vấn theo các xã được xác định là:
- Xã Chế Tạo: n = 30,03 làm tròn thành 30 HGĐ
- Xã Dế Xu Phình: n = 32,13 làm tròn thành 30 HGĐ
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới và diện tích
Khu Bảo tồn Lâm và Sinh cảnh Mù Cang Chải (KBT L&SC Mù Cang Chải) nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, Việt Nam, với địa hình núi cao tạo thành vòng cung do hệ thống núi cao từ 1.700–2.500 m bao quanh xã Chế Tạo và vùng đầu nguồn sông Nậm Chải Từ Tây Bắc sang Đông và Nam, các đỉnh nổi bật gồm Phú Bà (2.200 m), Tà Lĩnh (2.150 m), Phú Tiên Vân (2.298 m) và đỉnh Tà Sùa (2.443 m) Dãy núi này hạ dần độ cao xuống còn khoảng 300 m ở ven bờ Nậm Chải, thuộc khu vực rừng phòng hộ lưu vực hệ thống sông Đà.
Toạ độ địa lý của KBT Loài và sinh cảnh Mù Cang Chải:
Vĩ độ Bắc từ 21°38'16'' đến 21°47'55'' và kinh độ Đông từ 103°55'58'' đến 104°10'05'' xác định vị trí của Khu Bảo tồn L&SC Mù Cang Chải Khu bảo tồn này được thành lập theo Quyết định số 513/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, với tổng diện tích 20.293,3 ha và vùng đệm rộng 94.325,1 ha.
Dự án đầu tư cho KBT L&SC Mù Cang Chải đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định và được UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt theo Quyết định số 12/QĐ-UB ngày 09/01/2004.
KBT L&SC Mù Cang Chải là khu vực núi cao có nguồn gốc từ dãy Hoàng Liên Sơn, gồm nhiều dãy núi liên tiếp chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với các khe suối nằm giữa các dãy núi thuộc lưu vực sông Hồng và sông Đà Độ cao tuyệt đối ở khu vực này dao động từ 650 m tại Cao Phạ đến 2.963 m tại đỉnh Lùng Cúng thuộc xã Nậm Có, cho thấy địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nên sườn núi dài, mái dốc và độ dốc trung bình khoảng 30 độ, trong khi có nơi lên tới trên 45 độ.
Huyện Mù Cang Chải nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nét đặc trưng gần giống khí hậu ôn đới và phân thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, thời gian này mưa nhiều, tháng 6 là tháng mưa nhiều nhất với lượng mưa lên tới 3835 mm và thỉnh thoảng có xảy ra lũ lụt Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa giảm, tháng 12 là tháng ít mưa nhất với 144 mm, độ ẩm khoảng 35-36% và thỉnh thoảng xuất hiện sương mù.
Khí hậu ở Mù Cang Chải có nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng 19,5 °C; tháng nóng nhất là tháng 5 với nhiệt độ có thể lên tới 32,5 °C, trong khi tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 3 °C, có những năm xuống 0 °C và từng xảy ra tuyết rơi Thời tiết có số giờ nắng nhiều nhất vào các tháng 8 và 9, còn tháng 6 và 7 lại có ít nắng nhất do mưa nhiều Điều kiện khí hậu này đã hình thành cho người dân thói quen sản xuất nông nghiệp độc canh, toàn bộ diện tích đất canh tác chỉ làm một vụ trong năm, tập trung vào mùa mưa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, 11 Mùa đông đất bỏ hoang do rét và thiếu nước tưới, khiến các cây nhiệt đới không thích hợp với vùng núi cao.
Khu bảo tồn Lâm và Sinh cảnh Mù Cang Chải nằm chủ yếu ở vùng thượng nguồn sông Đà, thuộc hệ thống thủy văn chính của phía Tây Hoàng Liên Sơn Có 25 chi lưu chính chảy vào suối Nam Chai, suối này thoát nước ở phía Tây của các giông núi hình móng ngựa Vì vậy, rừng trên núi của khu bảo tồn đóng vai trò bảo vệ quan trọng cho vùng thượng lưu của lưu vực sông Đà, duy trì nguồn nước và đa dạng sinh học cho toàn lưu vực.
Dựa trên số liệu phân tích của Hội Khoa Học Đất Việt Nam và theo hệ thống phân loại đất của FAO, đất ở khu vực Mù Cang Chải được phân thành các nhóm đất chính dựa trên đặc tính đất và mục đích sử dụng Việc phân loại này giúp đánh giá tiềm năng nông nghiệp, xác định mức độ phù hợp của từng loại đất với các cây trồng và đề xuất giải pháp quản lý đất đai phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng địa phương Các tiêu chí phân loại bao gồm độ phì, cấu trúc đất, tầng mặt, độ thoát nước và khả năng chịu mặn kiềm, từ đó tối ưu hóa kỹ thuật canh tác và nâng cao sản lượng.
Đất xám mùn là loại đất có màu xám vàng, với tầng đất dày khoảng 50 cm và chứa nhiều mùn hữu cơ, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây lâm nghiệp và cây lấy gỗ Các loài như pơmu, chắp tay, sa mộc và thông phù hợp với đất này, giúp cây phát triển tốt và cho chất lượng gỗ ổn định.
- Đất mùn Alit trên núi cao: Là đất có màu vàng nâu với tầng đất dày lớn hơn
50 cm có tỷ lệ mùn tương đối cao và thích hợp cho việc trồng các cây lâm nghiệp
- Đất xám cơ giới nhẹ: Có tầng lớp đất mỏng ít mùn, thích hợp cho việc phát triển các cây như sa mộc, thông, màng mủ
Đất xám mùn đá nóng là đất nghèo mùn, có tầng đất mỏng dưới 50 cm Loại đất này thích hợp cho việc trồng tre trúc, sa mộc, thông và các cây gỗ tạp khác Hiểu rõ đặc tính của đất xám mùn đá nóng giúp lên kế hoạch trồng trọt hiệu quả, tối ưu hóa việc sử dụng nước và phân bón cho cây trồng trên nền đất mỏng.
Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Đặc điểm và phân bố dân cư
KBT L&SC Mù Cang Chải nằm trên địa bàn 5 xã Chế Tạo, Nậm Khắt, Dế Xu Phình, Lao Chải và Púng Luống, có 2.665 hộ với 17.236 khẩu (nam 8.548 và nữ 8.688), mật độ dân số trung bình khoảng 26 người/km^2 và tỷ lệ hộ nghèo chiếm 73,65% Dân tộc thiểu số ở vùng đệm của KBT L&SC Mù Cang Chải chủ yếu là người H'Mông chiếm 95,2%, các dân tộc thiểu số khác xen cư gồm Kinh 3,54% và Thái 1,26%, với những phong tục tập quán lâu đời và có những nét riêng của cha ông như thổi kèn lá, ném còn, bắn cung, ăn Tết người Mông và ngày đón lúa mới.
Bảng 3.1 Tình hình dân số các xã KBT
Số khẩu Số hộ nghèo
(Nguồn: Số liệu thống kê tại các xã KBTL&SC MCC, năm 2010)
Đại bộ phận dân cư tại khu vực này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và tỉ lệ đói nghèo chiếm tới 35% Nguồn thu nhập chính dựa vào sản xuất nương rẫy như lúa, gạo, ngô và sắn, bên cạnh một phần tiền mặt từ bán trâu, bò và khai thác lâm sản; mỗi năm người dân còn nhận được một khoản nhỏ từ hợp đồng bảo vệ rừng Trung bình họ thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng mỗi năm, nguyên nhân chính là trình độ dân trí và kỹ thuật canh tác còn thấp (70% biết chữ), cùng với thiếu vốn, thiếu diện tích đất sản xuất (15%) và dân số tăng nhanh Từ đó đói nghèo dẫn đến phá rừng làm nương rẫy, khai thác và thu hái lâm sản, làm tăng áp lực lên tài nguyên thiên nhiên của KBT.
3.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng
Về giao thông, các xã trong vùng đệm đã có đường ôtô đi tới ủy ban nhân dân xã, nhưng chất lượng mặt đường còn yếu, phần lớn là đường đất Điều này gây khó khăn cho việc di chuyển và vận chuyển hàng hóa, đồng thời làm giảm khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân Gần đây, chương trình đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông nông thôn được triển khai nhằm cải thiện chất lượng đường, tăng độ bền và kết nối các xã với trục giao thông chính, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Dự án 135 nâng cấp hệ thống giao thông liên thôn, liên xã nhằm cải thiện kết nối giữa các thôn và xã Tuy vậy, chất lượng đường còn kém nên vào mùa mưa việc đi lại vẫn gặp nhiều trở ngại; tắc đường và sụt nở liên tục gây mất an toàn và giảm khả năng di chuyển Bên cạnh đó, hệ thống thông tin liên lạc còn chưa được triển khai đầy đủ, khiến công tác thông tin và phối hợp gặp khó khăn.
Ở các xã, đều có trạm y tế và cán bộ y tế nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân địa phương Trong điều kiện giao thông ở các xã thuộc Khu Bảo tồn, việc tăng cường y tế tuyến xã là rất cần thiết để cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế cho cộng đồng Nhờ công tác phòng bệnh được thực hiện tốt nên các dịch bệnh lớn ít xảy ra, tuy nhiên vẫn còn các bệnh xã hội như bướu cổ, sốt rét và mắt hột cần được quản lý và ngăn ngừa Chương trình kế hoạch hóa gia đình được triển khai xuống các thôn, với các buổi nói chuyện hàng tháng cho chị em về kế hoạch hóa gia đình và thực hiện đều đặn các chính sách đối với bà mẹ mang thai và trẻ em sơ sinh.
Ở các xã vùng đệm, hệ thống giáo dục cơ bản gồm trường tiểu học, nhiều xã đã có trường mẫu giáo và trường cấp II; tuy vậy, cơ sở vật chất vẫn còn thiếu thốn, một số lớp học phải hoạt động trong nhà tạm và đội ngũ giáo viên chưa đồng đều Các cấp chính quyền đã quan tâm đầu tư cho đào tạo cán bộ, giáo viên và xây dựng cơ sở hạ tầng như trường, lớp, phòng học và đường xá Dù nguồn kinh phí đầu tư còn ít so với yêu cầu, những kết quả đạt được vẫn đóng góp tích cực vào sự phát triển giáo dục ở địa phương.
Nhìn chung, năm xã thuộc khu vực KBT có điều kiện xã hội vùng cao và được hưởng dự án 135 của Nhà nước, đời sống gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ đói nghèo khoảng 35% Cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục còn kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao Cấu trúc kinh tế chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp với tập quán canh tác lạc hậu và trình độ thâm canh hạn chế nên năng suất cây trồng và vật nuôi thấp Các ngành nghề khác trên địa bàn hầu như chưa phát triển; nền kinh tế vẫn mang tính tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hóa chủ yếu từ nông nghiệp và từ rừng tự nhiên như gỗ, động vật hoang dã và LSNG Đời sống người dân phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tạo áp lực lên môi trường sinh thái Để bảo vệ rừng và phát triển bền vững, cần có các giải pháp kinh tế nhằm nâng cao đời sống của người dân trong khu vực.
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất 3.2.3.1 Cơ cấu các loại đất
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất các xã thuộc KBT Đơn vị: ha
Xã Tổng Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất thổ cư Đất khác
Chế Tạo 32.640,0 487,72 5.403,4 37,63 6,2 17.705,05 Nậm Khắt 11.850 1.217,95 2.742,2 53,7 26,2 7.809,95 Púng Luông 5.369 735,7 2.917,1 23,9 16,2 1.676,1 Lao Chải 15.860 804,6 1.499,9 39,1 24,06 13.492,34
(Nguồn: Số liệu thống kê tại các xã KBTL&SC MCC, năm 2010)
Cơ cấu đất đai của KBT L&SC Mù Cang Chải gồm 4 nhóm đất chính: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất thổ cư và đất khác
69.68% Đất NN Đất LN Đất chuyên dùng Đất thổ cư Đất khác
Hình 3.3 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất của KBT L&SC Mù Cang Chải
Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích đất nông nghiệp tại 5 xã trong KBT chiếm tỷ trọng quá ít, với 3763,55 ha, chiếm 6,16% tổng diện tích tự nhiên của KBT; diện tích này chưa đáp ứng được nguồn lương thực cho toàn dân do phân chia đất đai, cơ cấu thôn bản, dân tộc và trình độ sản xuất khác nhau Người H’mông hầu hết sản xuất ở các vùng đất dốc, đầu tư thấp, thiếu đất canh tác và khó khăn trong đầu tư nên đời sống khó khăn và mức sống thấp Đây cũng là nguyên nhân của việc phá rừng lấy đất sản xuất, săn bắn động vật rừng và khai thác lâm sản trái phép làm suy kiệt dần tài nguyên rừng.
Ở 5 xã, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 23,72% tổng diện tích tự nhiên của KBT, và toàn bộ số diện tích này do BQL rừng phòng hộ Mù Cang Chải và Hạt kiểm lâm Mù Cang Chải quản lý Các hoạt động của BQL rừng phòng hộ Mù Cang Chải tại khu vực này chủ yếu tập trung vào phát triển rừng, cụ thể là trồng rừng ở vùng đệm của KBT và nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ.
Diện tích đất ở của khu vực bao gồm đất thổ cư 88,53 ha, chiếm 0,13% tổng diện tích tự nhiên của KBT; đất ở được cơ bản đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở và công trình phục vụ sinh hoạt của các hộ gia đình trên địa bàn Đất chuyên dùng có diện tích 178,02 ha, chiếm 0,29% tổng diện tích tự nhiên của KBT, bao gồm đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; đất quốc phòng – an ninh và đất có mục đích công cộng.
Diện tích đất khác chiếm phần lớn tổng diện tích tự nhiên của KBT, với tỷ lệ 69,68% Khu vực này bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi và đất núi đá không có rừng cây.
3.2.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Ở khu vực Mù Cang Chải, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, chiếm 94,3% lực lượng lao động địa phương, với tập quán canh tác chủ yếu là trồng lúa nước và làm rẫy, đồng thời kết hợp săn bắn và chăn nuôi để đảm bảo sinh kế cho cộng đồng.
Trồng các loài cây trồng chính như lúa nước, lúa nương, ngô, khoai và sắn với các giống địa phương cho thấy trình độ canh tác còn lạc hậu, khiến năng suất cây trồng thường không cao.
Bảng 3.3 Diện tích gieo trồng cây nông nghiệp của các xã thuộc KBT Đơn vị: ha
Xã Lúa Hoa màu Cây dài ngày Cây ngắn ngày
(Nguồn: Số liệu thống kê tại các xã KBTL&SC MCC, năm 2010)
Diện tích đất nông nghiệp hiện chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích, trong khi đất trồng lúa, màu còn ở mức thấp, trung bình chỉ khoảng 285 m2 đất nông nghiệp cho mỗi người Diện tích ruộng lúa nước bậc thang đạt 1.334 ha, cho năng suất 28 tạ/ha và cung cấp khoảng 246 kg lương thực/người/năm Theo chuẩn an toàn lương thực của FAO, mục tiêu tối thiểu phải đạt là 300 kg/người/năm.
Hiện nay, tình hình lương thực tại các xã vẫn chưa đáp ứng được đời sống của người dân Nguyên nhân chủ yếu là diện tích đất trồng lúa còn ít, năng suất thấp và thiếu đầu tư cho hệ thống thủy lợi, khiến nguồn lương thực bị hạn chế và ảnh hưởng tới sinh kế của cộng đồng.
Khái quát về tài nguyên động thực vật tại KBT Loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
Thảm thực vật trong KBT L&SC Mù Cang Chải chủ yếu là các loài cây lá rộng thường xanh, với một số khu vực còn tồn tại rải rác cây lá kim như Pơmu (Fokienia hodginsii) và Thông tre (Podocarpus neriifolius); đặc biệt, trên đỉnh của hệ thống núi phía Đông có một thung lũng nhỏ diện tích khoảng trên 1 km2, rất bằng phẳng, nơi xuất hiện kiểu rừng hỗn giao lá rộng và lá kinh á nhiệt đới với các loài chiếm ưu thế như Thiết sam (Tsuga dumosa), Bông sứ (Michelia hypolamra), Re hương (Cinnamomum iners), Sồi lào (Lithocarpus laoticus) và một số loài khác.
Diện tích rừng tự nhiên nguyên sinh chiếm khoảng 44% và ít bị tác động, phân bố chủ yếu ở vùng cao, dốc, xa khu dân cư và khó tiếp cận, do đó chỉ có một số hoạt động khai thác gỗ lẻ hoặc thu hái các sản phẩm lâm sản phụ như mật ong và cây thuốc Vì vậy, cấu trúc rừng vẫn tương đối ổn định, tầng tán chính thường liên tục Tuy nhiên, gần 33% diện tích thảm thực vật trong khu bảo tồn đã bị tàn phá bởi nhiều hoạt động của con người, tán rừng bị phá vỡ và chất lượng rừng đã suy giảm nghiêm trọng.
KBT L&SC Mù Cang Chải có mức độ đa dạng thực vật cao, được ghi nhận qua ba đợt điều tra của Bảo tồn Động thực vật Quốc tế (FFI) vào năm 2000 và 2002 và bổ sung bởi Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp năm 2002 Kết quả cho thấy khu vực này có 788 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 480 chi, 147 họ và 5 ngành; trong đó ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) chiếm đa số, còn 3 ngành còn lại chỉ có từ 1 đến 7 loài mỗi ngành Trong tổng số 788 loài, có 33 loài được ghi nhận là quý hiếm và đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới, trong đó 2 loài ở cấp nguy cấp, 4 loài ở cấp bị đe dọa nguy cấp, và 7 loài ở cấp hiếm Có 190 loài gỗ thuộc 54 họ được ghi nhận, chủ yếu thuộc nhóm gỗ hồng sắc và tạp mộc.
Trong tổng số 788 loài được ghi nhận, có 77 loài được xem là cây cảnh Hai họ có nhiều loài làm cảnh nhất là Đỗ quyên (Ericaceae) và Lan (Orchidaceae) Thực tế, số lượng loài có tiềm năng làm cây cảnh còn lớn hơn nhiều so với con số ghi nhận, do còn nhiều loài có thể được dùng làm cây bóng mát và bonsai chưa được ghi nhận đầy đủ.
3.3.2 Hệ động vật Động vật của KBT L&SC Mù Cang Chải cũng rất phong phú và cho thấy tính đặc hữu cao Khu hệ động vật xương sống được khảo sát sơ lược từ năm 1980 đến năm
Trong giai đoạn 2000 - 2001 và 2002, tổ chức Bảo tồn Động thực vật Quốc tế (FFI) đã thực hiện nhiều đợt khảo sát hệ động vật có xương sống ở Mù Cang Chải nhằm đánh giá tình trạng quần thể của các loài động vật quý hiếm, đặc biệt chú trọng tới loài Vượn đen tuyền Các đợt khảo sát đã ghi nhận 241 loài, thuộc 74 họ và 24 bộ động vật có xương sống, gồm 54 loài thú, 132 loài chim, 26 loài bò sát và 26 loài lưỡng cư Riêng về cá, do suối nhỏ có độ dốc lớn, chỉ sưu tầm được 3 loài cá bám đá, ít có giá trị kinh tế.
Khu Bảo tồn thiên nhiên L&SC Mù Cang Chải có 4 loài đặc hữu ở chim và lưỡng thê, cho thấy mức độ đặc hữu cao của hệ động vật tại khu vực này Nếu chỉ tính riêng Việt Nam, KBT L&SC Mù Cang Chải ghi nhận một phân loài đặc hữu hẹp cho Việt Nam là Gà lôi tía Tragopan temminckii tonkinensis Hai loài đặc hữu hẹp được ghi nhận cho Fanxipan và Bắc Lào là Chèo cây mỏ vàng (Sittasolangiae) và Chích đớp ruồi mỏ rộng (Tickellia hodgsoni) Ngoài ra, vùng này có tới 25 loài đặc hữu đặc trưng cho khu vực á nhiệt đới dãy Hymalaya Ở nhóm lưỡng thê, KBT L&SC Mù Cang Chải có 1 loài ếch ang Rana microlincata đặc hữu hẹp cho Việt Nam.
Về các loài quí hiếm tại KBT đã thống kê được có 42 loài động vật quí hiếm trong sách đỏ Việt nam và 28 loài ở mức độ bị đe doạ toàn cầu Đặc biệt có 4 loài: Niệc cổ hung, Gà lôi tía, Vượn đen, Voọc xám đang có nguy cơ bị đe doạ tiêu diệt loài ở mức toàn cầu, hiện tại ở Việt Nam loài Vượn đen tuyền (Nomacus concolor) chỉ còn khoảng 120 cá thể, trong đó có khoảng 100 cá thể đang phân bố tại khu rừng Chế Tạo, Mù Cang Chải (chiếm 85%)
Nhìn chung, hệ động thực vật của KBT L&SC Mù Cang Chải phong phú và đa dạng, các loài thực vật đặc hữu có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao Đây là lợi thế cho công tác bảo tồn nhưng cũng là thách thức không nhỏ để công tác bảo tồn có hiệu quả bởi hệ động thực vật này đang bị đe doạ bởi những tác động bất lợi của con người vào tài nguyên rừng để đảm bảo cuộc sống khi việc thành lập KBT khiến cuộc sống của họ ngày càng khó khăn hơn khi không được tác động vào rừng như trước.