1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn EX benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên​

109 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Trồng Rừng Keo Lưỡi Liềm (Acacia Crassicarpa A. Cunn. Ex. Benth) Trên Vùng Đất Cát Cố Định, Bán Ngập Bình Trị Thiên
Tác giả Nguyễn Thị Liệu
Người hướng dẫn TS. Võ Đại Hải
Trường học Trường đại học lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Trên thế giới (5)
    • 1.1.1. Nghiên cứu về động thái cát bay ven biển (5)
    • 1.1.2. Nghiên cứu về trồng rừng trên đất cát ven biển (5)
    • 1.1.3. ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng phòng hộ (7)
    • 1.1.4. Nghiên cứu về đặc điểm của Keo lưỡi liềm (9)
  • 1.2. ở Việt Nam (11)
    • 1.2.1. Nghiên cứu về đất cát ven biển (11)
    • 1.2.2. Nghiên cứu về trồng rừng trên vùng cát (13)
    • 1.2.3. ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng . 14 1.2.4. Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) (16)
  • 1.3. Nhận xét và đánh giá chung (20)
  • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
    • 2.1.1. Về khoa học (22)
    • 2.1.2. VÒ thùc tiÔn (22)
  • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (22)
  • 2.3. Giới hạn nghiên cứu (22)
  • 2.4. Nội dung nghiên cứu (22)
  • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (23)
    • 2.5.1. Quan điểm và cách tiếp cận (23)
    • 2.5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (24)
  • 3.1. Điều kiện tự nhiên (32)
    • 3.1.1. Vị trí địa lý (32)
    • 3.1.2. Diện tích, đất đai (32)
    • 3.1.3. Địa hình (34)
    • 3.1.4. KhÝ hËu (34)
    • 3.1.5. Thủy văn (35)
  • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (35)
    • 3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động (35)
    • 3.2.2. Kinh tế - xã hội (36)
  • 3.3. Nhận xét và đánh giá chung (37)
    • 3.3.1. Thuận lợi (37)
    • 3.3.2. Khã kh¨n (38)
  • 4.1. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (39)
    • 4.1.1. Mô hình thí nghiệm làm đất lên líp tại Triệu Phong - Quảng Trị (39)
    • 4.1.2. Mô hình thí nghiệm lên líp tại Gio Linh - Quảng Trị (55)
  • 4.2. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân (bón lót) trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (61)
    • 4.2.1. Mô hình thí nghiệm bón phân tại Triệu Phong - Quảng Trị (61)
    • 4.2.2. Mô hình thí nghiệm bón phân tại Gio Linh - Quảng Trị (70)
  • 4.3. Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (77)
    • 4.3.1. Mô hình thí nghiệm mật độ tại Triệu Phong - Quảng Trị (77)
    • 4.3.2. Mô hình thí nghiệm tại Nhĩ Trung - Gio Linh - Quảng Trị (83)
  • 4.4. Bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ môi trường của rừng Keo lưỡi liềm (87)
    • 4.4.1. Đánh giá khả năng cải tạo đất của rừng trồng Keo lưỡi liềm (87)
      • 4.4.1.1. Đánh giá khả năng cải tạo lý hoá tính đất của rừng Keo lưỡi liềm (87)
      • 4.4.1.2. Đánh giá khả năng làm tăng lượng vật rơi rụng trả lại cho đất (89)
    • 4.4.2. Đánh giá khả năng chắn gió của rừng trồng Keo lưỡi liềm (91)
  • 4.5. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (94)
    • 4.5.1. Biện pháp kỹ thuật làm đất (94)
    • 4.5.2. Mật độ trồng rừng (95)
    • 4.5.3. Bãn ph©n (95)
    • 4.5.4. Tiêu chuẩn cây con (95)
    • 4.5.6. Chăm sóc và bảo vệ rừng trồng (96)
  • 5.1. KÕt luËn (98)
  • 5.2. Tồn tại (99)
  • 5.3. Kiến nghị..................................................................................................................................98 Tài liệu tham khảo (100)

Nội dung

Tuy nhiên, việc chọnra loài cây và đặc biệt là các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thích hợp thì vẫncòn là một vấn đề nan giải, cần được tiếp tục nghiên cứu nhất là đối với vùng đây, một s

Trên thế giới

Nghiên cứu về động thái cát bay ven biển

Hạt cát chỉ di động khi sức gió vượt quá trọng lượng của chúng Theo Sô-kô-lốp H.A., hạt cát nhỏ hơn (dưới 0,25 mm) cần tốc độ gió thấp hơn (4,5-6,7 m/s) để di động, trong khi hạt lớn hơn (trên 1,0 mm) yêu cầu tốc độ gió cao hơn (11,4-13,0 m/s) Khi gió đủ mạnh, hạt cát tách khỏi bề mặt bãi cát, hòa nhập vào luồng gió và di chuyển theo ba hình thức chính: lăn, nhảy hoặc bay, tùy thuộc vào địa hình, trọng lượng hạt cát và cường độ gió Trong quá trình gió tạm dừng hoặc thay đổi, các hạt cát mới rơi xuống đất, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và biến đổi các lớp cát trên bề mặt.

Nghiên cứu về trồng rừng trên đất cát ven biển

Hiện tượng cát bay và khô hạn do cát gây ra gây ra những tác hại lớn đối với môi trường và đời sống các khu vực ven biển và sa mạc Để giảm thiểu những tác hại này, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện trồng rừng trên đất cát nhằm hạn chế xói mòn, chống sa mạc hóa và cải tạo môi trường vùng cát Nghiên cứu về trồng rừng trên đất cát chủ yếu tập trung vào các rừng phòng hộ, bao gồm việc lựa chọn loại cây phù hợp, áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng cây và xây dựng đai rừng để tăng khả năng chắn gió và giữ đất Các phương pháp này nhằm bảo vệ đất đai, duy trì đa dạng sinh học và nâng cao khả năng chống chịu của môi trường cát trước các tác động tiêu cực.

Loài cây Phi lao được xem là loài cây chủ đạo trong kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chắn cát ven biển tại Trung Quốc, các nước Trung Đông, miền Đông và Tây Châu Phi, hình thành các hệ thống đai có chiều rộng từ 100 đến 200 mét, thậm chí lên tới 2-5 km tùy thuộc vào bề rộng của bãi cát và điều kiện địa hình Các đai rừng Phi lao thường được trồng với khoảng cách 1m x 2m (tương ứng khoảng 5.000 cây/ha) hoặc 1m x 1m (khoảng 10.000 cây/ha), nhằm tạo ra lớp chắn chắn chắn ngăn cát di chuyển Sau các đai rừng Phi lao là các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của các loài như Bạch đàn, Keo, Thông nhựa, giúp gia tăng hiệu quả chống cát bay và bảo vệ môi trường Phía trong cùng của hệ thống đai rừng này được sử dụng để canh tác nông nghiệp bền vững, góp phần cân bằng sinh thái và nâng cao đời sống cộng đồng.

- Kết cấu đai rừng và tác dụng phòng hộ của đai rừng

Vấn đề bố trí và thiết kế các đai rừng nhằm đạt hiệu quả phòng hộ cao nhất đang nhận được nhiều sự quan tâm Kết cấu đai rừng, với các dạng kín, thưa và hơi kín, quyết định đặc điểm và mức độ lọt gió cũng như tốc độ gió trong khu vực đó Theo Nhikitin P.D, đai rừng thưa có khả năng phục hồi tốc độ gió chậm hơn, mở rộng phạm vi chắn gió lên đến 60 H, với hiệu quả phòng hộ giảm tốc gió từ 35-40% Trong khi đó, theo các chuyên gia như Machiakin G.I và Bođrôp V.A, đai rừng hơi kín có khả năng giảm tốc độ gió nhiều hơn, mang lại phạm vi chắn gió hẹp hơn đai thưa Vì vậy, việc lựa chọn kết cấu đai rừng phù hợp là yếu tố then chốt để tối ưu công tác phòng hộ.

Ngay từ năm 1766, các cánh đồng hoang khô hạn ở Ukraine, Quiblep, Tây Xibêri đã được cải tạo để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bằng cách xây dựng hệ thống đai rừng phòng hộ nhằm bảo vệ môi trường và cải thiện tiểu khí hậu Các công trình nghiên cứu của V A Lômitcôsku (1809) và Dokuchaep đã đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện canh tác trên những vùng đất khô hạn này.

X A Timiriazep (1892, 1893, 1909, 1911) đã đề xuất rằng để cải thiện tiểu khí hậu và đất đai trên các hoang mạc, cần trồng rừng phòng hộ theo hệ thống đai hoặc mạng lưới ô vuông, có kết cấu kín và xen kẽ nhiều tầng nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong việc bảo vệ môi trường khu vực hoang mạc.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đạt được thành tựu nổi bật trong cải thiện điều kiện môi trường nhờ xây dựng hệ thống phòng hộ quy mô lớn Các công trình này đã đóng vai trò quan trọng trong việc chống bão cát và hạn chế xói mòn đất đai, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thành công này thể hiện khả năng của Trung Quốc trong việc thực hiện các giải pháp bền vững để duy trì cân bằng tự nhiên.

551 hạt thuộc 13 tỉnh phía Bắc từ Sơn Tây, Ninh Hạ, khu vực tự trị Nội Mông đến Bắc Kinh, Liêu Ninh [33].

Đai rừng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và cải thiện điều kiện canh tác, với các nghiên cứu khẳng định hiệu quả to lớn của chúng Theo Zheng Haishui (1996), mỗi đai rừng rộng 100 mét hàng năm có khả năng cố định từ 124 đến 223 mét khối cát, góp phần bảo vệ đất và chống xói mòn Tại thành phố Zhanjiang, các đai rừng đã giúp cố định 20.000 ha đụn cát di động và bán di động, đồng thời phục hồi hàng ngàn hectare đất nông nghiệp bị ảnh hưởng.

Theo tài liệu của Trạm Nông Lâm Daodông tại đảo Hải Nam, rừng phi lao 10 tuổi đã tạo thành lớp thảm mục dày 4-9 cm, với lượng cành và lá rụng tích tụ từ 15-21 tấn/ha sau 10 năm Thu nhập từ khai thác gỗ củi ở tuổi 15 của rừng đạt khoảng 2.500 đến 4.000 USD/ha, cho thấy tiềm năng kinh tế lớn của mô hình rừng trồng này.

ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng phòng hộ

-ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng

Khả năng sinh trưởng của rừng trồng phụ thuộc vào bốn yếu tố chính liên quan đến điều kiện lập địa, gồm khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì, theo kết quả nghiên cứu ở một số quốc gia vùng nhiệt đới của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO, 1984).

Theo Laurie (1974), đất đai ở vùng nhiệt đới có nguồn gốc lịch sử phát triển rất đa dạng, ảnh hưởng lớn đến đặc điểm phẫu diện đất như độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối Những yếu tố này quyết định khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất khác nhau, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt trong năng suất và chất lượng rừng Vì vậy, việc hiểu rõ đặc điểm đất đai là yếu tố quan trọng để xây dựng các phương án trồng rừng phù hợp, tăng hiệu quả sản xuất.

Các nghiên cứu ở vùng nhiệt đới cho thấy khí hậu có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất rừng trồng, trong đó tổng lượng mưa trung bình hàng năm, sự phân bố của lượng mưa theo mùa, lượng bốc hơi và nhiệt độ không khí đóng vai trò quan trọng Evans, J (1992) nhận định rằng yếu tố khí hậu ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và năng suất của rừng trồng trong các khu vực nhiệt đới Hiểu rõ các tác động của thời tiết và khí hậu giúp nâng cao hiệu quả quản lý rừng và tối ưu hóa năng suất trồng rừng trong khu vực.

Các nghiên cứu cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loại cây trồng là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Điều kiện lập địa phù hợp không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mà còn quyết định thành công của các dự án trồng rừng Việc lựa chọn đúng vùng trồng dựa trên các yếu tố tự nhiên giúp tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Do đó, nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm địa hình và điều kiện khí hậu là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của rừng trồng.

-ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng

Nghiên cứu của Schonau (1985) cho thấy công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 giúp nâng cao chiều cao trung bình của rừng Bạch đàn Eucalyptus grandis tại Nam Phi gấp đôi sau năm đầu Tại Brazil, Mello H và cộng sự (1976) kết luận rằng Bạch đàn sinh trưởng tốt mà không cần bón phân, nhưng việc bón phân NPK có thể tăng năng suất rừng lên 50% Trong khi đó, tại Cuba, Herrero G và nhóm nghiên cứu (1988) phát hiện rằng việc bón phân Lân đã giúp sản lượng rừng tăng từ 56 lên 69 m³/ha sau 13 năm trồng, chứng tỏ vai trò quan trọng của phân bón trong nâng cao hiệu quả trồng rừng.

- ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng

Mật độ trồng rừng ban đầu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng Mật độ phù hợp phụ thuộc vào điều kiện lập địa, mục đích trồng rừng và đặc tính sinh thái của loài cây Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tùy thuộc vào từng loại cây và dạng lập địa, mật độ trồng ban đầu có thể cao hoặc thấp để tối ưu hóa hiệu quả Việc xác định mật độ trồng phù hợp là cách quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của rừng trồng, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng.

Evans (1992) đã thiết lập bốn công thức mật độ trồng khác nhau (2.985, 1680, 1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E deglupta tại Papua New Guinea, nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến tăng trưởng cây Kết quả sau 5 năm cho thấy, đường kính trung bình của các công thức thí nghiệm giảm dần khi mật độ tăng, trong khi tổng diện tích mặt cắt ngang (m2/ha) lại tăng theo chiều tăng của mật độ trồng Điều này chứng tỏ mật độ trồng có tác động rõ rệt đến sự phát triển của cây và năng suất rừng.

Trong một nghiên cứu ở Queensland (Australia) với thông P caribaea

Trong nghiên cứu của Evans, J (1992), thí nghiệm với 5 công thức mật độ gồm (2.200, 1.680, 1.330, 1.075 và 750 cây/ha) đã chỉ ra rằng sau hơn 9 năm tuổi, các công thức mật độ thấp có tỷ lệ diện tích D 1,3 > 10cm cao hơn so với các công thức mật độ cao Tuy nhiên, tổng diện tích ngang của các công thức mật độ cao lại lớn hơn, cho thấy các công thức mật độ cao mang lại trữ lượng gỗ cao hơn nhưng tỷ lệ gỗ thành phẩm thấp hơn, phản ánh mối quan hệ giữa mật độ cây trồng và chất lượng gỗ trong các nghiên cứu về quản lý rừng.

Nghiên cứu về đặc điểm của Keo lưỡi liềm

Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) là loài cây thuộc họ đậu

The Fabaceae family, also known as Leguminosae, includes the species commonly called Keo lưỡi liềm, Keo lá liềm, or Keo lưỡi mác In English, it is referred to as Northern Wattle, while in Papua New Guinea, it is known as Red Wattle Additionally, in the Cook Islands, it is called Akasia This plant is recognized for its distinctive features and significant regional names across the Pacific.

Keo lưỡi liềm là cây lớn, cao từ 9 đến 12 mét trở lên, nổi bật với lá màu xanh bạc, cành nhánh nhỏ, ít và lá cong hình lưỡi liềm dài 11-20 cm, rộng 2,5-5,0 cm Hoa của cây thường có 5 cánh mỏng, thu hút sự chú ý với vẻ đẹp tinh tế Quả keo lưỡi liềm lớn, hình chữ nhật hơi cong, phẳng, cứng, dày, dài từ 5,0 đến 7,5 cm, rộng 2-2,5 cm, tán dày, đơn thân, thẳng hoặc ít cong, góp phần tạo nên đặc điểm nhận diện nổi bật của loài cây này.

Keo lưỡi liềm phân bố tự nhiên chủ yếu tại Bắc Queensland của Úc, Nam Papua New Guinea và Irian Jaya (Indonesia), nằm trong vòng vĩ độ từ 8°N đến 20°N Cây thích nghi với các loại đất có độ pH từ 4 đến 8 và sinh trưởng tốt ở độ cao từ 0 đến 200 mét, có thời điểm lên đến 700 mét Keo lưỡi liềm có khả năng chịu đựng mùa khô kéo dài tới 6 tháng, phù hợp với lượng mưa rõ ràng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu vùng.

1000 - 3500 mm Nhiệt độ tối đa đạt tới 32 - 34 0 C, tối thiểu đạt 15 - 22 0 C [34].

Keo lưỡi liềm là loại cây sinh trưởng nhanh, có khả năng cố định đạm tự nhiên và thích nghi với nhiều loại đất khác nhau, bao gồm đất nghèo dinh dưỡng, đất cát ven biển, đất đỏ phát triển trên núi lửa, đất phù sa và đất bị xói mòn Tại Australia, keo lưỡi liềm thường xuất hiện trên các đồi cát, sườn dốc của đụn cát cố định và vùng chân đồi, kể cả đất cát biển chứa nhiều Canxi và Kali Ở Papua New Guinea và Indonesia, loại cây này phát triển trên phù sa cổ, đặc biệt là các khu vực có đất thoát nước tốt và pH đất axit mạnh, nhưng cũng thích nghi với vùng đất không thoát nước, úng ngập mùa mưa và khô hạn mùa khô, như đất đỏ vàng gley hoá và đất sét đỏ vàng.

Các nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy rừng trồng Acacia crassicarpa nguồn gốc Papua New Guinea sau 3 năm đạt năng suất sinh khối khô lên đến 207 tấn/ha, cho thấy khả năng sinh trưởng vượt trội của loại cây này Tại vùng khô hơn như Ratchaburi, Thái Lan, Acacia crassicarpa đạt năng suất sinh khối ngang bằng keo lá tràm với 40 tấn/ha sau 3 năm tuổi, phù hợp với điều kiện khí hậu khô hạn Trong khi đó, ở Sarah, Malaysia, cây trồng trên đất đá mặt mỏng và đất cát cho kết quả cao hơn, với chiều cao từ 15 - 23 mét và đường kính cành 10 - 16 cm sau 4 năm, chứng tỏ khả năng thích nghi và sinh trưởng tối ưu của loài cây này trong điều kiện đất khô, khan hiếm nước.

A.auriculiformis vàA mangium(Sim và Gan 1991).

Nhiều nghiên cứu trong khu vực cho thấy A crassicarpa sinh trưởng ngang bằng hoặc vượt trội so với A auriculiformis và A mangium, với tỷ lệ sống đạt 95-100% sau 2 năm và chiều cao từ 7 đến 9,4 mét, đường kính 7-9,6 cm (theo các nghiên cứu tại Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Lào) Tại Myanmar, cây A crassicarpa được đánh giá có tốc độ sinh trưởng nhanh, phù hợp để sản xuất gỗ làm đồ dùng gia dụng, thuyền, ván sàn, củi và bột giấy, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến gỗ trong khu vực.

Trọng lượng khô trong không khí của A crassicarpa là 710 kg/m 3 , sấy khô là 620 kg/m 3 (Clak và cộng sự, 1991 - 1994) [40].

A crassicarpa được trồng 40.000 ha ở Sumatra Indonesia trên đất ẩm, có pH thấp và thỉnh thoảng bị ngập nước Trong khi A crassicarpa trên đất ẩm này cho sinh trưởng bình quân hàng năm thấp hơn A mangium trên đất khô nhưng do tỷ trọng A crassicarpa lớn hơn so với A mangium nên sản lượng bột giấy vẫn bằng nhau, do đó sản lượng bột giấy/ha vẫn chấp nhận được Từ 40.000 ha A crassicarpa cung cấp nguyên liệu cho nhà máy bột giấy thu được trên 1 tỷ USD tương đương > 25.000 USD/ha (Stephen Midgley

A crassicarpa là một trong ba loài cây cố định đạm tốt nhất thuộc Bộ đậu Legumimosa(A crassicarpa, A magium và A mearnsii), chúng đóng vai trò quan trọng trong vùng nhiệt đới nhằm bảo vệ và khôi phục đất thoái hoá do canh tác quá mức hoặc khai thác rừng quá mức Những cây này cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, gỗ củi, thức ăn gia súc, Tanin và gỗ lớn Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để chống xói mòn và phục hồi đất [40].

A crassicarpa được xác định là cây có khả năng hấp thụ CO 2 tốt, chính phủ Australia đã đầu tư một dự án lớn để trồng các loài cây có khả năng hấp thụ khí CO 2 tốt trên 9 nước khác nhau, trong đó ở Việt Nam được sự hợp tác của chính phủ Australia thông qua Viện CSIRO và Trung tâm Giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lập 05 vườn giống gồm 02 loài A crassicarpa và Eucalyptus tereticornis Những vườn giống này nhằm cung cấp giống có chất lượng cao và có khả năng hấp thụ khí CO 2 tốt phục vụ trồng rừng tại Việt Nam (Stephen Midgley) [49].

ở Việt Nam

Nghiên cứu về đất cát ven biển

-Diện tích, phân bố của đất cát biển Việt Nam

Hiện nay, các số liệu về diện tích đất cát ven biển tại Việt Nam do các tác giả công bố đều có sự khác biệt rõ rệt, thể hiện qua bảng 1.1 cho thấy sự biến động lớn về số liệu này [4].

Bảng 1.1 Số liệu diện tích đất cát ven biển Việt Nam

TT Tác giả Thời gian Diện tích (ha)

1 Viện Quy hoạch & Thiết kế NN 1980 502.045

4 Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam 1997 502.045

5 Nguyễn Thị Dần, Trần Trúc Sơn 1999 462.700

Mặc dù có những biến động về số liệu diện tích đất cát ven biển Việt Nam, các số liệu đã phản ánh chính xác khoảng 500.000 - 600.000 ha diện tích đất cát nước ta Diện tích đất cát ven biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, du lịch và bảo vệ môi trường của quốc gia Việc nắm bắt chính xác diện tích đất cát ven biển giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp bền vững để khai thác và bảo vệ tài nguyên này Thống kê này cung cấp thông tin hữu ích cho các nghiên cứu về phát triển bền vững vùng ven biển Việt Nam.

- Phân loại đất cát biển Việt Nam

Theo Phan Liêu (1981), đất cát biển Việt Nam được phân chia thành 6 loại phụ chính bao gồm cát bờ biển, cồn cát biển (di động và cố định), đất cát biển điển hình, đất cát biển ngập nước, đất cát biển xen phù sa và đất cát biển chứa sò, hến, điệp Các loại đất cát này phân bố đa dạng và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái ven biển Việt Nam Nghiên cứu này cung cấp cơ sở để hiểu rõ hơn về đặc điểm và tiềm năng sử dụng của các vùng đất cát ven biển.

Theo tài liệu “Hiện trạng và hướng sử dụng đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Tổng cục Quản lý ruộng đất xuất bản, dựa trên số liệu thống kê từ năm 1980-1982, đất cồn cát và đất cát được phân thành 5 loại phụ chính: cồn cát trắng vàng, cồn cát đỏ, đất cát biển, đất cát Glây, và đất cát san hô.

Theo phân loại của Nguyễn Ngọc Bình, đất cát dùng trong ngành Lâm nghiệp gồm có hai loại chính tại vùng cát ven biển Những loại đất này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các hoạt động lâm nghiệp bền vững Việc phân loại chính xác giúp xác định rõ đặc điểm và khả năng sử dụng của từng loại đất cát ven biển Hiểu biết về các loại đất cát này là cơ sở để áp dụng các phương pháp canh tác phù hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.

Đánh giá tiềm năng sản xuất đất cát biển Việt Nam dựa trên các yếu tố đất đai như tính chất của đất, địa mạo, khả năng thoát nước và mức độ di động của cát là rất quan trọng để xác định khả năng phát triển lâm nghiệp Các tác giả Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình đã đề xuất 4 tiêu chí chính để đánh giá tiềm năng đất cát biển, gồm loại phụ đất cát, mức độ di động của cát, khả năng thoát nước của cát và vị trí gần hay xa biển Họ cũng đã xây dựng bảng đánh giá mức độ phù hợp trong sử dụng đất cát lâm nghiệp cho ba loại đất chính là đất cát và cồn cát đỏ, cát vàng, cát trắng, giúp định hướng phát triển bền vững ngành lâm nghiệp ven biển Việt Nam.

Nghiên cứu về trồng rừng trên vùng cát

Trong vùng đất cát ven biển, việc chọn loài cây trồng phù hợp đóng vai trò quyết định thành công của công tác trồng rừng Trước đây, Phi lao được xem là loài cây chủ đạo ở khu vực này, tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng ngoài Phi lao, còn có nhiều loài cây khác thích nghi tốt với vùng đất cát Các tiêu chí chọn lựa cây trồng phòng hộ bao gồm khả năng sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu, chịu gió mạnh và cản gió tốt, hệ rễ phân bố rộng và bám cát chắc chắn, có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện đất cát nghèo dinh dưỡng, đồng thời giúp cải tạo đất và nâng cao độ phì nhiêu của đất Gỗ của các loài cây này còn có nhiều công dụng, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế và sinh thái cao cho khu vực.

Phi lao (Casuarina equisetifolia L) đã chứng tỏ vai trò chiến lược trong việc trồng rừng chống cát bay ở ven biển Việt Nam hơn một thế kỷ qua, nhờ khả năng sinh trưởng nhanh và phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương Loài cây này đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ đồng ruộng và cung cấp gỗ củi chủ yếu cho cư dân sống trên vùng cát Nhiều nghiên cứu từ các nhà chuyên môn trong lĩnh vực lâm nghiệp khẳng định rằng Phi lao là loài cây đạt tiêu chuẩn cho các dự án trồng phòng hộ trên vùng cát di động Trong những năm gần đây, dòng Phi lao hom Trung Quốc như 601, 701 đã được thử nghiệm trồng từ năm 1999 tại Quảng Bình, Bình Thuận trên cồn cát di động và bãi cát bằng, đem lại kỳ vọng trở thành loài cây phù hợp để phủ xanh và bảo vệ các khu vực cát di động.

Các loài Keo chịu hạn đã được nghiên cứu qua chương trình hợp tác giữa ATSC (Khoa Lâm học, CSIRO Australia), Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) và Trung tâm Giống cây rừng tỉnh Bình Thuận Tiến hành trồng thử nghiệm các loài Keo từ Australia cùng với giống địa phương Muồng Đen, kết quả cho thấy sau 6 tháng, tất cả các loài đều có tỷ lệ sống cao từ 74-94,5%, không có sự khác biệt rõ rệt Tuy nhiên, sau 56 tháng, tỷ lệ sống của các loài thay đổi rõ rệt, trong đó A torulosa nổi bật với tỷ lệ sống cao nhất Các kết quả này cung cấp thông tin quan trọng giúp lựa chọn các loài cây phù hợp để trồng trong vùng cát trắng Huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ sống của Muồng Đen chỉ còn 16%, trong khi đó các loài keo như A Tumida (47,9%), A holosericea (40,3%), A difficilis (36%) và Keo lá tràm chỉ đạt 5,3% Đặc biệt, ba loài A difficilis, A tumida và A torulosa có khả năng sinh trưởng với đường kính và chiều cao lớn nhất, cho thấy tiềm năng phát triển bền vững Theo Đặng Văn Thuyết (2000), các loài keo chịu hạn này đã được trồng thử nghiệm trên các cồn cát trắng bằng phẳng tại Quảng Bình, bước đầu cho thấy khả năng tồn tại và phát triển trên môi trường cồn cát khô hạn.

Keo lá tràm (A auriculiformis) trồng trên vùng cát trắng thường có tỷ lệ sống thấp và sinh trưởng kém hơn so với 3 loài Keo chịu hạn khác Khi trồng trên bãi cát bán ngập, cây phát triển nhanh trong 3 năm đầu, nhưng sau đó sinh trưởng chậm lại và gần như chững lại, gây khó khăn trong việc trồng thành công (Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, 1999).

Keo lưỡi liềm (A crassicarpa) có khả năng sinh trưởng nhanh và thích nghi tốt với vùng cát nội đồng úng ngập, khô hạn Nhờ những đặc điểm này, loài cây này mang lại triển vọng lớn cho các tỉnh miền Trung Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu của Lê Đình Khả từ Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam, keo lưỡi liềm là giải pháp hiệu quả để phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và tăng cường khả năng chống chịu với điều kiện khắc nghiệt của khu vực.

Xoan chịu hạn (Azadiracta indica Juss.F) đã được trồng thử nghiệm trên bãi cát đỏ cố định tại tỉnh Ninh Thuận Cây trồng 2 năm tuổi cho thấy sự sinh trưởng về chiều cao và đường kính kém hơn từ 1,5 đến 2 lần so với Keo lá tràm cùng tuổi trên cùng điều kiện lập địa Kết quả này góp phần đánh giá khả năng thích nghi và tiềm năng sử dụng của Xoan chịu hạn trong các khu vực đới hạn về nước và đất ở miền Trung Việt Nam.

Các loài cây như Bạch đàn trắng (E camandulensis) và Bạch đàn liễu (E exserta) được người dân trồng hỗn giao với Phi lao trong các đai rừng phòng hộ nông nghiệp nhằm tăng độ phủ xanh và bảo vệ môi trường Cây Điều (Anacadium occidentale), một loài cây thân gỗ cho quả, phù hợp trồng trên đất cát ven biển, đặc biệt từ Quảng Ngãi trở vào Nam Bộ mới đạt năng suất cao Hiện nay, cây Điều ghép đang được phát triển rộng rãi, trở thành lựa chọn phù hợp cho mô hình vườn hộ trên đất cát ven biển tại các tỉnh như Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế địa phương.

* Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên đất cát ven biển

Phương thức và mật độ trồng rừng phòng hộ ở Việt Nam rất đa dạng, tùy thuộc vào nơi sinh sống của người dân để bảo vệ nhà cửa và ruộng vườn Các loài cây phổ biến như Phi lao, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Bạch đàn thường được trồng theo hình thức thuần loài hoặc xen kẽ, thành hàng hoặc giải 2-3 hàng quanh vườn hộ hoặc trên các bờ vùng để cản gió hiệu quả.

Trong giai đoạn từ 1986 đến 1990, Vũ Văn Mễ đã phát triển mô hình trồng rừng phòng hộ trên đất cát trắng cố định tại Tuy Phong - Thuận Hải Các đai rừng được thiết kế theo lưới ô vuông khép kín, với đai chính rộng 30-50m và trồng từ 9-15 hàng cây, hướng vuông góc hoặc gần vuông góc với hướng gió hại nhằm tăng hiệu quả chắn gió Đai phụ rộng 15m, trồng 4 hàng cây và vuông góc với đai chính, góp phần kiểm soát điều kiện địa hình và bảo vệ rừng hiệu quả.

Trong nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật làm đất khác nhau trên đất cát trắng cố định tại huyện Tuy Phong, Bình Thuận từ năm 1986 đến 1990, Vũ Văn Mễ kết luận rằng việc cày đất cát toàn diện một lần, hai lần hoặc không cày không gây sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng của cây trồng, mặc dù không cày thì cây sinh trưởng kém hơn rõ rệt [12] Đối với các loại cây như Keo lá tràm và Phi lao, ở vùng thấp có thể trồng khi đất đôi khi ngập nước trong vài tháng, với hình thức lên líp để rễ cây nằm trên mực nước cao nhất trong mùa mưa, giúp cây phát triển tốt hơn [17].

Hiện nay, đã có nhiều dự án trồng rừng ven biển, như dự án PAM và dự án Việt Đức, tập trung bón phân cho cây trồng bằng phân chuồng phối hợp phân NPK, phân khoáng tổng hợp, và hỗn hợp phân hữu cơ vi sinh với NPK Tuy nhiên, chưa có đánh giá rõ ràng về hiệu quả của các phương pháp bón phân trong các dự án này Theo Vũ Văn Mễ, trong nghiên cứu tại Tuy Phong - Bình Thuận, việc bón 2 kg phân chuồng/hố trên đất cát cày toàn diện giúp cây Muồng đen, Keo lá tràm và Bạch đàn sinh trưởng tốt.

ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng 14 1.2.4 Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa)

-ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng rừng trồng:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

-ảnh hưởng các biện pháp làm đất đến năng suất rừng trồng:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

-ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng:

Mật độ trồng là yếu tố quyết định năng suất rừng trồng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây và chất lượng sản phẩm cuối cùng Mật độ quá cao gây cạnh tranh dinh dưỡng, làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng, trong khi mật độ quá thấp dẫn đến lãng phí đất đai và tăng chi phí công chăm sóc, kiểm soát cỏ dại Do đó, việc xác định mật độ phù hợp là rất quan trọng để tối ưu hóa hiệu quả trồng rừng và đảm bảo sự phát triển bền vững.

Mật độ trồng ban đầu phù hợp và hiệu quả nhất phụ thuộc vào mục đích trồng rừng và điều kiện lập địa nơi gây trồng Hiện nay, nhiều công ty trồng rừng nguyên liệu thường chọn mật độ khoảng 1.660 cây/ha (cự ly 3x2m) cho các loài cây mọc nhanh và trung bình, nhưng chưa rõ liệu mật độ này phù hợp với tất cả các vùng hoặc điều kiện lập địa khác nhau hay không Quy trình nghiên cứu mật độ trồng rừng ở Việt Nam mới tập trung vào một số loài rừng nhất định và chưa nhận được sự chú ý đủ lớn để xác định chuẩn xác hơn.

Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) đã nghiên cứu hiệu quả năng suất của rừng trồng Keo lai tại Đông Nam Bộ qua các mô hình với mật độ trồng khác nhau, từ 952 đến 1.666 cây/ha Kết quả cho thấy sau 3 năm, rừng đạt năng suất cao nhất với mật độ 1.666 cây/ha, đạt 21 m³/ha/năm, trong khi rừng có mật độ thấp nhất là 925 cây/ha chỉ đạt 9,7 m³/ha/năm Các nhà nghiên cứu khuyến nghị mức mật độ trồng phù hợp để tối ưu năng suất Keo lai tại khu vực Đông Nam Bộ.

Bộ trồng thích hợp với mật độ từ 1.111 đến 1.666 cây/ha, trong đó nên chọn mật độ 1.428 cây/ha cho rừng trồng nguyên liệu nhằm tối ưu năng suất và sinh trưởng của cây Đối với rừng gỗ nhỡ và gỗ lớn, nên trồng với mật độ 1.111 cây/ha để đảm bảo sự phát triển phù hợp và khai thác hiệu quả nhất.

1.2.4 Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa)

Keo lưỡi liềm đã được trồng tại Việt Nam từ khoảng 25 năm trước nhằm khảo nghiệm nguồn gốc và đánh giá tiềm năng thích nghi của loài Lần đầu tiên, keo lưỡi liềm được trồng thử nghiệm tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây, có xuất xứ từ Daintree (Queensland), cho thấy khả năng sinh trưởng khá tốt và vượt trội so với các loại keo khác như keo lá tràm và keo lá sim (A aulacocarpa).

Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đá Chông - Hà Tây năm 1990 cho thấy Keo lưỡi liềm là một trong những loài có triển vọng nhất Các nguồn gốc như Dimisisi, Gubam, Bimadebun, Mata và Derideri đều có xuất xứ từ Papua New Guinea và sinh trưởng rất tốt tại miền Bắc Việt Nam Sau 54 tháng tuổi, Keo lưỡi liềm đã đạt hiệu quả sinh trưởng vượt trội, khẳng định tiềm năng phát triển bền vững của loài này.

Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đông Hà - Quảng Trị (1991) cho thấy, Keo lưỡi liềm có khả năng sinh trưởng vượt trội, chỉ đứng sau Keo tai tượng Các xuất xứ tốt của Keo lưỡi liềm bao gồm Derideri, Oriomo, Gubam, Mata, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của giống cây này.

Kết quả khảo nghiệm tại La Ngà cho thấy, Keo lưỡi liềm có khả năng sinh trưởng tốt nhất, ngang bằng với Keo tai tượng và vượt trội so với các loài keo khác Các xuất xứ có hiệu quả cao nhất của Keo lưỡi liềm gồm Dimiisi, Oriomov và Derideri.

Nghiên cứu của Huỳnh Đức Nhân và Nguyễn Quang Đức (1997) tại Hàm Yên - Tuyên Quang, Gia Thanh - Phú Thọ và Tam Đảo - Vĩnh Phúc kết luận rằng, trong số các loài keo được khảo nghiệm, Keo lưỡi liềm sinh trưởng tốt nhất và có tiềm năng phát triển phù hợp cho trồng rừng ở vùng trung du miền Bắc Các kết quả này cho thấy Keo lưỡi liềm là 후보 hàng đầu cho các dự án trồng rừng thảm thực vật ở khu vực này, giúp tối ưu hóa hiệu quả sinh trưởng và phát triển của các loài keo.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002) đã đánh giá sự sinh trưởng của các loài keo tại An Giang, bao gồm keo lưỡi liềm, keo lá tràm, keo tai tượng, keo lá sim và một số loài keo chịu hạn khác Kết quả cho thấy, keo lưỡi liềm sinh trưởng rất tốt tại địa phương, ngang bằng với keo tai tượng và vượt trội so với các loài keo khác về khả năng phát triển.

Trong nghiên cứu về các loài và nguồn gốc trồng trên vùng đồi, kết quả cho thấy loài Crassicarpa sinh trưởng nhanh hơn so với A auriculiformis và A mangium Đặc biệt, các nguồn gốc từ Papua New Guinea ghi nhận mức sinh trưởng cao nhất, là những xuất xứ có khả năng phát triển vượt trội trong điều kiện này.

Manta prov., Gubam, Derideri và Pongaki (Nguyễn Hoàng Nghĩa và Lê Đình

Nhận xét và đánh giá chung

Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định rằng Keo lưỡi liềm là loài cây mọc nhanh, có biên độ sinh thái rộng, khả năng sinh trưởng tốt trên các vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là vùng đất cát Các kết quả nghiên cứu quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển và ứng dụng Keo lưỡi liềm, đặc biệt trong trồng rõng Tại Việt Nam, các nghiên cứu về Keo lưỡi liềm đã diễn ra trong vòng 25 năm qua và cho thấy đây là loài cây phù hợp để thích nghi và phát triển trên nhiều loại đất khác nhau.

Keo lá liềm có khả năng sinh trưởng tốt trên nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là trên đất cát, mang lại triển vọng phát triển khi các kết quả khảo nghiệm cho thấy loài này vượt trội hơn các loài Keo khác trên nhiều vùng đất Tuy nhiên, việc chưa được đưa vào sản xuất do thiếu hướng dẫn kỹ thuật trồng cụ thể vẫn là thách thức lớn Đặc thù của đất cát cố định bán ngập ở Bình Trị Thiên với điều kiện khắc nghiệt, nghèo dinh dưỡng, nhiệt độ cao vào mùa hè, và dễ ngập úng mùa mưa khiến việc trồng trọt rất khó khăn, dẫn đến diện tích đất này còn bỏ hoang lớn Do đó, nghiên cứu các phương pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập là cần thiết để khai thác hiệu quả đất cát, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái ven biển.

Luận văn "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên" nhằm đánh giá hiệu quả của các phương pháp trồng rừng phù hợp với điều kiện đất đai địa phương Đây là nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp tại khu vực Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp sẽ giúp nâng cao năng suất rừng Keo lưỡi liềm, cải thiện sinh kế người dân và bảo vệ môi trường.

Mục tiêu, Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Về khoa học

Nghiên cứu được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình - Trị - Thiên.

VÒ thùc tiÔn

Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình - Trị - Thiên.

Giới hạn nghiên cứu

Vị trí nghiên cứu nằm trong khu vực đất cát cố định bán ngập Bình Trị, Quảng Trị, bao gồm các mô hình thí nghiệm được bố trí tại huyện Triệu Phong và Gio Linh, nhằm khảo sát tác động của điều kiện địa lý đến các phương pháp canh tác phù hợp.

- Loài cây: Keo lưỡi liềm xuất xứ Mata - Papua New Guinea

Nghiên cứu tập trung vào các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm như làm đất, bón phân và xác định mật độ trồng phù hợp để nâng cao hiệu quả trồng rừng Đồng thời, bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ của rừng Keo lưỡi liềm dựa trên ảnh hưởng của tính chất lý hóa học của đất, khả năng chống cát bay và chắn gió, qua đó góp phần bảo vệ môi trường và ổn định hệ sinh thái khu vực.

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nội dung nghiên cứu sau ®©y:

- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất trồng rừng trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên.

- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón lót phân trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên.

- Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên.

- Bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ môi trường của rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình - Trị - Thiên.

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Phương pháp nghiên cứu

Quan điểm và cách tiếp cận

Trong vùng đất cát bán ngập Bình Trị Thiên, đặc điểm đất nghèo dinh dưỡng và dễ bị ngập úng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phòng hộ của rừng trồng Các yếu tố như làm đất, bón phân và mật độ trồng rừng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả của rừng trồng và khả năng phòng hộ Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát tác động của ba yếu tố trên nhằm đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho loài Keo lưỡi liềm trên đất cát bán ngập, với các công thức thí nghiệm được thiết kế riêng để xác định chỉ số tối ưu cho từng yếu tố Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm sẽ được tổng hợp dựa trên các chỉ số tốt nhất của các nhân tố này, nhằm nâng cao hiệu quả phòng hộ của rừng trồng trên vùng đất đặc thù này.

Phương hướng giải quyết vấn đề được khái quát hóa qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề

Vị trí địa lí, đặc điểm đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Bố trí các công thức thí nghiệm

Lựa chọn các công thức cho kết quả tốt nhÊt

Lựa chọn các nhân tố chủ đạo ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng trồng Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Các bước tiến hành nghiên cứu được thể hiện qua sơ đồ ở hình 2.2.

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu Đề xuất các biện pháp kü thuËt trồng rừng

Thu thËp các tài liệu, số liệu đã có

Khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu

Lựa chọn địa điểm phù hợp là bước quan trọng để đảm bảo thành công của các thử nghiệm nông nghiệp Việc bố trí thí nghiệm cần được thiết kế khoa học để đánh giá chính xác kết quả, từ đó rút ra những nhận định hữu ích Đánh giá kết quả thí nghiệm giúp xác định mức độ thành công của quá trình thử nghiệm và khả năng áp dụng vào thực tiễn Thêm vào đó, việc đánh giá hiệu quả môi trường của các phương pháp canh tác góp phần nâng cao tính bền vững và thân thiện với môi trường Quá trình làm đất, thử nghiệm phân bón và xác định mật độ trồng là các bước quan trọng để tối ưu hóa năng suất cây trồng và đảm bảo sự phát triển sức khỏe của cây trong điều kiện thực tế.

2.5.2.1 Thu thập số liệu đã có áp dụng phương pháp kế thừa tài liệu Những tài liệu được đề tài kế thừa gồm:

- Các công trình nghiên cứu đã có về đất cát ven biển nói chung và đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên nói riêng.

Các công trình nghiên cứu và phát triển loài cây Keo lưỡi liềm đã được thực hiện trên các vùng sinh thái đa dạng, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của loài cây này Đặc biệt, công tác nghiên cứu tập trung vào các vùng đất cát ven biển Bình Trị Thiên, nơi có điều kiện khí hậu phù hợp để trồng và phát triển Keo lưỡi liềm Những nghiên cứu này nhằm thúc đẩy trồng rừng bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực.

Các số liệu thống kê hàng năm của địa phương về trồng rừng trên đất cát, đặc biệt tại vùng cát cố định bán ngập của Bình Trị Thiên, cho thấy xu hướng tích cực trong việc mở rộng diện tích rừng, góp phần bảo vệ môi trường và cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương Những số liệu này phản ánh hiệu quả các chính sách trồng rừng và phát triển bền vững tại khu vực, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để hoạch định các chiến lược phát triển rừng trong tương lai Việc theo dõi hàng năm giúp đánh giá các kết quả thực hiện, thúc đẩy các hoạt động sinh thái và nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của rừng đối với sự phát triển bền vững của vùng Bình Trị Thiên.

- Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng cát ven biển Bình Trị Thiên.

2.5.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm a) Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất:

Thí nghiệm được bố trí năm 2000 và 2001, cụ thể như sau:

* Năm 2000 thí nghiệm bố trí tại Triệu Trạch Triệu Phong Quảng Trị.

Diện tích nghiên cứu rộng 1,9 ha, trong đó có 10 công thức thí nghiệm làm đất được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ, lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác và khách quan Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích 600 m² (25m x 24m), tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập dữ liệu và phân tích Loài Keo lá tràm được bố trí tại một số công thức thí nghiệm nhằm so sánh hiệu quả phát triển và năng suất giữa các phương pháp khác nhau.

Lần lặp Lặp I Lặp II Lặp III

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lên líp năm 2000 - Triệu Phong Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không lên líp

- CT2: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m; cao 0,2m.

- CT3: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m; cao 0,4m.

- CT4: Líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,2m.

- CT5: Líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,4m.

- CT6: Líp bốn (trồng 04 hàng) rộng 10,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,2m.

Phần đối chứng Keo lá tràm:

- CT8: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m; cao 0,2m.

- CT9: Líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m; rãnh líp 1,5m; cao 0,2m.

- CT10: Líp bốn (trồng 04 hàng) rộng 10,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,2m.

Năm 2001, thí nghiệm được bố trí tại Nhĩ Trung - Gio Thành - Gio Linh, Quảng Trị, với diện tích 0,8 ha gồm 3 công thức thí nghiệm dựa trên đánh giá từ năm 2000 Mỗi công thức được bố trí theo ô, với diện tích mỗi ô là 720 m² (30m x 24m), được sắp xếp ngẫu nhiên theo phương pháp khối và lặp lại 3 lần để đảm bảo tính khách quan và chính xác của kết quả.

Lần lặp Công thức thí nghiệm lên líp

Lặp I Líp đôi cao 0,4m Líp đơn cao 0,4 m Không lên líp Lặp II Líp đôi cao 0,4m Líp đơn cao 0,4 m Không lên líp Lặp III Líp đôi cao 0,4m Líp đơn cao 0,4 m Không lên líp

Sơ đồ 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lên líp năm 2001 - Gio Linh Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không lên líp.

- CT2: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m, cao 0,4m.

Trong nghiên cứu này, chế độ bón phân lót cho rừng Keo lưỡi liềm trồng trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên được xác định dựa trên phương pháp trồng theo hình thức CT3, gồm hai hàng rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, và cao 0,4m Việc thiết kế hệ thống trồng phù hợp giúp tối ưu hóa hiệu quả sinh trưởng của cây keo, đồng thời nâng cao khả năng phát triển bền vững trong điều kiện đất cát bán ngập Các yếu tố về chế độ bón phân lót đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dưỡng chất cần thiết để cây keo phát triển mạnh, đảm bảo năng suất và chất lượng rừng keo lưỡi liềm tại vùng nghiên cứu.

Năm 2000, một thí nghiệm đã được thực hiện tại Triệu Trạch - Triệu Phong, Quảng Trị với diện tích 1,9 ha, tập trung nghiên cứu các công thức bón phân cho Keo lưỡi liềm Thí nghiệm gồm 09 công thức bón phân được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ nhằm đánh giá tác động của các loại phân khác nhau Mỗi công thức thí nghiệm được thiết kế thành các ô, mỗi ô có diện tích 600 m² (25m x 24m) và được lặp lại 3 lần để đảm bảo độ chính xác và tính khách quan của kết quả nghiên cứu.

Sử dụng các loại phân Vi sinh, NPK, Lân.

Lần lặp Lặp I Lặp II Lặp III Công thức bón ph©n

Sơ đồ 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân năm 2000 - Triệu Phong Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không bón phân.

- CT2: Bãn lãt NPK: 50 g/gèc.

- CT3: Bãn lãt NPK: 75 g/gèc.

- CT4: Bãn lãt NPK: 100 g/gèc.

- CT5: Bãn lãt Vi sinh: 100 g/gèc.

- CT6: Bãn lãt Vi sinh: 150 g/gèc.

- CT7: Bãn lãt Vi sinh: 200 g/gèc.

- CT8: Bãn lãt L©n Super: 100 g/gèc.

- CT9: Bãn lãt L©n Super: 150 g/gèc.

Năm 2001, nghiên cứu được thực hiện tại Nhĩ Trung - Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị trên diện tích 1,4 ha với 05 công thức dựa trên đánh giá thí nghiệm năm thứ nhất Mỗi công thức được bố trí theo ô, với mỗi ô thí nghiệm rộng 720 m² (30m x 24m), sử dụng thiết kế ngẫu nhiên khối đầy đủ và lặp lại 3 lần để đảm bảo độ chính xác của kết quả Mục đích của bố trí thí nghiệm là thử nghiệm phân hữu cơ và bùn ao nhằm giữ ẩm qua mùa hè sau trồng và hạn chế hiện tượng cát bay cục bộ, nâng cao năng suất và độ bền của cây trồng trong điều kiện đất đai khắc nghiệt.

Lần lặp Công thức bón phân

Sơ đồ 2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân năm 2001 - Gio Linh Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không bón phân.

- CT2: Bón lót vi sinh hữu cơ sông Gianh 200 g/ gốc.

- CT3: Bón lót vi sinh hữu cơ sông Gianh 100 g/gốc + Bùn ao 1kg/gốc.

- CT4: Bón lót Bùn ao 2 kg/gốc.

- CT5: Bón lót phân chuồng 2kg/gốc. c) Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Năm 2000 tại Triệu Trạch - Triệu Phong - Quảng Trị, nghiên cứu đã tiến hành khảo nghiệm trên diện tích 1,2 ha với 4 công thức thí nghiệm mật độ keo lưỡi liềm Các công thức này được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ nhằm đảm bảo tính khách quan và chính xác của kết quả nghiên cứu Mỗi công thức thí nghiệm được tổ chức theo ô, giúp dễ dàng đánh giá tác động của mật độ trồng keo lưỡi liềm đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây.

Lặp I Lặp II Lặp III

Sơ đồ 2.7 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ trồng năm 2000 - Triệu Phong

- CT1: Mật độ: 3 x 1m = 3.300 cây/ha.

- CT2: Mật độ 3 x 1.5m = 2.200 cây/ha.

- CT3: Mật độ 3 x 2m = 1.650 cây/ha.

- CT4: Mật độ: 2 x 2m = 2.500 cây/ha.

* Năm 2001 tại Nhĩ Trung - Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị Diện tích: 0,8 ha gồm: 03 công thức trên cơ sở đã đánh giá thí nghiệm năm thứ nhất.

Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí theo ô, mỗi ô thí nghiệm là 720 m 2 (30m x 24m) được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ và lặp lại 3 lần.

Lần lặp Công thức mật độ

Sơ đồ 2.8 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ trồng năm 2001 - Gio Linh

- CT1: Mật độ 2 x 2m = 2.500 cây/ha.

- CT2: Mật độ 3x1.5m = 2.200 cây/ha.

- CT3: Mật độ 3 x 2m = 1.650 cây/ha.

2.5.2.3 Phương pháp thu thập số liệu + Đối với các thí nghiệm làm đất, bón phân, mật độ trồng:

- Số liệu thí nghiệm được thu thập trên các ô thí nghiệm, đo 30 cây/ô.

- Các chỉ tiêu sinh trưởng thu thập gồm: D g ; D 1,3 ; H vn ; D t ; tỉ lệ sống; tình hình sâu bệnh hại

Để đo đường kính gốc và đường kính ngang ngực, sử dụng thước kẹp kính chính xác Chiều cao được đo bằng sào đo cao để đảm bảo độ chính xác cao nhất Đường kính tán được xác định bằng cách đo hình chiếu tán bằng thước dây theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình để đảm bảo kết quả đo chính xác và khách quan.

+ Tỷ lệ sống tính bằng tỷ lệ % số cây hiện còn và số cây trồng ban đầu.

+ Đối với hiệu quả cải tạo môi trường

Để đánh giá khả năng cải tạo lý hoá tính đất, tiến hành đào phẫu diện và lấy mẫu đất tại 03 ô tiêu chuẩn trên địa điểm trồng rừng ở các vị trí đại diện cho khu vực Mẫu đất được lấy từ độ sâu 0-30cm với kích thước 40 x 40 x 40cm, mỗi mẫu khoảng 1 kg, sau đó đóng gói vào túi nilon hoặc hộp nhôm để đem đi phân tích tại phòng thí nghiệm Quá trình lấy mẫu được thực hiện một lần trước khi trồng rừng và một lần sau khi rừng đã phát triển được 4,5 năm ở các vị trí tương đương nhằm phân tích hàm lượng và thành phần lý, hoá tính của đất trước và sau quá trình trồng rừng.

Để đánh giá khả năng chắn gió của đai rừng, cần đo gió trước và sau đai rừng bằng máy đo gió cầm tay và địa bàn để xác định hướng gió chính Máy đo đặt hướng Tây-Nam hoặc Đông-Bắc, vuông góc với đai rừng, ở vị trí cách đai rừng 12 H và cao 1,5m cho lần đo trước đai Đo sau đai thực hiện tại các vị trí cách đai lần lượt là 20m, 40m, 60m, 80m, 100m, mỗi điểm đo ở độ cao 1,5m, lặp lại 3 lần để lấy giá trị trung bình, đảm bảo độ chính xác và khách quan trong đánh giá khả năng chắn gió của đai rừng.

Trong rừng trồng keo lưỡi liềm năm 2000 và 2001, chúng tôi đã lập 10 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích 4m² theo tuyến song song để thu thập vật rơi rụng Toàn bộ vật rơi trong các ô này đều được thu gom và cân trọng lượng tươi, đảm bảo quy trình chuẩn để đánh giá sinh trưởng và năng suất của rừng keo Việc thiết lập các ô tiêu chuẩn này giúp kiểm soát chính xác lượng vật rơi và hỗ trợ công tác quản lý rừng hiệu quả hơn.

2.5.2.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và đánh giá kết quả

* Các chỉ tiêu sinh trưởng:

- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê trong Nông Lâm nghiệp bằng phần mềm Excel trên máy Vi tính (Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi,

1998 [25]) và phần mềm SPSS (Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình [26]).

- Tính các đặc trưng thống kê theo từng mô hình để đánh giá kết quả.

+ Trung bình mẫu (Xtb) được tính theo công thức:

+ Hệ số biến động (Cv%) được tính theo công thức:

+ Thể tích thân cây được tính theo công thức:

+ Tỷ lệ sống trên ha:

M: Trữ lượng cây đứng trên một ha.

Vtb: Thể tích trung bình của một cây.

Mật độ hiện tại trên một hecta (N ht) và mật độ ban đầu (N bd) đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của keo lưỡi liềm Phân tích phương sai cho thấy các yếu tố này có tác động rõ rệt đến sinh trưởng của cây, giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố Hiểu rõ mối liên hệ giữa mật độ cây và tốc độ sinh trưởng là yếu tố then chốt để tối ưu hóa các phương pháp trồng và chăm sóc keo lưỡi liềm, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

F tính toán > F tra bảng (Ftb 0,05) thì các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng Keo lưỡi liềm.

- Phương pháp phân tích mẫu đất: pH: Đo trên máy pH mét.

Mùn%: Phương pháp so màu Tiurin.

N%: Phương pháp Kjendhal (theo Bremer).

K 2 O%: Đo trên máy quang kế ngọn lửa.

P 2 O 5 dễ tiêu: Phương pháp Oniani trên màu bằng hỗn hợp axit ascorbic antimoantartrat.

K 2 O dễ tiêu: Đo trên máy quang kế.

Vi sinh vật tổng số: Phương pháp nuôi cấy Vi sinh vật.

Vi sinh vật hoạt động: Phương pháp nuôi cấy Vi sinh vật.

-Đánh giá khả năng chắn gió:

+ Tốc độ gió giảm tính theo phần trăm:

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu kéo dài khoảng 350 km trên địa bàn ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, với chiều rộng trung bình từ 50 đến 80 km Diện tích nghiên cứu có vị trí rộng nhất là 91 km và hẹp nhất là 46,5 km, hình thành nên một vùng đa dạng về địa lý và kinh tế.

Khu vực nghiên cứu nằm trong tọa độ địa lý từ 16 0 12 ' đến 18 0 06’ vĩ độ Bắc, từ 105 0 37 ' đến 108 0 10 ' độ kinh Đông và được giới hạn như sau (xem sơ đồ 3.1):

- Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh.

- Phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam.

- Phía Đông giáp biển Đông.

- Phía Tây giáp nước Lào.

Diện tích, đất đai

Khu vực Bình - Trị - Thiên có tổng diện tích là 17.250 km 2 , được chia làm 4 vùng [27]:

- Vùng núi: Chiếm khoảng 30% diện tích toàn khu vực.

Vùng Trung du chiếm khoảng 50% diện tích đất tự nhiên, với đặc điểm chung gồm đất chua, nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng và độ dốc lớn dễ bị xói mòn, rửa trôi Các loại đất phổ biến tại đây gồm khoảng 15 loại, trong đó đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất chiếm diện tích lớn nhất (khoảng 515.817 ha), tiếp đến là đất có màu đỏ nâu trên đá bazơ và trung tính (khoảng 21.000 ha).

Vùng đồng bằng chiếm khoảng 9% diện tích toàn khu vực, với đa dạng về loại đất, gồm 18 loại đất khác nhau Trong đó, chỉ có 7 loại đất phù sa, chiếm diện tích 129.285 ha, trong đó có khoảng 18.574 ha đất bồi, góp phần nâng cao năng suất làm nông nghiệp và phát triển kinh tế địa phương.

Vùng đất cát ven biển chiếm khoảng 5,54% diện tích tự nhiên của khu vực, phân thành hai loại chính là cồn cát trắng vàng rộng 77.720 ha và đất cát biển với diện tích khoảng 32.756 ha Các loại đất này phân bố theo dải hẹp sát bờ biển, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái ven biển và phát triển du lịch nghỉ dưỡng.

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu

Huyện Gio LinhHuyện Triệu Phong

Địa hình

Khu vực Bình-Trị-Thiên có địa hình phức tạp, với độ cao thấp dần từ Tây sang Đông và chia thành nhiều dải, nổi bật là dãy Trường Sơn chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phần lớn diện tích là đồi núi, chiếm ¾ diện tích tự nhiên, với nhiều dãy núi đâm ngang ra biển, tạo nên cảnh quan đa dạng và hiểm trở Bên cạnh đó, vùng đất cát ven biển có địa hình khá bằng phẳng, gồm các dạng chính như bãi cát, cồn cát và đụn cát, với độ cao khoảng từ 3 đến 30 mét, phù hợp cho các hoạt động du lịch và phát triển bền vững.

KhÝ hËu

Theo Phân Viện Điều tra Quy hoạch rừng Trung Trung Bộ (2001) [28],

Khu vực Bình-Trị-Thiên có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhưng do ảnh hưởng của các điều kiện địa lý đặc biệt, như ba đèo lớn Hải Vân, Đèo Ngang và Mụ Dạ, nên khí hậu tại đây mang những nét đặc trưng riêng và khắc nghiệt hơn các vùng khác của Việt Nam.

Khu vực có chế độ nhiệt với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24-25°C, tổng nhiệt lượng khoảng 9000-9200°C Mùa lạnh kéo dài từ cuối tháng 11 năm trước đến đầu tháng 3 năm sau, với tháng I là lạnh nhất, nhiệt độ trung bình dưới 20°C ở đồng bằng và dưới 10°C ở vùng cao từ 400m trở lên Nhiệt độ thấp nhất có thể giảm xuống còn 8-9°C, hoặc 5-7°C ở các vùng rẻo cao Mùa nóng diễn ra từ giữa tháng 4 đến tháng 10, cao điểm vào tháng VI và VII, với biên độ nhiệt ngày đêm khoảng 7-8°C.

Độ ẩm không khí tại khu vực này rất cao, trung bình hàng năm đạt từ 85% đến 88%, với mùa ẩm kéo dài từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau Trong khoảng thời gian này, độ ẩm bình quân thường trên 90%, đặc biệt vào giữa mùa Đông, khi đạt mức trung bình từ 90% đến 93% Tuy nhiên, vào mùa Hè, độ ẩm có thể giảm xuống dưới 40-45%, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của cây trồng.

Khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ mưa với lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn, dao động từ 2.256 đến 3.974 mm, phù hợp với khí hậu ẩm ướt Quảng Bình ghi nhận lượng mưa trung bình thấp nhất trong khu vực, trong khi Thừa Thiên Huế lại có lượng mưa cao nhất, thể hiện sự phân bố không đều của lượng mưa Thời gian có mưa khá dài, trung bình từ 140 đến 150 ngày trong năm, góp phần duy trì khí hậu mưa nhiều và ẩm ướt cho khu vực.

Mùa mưa của khu vực bắt đầu từ tháng 8 và kéo dài đến tháng 1 năm sau, với lượng mưa lớn nhất diễn ra vào tháng 10 và 11, trung bình từ 607-922mm mỗi tháng Tháng 4 và tháng 7 hàng năm ghi nhận lượng mưa thấp nhất, với trung bình chỉ từ 51-73mm mỗi tháng.

Bình Trị Thiên chịu tác động của gió Tây khô nóng mạnh nhất vào tháng 6-7, kéo dài từ 3-5 ngày, gây ra hiện tượng cát bay trong mùa khô với nhiệt độ trung bình có thể vượt quá 38-39°C Gió mùa Đông Bắc bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 3-4 năm sau, với tốc độ gió từ 4-6 m/s và thường đi kèm mưa, góp phần hình thành các dãy cồn cát ven biển Vùng này cũng là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi gió bão, thường xảy ra vào tháng 9 và 10.

Thủy văn

Khu vực Bình Trị Thiên có tới 112 con sông dài trên 10 km, gồm 5 hệ thống sông chính, tạo thành mạng lưới thủy lợi quan trọng cho khu vực Các con sông trong khu vực thường ngắn, dốc và nhiều thác ghềnh, ảnh hưởng đến dòng chảy và địa hình Từ phía Bắc, du khách có thể gặp các sông lớn như Sông Gianh, Sông Roòn, Sông Kiến Giang, Sông Bến Hải, Sông Thạch Hãn, Sông Hương, Sông Ô Lâu, Sông Truồi và Sông Nong, góp phần điều hòa chế độ nước tự nhiên Nhờ hệ thống các sông này, điều kiện nước ở Bình Trị Thiên đã được cải thiện rõ rệt, hỗ trợ phát triển kinh tế và sinh thái khu vực.

Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số, dân tộc, lao động

Dân số khu vực Bình Trị Thiên hiện nay đạt 2.480.100 người, chiếm khoảng 3,15% tổng dân số cả nước Trong khu vực có gần 40 dân tộc sinh sống, chủ yếu là người Kinh tập trung tại các đô thị như thị xã, thị trấn, thành phố Huế và ven các tuyến đường quốc lộ, đồng thời đây cũng là nhóm có thu nhập cao nhất trong vùng Các dân tộc thiểu số thường cư trú tại các vùng núi xa xôi, với tỷ lệ chiếm dưới 10% dân số của từng tỉnh trong khu vực.

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội Bình - Trị -Thiên

Mật độ dân số (người/ km 2 )

Có 24 dân tộc, chủ yếu là người Kinh, Vân kiều và Chứt, các dân tộc khác có dưới 100 người.

Cã 29 d©n téc, d©n téc Kinh chiÕm 90,9%, Bru - Vân Kiều chiếm 7,1% và

Tà Ôi 1,8% còn lại là 26 dân tộc khác.

Có 35 dân tộc, người Kinh chiếm 96,3%, Tà Ôi 2,3%, Cờ Tu 1,2%, Bru - Vân Kiều 0,7%, còn lại là dân tộc khác.

Nguồn nhân lực trong khu vực khá dồi dào với tổng số lao động lên tới 1.220.200 người, chiếm 49% dân số, tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp ở độ tuổi lao động còn cao, lên đến 6,2%, cho thấy mức độ sử dụng lao động chưa đạt hiệu quả, đặc biệt trong thời kỳ nông nhàn khi hiện tượng thừa nhân lực diễn ra phổ biến.

Kinh tế - xã hội

Thu nhập của các hộ gia đình trong khu vực không đồng đều, thể hiện rõ sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn cũng như giữa người Kinh và dân tộc thiểu số Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 1999, khoảng cách về thu nhập giữa nhóm người giàu nhất và nghèo nhất là 7 lần Hiện nay, thu nhập trung bình của người lao động Nhà nước tại Bình Trị Thiên là khoảng 600.000 đồng/tháng, trong khi nhóm người có thu nhập cao vượt quá 6 triệu đồng/tháng, còn những người nghèo chỉ có thu nhập dưới 80.000 đồng/tháng, cho thấy còn nhiều bất cập trong phân phối thu nhập và đời sống của người dân.

Bình Trị Thiên có lợi thế phát triển thủy sản nhờ hơn 300 km bờ biển và nhiều đầm phá rộng lớn, góp phần xuất khẩu khoảng 500 tỷ đồng hải sản hàng năm Bên cạnh đó, ngành du lịch và dịch vụ phát triển mạnh với các điểm đến văn hóa, lịch sử, khu nghỉ dưỡng ven biển, hang động, chùa chiền và lăng tẩm, tạo nguồn thu nhập đáng kể cho kinh tế địa phương.

Trong những năm qua, hệ thống cơ sở hạ tầng đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là các tuyến đường bộ, đường sắt, sân bay và bến cảng, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hoá, thương mại, du lịch và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, cuộc sống của người dân vùng cát vẫn còn nhiều khó khăn do đất đai nghèo, năng suất cây trồng thấp và thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai như gió bão và cát bay.

Nhận xét và đánh giá chung

Thuận lợi

Bình Trị Thiên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế như khai thác du lịch, đánh bắt cá và nuôi trồng thủy sản, cũng như giao lưu hàng hóa qua đường biển Đặc biệt, cửa khẩu quốc tế Lao Bảo góp phần thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam và Lào, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế của vùng.

Vùng có lực lượng lao động đông đảo chủ yếu làm nông lâm nghiệp, với đặc điểm là chăm chỉ, cần cù và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông lâm nghiệp Nhờ vào những tố chất này, địa phương có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp bền vững và hiệu quả.

Với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, vai trò phòng hộ của vùng cát và việc nâng cao đời sống người dân khu vực này ngày càng được quan tâm Người dân vùng cát đang nhận được nhiều hỗ trợ về tài chính và khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực nông lâm nghiệp, góp phần ổn định và nâng cao đời sống cộng đồng.

Khoa học nông lâm nghiệp trên vùng cát ngày càng phát triển rõ ràng, với nhiều nghiên cứu và tuyển chọn thành công các loại cây trồng phù hợp Các loại đất cát và biện pháp canh tác hiệu quả trên đất cát cũng đã được nghiên cứu và hoàn thiện dần, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp tại vùng đất cát Bình-Trị-Thiên.

Khã kh¨n

Bình Trị Thiên là vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đặc biệt là vùng đất cát ven biển, thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió, bão biển và cát bay Chế độ khí hậu tại đây thay đổi rõ rệt theo mùa, kéo theo chế độ nhiệt, gió, mưa và độ ẩm không khí khác biệt mỗi tháng trong năm Để nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi, việc xây dựng rừng phòng hộ để chắn gió, chắn cát và cải thiện điều kiện khí hậu là vô cùng cần thiết.

Kinh tế trong khu vực còn nghèo và phát triển không đồng đều, đặc biệt là các vùng đất cát ven biển vẫn trong tình trạng nghèo đói Điều kiện để người dân đầu tư phát triển kinh tế, cải tạo đất đai và mở rộng nông lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn lực và cơ sở hạ tầng.

Đất cát ven biển khu vực Bình-Trị-Thiên có đặc điểm nghèo mùn, đạm, kali và các chất dinh dưỡng khác, đất từ hơi chua đến chua và mực nước ngầm biến đổi phức tạp Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, hàm lượng li mông và sét thấp khiến đất cát nghèo dinh dưỡng, gây khó khăn trong sử dụng và cải tạo để nâng cao năng suất cây trồng Việc đầu tư phân bón hữu cơ và giải quyết vấn đề thủy lợi là hết sức cần thiết để cải thiện đất, tuy nhiên khả năng đầu tư của người dân còn hạn chế Do đó, việc sử dụng đất cát ven biển hiện nay chủ yếu theo hướng tổng hợp, liên ngành, trong đó trồng rừng phòng hộ đóng vai trò quan trọng Các loài cây trồng rừng trên vùng đất cát đã phong phú hơn trước, nhưng vẫn còn nghèo nàn, chủ yếu bao gồm các loài cây nhập nội nhằm đảm bảo khả năng thích nghi và phát triển bền vững.

Trong các loại đất cát ven biển, đất cát cố định bán ngập khó canh tác và hầu như chưa có loại cây nào phù hợp ngoài cỏ Tuy nhiên, với diện tích lớn, đất cát cố định bán ngập mở ra nhiều cơ hội để phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống người dân và cải tạo môi trường nếu áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu giải pháp thúc đẩy canh tác trên đất cát ngập nước bằng thử nghiệm trồng Keo lưỡi liềm trong một mùa vụ nhằm giải quyết những tồn tại của loại đất này.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân (bón lót) trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ môi trường của rừng Keo lưỡi liềm

Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Ngày đăng: 20/12/2022, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bình (1996), Đất rừng Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất rừng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
2. Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc (2004), “Năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật - lập địa cần quan t©m", Thông tin Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,(2), Tr 15-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất rừngtrồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật - lập địa cầnquan t©m
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc
Năm: 2004
3. Phạm Thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Hồ Văn Phúc và các cộng sự (2005), Nghiên cứu một số kỹ thuật thâm canh rừng cho các dòng Keo lai được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại Tỉnh Bình Phước làm nguyên liệu giấy, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học 2000-2004, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số kỹ thuật thâm canh rừng cho các dòng Keo lai đượctuyển chọn trên đất phù sa cổ tại Tỉnh Bình Phước làm nguyên liệu giấy
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Hồ Văn Phúc và các cộng sự
Năm: 2005
4. Đặng Thái Dương (2002), Tình hình sử dụng và cải tạo đất cát ven biển miền Trung, Báo cáo chuyên đề khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng và cải tạo đất cát ven biển miềnTrung
Tác giả: Đặng Thái Dương
Năm: 2002
6. Lê Đình Khả (chủ biên) 1997, Kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống cây rừng, nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống câyrừng
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp
7. Lê Đình Khả (1997), Xác định giống cây rừng cho các tỉnh ven biển miền Trung, Kết quả nghiên cứu khoa học vùng Bắc trung Bộ 1991 - 1996, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định giống cây rừng cho các tỉnh ven biển miềnTrung
Tác giả: Lê Đình Khả
Năm: 1997
8.Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) “Giống Keo lai và vai trò của cải thiện Giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng”, tạp chí Lâm nghiệp (9), tr 48 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống Keo lai và vai trò của cải thiện Giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng”,"tạp chí Lâm nghiệp (9)
9.Trần Hoàng Kim (2002), Tư liệu kinh tế xã hội 631 huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh Việt Nam, NXB Thống kê, Ha Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu kinh tế xã hội 631 huyện, quận, thị xã thànhphố thuộc tỉnh Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng Kim
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
11. Nguyễn Thị Liệu (2006), Điều tra tập đoàn cây trồng và xây dựng mô hình trồng rừng Keo lưỡi liềm trên cát nội đồng vùng Bắc Trung bộ, Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Bộ 2000-2005, Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tập đoàn cây trồng và xây dựng mô hìnhtrồng rừng Keo lưỡi liềm trên cát nội đồng vùng Bắc Trung bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Liệu
Năm: 2006
12. Vũ Văn Mễ (1990), Nghiên cứu và áp dụng các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng giữ đất, giữ nước, cải thiện điều kiện đất đai và tiểu khí hậu trên một số vùng có điều kiện đặc biệt, Báo cáo tổng kết đề tài 1986 - 1990, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và áp dụng các biện pháp kỹ thuật xây dựngrừng giữ đất, giữ nước, cải thiện điều kiện đất đai và tiểu khí hậu trên một sốvùng có điều kiện đặc biệt
Tác giả: Vũ Văn Mễ
Năm: 1990
13. Cao Quang Nghĩa (2003), Tổng kết, đánh giá các kết quả nghiên cứu để hoàn thiện kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đất cát trắng cố định, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết, đánh giá các kết quả nghiên cứu để hoànthiện kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đất cát trắng cố định
Tác giả: Cao Quang Nghĩa
Năm: 2003
14. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2003), Phát triển các loài Keo Acacia ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các loài Keo Acacia ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
15. Nguyễn Hoàng Nghĩa và Lê Đình Khả (1998), Khảo nghiệm loài và xuất xứ Keo - Kết quả nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp -NXB Hà Nội - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo nghiệm loài và xuất xứKeo - Kết quả nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa và Lê Đình Khả
Nhà XB: NXB Hà Nội - 1998
Năm: 1998
16. Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình (2001), Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Việt Nam. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng sản xuất đấtlâm nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
17. Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế (1999), Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Khu 4 cũ, Kết quả nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ 1991 - 1996. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâmnghiệp vùng Khu 4 cũ
Tác giả: Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế
Năm: 1999
18. Đỗ Đinh Sâm và cộng sự (2001), Nghiên cứu bổ sung những vấn đề kỹ thuật Lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án, đẩy mạnh trồng rừng phủ xanhđất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên (1998-2000), Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà nước, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung những vấn đề kỹ thuậtLâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án, đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh"đất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên (1998-2000)
Tác giả: Đỗ Đinh Sâm và cộng sự
Năm: 2001
19. Đỗ đình Sâm và Ngô Đình Quế (1994), Đánh giá tiềm năng sản xuất đất Lâm nghiệp vùng đông Nam bộ, Báo cáo khoa học đề mục thuộc đề tài KN 03-01, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng sản xuất đấtLâm nghiệp vùng đông Nam bộ
Tác giả: Đỗ đình Sâm và Ngô Đình Quế
Năm: 1994
20. Đỗ Đình Sâm và Ngô Đình Quế (2005), Đánh giá tiềm năng sản xuấtđất Lâm nghiệp - thực trạng và kiến nghị, Thông tin Khoa học Công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng sản xuất"đất Lâm nghiệp - thực trạng và kiến nghị
Tác giả: Đỗ Đình Sâm và Ngô Đình Quế
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
21. Hoàn Liên Sơn và các cộng tác viên (2006), Đánh giá chất lượng rừng trồng phòng hộ trên đất cát ven biển và ngập mặn ven biển trong Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005, Báo cáo tổng kết đề tài,Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng rừng trồngphòng hộ trên đất cát ven biển và ngập mặn ven biển trong Dự án trồng mới 5triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005
Tác giả: Hoàn Liên Sơn và các cộng tác viên
Năm: 2006
22. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2000), “Khả năng gây trồng một số loài Keo ở vùng núi tỉnh An Giang”, Tạp chí Nông nghiệp & PTNT (02), Tr 163-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng gây trồng một số loài Keo ở vùng núi tỉnh An Giang”,"Tạp chí Nông nghiệp & PTNT
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm