1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện

67 351 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Công Ty TNHH Sông Công Hà Đông
Tác giả Nguyễn Thị Hải
Người hướng dẫn TS. Trần Hoè
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Thương mại
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Đông
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 731,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2006, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ Chức Thương mại Thế giới (WTO) Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng đã phê chuẩn nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam Con thuyền dân tộc đã giong buồm ra biển lớn! Muốn cập bến bờ vinh quang thì cả dân tộc phải vững tay chèo Trên cương vị công tác của mình, mỗi người đều phải có tầm nhìn chiến lược, phải năng động sáng tạo, phải biết đối nhân xử thế, đoàn kết trên dưới một lòng, phải biết làm thương mại, làm sản xuất kinh doanh, …giỏi

Để hoạt động thương mại, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì một trong những vấn đề đang được các doanh nghiệp quan tâm nhất là sản xuất cái gì? Như thế nào?

Và cho ai? Để giải quyết được vấn đề đó các doanh nghiệp không những phải tự trang bị kiến thức về kinh doanh mà chúng ta cần phải phát triển mạnh mẽ về sản xuất kinh doanh như tăng lên cả về chất lượng, số lượng và thay đổi về phương thức Sự gia tăng và thay đổi đó đòi hỏi các doanh nghiệp vừa phải tăng cường sản xuất kinh doanh vừa phải bám sát thị trường và một trong những vấn đề quan tâm nhất là thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Bởi vì thông qua thị trường tiêu thụ sản phẩm thì Công ty không gây ra việc tồn đọng hàng hoá, làm chậm vòng quay của vốn sản xuất, mà Công ty sẽ tăng được khối lượng sản phẩm tiêu thụ, thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao doanh thu và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng mang tính cấp thiết đối với mọi doanh nghiệp nó đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo và đặc biệt là các bộ phận phòng ban làm công tác tiêu thụ Chỉ có như vậy Doanh nghiệp mới có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày cang gay gắt khi thực hiện hội nhập nền kinh tế.Trong bối cảnh như trên Công ty TNHH Sông Công Hà Đông cũng không nằm ngoài xu hướng đó Qua thời gian thực tập tại Công ty em nhận thức được việc cần phải phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách hợp lý, phù hợp Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS.Trần Hoè, cùng sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các anh, các chị cán bộ công nhân viên của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông, em mạnh dạn chọn đề tài: “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông”

Với mục tiêu nhằm phân tích thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông, trên cơ sở thành tựu đạt được và các khó khăn mà Công ty gặp phải, kết hợp giữa lý thuyết và thực tế em đã đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện

Trang 2

hơn công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty Nội dung Báo cáo tổng hợp gồm các chương

Em xin chân thành cảm ơn!

CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 3

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

1.1- ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

1.1.1- Đặc điểm thị trường kinh doanh.

Là một Công ty sản xuất và kinh doanh mặt hàng phụ tùng xe gắn máy nên hàng hoá rất phong phú Thị trường của Công ty được phân bố trên cả nước, Công ty mở các đại lý trên toàn quốc như Bắc, Trung, Nam Ngoài ra Công ty còn cung cấp cho các hãng lắp ráp

xe máy đang đầu tư lắp ráp ở Việt Nam như VMEP, lắp ráp xe Suphat, Lifan, Longin, Hon da,…

Cũng như các Doanh nghiệp khác, Thị trường kinh doanh của Công ty là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua và những người bán cạnh tranh bình đẳng

- Cung hàng hoá: Là toàn bộ khối lượng hàng hoá đang có hoặc sẽ được đưa ra bán trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định với mức giá mà Công ty đã đề ra Các nhân tố ảnh hưởng tới cung hàng hoá là:

+ Các yếu tố về giá cả hàng hoá

+ Các yếu tố về chi phí sản xuất

+ Các yếu tố về chính trị xã hội

+ Trình độ công nghệ

+ Tài nguyên thiên nhiên

- Cầu hàng hoá: Là nhu cầu có khả năng thanh toán Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu hàng hoá:

Trang 4

+ Nhóm nhân tố tác động qua cầu hàng hoá.

+ Nhóm nhân tố tác động qua sự ảnh hưởng một cách đồng thời tới cung, cầu hàng hoá

- Cạnh tranh: Đó là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc giành khách hàng về phía mình.Cạnh tranh được xem xét dưới nhiều khía cạnh: Cạnh tranh tự do, cạnh tranh thuần tuý, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

1.1.2- Đặc điểm sản phẩm kinh doanh.

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông chuyên sản xuất linh kiện phụ tùng xe gắn máy Vì vậy sản phẩm kinh doanh của Công ty là các linh kiện phụ tùng như: pittong, bộ côn ly hợp, tang biên, kim cối, dọ bi, các loại phớt, …

Hàng hoá của Công ty mang ra thị trường và được phân phối trong cả nước Sở dĩ có được như vậy là nhờ có được nhóm chuyên nghiên cứu các sản phẩm và thường xuyên đi thăm

dò thị trường để Công ty có thể tiếp thu ý kiến của khách hàng một cách nhanh nhất để có thể phục vụ tốt nhất Vì sản phẩm kinh doanh có bán được hay không nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống còn của Công ty

1.2- YÊU CẦU PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM ĐỐI VỚI CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

1.2.1- Phát triển thị trường do năng lực sản xuất của Công ty.

Trong những năm đầu mới thành lập, Công ty TNHH Sông Công Hà Đông đứng trước khó khăn về mặt hàng, nhà xưởng, tiền vốn Công ty khắc phục vươn lên bằng chính khả năng của mình của 200 cán bộ công nhân viên với gần 200 đầu máy móc thiết bị và phương tiện Sản phẩm của Công ty chỉ được biết đến ở thị trường Miền Bắc và Miền Trung Nhưng trong 8 năm tiếp theo, mức tăng trưởng doanh số hàng năm trung bình đạt 35%, các sản phẩm của Công ty đã được khách hàng cả nước biết đến với những sản phẩm truyền thống như: vòng găng, supap, xi lanh và nhiều chi tiết khác đa dạng về chủng loại

và kích thước Chất lượng ngày càng được nâng cao, phù hợp với thị hiếu và thực tế sử dụng của người tiêu dùng Từ năm 2000, Công ty đầu tư hoàn thiện 02 sản phẩm mới là bộ giảm sóc và bộ côn xe máy để cung cấp cho các dây chuyền lắp ráp xe máy Trung Quốc tại Việt Nam theo chương trình nội địa hoá xe máy của Nhà nước Sản phẩm đã được nhiều đơn vị bạn sử dụng vào lắp ráp Cho đến nay với số lượng là 455 cán bộ công nhân

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 5

viên và trên 400 đầu máy Công ty đã cung cấp sản phẩm ra thị trường cả nước nhiều hơn

và có ý định xuất sang các nước như thị trường Châu phi, Tây Nam Á và Mỹ La Tinh,…

1.2.2- Phát triển thị trường do cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trên thị trường có vô số người sản xuất kinh doanh và vô số người tiêu dùng các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau Một sự cạnh tranh mà các đơn vị sản xuất kinh doanh luôn luôn cố gắng giành giật các nguồn lực hay thị trường tiêu thụ nhằm thu lợi nhuận

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh diễn ra liên tục và không có đích cuối cùng Cạnh tranh sẽ bình quân hoá các giá trị cá biệt để hình thành giá cả thị trường Vì vậy cạnh tranh

là động lực để thúc đẩy các đơn vị sản xuất kinh doanh nói chung và đơn vị Công ty TNHH Sông Công Hà Đông nói riêng phải luôn luôn và không ngừng cải tiến hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển

1.2.3- Phát triển thị trường do sự thay đổi nhu cầu của khách hàng.

Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu của người tiêu dùng cũng thay đổi Do vậy Công

ty TNHH Sông Công Hà Đông không ngừng tìm tòi nghiên cứu để có thể đáp ứng sản phẩm tới nơi mà người tiêu dùng có nhu cầu cần

Sản phẩm của Doanh nghiệp là một hệ thống nhất các yếu tố có liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ nhu cầu của khách hàng bao gồm sản phẩm vật chất (hiện vật), bao bì, nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ, cách thức bán hàng….Sản phẩm mà người tiêu dùng nhận được bao gồm hàng hoá cứng (hàng hoá hiện vật), hàng hoá mềm (dịch vụ) Từ quan điểm này, cho thấy chỉ cần một sự thay đổi một trong những yếu tố trên như có thêm công năng mới hoặc bao bì mới, dịch vụ mới,…

Có thể phát triển sản phẩm theo hai hướng sau:

* Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn:

+ Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn theo công năng và giá trị sử dụng, điều này đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ của Doanh nghiệp Kinh doanh sản phẩm mới đòi hỏi phải có sự đầu tư mới và đương đầu với những thách thức mới, sản phẩm mới có thể được đưa vào thị trường mới hoặc cho thị trường hiện tại với việc chia sẻ kênh phân phối, tiếp thị hoặc thương hiệu

+ Phát triển thế hệ sản phẩm mới theo ý đồ và thiết kế mới

* Cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, thay thế sản phẩm hiện có, bao gồm:

+ Cải tiến chất lượng tạo ra nhiều loại sản phẩm với phẩm cấp, chất lượng khác nhau

Trang 6

+ Cải tiến kiểu dáng sản phẩm như thay đổi bao bì, nhãn hiệu, hình ảnh mới,

….nhằm làm thay đổi hình dáng kích thước của sản phẩm để tạo ra sự khác biệt

+ Thay đổi tính năng sản phẩm, bảo đảm sử dụng thuận tiện an toàn hơn

+ Tìm ra giá trị sử dụng mới của sản phẩm để tăng thêm khách hàng sử dụng

+ Đổi mới và hoàn thiện dịch vụ liên quan đến sản phẩm như phương thức bán hàng, thanh toán, bảo hành, vận chuyển và sửa chữa, ….nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Đây là hướng quan trọng để tạo sự khác biệt so với sản phẩm cùng loại trên thị trường

1.3- NỘI DUNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

Phát triển thị trường nhằm tìm kiếm cơ hội hấp dẫn trên thị trường Có rất nhiều cơ hội hấp dẫn trên thị trường, nhưng chỉ những cơ hội phù hợp với tiềm năng và mục tiêu của Doanh nghiệp mới được coi là cơ hội hấp dẫn Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường nói chung chỉ quan tâm đến các cơ hội hấp dẫn Các cơ hội đó được tóm tắt dưới sơ đồ sau:

Sản phẩm

Thị trường

Sản phẩm hiện tại Sản phẩm mới

Thị trường hiện tại Xâm nhập thị trường Phát triển thị trường

Thị trường mới Phát triển thị trường Đa dạng hoá sản phẩm

Sản phẩm cũ: là những sản phẩm mà các doanh nghiệp đã và đang sản xuất kinh doanh, tại thị trường hiện tại khách hàng đã quen thuộc với sản phẩm này

Sản phẩm mới: Được hiểu theo hai khía cạnh

- Sản phẩm mới hoàn toàn: Là sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường, chưa có sản phẩm đồng loại khác Người tiêu dùng chưa quen dùng sản phẩm này

- Sản phẩm cũ đã được cải tiến và thay đổi: Sản phẩm cũ và sản phẩm mới chỉ là khái niệm tương đối vì sản phẩm có thể là cũ trên thị trường này nhưng lại là mới trên thị trường khác

Thị trường cũ: Còn được gọi là thị trường truyền thống, đó là những thị trường mà doanh nghiệp đã có mặt trên thị trường Trên thị trường này Doanh nghiệp đã có các khách hàng quen thuộc

Thị trường mới: Là thị trường mà doanh nghiệp chưa tiến hàng các hoạt động kinh doanh buôn bán trên thị trường này

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 7

1.3.1- Phát triển thị trường theo chiều rộng.

Mỗi Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều có sản phẩm hiện tại của mình và luôn mong muốn tìm những thị trường mới để tiêu thụ những sản phẩm hiện tại có sao cho số lượng sản phẩm tiêu thụ ra trên thị trường ngày càng tăng lên Phát triển theo chiều rộng được hiểu là mở rộng theo vùng địa lý và mở rộng đối tượng tiêu dùng

* Mở rộng thị trường theo vùng địa lý:

Phát triển thị trường theo chiều rộng có nghĩa là mở rộng ranh giới thị trường theo khu vực địa lý hành chính Đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc phát triển theo vùng địa lý có thể đưa sản phẩm của mình sang tiêu thụ ở các vùng khác Việc mở rộng theo vùng địa lý làm cho số lượng người tiêu dùng tăng lên và tăng doanh số Tuỳ theo khả năng mở rộng tới các vùng lân cận hoặc xa hơn nữa là vượt khỏi biên giới quốc gia, khu vực mà còn vươn ra cả châu lục khác

Tuy nhiên để có thể mở rộng thị trường theo vùng địa lý thì sản phẩm của Doanh nghiệp sản xuất ra phải phù hợp và có tiêu chuẩn nhất định đối với những khu vực thị trường mới Có như vậy mới có khả năng sản phảm được chấp nhận và từ đó mới tăng được khối lượng hàng hoá bán ra và công tác phát triển trên thị trường mới thu được kết quả

Song, trước khi quyết định mở rộng thị trường ra một khu vực địa lý khác thì công tác nghiên cứu thị trường là rất cần thiết, không thể dễ dàng cứ đem sản phẩm của mình đến một thị trường khác bán ra thành công mà phải xem xét đến khả năng của Doanh nghiệp,

có các khó khăn về tổ chức tài chính, nhân lực, … Nhưng nếu sản phẩm được chấp nhận thì sẽ là điều kiện tốt để Doanh nghiệp phát triển

Để có thể phát triển thị trường theo vùng địa lý đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định để sản phẩm có thể tiếp cận được với người tiêu dùng và Doanh nghiệp phải tổ chức được mạng lưới tiêu thụ tối ưu nhất

* Mở rộng đối tượng tiêu dùng.

Bên cạnh việc mở rộng ranh giới thị trường theo vùng địa lý, chúng ta có thể mở rộng

và phát triển thị trường bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm khách hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng sản phẩm của Doanh nghiệp mình

Có thể trước đây sản phẩm của Doanh nghiệp chỉ nhằm vào một số đối tượng nhất định trên thị trường thì nay đã thu hút thêm nhiều nhóm đối tượng người tiêu dùng khác Điều đó làm tăng doanh số bán và lợi nhuận Một số sản phẩm đứng dưới góc độ người tiêu dùng xem xét thì nó đòi hỏi phải đáp ứng được nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau Do

Trang 8

đó ta có thể dễ dàng nhằm vào một số người tiêu dùng khác nhau hoặc không quá ít quan tấm tới hàng hoá, sản phẩm do Doanh nghiệp sản xuất ra Nhóm người tiêu dùng này cũng

có thể xếp vào khu vực thị trường còn bỏ trống mà Doanh nghiệp có khả năng khai thác

Có thể cùng một loại sản phẩm này, đối với nhóm khách hàng thường xuyên này thì nhìn nhận dưới một công dụng khác nhưng khi hường nó vào một nhóm khách hàng khác,

để có thể phát triển thị trường có thể Doanh nghiệp phải hường người sử dụng vào một công dụng khác, mặc dù đó là sản phẩm duy nhất Phát triển thị trường theo chiều rộng nhằm vào nhóm người tiêu dùng mới là một trong những cách phát triển thị trưpng song

nó lại đòi hỏi công tác nghiên cứu thị trường phải được nghiên cứu cặn kẽ, cẩn thận nếu không công tác phát triển thị trường sẽ không đạt hiệu quả cao

Việc tăng số lượng người tiêu dùng hàng hoá nhằm tăng doanh số bán từ đó thu được lợi nhuận cao hơn chính là nội dung công tác phát triển thị trường theo chiều rộng

1.3.2- Phát triển thị trường theo chiều sâu.

Các nhà sản xuất kinh doanh cũng có thể đặt liệu với nhãn hiệu sản phẩm hiện tại của mình với tiếng vang sẵn có về sản phẩm thì có thể tăng khối lượng hàng bán cho nhóm khách hàng hiện có mà không phải thay đổi cho sản phẩm Từ đó dẫn tới tăng doanh số bán và thu được nhiều lợi nhuận hơn Hay nói cách khác Doanh nghiệp vẫn tiếp tục kinh doanh những sản phẩm quen thuộc trên thị trường hiện tại, nhưng tìm cách đẩy mạnh khối lượng hàng tiêu thụ lên Trong trường hợp này Doanh nghiệp có thể vận dụng bằng cách

hạ thấp giá sản phẩm để thu hút người mua nhiều hơn trước hoặc quảng cáo sản phẩm mạnh mẽ hơn nữa để đạt được mục đích cuối cùng là không để mất đi một người khách hàng nào hiện có của mình và tập sự tiêu dùng của nhóm khách hàng sử dụng đồng thời nhiều sản phẩm tương tự đang sử dụng duy nhất sản phẩm của Doanh nghiệp mình

* Xâm nhập sâu hơn vào thị trường:

Đây là hình thức phát triển và mở rộng thị trường theo chiếu sâu trên cơ sở khai thác tốt hơn sản phẩm hiện tại trên thị trường hiện tại Do đó để tăng được doanh số bán trên thị trường này Doanh nghiệp phải thu hút được nhiều khách hàng hiện tại Với thị trường này, khách hàng đã quen với sản phẩm của Doanh nghiệp Do vậy để thu hút họ, Doanh nghiệp có thể vận dụng chiến lược giảm giá thích hợp, tiến hành quảng cáo, xúc tiến, khuyến mại mạnh mẽ hơn nữa để không mất đi một Doanh nghiệp nào hiện có của mình

và tập trung sự tiêu dùng của nhóm khách hàng sử dụng đồng thời nhiều sản phẩm tương

tự sang sử dụng duy nhất sản phẩm của Doanh nghiệp mình

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 9

Việc xâm nhập sâu hơn vào thị trường tiêu thụ sản phẩm hiện tại cũng là một trong những khả năng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp Mặc dù Doanh nghiệp có thuận lợi và nắm bắt được các đặc điểm của thị trường này nhưng vấp phải khó khăn là việc người tiêu dùng đã quá quen với sản phẩm của Doanh nghiệp Và để gây được sự chú ý, tập trung của người tiêu dùng thì doanh nghiệp buộc phải có những cách thức và có những chi phí nhất định.

Xâm nhập sâu hơn vào thị trường còn tuỳ thuộc vào quy mô của thị trường hiện tại Nếu quy mô của thị trường hiện tại của Doanh nghiệp quá nhỏ bé thì việc xâm nhập sâu hơn vào thị trường hay nói một cách khác là phát triển thị trường sản phẩm theo chiều sâu

có thể thực hiện ngay cả những thị trường mới Những thị trường này chính là những thị trường Doanh nghiệp mới phát triển theo chiều rộng, người tiêu dùng đã bắt đầu có khái niệm về sản phẩm của Doanh nghiệp

* Phân đoạn, lựa chọn thị trường mục tiêu.

Các nhóm người tiêu dùng có thể hình thành theo các kiểu đặc điểm khác nhau như đặc điểm về tâm lý, trình độ, độ tuổi, … Quá trình phân chia người tiêu dùng thành nhóm trên cơ sở các đặc điểm khác biệt về nhu cầu, về tính cách hay hành vi gọi là phân đoạn thị trường

Đoạn thị trường là một nhóm người tiêu dùng có phản ứng như nhau đối với cùng một tập hợp những kích thích của Marketing

Mỗi đoạn thị trường khác nhau thì lại quan tấm tới một đặc tính khác nhau của sản phẩm Cho nên mỗi một Doanh nghiệp đều tập trung mọi lỗ lực của mình vào việc thoả mãn tốt nhất nhu cầu đặc thù của mỗi đoạn thị trường Phát triển thị trường sản phẩm đồng nghĩa với việc Doanh nghiệp dùng sản phẩm của Doanh nghiệp mình để thoả mãn tốt nhất bất kỳ một đoạn thị trường từ đó tăng doanh số bán và tăng lợi nhuận Thực tế có rất nhiều khách hàng song không phải tất cả đều là khách hàng của Doanh nghiệp, không phải tất cả đều là khách hàng trọng điểm Do đó qua công tác phân đoạn thị trường Doanh nghiệp sẽ tìm được phần thị trường hấp dẫn nhất, tìm ra thị trường trọng điểm, xác định được mặt hàng nào là mặt hàng chủ lực để Doanh nghiệp tiến hành ưu tiên khai thác

* Đa dạng hoá sản phẩm:

Nền kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao, chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường ngày càng ngắn lại Do vậy sản phẩm ngày càng đòi hỏi phải được đổi mới theo chiều hướng tốt và phù hợp hơn với nhu cầu tiêu dùng Quy luật dung ích trong cơ chế thị trường chỉ ra rằng mục tiêu cuối cùng của người tiêu dùng là tối

đa hoá lợi ích tiêu dùng tăng lên thì dung ích của nó đối với người ta giảm đi Nghiên cứu quy luật này, các Doanh nghiệp phải bán được hàng khi người tiêu dùng đang ở dung ích

Trang 10

tối đa họ sẽ trả với bất kỳ giá nào, tránh bán hàng ở dung ích tối thiểu vì người tiêu dùng

sẽ sử dửng dưng với hàng hoá Do vậy phải nghiên cứu dung ích tối đa và dung ích tối thiểu của các loại hàng hoá và hãng kinh doanh từ đó không ngừng thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, chủng loại sản phẩm để thay đổi dung ích của người tiêu dùng

Tuy nhiên nghiên cứu quy luật dung ích chỉ là một phần của tìm hiểu nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm mới Ở đây ý muốn nói nhu cầu đó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như sự phát triển của công nghệ kỹ thuật, thu nhập của người tiêu dùng,

kỳ vọng của người tiêu dùng…

* Phát triển về phía trước.

Là việc Doanh nghiệp khống chế đường dây tiêu thụ sản phẩm đến tận nơi người tiêu dùng cuối cùng

Phát triển thị trường sản phẩm bằng cách khống chế đường dây tiêu thụ có nghĩa là Doanh nghiệp tổ chức một mạng lưới tiêu thụ, kênh phân phối hàng hoá đầy đủ, hoàn hảo cho đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, việc ổn định và phát triển thị trường

là rất có lợi Thông qua hệ thống kênh phân phối và đường dây tiêu thụ, sản phẩm được quản lý một cách chặt chẽ, thị trường sản phẩm sẽ có khả năng mở rộng và đảm bảo người tiêu dùng sẽ nhận được sản phẩm mới với mức giá tối ưu do Doanh nghiệp đặt ra mà không phải chịu bất cứ một khoản chi phí nào khác Việc phát triển thị trường trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với việc tổ chức một mạng lưới tiêu thụ và kênh phân phối sản phẩm của Doanh nghiệp Hệ thống tiêu thụ ngày càng mở xa bao nhiêu thì khả năng phát triển thị trường càng lớn bấy nhiêu

Phát triển thị trường sản phẩm dựa vào việc phát triển và quản lý kênh phân phối tới tận tay người tiêu dùng cuối cùng, cùng với việc tổ chức các dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cần thiết chắc chắn Doanh nghiệp sẽ thành công trong việc phát triển thị trường sản phẩm

Mà để đạt được điều này thì Doanh nghiệp phải cố gắng khống chế được người cung cấp

để ổn định được sản xuất Khi đầu vào của quá trình sản xuất được ổn định thì việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ được dễ dàng hơn

* Phát triển thống nhất:

Là việc Doanh nghiệp phát triển thị trường theo cách này là rất khó khăn Chúng ta đều biết rằng nguồn lực của mỗi Doanh nghiệp là đều có hạn, nhất là đối với các Doanh nghiệp Việt Nam Mà để vừa ổn định đầu vào vừa khống chế đường dây tiêu thụ thì đòi hỏi Doanh nghiệp phải có trình độ quản lý cao cùng với một nguồn kinh phí lớn Đây là một mô hình phát triển lý tưởng song chỉ dễ dàng thực hiện với các Doanh nghiệp có tiềm lực, còn các Doanh nghiệp nhỏ thì rất khó khăn Dó đó các Doanh nghiệp thường tự tìm cho mình một con đường phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm phù hợp nhất và một cách

có lợi nhất

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 11

Nhìn chung để có thể phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách tốt nhất trong giai đoạn các nguồn lực các Doanh nghiệp còn đang có hạn thì ta có thể chia ra làm hai giai đoạn:

- Trước mắt tạo ra một nguồn sản phẩm đầy đủ và đúng nhu cầu thị trường nhằm phục

vụ tốt nhất thị trường hiện tại và phục vụ các thị trường mới…để tạo ra được thói quen tiêu dùng sản phẩm của Doanh nghiệp mình tiến tới ổn định thị trường

- Lâu dai, từng bước chiếm lĩnh thị trường Khai thác triệt để nhu cầu, ngày càng hoàn thiện sản phẩm tạo đà thay thế các sản phẩm khác, mở ra khả năng chiếm lĩnh các phần thị trường còn lại Cùng với đó, đưa ra các sản phẩm mới tạo thế cạnh tranh trên thị trường.Như vậy, phát triển thị trường theo chiều sâu làm cho doanh số bán tăng lên đồng thời với việc tỷ suất lợi nhuận doanh số bán ra cũng tăng lên, sản phẩm của doanh nghiệp có tính cạnh tranh cao, thị phần của doanh nghiệp tăng cả về mặt giá trị lẫn tỷ trọng trong ngành, nâng cao uy tín và vị thế trong cạnh tranh

1.4- CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

Thị trường là môi trường sống của các Doanh nghiệp, Doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu tách khỏi thị trường, hoạt động trái với các quy luật phát triển thị trường.Tuy nhiên việc phát triển thị trường của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông bên cạnh những nhân

tố thúc đẩy sự phát triển thì cũng gặp không ít các nhân tố kìm hãm sự phát triển

1.4.1- Các nhân tố thúc đẩy sự phát triển.

* Nhân tố tiềm năng của Công ty

Tiềm năng của Công ty là khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của Công ty Tiềm năng của Công ty bao gồm tiềm năng vô hình và tiềm năng hữu hình:

- Tiềm năng vô hình:

+ Uy tín của Công ty trên thị trường: Nếu Công ty có niềm tin của khách hàng thì khách hàng sẽ đến với Công ty nhiều hơn

+ Thế lực của Công ty: Sau mỗi chu kỳ kinh doanh Công ty phải tăng trưởng và phát triển, nếu không Công ty sẽ bị phá sản Thế lực trong kinh doanh của Công ty được thể hiện ở chỗ: Sự tăng trưởng của số lượng hàng hoá (doanh số bán) trên thị trường, số đoạn thị trường mà Công ty có khả năng thoả mãn được, mức độ tích tụ và tập trung của Doanh nghiệp khác trên thị trường vào Công ty và ngược lại…

+ Vị trí của Công ty: Chỗ đứng của Công ty trên thị trường

- Tiềm năng hữu hình:

Trang 12

+ Tiềm năng về vốn: Một Công ty có vốn lớn sẽ có khả năng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của mình Công ty nên có biện pháp bảo tồn vốn và phát triển vốn kinh doanh.+ Tiềm năng về lao động: Lao động trong Công ty được chia làm hai loại là lao động chân tay và lao động trí óc (lao động trí tuệ) Số lượng Công nhân viên trong Công ty hiện nay là 455 người Điều này cho thấy Công ty đáp ứng rất tốt cho nhu cầu của thị trường.+ Tiềm năng về nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh Tức là việc hoàn thiện sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ lưu thông như đóng gói, thiết kế bao bì, mã ký hiệu….

* Nhân tố về điều kiện tự nhiên và địa lý….

Công ty có điều kiện tự nhiên rất thuân lợi đến quá trình vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm Điều kiện tự nhiên thiên nhiên sẽ quyết định chi phí vận chuyển của hàng hoá, do

đó ảnh hưởng đến giá thành cuối cùng của sản phẩm và sức cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh

* Giá bán sản phẩm.

Là một nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ (xét cả về giá trị và hiện vật) ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty Giá bán tăng lên làm cho Doanh thu tăng trong điều kiện giả định khối lượng sản phẩm bán ra không đổi Tuy nhiên cần chú ý rằng khi giá bán tăng lên không những khối lượng bán ra sẽ giảm do nhu cầu giảm Khối lượng tiêu thụ của sản phẩm còn phụ thuộc vào mức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hàng hoá, giá trị sử dụng của hàng hoá Những sản phẩm đơn giản khối lượng sản phẩm thay đổi ít phụ thuộc vào giá cả Ngược lại những hàng hoá cao cấp, xa xỉ khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ giảm khi giá cả tăng lên Vì vậy Công ty cần quyết định khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá cả như thế nào cho hợp lý nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất

* Cầu hàng hoá.

Khi nói đến hoạt động thị trường người ta đặc biệt quan tâm đến câu hỏi trong cơ chế thị trường cứ ở đâu có cầu là ở đó có cung Xã hội càng phát triển thì nhu cầu con người ngày càng cao hơn Hiện nay nhu cầu về phương tiện đi lại là rất cần thiết, do vậy việc sản xuất linh kiện xe gắn máy là rất cần Nên việc mở rộng và phát triển thị trường là đang được phát triển theo hướng tích cực

* Chất lượng sản phẩm

Là tập hợp những đặc tính không thể thiếu được của các sản phẩm Nó được xác định bằng các thông số kỹ thuật có thể so sánh đo lường được Càng hoạt động trong môi trường cạnh tranh mạnh, chất lượng càng cần thiết vì nó là một trong các nhân tố chủ yếu

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 13

để quyết định sức cạnh tranh của Công ty Nó tác động tới lợi nhuận và uy tín của Công ty trên thị trường Công ty không thể bán được nhiều, không thể giữ uy tín với khách hàng nếu sản phẩm của Công ty chất lượng tồi Chất lượng sản phẩm có thể làm cho tốc độ tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn và chất lượng tốt hơn đối với khách hàng Chính vì thế Công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm.

* Pháp luật.

Kinh tế và pháp luật luôn luôn đi kèm với nhau Làm kinh doanh thì phải hiểu biết pháp luật của nhà nước quy định đối với lĩnh vực hoạt động của mình Thông qua luật pháp nhà nước điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, điều tiết cung cầu Các công cụ mà nhà nước sử dụng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp là: thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế môn bài, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế VAT, chính sách đầu tư,…

và cầm chắc thất bại Phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu (sản phẩm, quảng cáo, khuyến mại,…) qua đó cạnh tranh trên thị trường sẽ có ảnh hưởng làm Công ty mở rộng và phát triển thị trường hoặc có thể mất thị trường

* Công nghệ sản xuất.

Công ty sử dụng các công nghệ lạc hậu của Trung Quốc, nhiều công đoạn sản xuất vẫn phải sản xuất thủ công, nên chất lượng sản phẩm không ổn định, khó cạnh tranh với những sản phẩm được sản xuất trên những dây chuyền công nghệ cao

*Công ty TNHH Sông Công Hà Đông hiện giờ đang đứng trước những thách thức khi

Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Từ ngày 01/07/2006, Luật sở hữu trí tuệ cũng đã được ban hành và có hiệu lực, là “rào cản” buộc các Doanh nghiệp phải lựa chọn hướng đi mới đáp ứng với những yêu cầu thị trường

Trang 14

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

2.1- KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

2.1.1- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.

* Vị trí địa lý và điều kiện kinh tế xã hội.

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 15

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông nằm gần Quốc lộ 6A, km số 3 đường đi Hà Đông Với một quy mô nhà xưởng khang trang trên khu Công nghiệp đang hình thành với các nhà máy công ty như: Công ty Bitis, Công ty Bao bì,…và xung quanh là khu dân cư tập trung Có thể nói Công ty TNHH Sông Công Hà Đông có rất nhiều điều kiện về mặt địa lý trong công cuộc xây dựng và phát triển công ty lớn mạnh.

Bên cạnh đó, với nền kinh tế của nước ta như hiện nay Đảng và nhà nước ta đã có chính sách khuyến khích thành phần kinh tế độc lập ngoài quốc doanh như các Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty Tư Nhân,…Công ty TNHH Sông Công Hà Đông cũng nằm trong sự khuyến khích ưu đãi đó

Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc tìm ra cho mình một hướng đi đúng đắn trong sản xuất kinh doanh là vô cùng quan trọng, nó là cơ sở để tồn doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết, tất nhiên và vĩnh viễn của sự sống còn và phát triển của một doanh nghiệp, và

có quan hệ rất chặt chẽ với nền kinh tế trong nước Công ty TNHH Sông Công Hà Đông

đã tìm được cho mình một mặt hàng kinh doanh rất cần thiết cho thị trường có tính đặc trưng ở nước ta, đó là sản xuất và kinh doanh phụ tùng xe gắn máy, một thị trường rất nhiều tiềm năng và có nhu cầu lớn

Với những thuận lợi trên, Công ty TNHH Sông Công Hà Đông đã từng bước phát triển trong suốt những năm qua, và đã đạt được nhiều thành tựu cũng như uy tín trên thị trường Có thể nói Công ty TNHH Sông Công Hà Đông là một trong những điển hình năng động trong nền kinh tế nước ta, đóng góp một phần rất quan trọng nền Công nghiệp sản xuất phụ tùng xe gắn máy nước ta nói riêng và nền công nghiệp của nước ta nói chung

* Cơ sở pháp lý thành lập Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

- Công ty TNHH Sông Công Hà Đông được thành lập trên giấy phép thành lập số 19 DPUP cấp ngày 12 tháng 01 năm 1995, do UBND Tỉnh Hà Tây cấp

- Số đăng ký kinh doanh: 040425, cấp ngày 21 tháng 01 năm 1995 do Uỷ Ban Kế Hoạch Tỉnh Hà Tây cấp

* Quá trình phát triển Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông mà tiền thân là Tổ Hợp Cơ Khí Điện Máy Tháng Tám thành lập vào tháng 01 năm 1995 với mô hình nhỏ Do việc sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và với sự tham gia góp vốn của năm thành viên, doanh nghiệp

đã chuyển đổi thành Công ty TNHH Sông Công Hà Đông

Trong những năm đầu mới thành lập:

+ Tổng vốn đầu tư : >500.000.000 đồng

Trang 16

+ Diện tích nhà xưởng : >1.000 M2

+ Số lượng Công nhân viên: 37 người

+ Tổng doanh thu: 1.100.000.000 đồng/năm

+ Nộp thuế Ngân sách Nhà nước: >30.000.000 đồng/năm

+ Tiền lương bình quân: 550.000 đồng/người

Nhiệm vụ của Công ty là sản xuất và kinh doanh sản phẩm cơ khí tiêu dùng phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho thị trường trong nước Toàn bộ máy móc thiết bị đều thô sơ, công nghệ lạc hậu

Trong những năm đầu, sản phẩm cơ khí bị cạnh tranh gay gắt bởi các hàng nhập ngoại tràn lan Bởi vậy doanh thu những năm này chỉ đạt 1.100.000.000 đồng/năm

Trong tình thế đó, Công ty TNHH Sông Công Hà Đông đã sớm nhận ra:Công ty muốn đứng vững và phát triển trên thị trường thì chỉ có con đường duy nhất là: Nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời Công ty TNHH Sông Công Hà Đông còn mở rộng lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty như: sản xuất kinh doanh công nghiệp, kinh doanh thương mại, kinh doanh xuất nhập khẩu, tự chủ liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm đảm bảo kinh doanh có lãi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước

Trong 13 năm qua Công ty có mức tăng trưởng bình quân năm đạt 30% nộp nghĩa vụ cho Nhà nước đầy đủ, đúng quy định Đến nay Công ty đã đạt được:

+ Tổng vốn đầu tư: 57 tỷ

+ Diện tích nhà xưởng: 35.000 M2

+ Số lượng công nhân viên: 455 người

+ Tổng doanh thu: 84 tỷ

+ Nộp thuế ngân sách nhà nước gầm 5 tỷ

+ Tiền lương bình quân: 2.000.000 đồng/người

Như vậy Qua 13 năm hoạt động liên tục, Công ty TNHH Sông Công Hà Đông đã không ngừng phát triển và lớn mạnh Từ một Tổ Hợp Cơ Khí Điện Máy Tháng Tám với quy mô sản xuất nhỏ và phạm vi hẹp đến nay đã trở thành một Công ty TNH Sông Công Hà Đông

có quy mô sản xuất rộng và thị trường phong phú hơn

2.1.2- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông là một đơn vị ngoài quốc doanh với chức năng, nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh sản phẩm cơ khí tiêu dùng

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 17

Từ những ngày đầu mới thành lập, với những máy móc thiết bị còn thô sơ, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, cán bộ công nhân lao động Công ty quyết tâm: Đầu tư sản xuất các sản phẩm cơ khí, mà tập trung chủ yếu vào các chi tiết, phụ tùng xe máy để đáp ứng nhu cầu thay thế sửa chữa của người tiêu dùng và cung cấp cho các hãng lắp ráp xe máy tại Việt Nam.

Trong thực tế tình hình thị trường, các sản phẩm cơ khí bị cạnh tranh gay gắt bởi các hàng nhập ngoại tràn lan, nhất là hàng của Trung Quốc, lãnh đạo Công ty xác định: Muốn đứng vững và phát triển trên thị trường chỉ có một con đường duy nhất là nâng cao chất lượng sản phẩm - Chất lượng sản phẩm là mục tiêu của sự phát triển, là sự sống còn của Công ty

Với quyết tâm đó, Công ty đã nhiều lần cử cán bộ ra nước ngoài nghiên cứu, học tập các công nghệ tiên tiến của nước bạn để ứng dụng vào thực tế sản xuất các sản phẩm của Công ty - đồng thời tập trung suy nghĩ, cải tiến các thiết bị điện có tính năng chuyên dùng,

có độ chính xác và năng suất như các thiết bị của nước bạn Nhiều máy móc thiết bị đã được chế tạo, cải tiến lại, nhiều công nghệ sản xuất tiên tiến đã được ứng dụng vào sản xuất Dần dần, Công ty đã hoàn thiện các dây chuyền sản xuất khép kín để sản xuất các sản phẩm như: vòng găng, suppap, sơ mi, bộ giảm sóc, bộ côn,… hệ thống mạ, hệ thống nhiệt luyện…bằng chính những máy móc có trong nước, tiết kiệm rất nhiều vốn đầu tư so với nhập dây chuyền thiết bị ngoại Nhưng điều kiện quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm được nâng cao, năng suất lao động tăng, đồng thời hạ giá thành sản phẩm - đủ sức cạnh tranh lành mạnh với các mặt hàng nước ngoài cùng loại đang bày bán tràn ngập thị trường cả nước

Trong hoàn cảnh khó khăn về mặt hàng, nhà xưởng, tiền vốn Công ty khắc phục vươn lên bằng chính khả năng của mình Với phương châm: lấy ngắn nuôi dài, phát triển từng bước vững chắc, Công ty đã tự huy động nguồn vốn cá nhân và gia đình, của anh chị

em công nhân lao động để đầu tư xây dựng và phát triển Công ty đã biết quay vòng vốn hợp lý, sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích và sử dụng số lãi hàng năm để đầu tư vào sản xuất nên đã hạn chế tới mức thấp nhất vốn vay ngân hàng Đến nay Công ty đã xây dựng hoàn thiện khu vực nhà sản xuất, khu nhà ăn, nhà ở của công nhân lao động đủ điều kiện

và sinh hoạt của 200 cán bộ công nhân viên với gần 200 đầu máy móc thiết bị và phương tiện Trong 8 năm qua, mức tăng trưởng doanh số hàng năm trung bình đạt 35%, mức nộp nghĩa vụ cho nhà nước cũng càng ngày càng tăng theo sự phát triển Riêng năm 2001, Công ty đạt doanh số bán hàng 50 tỷ đồng, nộp nghĩa vụ cho nhà nước gần 5 tỷ đồng Các

Trang 18

sản phẩm của Công ty đã được khách hàng cả nước biết đến với những sản phẩm truyền thống như: vòng găng, supap, xi lanh và nhiều chi tiết khác đa dạng về chủng loại và kích thước Chất lượng ngày càng được nâng cao, phù hợp với thị hiếu và thực tế sử dụng của người tiêu dùng Từ năm 2000, Công ty đầu tư hoàn thiện 02 sản phẩm mới là bộ giảm sóc

và bộ côn xe máy để cung cấp cho các dây chuyền lắp ráp xe máy Trung Quốc tại Việt Nam theo chương trình nội địa hoá xe máy của Nhà nước Sản phẩm đã được nhiều đơn vị bạn sử dụng vào lắp ráp

Không những vậy, Công ty còn chú trọng cải tiến công nghệ và không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, phát triển sản phẩm có độ chính xác cao chất lượng tốt và ổn định Công ty ứng dụng máy móc thiết bị cao, các dây chuyền, công nghệ dần dần được đổi mới, máy móc thiết bị đầu tư nâng cấp hiện đại kết hợp với việc áp dụng hệ thống quản lý theo tiểu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 đã tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt ổn định

và năng suất lao động cao, thương hiệu Công ty Sông Công càng ngày có uy tín trên thị trường toàn quốc

Với sự phát triển đó, Công ty đã duy trì được việc làm ổn định cho công nhân lao động với mức thu nhập bình quân ngày càng tăng, đời sống công nhân lao động ngày càng được cải thiện và nâng cao Người lao động được hưởng đầy đủ các chế độ, tiêu chuẩn và quyền lợi theo luật định của Nhà nước Do đó anh chị em công nhân lao động yên tâm gắn bó với Công ty, hăng hái thi đua lao động sản xuất và tích cực tham gia các hoạt động xã hội đặc biệt là phong trào lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động, đã thực sự là một cao trào thường xuyên, sâu rộng trong Công ty Rất nhiều sáng kiến đã được áp dụng, nhiều máy móc thiết bị đã được nghiên cứu chế tạo ngay tại Công ty để đưa vào sử dụng đạt kết quả - đã có ba đồng chí được Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng 07 bằng khen và huy hiệu lao động sáng tạo Chính phủ cũng đã tặng thưởng huân chương lao động hạng 3 khen thưởng quá trình hoạt động hiệu quả của Công ty

2.1.3- Bộ máy Quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến chức năng, Đây là một cơ cấu tổ chức liên hợp theo đó người lãnh đạo doanh nghiệp sẽ được sự giúp sức của những lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định Người lãnh đạo doanh nghiệp chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động và toàn quyền quyết định trong phạm vi doanh nghiệp, còn những

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 19

người lãnh đạo ở các bộ phận chức năng không ra lệnh trực tiếp cho những người thừa hành ở các đơn vị cấp dưới.

* Ban lãnh đạo của Công ty bao gồm:

o 1 Giám đốc: Phụ trách chung

o 1 Phó giám đốc: Phụ trách về điều hành sản xuất kỹ thuật

o 1 Phó giám đốc: Phụ trách về khâu kinh doanh

o 1 Phó giám đốc: Phụ trách vê nhân sự

* Giúp việc cho ban giám đốc là 6 phòng chức năng, nghiệp vụ.

o Phân xưởng tạo phôi

o Phân xưởng tiện

o Phân xưởng phay

o Phân xưởng mài

o Phân xưởng nguội

o Phân xưởng sửa chữa

o Phân xưởng nhiệt luyện

o Phân xưởng mạ

Trang 20

o Phòng kiểm tra chất lượng KCS

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG

TẠO PHÔI TIỆN PHAY MÀI NGUỘI SỬA CHỮA

NHIỆT LUYỆN

MẠ

Trang 21

* Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận như sau:

+ Giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý của Công ty, chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý Giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty

và chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao

Trang 22

+ Phó giám đốc phụ trách điều hành có nhiệm vụ lên kế hoạch sản xuất kinh doanh phải thiết kế, hoạch định và tổ chức hệ thống sản xuất của Công ty nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra để biến đổi, chuyển hoá các yếu tố đầu ra đáp ứng nhu cầu khách hàng: Sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các yếu tố đầu vào – Rút ngắn chu kỳ sản xuất – Xây dựng có hệ thống sản xuất linh hoạt, nâng cao khả năng cạnh tranh, bán được nhiều hàng hoá chiếm lĩnh thị trường, lợi nhuận gia tăng Khi điều hành về sản xuất phải đảm bảo đủ

về lượng, mạnh về chất, bố trí hợp lý cân đối lực lượng lao động, quan hệ bền vững trong

tổ chức, hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng, hoàn thành tốt nhiệm vụ đã dự kiến

+ Phó giám đốc phụ trách kinh doanh phải tìm đủ mọi cách để kiếm đủ số khách hàng cần thiết và bán được toàn bộ sản phẩm hàng hoá do Công ty sản xuất ra Ngoài ra còn phân tích, lập kế hoạch thực hiện và kiểm tra các hoạt động tiếp thị bán hàng, đồng thời tạo lập duy trì, trao đổi với người tiêu dùng sản phẩm, qua đó thực hiện được mục tiêu của Công ty

+ Phó giám đốc phụ trách về nhân sự có nhiệm vụ quản lý và điều hành nhân sự hành chính quản trị điều hành tổ chức thực hiện đầy đủ quyền lợi cho cán bộ công nhân viên theo quy định của bộ luật lao động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên

* Khối gián tiếp của đơn vị:

+ Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ tham mưu giúp cho giám đốc thực hiện tốt công tác tổ chức nhân sự, đoàn thể, các chế độ cho công nhân lao đông Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác thường xuyên của bộ phận và ban giám đốc

+ Phòng kế toán tài vụ có nhiệm vụ tham mưu giúp cho giám đốc xây dựng và đôn đốc thực hiện kế hoạch ngày, quý, năm, của Công ty và thực hiện tốt công tác điều độ sản xuất kinh doanh

+ Phòng bán hàng: bao gồm các bộ phận đi tìm hiểu thị hiếu của khách hàng, giới thiệu sản phẩm, nắm bắt thị trường khi giá cả biến động thì phải có giải pháp cho phù hợp Phát triển một tổ chức bán hàng có hiệu quả, phối hợp nỗ lực bán hàng cá nhân với biến số khác của hoạt động quảng cáo, chào hàng Duy trì đường dây liên lạc giữa lực lượng bán hàng, khách hàng và phần kinh doanh tương ứng khác như: Quảng cáo, sản xuất,…

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 23

Những người bán hàng thiết lập duy trì và tổ chức bán hàng tích cực nhất Bộ phận vận chuyển, cung ứng hàng hoá đến cho khách hàng kịp thời, đầy đủ Bộ phận quản lý hàng tồn kho, thành phẩm đáp ứng kịp thời như cầu sản xuất Khâu tiếp thị bán hàng còn giải quyết công nợ, thu tiền bán hàng về cho Công ty.

+ Phòng kỹ thuật sản xuất: Đây là một đơn vị chuyên sản xuất hàng cơ khí, muốn nâng cao chất lượng sản phẩm phải đầu tư thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất Công ty có thành lập một bộ phận chuyên môn nghiên cứu về chất lượng sản phẩm bằng cách đi học công nghệ sản xuất tiên tiến từ nước ngoài để đưa vào ứng dụng, nghiên cứu thiết bị, cải tiến đưa vào sản xuất, bảo đảm năng suất quy trình kỹ thuật Nhiệm vụ bảo đảm số lượng kịp thời, đúng chất lượng, thời gian và địa điểm, kiểm tra chất lượng của sản phẩm có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Nhưng nhiệm vụ cơ bản là dự kiến nguyên nhân đó và đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời Tìm hiểu kỹ thuật công nghệ mặt hàng mới để đưa vào sản xuất

+ Văn phòng Công ty là nơi làm việc của cán bộ và nhân viên phòng hành chính Đồng thời cũng là nơi để Công ty giao dịch giữa Công ty và đối tác kinh doanh

+ Phòng bảo vệ có chức năng giám sát, bảo vệ các hoạt động ra vào của nhân viên trong Công ty và của khách hàng, nhằm đem lại sự yên tâm cho các hoạt động trong Công ty

+ Các phân xưởng được bố trí, phân chia thành quá trình sản xuất theo các bước nhỏ, những bước công việc này thường được chia ra cho từng công nhân viên thực hiện

Sau khi chia ra người ta phải nhóm những bước công việc để giao cho từng người công nhân Đây gọi là bước cân đối dây chuyền sản xuất có ưu điểm tận dụng được thiết bị làm cho hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp với nhau tạo cho người công nhân làm việc được thoải mái hơn

Ngoài ra Công ty còn có những phân xưởng sản xuất một số chi tiết sau đó mua một số chi tiết khác từ nước ngoài để lắp ghép tạo ra sản phẩm của Công ty

2.2- THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG.

Trang 24

2.2.1- Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông qua 3 năm hoạt động đã có những bước phát triển rất bền vững về mọi mặt được thể hiện như sau:

Nhận xét: Các mặt hàng của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông đã từng bước được mở

rộng, phát triển và đều thu được hiệu quả cao Sản phẩm mới được khai thác là bộ giảm sóc và bộ ly hợp xe máy đã đem lại một hiệu quả rất cao đóng góp vào sự thành công của Công ty trong năm 2007

Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm 2005, năm 2006 và 2007

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 25

Số tiền

Tỷ

lệ (%)

- Chi phí quản lý doanh nghiệp 28.586.678.965 30.559.159.813 32.734.838.473 1.972.480.849 6,9 2.175.678.660 7,1

- Chi phí hoạt động tài chính 23.777.333 27.201.269 32.326.188 3.423.936 14,4 5.124.919 18,8

3 Lợi nhuận trước thuế 2.971.796.418 4.505.243.369 5.936.883.992 1.533.446.951 51,6 1.431.640.623 31,8

Thuế thu nhập doanh nghiệp 162.413.974 246.219.585 411.314.600 83.805.611 51,6 165.095.015 67,1

5 Tổng mức lợi nhuận sau thuế 417.635.934 633.136.076 1.057.666.116 215.500.142 51,6 424.530.040 67,1

Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006 và 2007.

Trang 26

Qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm ta có thể thấy Công ty đã đạt được một số thành tựu sau:

- Tổng doanh thu của Công ty liên tục tăng, đặc biệt là trong năm 2006 và 2007 như: Tổng doanh thu năm 2006 tăng 12.143.031.898 đồng tương ứng tăng 21,7% so với năm

2005 Và năm 2007 tăng 16.160.600.537 đồng tương ứng tăng 23,7% so với năm 2006

- Lợi nhuận trước thuế của Công ty liên tục tăng như: Lợi nhuận trước thuế năm 2006 tăng vọt lên 1.533.446.951 đồng tương ứng với 51,6% sơ với năm 2005 Và năm 2007 tăng lên 1.431.640.623 đồng tương ứng với 31,8% năm 2006

- Nộp ngân sách nhà nước tăng lên như: Thuế GTGT hàng nhập khẩu, thuế nhập khẩu, đặc biệt là hai loại thuế: thuế GTGT hàng bán nội địa và thuế thu nhập doanh nghiệp đã tăng lên rõ rệt ở năm 2006 và năm 2007 so với năm 2005

Nhìn chung năm 2007, Công ty TNHH Sông Công Hà Đông hoạt động rất có hiệu quả so với năm 2006 và năm 2005 làm cho thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 1.435.160 đồng lên 1.696.708 VND và năm 2007 là: 2.005.250 VND Điều này cho thấy

sự phát triển bền vững của Công ty luôn gắn liền với yếu tố con người

Phương hướng kinh doanh của Công ty trong thời gian tới: “Không ngừng phát triển mọi phương diện tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Để đạt được điều đó Công ty đã không ngừng phát triển về tổ chức, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ công nhân viên, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, phát triển các mối quan hệ bạn hàng, giữ vững uy tín của Công ty trên thị trường

2.2.2- Quản lý tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

* Tình hình vốn và nguồn vốn của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy mô vừa và nhỏ, được tổ chức dưới dạng Công ty TNHH Nguồn vốn của Công ty được hình thành do 5 thành viên tham gia góp vốn là được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn của mình Để biết được tình hình phát triển của Công ty ta cần xem xét việc thực hiện các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty

- Phân tích cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông

Cơ cấu tài sản của Công ty được thể hiện qua biểu sau:

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM - K36

Trang 28

chiếm tỷ trọng nhỏ ở cả năm 2006 và 2007 trong cơ cấu tài sản.

Nhìn chung, tổng tài sản tăng chủ yếu do các khoản phải thu tăng 4.205.730.413 đồng thuộc tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng 2.417.650.998 đông chiếm tỷ trọng 131,8% Tài sản của Doanh nghiệp sẽ tăng nhiều hơn nếu mức đầu tư cho tài sản cố định

và đầu tư dài hạn tăng Doanh nghiệp đã khắc phục được tình trạng hàng tồn kho giảm 2.352.264.937 đồng

Doanh nghiệp cần có sự quản lý đầu tư và sử dụng hợp lý để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của Doanh nghiệp trên thị trường

- Phân tích cơ cấu nguồn vốn tại Công ty TNHH Sông Công Hà Đông

Tình hình cơ cấu nguồn vốn của Công ty thể hiện:

Trang 30

1.833.951.712 đồng tương ứng với 28,7% Trong đó, tăng chủ yếu do vốn chủ sở hữu tăng Điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có hiệu quả.

Nguồn nợ phải trả năm 2006 so với năm 2005 tăng 1.441.678.427 đồng; năm

2007 so với năm 2006 tăng 333.209.073 đồng

Nguồn vốn kinh doanh năm 2006 tăng so với năm 2005 là: 2.917.836.523 đồng; năm 2007 tăng so với năm 2006 là: 1.500.742.640 đồng

Nguồn quỹ doanh nghiệp năm 2006 tăng so với năm 2005 là: 2.579.591 đồng; năm 2007 tăng so với năm 2006 là: 5.378.800 đồng

Ta thấy rằng, tổng nguồn vốn của Công ty năm 2007 tăng lên rõ rệt sơ với năm 2006

và năm 2005 thể hiện việc tăng quy mô sản xuất cũng như khối lượng vốn để mở rộng kinh doanh Điều này thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của Công ty

* Công tác phân cấp quản lý tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Công ty TNHH Sông Công Hà Đông là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy mô vừa và nhỏ, được tổ chức dưới dạng Công ty TNHH, có tư cách pháp nhân, có con dấu, hạch toán độc lập Nguồn vốn của Công ty được hình thành từ 02 nguồn chính là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay

Quản lý tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông là quản lý tập trung hoạt động tài chính của Doanh nghiệp được thực hiện theo các văn bản pháp luật, các chính sách chế độ Nhà nước quy định, thể hiện sự lãnh đạo của Nhà nước Điều đó có nghĩa là tất cả các hoạt động tài chính từ khâu huy động vốn (vốn chủ sở hữu, vốn vay…) đến khâu phân phối kết quả sản xuất kinh doanh đều thể hiện tính tập trung, đó là chấp hành luật pháp Trong Công ty, Ban giám đốc điều hành có quyền đưa ra các quyết định tài chính bao gồm các quyết định cơ chế hình thành và sử dụng các quỹ trong doanh nghiệp, chọn nguồn vốn huy động

* Công tác kế hoạch tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Hệ thống kế hoạch tài chính bao gồm:

- Kế hoạch vốn là nguồn vốn

- Kế hoạch khấu hao tài sản cố định

- Kế hoạch khấu hao tài sản lưu động

- Kế hoạch về chi phí kinh doanh, giá thành sản phẩm

- Kế hoạch lợi nhuận và phân phối lợi nhuận

Trang 31

- Kế hoạch xây dựng và các quỹ của Doanh nghiệp

- Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường

Nội dung: Việc xây dựng kế hoạch tài chính là định hướng cho hoạt động của Doanh

nghiệp trong tương lai gần đây, trong đó có các kế hoạch có thể thực hiện mục tiêu phấn đấu của Doanh nghiệp, đồng thời giúp Doanh nghiệp đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện các kế hoạch đó đảm bảo hiệu quả cho hoạt động của Doanh nghiêp Trong cơ chế thị trường, việc xây dựng kế hoạch tài chính và thực hiện các kế hoạch đó là rất khó khăn Do

đó, việc thực hiện kế hoạch tài chính phải gắn liền với thực tiễn thị trường, lấy thị trường làm trung tâm, lấy thị trường làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tài chính mới mang lại tính khả thi

Phòng kế toán tài vụ lập các kế hoạch về nguồn vốn, khấu hao tài sản cố định, chi phí kinh doanh và phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ, thanh toan với Ngân hàng nhà nước…

Giám đốc giám sát việc thực hiện, cuối mỗi kỳ kế hoạch giám đốc tổng kết tình hình

và có những biện pháp kịp thời điều chỉnh cho phù hợp

Cuối kỳ, kế toán lập báo cáo quyết toán để Cục thuế Hà Tây tiến hành xét duyệt quyết toán tình hình hoàn thành kế hoạch tài chính trong năm

* Tình hình tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Tình hình tài chính của Công ty được phản ánh qua một số chỉ tiêu sau:

Trang 32

Stt Các chỉ tiêu Đvt 2005 2006 2007

I Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

3 Hệ số lợi nhuận của vốn kinh doanh 0,031 0,.040 0,.062

II Hiệu quả chi phí sản xuất kinh

doanh

Bảng 5: Nhóm các chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông.

Từ số liệu trên ta thấy tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2007 so với năm 2006 và năm 2005 như sau:

Vòng quay của vốn kinh doanh tăng lên từ 4,08 vòng năm 2005 đến 4,3 vòng năm

2006 đến 4,9 vòng năm 2007 đồng thời hệ số phục vụ của vốn kinh doanh cũng tăng, hệ

số lợi nhuận tăng lên từ 0,031 năm 2005 đến 0,040 năm 2006 đến 0,062 năm 2007 Tỷ suất chi phí giảm đi năm 2005 là 0.95% đến năm 2006 là: 0,934% và đến năm 2007 còn 0,930% Hệ số phục vụ của chi phí tăng, hệ số lợi nhuận của chi phí tăng Như vậy là năm

2007 so với năm 2006 và năm 2005 Công ty làm ăn có hiệu quả hơn Tuy nhiên, Công ty cần có những biện pháp cụ thể để điều chỉnh hoạt động kinh doanh và chi phí kinh doanh

để làm cho vốn tăng trưởng cao hơn

*Tình hình thanh toán với Ngân sách nhà nước:

NGUYỄN THỊ HẢI LỚP TM – K36

Trang 33

-5 Thuế thu nhập doanh nghiệp 162.413.974 246.219.585 411.314.600 83.805.611 51,6 165.095.015 67,1

Bảng 6: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.

Ngày đăng: 12/12/2012, 09:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY TNHH SÔNG CÔNG HÀ ĐÔNG (Trang 20)
Bảng 1: Bảng tỷ trọng một số mặt hàng chủ lực của Công ty - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 1 Bảng tỷ trọng một số mặt hàng chủ lực của Công ty (Trang 24)
Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006 và 2007. - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 2 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006 và 2007 (Trang 25)
Bảng 3: Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông. - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 3 Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông (Trang 27)
Bảng 4: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông. - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 4 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông (Trang 29)
Bảng 5: Nhóm các chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông. - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 5 Nhóm các chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông (Trang 32)
Bảng 6: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 6 Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước (Trang 33)
Bảng 7: Bảng năng suất lao động bình quân của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông. - Thực trạng hoạt động TTSP của Cty thiết bị đo Điện
Bảng 7 Bảng năng suất lao động bình quân của Công ty TNHH Sông Công Hà Đông (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w