1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TỔNG hợp câu hỏi TRIẾT (1)

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng hợp câu hỏi triết (1)
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tổng hợp câu hỏi
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 72,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, xuất phát từ những giá trị được kế thừa biện chứng trong kinh tế chính trị học Anh đại biểu là A.Xmít và Đ.Ricácđô, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh đại biểu là Xanh X

Trang 1

Câu 1: SựrađờicủatriếthọcMác- Lê Nin làmộttấtyếulịchsử

SựrađờicủatriếthọcMáckhôngphảilàmộtngẫunhiênmàlàsựkếttinhcótínhquyluậtcủaquátrìnhpháttriểnlịchsửtưtưởngtriếthọcnhânloạivàtrêncơ sởcácđiềukiệnkinhtế – xãhộicũngnhưtrìnhđộpháttriển khoa họctựnhiên ở thếkỷ XIX

Về Điều kiện kinh tế – xã hội:

Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở các nước Tây Âu, nhất là ở Anh, Pháp và một phần ở nước Đức Vượt qua thời

kỳ phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt của nó so với các chế độ xã hội khác trong lịch sử Nước Anh và nước Pháp đã trở thành những quốc gia tư bản hùng mạnh, làm động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu Có thể nối, dù với mức độ khác nhau, nhưng châu Âu, đặc biệt là Tây Âu, đã trở thành trung tâm của sự phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm cơ sở cho sự phát triển về mọi mặt trong đời sống xã hội

Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện đại Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại, những người vô sản”

Giai cấp vô sản công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập ngày càng gay gắt với giai cấp tư sản, biểu hiện của mâu thuẫn về mặt kinh tế giữa trình độ phát triển cao và tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất

Trong giai đoạn lịch sử này, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đã phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng lớn Năm 1831 và 1884,

nổ ra cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông ở Pháp Năm 1844, cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi ở Đức Phong trào Hiến chương nước Anh những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX, đã tạo ra sự quan tâm đặc biệt và sự tham gia của các tầng lớp tri thức và tư sản tiến bộ Cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến một yêu cầu mới, yêu cầu phải có một lý luận khoa học dẫn đường, để đưa giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu tranh tự giác vì lợi ích của giai cấp mình Chính từ nhu cầu tất yếu đó, một triết học mới ra đời, triết học Mác

Mặt khác, lý luận chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanh Kimông, Phuriê, Ôoen, về bản chất, không đáp ứng được yêu cầu, lợi ích và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Chỉ có triết học Mác ra đời mới đáp ứng được nhu cầu là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản, cũng như giai cấp vô sản đóng vai trò là vũ khí vật chất của triết học Mác, bởi vì chỉ có triết học Mác mới có khả năng cải tạo chủ nghĩa xã hội không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học

Về Tiền đề lý luận:

Tiền đề lý luận của triết học Mác là biểu hiện quá trình tiếp nhận, trên tinh thần phê phán, những giá trị nổi bật trong triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp

Sự ra đời của triết học Mác không phải là một hiện tượng biệt lập, tách rời lịch sử triết học nhân loại, mà là kết quả biện chứng của toàn

bộ quá trình đó, Chính Ph.Ăngghen, trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, cho rằng từ triết học Hy Lạp cổ đại, đã chứa đựng các hình thức của thế giới quan sau này Triết học Mác, hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, là kết quả của sự phát triển của triết học duy vật trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học

Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng tiền đề lý luận trực tiếp cho triết học Mác ra đời là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là triết học Hêghen và Phoiơbắc

Triết học duy tâm khách quan của Hêghen là đỉnh cao của triết học cổ điển Đức Ông là người đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng biện chứng duy tâm; đã triển khai những quy luật và các phạm trù của phép biện chứng xuất phát từ “ý niệm tuyệt đối” C.Mác và Ph.Ăngghen đã triệt để phê phán tính chất duy tâm, thần bí trong triết học Hêghen, nhưng đồng thời cũng đánh giá cao tư tưởng biện chứng của ông

“Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” Bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo phép biện chứng duy tâm trở thành phép biện chứng duy vật triệt để nhất, để phép biện chứng duy vật trở thành công cụ nhận thức các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người

Một trong những đại biểu lớn nhất của triết học cổ điển Đức là Lútích Phoiơbắc Ông là nhà triết học duy vật Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật nhân bản Ông coi con người – với tư cách là thực thể của giới tự nhiên – là đối tượng nghiên cứu của triết học Ông đối lập và phủ nhận Hêghen trên cả hai bình diện là bản thể luận và nhận thức luận, đòi vứt bỏ chủ nghĩa duy tâm và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình và duy tâm về lịch sử của ông Chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính xác đóng góp và hạn chế của Phoiơbắc, làm tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thế giới quan duy vật biện chứng của mình

Xét trong tiến trình phát triển của lịch sử triết học, sự ra đời của triết học Mác còn là kết quả của sự tiếp nhận trên tinh thần phê phán tinh hoa của lịch sử triết học nhân loại Sự tiếp nhận đó trên hai phương diện chủ yếu là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong toàn bộ lịch sử triết học Ph.Ăngghen viết rằng: “Từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mâm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”

Đó là tư tưởng kế thừa những hạt nhân hợp lý của lịch sử triết học, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của tất cả các hệ thống triết học, trong đó có triết học Mác Đồng thời, xuất phát từ những giá trị được kế thừa biện chứng trong kinh tế chính trị học Anh (đại biểu là A.Xmít và Đ.Ricácđô), chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh (đại biểu là Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen), C.Mác và Ph.Ăngghen

đã khẳng định nền tảng vật chất của sự phát triển lịch sử xã hội, sáng tạo nên quan điểm duy vật về lịch sử và dự báo về chủ nghĩa xã hội hiện thực trong tương lai

VêTiền đề khoa học tự nhiên:

Trang 2

Vào giữa thế kỷ XIX, con người đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự nhiên Những năm 40 của thế kỷ XIX, các nhà khoa học tự nhiên như R.Maye (Đức), P.P.Giulo (Anh), E.Kh.Lenxơ (Nga), L.A.Cônđinh (Đan Mạch) đã nghiên cứu về bản chất của quá trình chuyển hóa năng lượng Từ đó, các nhà khoa học R.Maye và P.P.Giulơ đã phát hiện ra định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Định luật này là sự khẳng định và chứng minh rằng thế giới vật chất vận động và phát triển thông qua quá trình chuyển hóa từ thấp đến cao của các dạng năng lượng Năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không bao giờ mất đi Nó là quá trình chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, gắn liền với vật chất, vận động Thế giới thống nhất ở tính vật chất và nguồn gốc đuy nhất của thế giới đó là các quá trình vật chất vận động và phát triển

Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, sinh vật học đã có những kết quả nghiên cứu nổi bật Một trong những phát hiện đó là học thuyết tế bào của Svan và Slâyđen của Đức Học thuyết tế bào đã chứng minh rằng tế bào là cơ sở của kết cấu và sự phát triển của thế giới thực vật

và động vật Từ đó, học thuyết tế bào chứng minh tính thống nhất của giới tự nhiên hữu cơ, của toàn bộ quá trình lịch sử của sự sống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Bản chất của sự sống là một quá trình phát triển biểu hiện tính thống nhất, tính liên hệ của thế giới tự nhiên,

Năm 1859, Đắcuyn, một nhà sinh học nổi tiếng của Anh đã xây dựng lý luận duy vật về nguồn gốc và sự phát triển của các thực thể sinh vật, qua học thuyết tiến hóa Học thuyết tiến hóa là sự chứng minh có căn cứ về quá trình vận động, biến đổi từ thấp đến cao của động vật

và thực vật, thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Đây là cơ sở để khẳng định nguồn gốc duy vật về sự hình thành và phát triển của sự sống, đối lập với sự sáng tạo ra thế giới mang tính chất thần thánh của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, nhất là trên lĩnh vực vật lý học và sinh học, đã làm thay đổi quan niệm siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên; đồng thời, khẳng định phép biện chứng khách quan của mọi quá trình trong sự vận động và phát triển của thế giới Khoa học tự nhiên mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác; cũng như những khái quát của triết học Mác đặt cơ sở về thế giới quan và phương pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhận thức thế giới khách quan

Rõ ràng, triết học Mác là sản phẩm mang tính quy luật của khoa học và của triết học trong toàn bộ lịch sử tư tưởng của nhân loại Trong điều kiện lịch sử đó, C.Mác và Ph.Ăngghen là những thiên tài đã khái quát được toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thân mà loài người đã đạt được, để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra

VILênin viết: “Chủ nghĩa Mác… không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới Trái lại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra Học thuyết của ông ra đời là sự thừa

kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”

Câu 2: Mốiquanhệgiữa LLSX và QHSX?

(Kháiniệm, mốiquanhệ? Quyluật QHSX phùhợpvớitínhchấtvàtrìnhđộcủalựclượngsảnxuất Đảng ta đãvận dung quanđiểmtrênvàoquátrìnhđổimớinhưthếnào? Liênhệthựctiễđổimớitạiđịaphương?

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Triếthọclàmộtbộphậnkhôngthểthiếutrongđờisốngxãhộicủabấtkỳquốcgianào Triếthọckhôngchỉtácđộngđếnsựpháttriểntrongtưtưởngcủa con ngườimànócònthamgiavàoquátrìnhpháttriểnkinhtếcủanhiềuquốcgiatrênThếgiới, trongđócóViệt Nam Triếthọclànềntảng, cơsởcủamọiđườnglốiquanđiểmcủaĐảngvàchínhsáchcủaNhànước, ngaycảtrongthờiđạihộinhậpngày nay Trongđó mốiquanhệbiệnchứnggiữalựclượngsảnxuấtvà QHSX có ý nghĩahếtsứcquantrọng Chúngtồntại song hành, khôngtáchrờinhau, tácđộng qua lạilẫnnhaumộtcáchbiệnchứngtạothànhquyluậtQHSXphùhợpvớitrìnhđộpháttriểncủalựclượngsảnxuất

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1 Kháiniệm:

ngườivớitínhcáchlàchủthểsảnxuấtvậtchấtluônsángtạoracôngcụtácđộngvàođốitượnglaođộngđểtạoracủacảivật

.Ngườilaođộnglànhântốhàngđầucủalựclượngsảnxuất V.I.Lêninviết:”Lựclượngsảnxuấthàngđầucủatoànthểnhânloạilàcôngnhân, làngườilaođộng” Trongđóngườilaođộnggiữvaitròquantrọngnhấttrongsựpháttriểncủa LLSX

* Quan hệsảnxuất (QHSX): Đólàquanhệgiữangườivớingườitrongquátrìnhsảnxuất, đượcbiểuhiện ở nhữngquanhệsauđây:

+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất Tính chất của QHSX trước hết được quy định bởi quan hệ

sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu trong hệ thống các QHSX thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác

+ Quan hệ tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau Tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệ thống các QHSX các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội

+ Quan hệ phân phối sản phẩm lao động tức là quan hệ chặt chẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả

tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động

Trang 3

Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý, trong hệ thống QHSX, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãm sự phát triển của xã hội

Có thể nhận thấy, trong 03 QHSX thì quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng và quan trọng nhất cho từng xã hội Quan hệ về sở hữu quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản phẩm làm ra

2 Quyluật QHSX luônphùhợpvớitínhchấtvàtrìnhđộcủalựclượngsảnxuất

Quyluật QHSX luônphùhợpvớitínhchấtvàtrìnhđộcủalựclượngsảnxuấtlàquyluậtcơbảncủasựvậnđộngvàpháttriểncủaxãhộiloàingười

Thựcchấtđâylàmốiquanhệbiệnchứnggiữa LLSX và QHSX trongmộtphươngthứcsảnxuất Trongđó LLSX lànội dung, QHSX làhìnhthức đượcthểhiện 3 yếutốsau:

- Biệnchứnggiữa LLSX và QHSX làquanhệkháchquanvốncócủamọiquátrìnhsảnxuấtvậtchất Nóicáchkhác, đểtiếnhànhsảnxuấtvậtchất,

con ngườiphảithựchiệnmốiquanhệ “đôi”, quanhệ “kép”, quanhệ song trùngnày Thiếumộttronghaiquanhệđó, quátrinhsảnxuấtvâtchấtkhôngđượcthựchiện

Trongquátrìnhxâydựngchủnghĩaxãhộitruớcđây ở nhiềunước, trongđócócảnước ta do nóngvội, chủquanduy ý chíđãsớmthiếtlậpmộtnềnkinhtếthuầnnhấtdướihaihìnhthứcsởhữutưliệusảnxuất,

nênđãđểlãngphírấtnhiềunănglựcsảnxuấttrongnướcvàtrênthếgiới

-Lựclượngsảnxuấtquyếtđịnh QHSX:

TrongmốiquanhệgiữaLLSXvàQHSXthìlựclượngsảnxuấtgiữvaitròquyếtđịnh.

Khuynhhướngcủasảnxuấtxãhộilàkhôngngừngbiếnđổitheochiềutiếnbộ Sựbiếnđổiđó, xétđếncùng, bao

giờcũngbắtđầutừsựbiếnđổivàpháttriểncủaLLSX, trướchếtlàcôngcụlaođộng Trongmộtphươngthứcsảnxuất, lựclượngsảnxuất bao giờcũnggiữvaitròquyếtđịnh LLSXpháttriểnđếnmộtmứcđộnhấtđịnhsẽlàmchoQHSXphảibiếnđổitheophùhợpvớinó.

LLSX làyếutốđộngnhấtcáchmạngnhất, nóluônvậnđộngvàbiếnđổitrongquátrìnhlịchsử, lànội dung củaquátrìnhsảnsảnxuất, QHSX làhìnhthứcxãhộicủaquátrìnhsảnxuấtđó Sớm hay muộncũngkéotheosựbiếnđổitrong QHSX LLSX nhưthếnàothì QHSX phảinhưthếấy Sựphùhợpcủa QHSX vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX làmộttrạngtháimàtrongđóquanhệsảnxuâtlà “hìnhthứcpháttriển” tấtyếucủa LLSX Nghĩalàtrạngtháimà ở đó QHSX, cácyếutốcấuthànhcủanó “tạođịabànđầyđủ” cho LLSX pháttriển

Sựphùhợpcủa QHSX vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX làsựphùhợpbiệnchứng, sựphùhợp bao hàmmâuthuẫn Đâylàsựphùhợpgiữamộtyếutốđộng (LLSX luônbiếnđổi) vớimộtyếutốmangtínhổnđịnhtươngđối (QHSX ổnđịnhhơn, ítbiếnđổihơn) QHSX từchỗthíchứngvớisựpháttriểncủa LLSX, nhưng do LLSX luônbiếnđổi, pháttriển, lạiưởthànhxiềngxích, kìmhãmsựpháttriểncủa LLSX

tứclàpháthiệnmâuthuẫnvàgiảiquyếtmâuthuẫnđóđemlạisựthíchứngmớicủaquanhệsảnxuâtvới LLSX Sựvậnđộngvàpháttriêncủasảnxuâtxãhộicứtiếpdiễntheotiếntrìnhđó

Cho nênsựphùhợp - khôngphùhợp - phùhợplàbiểuhiệnkháchquancủaquátrinhtươngtácgiữa LLSX và QHSX củamọiphươngthứcsảnxuấttronglịchsử

Trướcđây, trongcảitạovàxâydựngnềnkinhtếmới ở cácnướcxãhộichủnghĩa, chúng ta đãnhậnthứcvềsựphùhợpcủa QHSX với LLSX mộtcáchchủquan, giảnđơn, máymóc, cứngnhắc Cảhaiquanniệmtrênđềutráivớiphépbiệnchứngkháchquancủalựclượngxuấtvà QHSX Chủnghĩatưbản, chủnghĩaxãhộiđềutồntạikháchquanvềsựphùhợpnày Nghĩalàtrongchùnghĩatưbản hay trongchủnghĩaxãhội, nềnsảnxuấtvậtchấtcủaxãhộiđềuchứađựngtừtrongnómâuthuẫncủasựphùhợp - khôngphùhợp - phùhợp, v.v nhưlàyếutốnộisinh, vấnđềlà ở chỗ, nhântốchủquancópháthiệnkịpthờivàgiảiquyếtmộtcáchcóhiệuquảmâuthuẫngiữa LLSX và QHSX hay không

Giảiquyếtmâuthuẫngiữa LLSX và QHSX cũngkhôngphải chi bằngcáchduynhấtlàxóabỏ QHSX cũ, thiếtlập QHSX mới Giảiquyếtmâuthuẫngiữa LLSX và QHSX làmộtquátrình, màbiệnphápthườngxuyênlàđổimới, cảicáchđiềuchỉnh QHSX trướcmỗisựpháttriểncủatrìnhđộ LLSX Khi mâuthuẫngiữa QHSX và LLSX đãtrởnên gay gắt, khôngthểgiảiquyếtthông qua biệnphápcảicách, điềuchỉnhđượcnữa, thìtấtyếuphảixóabỏ QHSX cũ, thiếtlập QHSX mớichophùhợpvớisựpháttriểncủa LLSX

Dướichủnghĩaxãhội, sựphùhợpvàkhôngphùhợp, v v của QHSX với LLSX cũngtồntạikháchquan,

chủnghĩaxãhộicũngphảithườngxuyênpháthiệnmâuthuẫnvàgiảiquyếtmâuthuẫnmộtcáchcóhiệuquả, tạorasựphùhợpcủa QHSX vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX, thứcđẩy LLSX pháttriển, kinhtếpháttriển

- Sựtácđộngtrởlạicủa QHSX đổivớisựpháttriển LLSX.

Nhưngsaukhiđượcxáclậpnócósựtácđộngtrởlạisựpháttriểncủa LLSX

quyđịnhkhuynhhướngpháttriểncủacácnhucầuvềlợiíchvậtchấtvàlợiíchtinhthần,

từđóhìnhthànhhệthốngnhữngyếutốtácđộngtrởlạiđốivớisựpháttriểncủa LLSX

Nếu QHSX phùhợpvớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX, nósẽtạođịabànchosựpháttriển LLSX, trởthànhmộttrongnhữngđộnglựcthúcđẩy LLSX pháttriển Ngượclại, nếu QHSX khôngphùhọpvớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX thìsẽkimhãmsựpháttriểncủa LLSX

Tácđộngtheochiềuhướngtiêucựccủa QHSX đốivớisựpháttriển LLSX chỉcó ý nghĩatươngđối QHSX khôngphùhợpvới LLSX, sớmmuộngìcuốicủngcùngđượcthaythếbằngmột QHSX mớiphùhợpvớitrìnhđộmớicủa LLSX Đólà xu thếtấtyếucủasựpháttriểnsảnxuất, sựpháttriểnkinhtế, màkhôngmộtgiaicấpnào, mộtchủthểnàocóthểcưỡnglạiđược

Quyluậtvềsựphùhợpcủa QHSX vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX:

Sựtồntạicủamộtphươngthứcsảnxuấtđượcquyđịnhbởisựthốngnhấtbiệnchứnggiữa LLSX ở trìnhđộpháttriểnnhấtđịnhvới QHSX tươngứng Sựvậnđộngpháttriểncủaphươngthứcsảnxuấtbịquyđịnhbởisựtácđộngbiệnchứnggiữa LLSX và QHSX Nhưvậy qua sựtácđộngbiệnchứnggiữa QHSX và LLSX phùhợpsẽhìnhthànhmộtphươngthứcsảnxuấtmới Phươngthứcsảnxuấtchínhlàcáchthức con ngườitiếnhànhsảnxuấtvậtchất ở từnggiaiđoạnlịchsửnhấtđịnhcủaxãhộiloàingười

LLSX: Chínhlànănglựcthựctiễncủa con ngườitrongquátrìnhsảnxuấtracủacảivậtchất (biểuhiệnquanhệgiữa con ngườivớiquátrìnhchinhphụcgiớitựnhiên) LLSX làtoànbộcáclựclượngđược con ngườisửdụngtrongquátrìnhsảnxuấtvậtchất LLSX bao gồmcácyếutốcơbảnthốngnhấtvớinhaulàngườilaođộngvớisứcmạnhvềthểlựcvàtrílực,

kỹnănglaođộngcụthểvàtưliệusảnxuấtmàtrướchếtlàcôngcụlaođộngvàsauđólàphươngtiệnlaođộng

+ Trongcácyếutốcủa LLSX thìnhântốngườilaođộngcóvaitròquantrọngvàquyếtđịnhnhất, làchủthểcủaquátrìnhhoạtđộngthựctiễn, khôngchỉlàngườichếtạoramàcònlàngườisửdụngvàpháthuyphẩmchấtcủa TLSX, từđótạoracủacảivậtchấtngàycàngnhiều, qua

Trang 4

đóngườilaođộngcònpháttriểnvềthểlựcvàtrílựclẫnkỹnănglaođộng Ngày nay trongthờiđạicáchmạng khoa họccôngnghệ, vaitròcủalaođộngtrítuệngàycàngđóngvaitròquyếtđịnhtrongsảnxuất

+ Bêncạnhđóyếutốcôngcụlaođộngcũngcóvaitròrấtquantrọngtrong LLSX, CCLĐ khôngngừngđượccảitiến, biếnđổivàhoànthiệntrongquátrìnhsảnxuấtnhằmđápứngnhucầutăngnăngsuấtlaođộng Sựthayđổicủa CCLĐ làmbiếnđổitoànbộ TLSX, qua đóbiếnđổitoànbộ LLSX Trìnhđộcủa CCLĐ chínhlàthướcđotrìnhđộchinhphụctựnhiêncủa con người, làtiêuchuẩnđểphânbiệtcácthờiđạikinhtếtronglịchsửnhânloại

+ Ngoàirangày nay vaitròcủa khoa họcđốivớisựpháttriểncủasảnxuấtvàcủaxãhộingàycàngtrởnênquantrọng KHCN đãthâmnhậpsâuvàoqúatrìnhsảnxuấtvàtrởthành“ LLSXtrựctiếp”

Nhưvậy: LLSX bao gồmtrìnhđộ (trìnhđộcủa CCLĐ; trìnhđộcủangườilaođộng) vàtínhchất (tínhcánhânvàtínhxãhội) Sựthayđổitrìnhđộvàtínhchấtcủa LLSX trongtiếntrìnhpháttriểncủaxãhội) Kếthợpgiữangườilaođộng (sức LĐ) vớitưliệu SX thìngười LĐ giữvaitròquyếtđịnh LLSX chínhlànội dung kinhtếkỹthuậtcủaquátrìnhsảnxuấtxãhội

QHSX: làquanhệgiữa con ngườivới con ngườitrongquátrìnhsảnxuấtvậtchất QHSX bao gồmbamặtlàquanhệsởhữuvề TLSX, quanhệtrongtổchứcvàquảnlíquátrìnhsảnxuất, quanhệtrongphânphốisảnphẩmlaođộnglàmra Ba quanhệnàythốngnhấtbiệnchứngvớinhau, trongđó: quanhệsởhữuvềTLSXgiữvaitròquyếtđịnhđốivớiquanhệtổchứcquảnlí SX vàquanhệphânphốisảnphẩm QHSX làhìnhthứckinhtếxãhộicủaquátrìnhsảnxuấtxãhội

QHSX phùhợpvớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX: Trong PTSX thì LLSX và QHSX tồntạigắnliềnvớinhau, thốngnhấtbiệnchứngvớinhau, trongđó LLSX lànội dung còn QHSX làhìnhthức LLSX thìthườngxuyênbiếnđổi, QHSX thìổnđịnhtươngđối

phổbiếncủasựvậnđộngpháttriểncủaxãhội: Quyluậtvềsựphùhợpcủa QHSX vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX Cụthểnhưsau:

+ LLSX quyếtđịnh QHSX: Khi phươngthứcsảnxuấtmớirađời, QHSX đượcxâydựngphùhợpvớitrìnhđộpháttriểnhiệncócủa LLSX, tuynhiên

do LLSX khôngngừngpháttriểnđếntrìnhđộnhấtđịnh, khiđó QHSX khôngcònphùhợpvới LLSX QHSX giờđâyđãtrởthành “Xiềngxích” kìmhãm, ngăncảnsựpháttriểncủa LLSX Do nhucầukháchquancủasựpháttriểntấtyếudẫntớisựthaythế QHSX cũbằng QHSX

nàycũngđồngnghĩavớiviệcthaythếphươngthứcsảnxuấtcũbằngmộtphươngthứcsảnxuấtmới (SựtươngquangiữaLlSXvà QHSX thayđổi: từchổphùhợpdẫnđếnbấtphùhợp, dẫnđếnmâuthuẫn, dẫnđếngiảiquyếtmâuthuẫn)

Ngày nay, cuộccáchmạngkinhtếxảyraxóabỏ QHSX cũ, xâydựng QHSX mớiphùhợpvớitrìnhđộpháttriểnmớicủa LLSX Do ngườilaođộngthìkhôngngừnglaođộngsảnxuất, cuộccáchmạng khoa họckỹthuậtdiễnra, yêucầutrìnhđộpháttriểncủa LLSX phảicaohơn, khiđó QHSX cũkhôngcònphúhợp (mâuthuẫn), đểgiảiquyếtmâuthuẩnnàyphảithông qua cuộccáchmạngkinhtế, dẫntớimâuthuẩngiaicấp, cáchmạngxãhộixảyra (lượngđổi, chấtđổi) LLSX quyếtđịnh QHSX

+ QHSX tácđộngđến LLSX: Do QHSX cótínhđộclậptươngđốivàtácđộngtrởlại LLSX, hơnnữa QHSX quyđịnhmụcđíchcủasảnxuất, chi phốitrựctiếpđếnhoạtđộngvàlợiíchcủangườithamgiasảnxuất, đếntháiđộcủangườilaođộng, đếntổchứcvàphâncônglaođộngxãhội,… nênnócóthểtácđộngđếnsựpháttriểncủa LLSX Khi QHSX phùhợpvớitrìnhđộpháttriển (tínhchất) của LLSX thìnóthúcđẩy LLSX pháttriển, ngượclạithìnósẽkìmhãmsựpháttriểncủa LLSX Tuynhiênsựkìmhãmđóchỉmangtínhtạmthời, vìvaitròquyếtđịnhthuộcvề LLSX, vìvậysựkìmhãmđócũngsẽbịxóabỏbằngcáchthaythếbởi QHSX mớiphùhợpvớitrìnhđộpháttriểncủaLLSX Quátrìnhthaythếnàykhôngdiễnramộtcáchđơngiản, tựgiácmànóphụthuộcvàonănglựctựgiáccủa con người Trongxãhộicógiaicấpquátrìnhnàydiễnrathông qua đấutranhgiaicấpvàcáchmạngxãhội

– Ý nghĩa phương pháp luận

+ Để xác lập, hoàn thiện hệ thống QHSX của xã hội, cần phải căn cứ vào thực trạng (tình hình thực tế) phát triển của LLSX hiện có để xác lập nó cho phù hợp chứ không phải căn cứ vào ý muốn chủ quan Chỉ có như vậy mới có thể tạo ra được hình thức kinh tế thích hợp cho việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển LLSX của xã hội

+ Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của LLSX với QHSX đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cải cách, đổi mới,…) mà cao hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn này

*Đảng ta đãvậndụngquanđiểmtrênvàoquátrìnhđổimớinhưthếnào

Nước ta lànướccónềnkinhtếkémpháttriển, LLSX đadạngkhácnhau, do vậy ta phảixâymột QHSX đadạngphùhợp LLSX đadạngđónhư: Xâydựngnềnkinhtếnhiềuthànhphần, mỗithànhphầnkinhtếứngvớimộtquanhệsởhữu, mộtkiểutổchức, quảnlí,… nhưthếnàochophùhợpvớisựđadạngcủa LLSX LLSXnước ta đadạng, thấpkém, nênmuốncómộtxãhộimớiphảitạora LLSX mới, do vậyphảithựchiện CNH, HĐH đểpháttriển LLSX ở trìnhđộnhấtđịnh ChủtrươngcủaĐảng ta, lấygiáodụcđàotạo, pháttriểncôngnghệlàquốcsáchhàngđầuđểpháttriển LLSX vàkhôngngừngđiềuchỉnh QHSX phùhợpvới LLSX đểkíchthíchchosựpháttriển LLSX ở nước ta (cứ qua mỗikỳĐạihộiĐảng ta đềuđiềuchỉnhlại QHSX saochophùhợpvới LLSX trongtìnhhìnhthựctiễn)

Sựvậndụngquyluậtvềsựphùhợpcủa QHSX vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX ở việt Nam

*Giaiđoạntrướcđổimớinăm 1986.

Trướcthờikỳ đổimới năm 1986, trongnhậnthứcvàvậndụngquyluậtnày ớ cácnước xãhộichủnghĩanóichungvà ở nhữngnướcmàxuấtphát điểmđilênchủnghĩaxãhộithấpnhưnước ta nóiriêng đã mắcphảinhữnglệchlạc, sailầmchủquan

Chủ trươmg xây dựng sớm một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuầnnhất vớihai hình thức sởhữu là sởhữu nhà nước và sởhữu tập thểtrong khi trình độLLSX còn thấp kémvàphát triểnkhông đồng đều là một chủ trương nóng vội, chủ quan, duy ýchi Đó không phải là sự vận dụng một cách sáng tạo quy luật như có thời kỳ chúng ta vẫn lẩm tưởng - mà là vi phạm quy luậtlàm trái quy luật khách quan

Từ những sai lầm trong nhận thức đã dẫn tới những sai lầm trong chỉ đạo thực tiễn Cụ thể:

Mộtlà,xóabỏchếđộsởhữutưnhânvềtưliệusảnxuấtmộtcách ồ ạt, trongkhichếđộđóđangtạođịabànchosựpháttriển LLSX.

Hai là,xâydựngchếđộcônghữuvềtưliệusảnxuấtmộtcáchtrànlan, trongkhitrìnhđộ LLSX cònthấpkémvàpháttriểnkhôngđồngđều.

Trênthựctếchođến nay, tấtcảcácnướcđitheo con đườngxãhộichủnghĩakhôngphảitừnhữngnướctưbảnpháttriểncao, màtừnhữngnướctưbản ở trìnhđộpháttriểntrungbìnhvàthấphoặcchưatrải qua giaiđoạntưbảnchủnghĩacủasựpháttriểnlịchsử Trongtìnhtrạngđómàđãvộivàngxóabỏchếđộsởhữutưnhânvềtưliệusảnxuất, thiếtlậpmộtcáchtrànlanchếđộcônghữutứclàápđặtmột QHSX caohơn so vớitrìnhđộpháttriểncủa LLSX Cảnhbáovềsailầmnày, C.Mácviết: “Khôngmộthìnhtháixãhộinàodiệtvongtrướckhitấtcảnhững LLSX màhìnhtháixãhộiđótạođịabànđầyđủchopháttriển, vẫnchưapháttriển, vànhững QHSX mới, caohơn, cũngkhông bao giờxuấthiệntrướckhinhữngđiềukiệntồntạivậtchấtcủanhữngquanhệđóchưachínmuồitronglòngbảnthânxãhộicũ”1;

1

Trang 5

Trongxâydựng QHSX mới - QHSX xãhộichủnghĩa, vềthựcchấtchúng ta mớixáclậpđượcchếđộsởhữu, cònhìnhthứctổchứcquảnlývàcáchthứcphânphốichưađượcgiảiquyếtmộtcáchđúngđắn Sựtồntạitrongmộtthờigiankhádài QHSXthiếuđồngbộđócũnglàmộthạnchêcầnphảíkhắcphục

Nhữngsailầmchủquanđãđẩynềnkinhtếnước ta rơivàotìnhtrạngtrìtrệ, khủnghoảng

Giaiđoạnsauđổimớinăm 1986.

Ý thứcđượcnhữngsailầmtrên, Đang ta đãchủtrươngchuyểntừmộtnềnkinhtếthuầnnhấtxãhội chu nghĩa sang nềnkinhtếnhiềuthànhphầntheođịnhhướngxãhộichủnghĩa

Chủtrươngpháttriểnnềnkinhtếnhiềuthànhphần ở nướcta làsựvậndụngmộtcáchđúngđắnvàsángtạoquyluật QHSX phùhợpvớitrìnhđộpháttriển LLSX Chủtrươngđótrướchếtbắtnguồntừthựctrạngtrìnhđộpháttriển LLSX cònthấpkémvàpháttriểnkhôngđồngđều (da dạngtrìnhđộ) Đểkhaithác, pháthuyđượcmọinănglực, LLSX phảitạolậpnhiềuloạihình QHSX thìmớiphùhợp

Hiện nay nềnkínhtếởnước ta - nhưĐạihộiđạibiểutoànquốclầnthứ XI đãchỉracócácthànhphần: kinhtếnhànước, kinhtếtậpthể, kinhtếtưnhân, kinhtếcóvốnđầutưnướcngoài

Cácthànhphànkinhtếhoạtđộngtheophápluậtđềulàbộphậnhợpthànhquantrọngcủanềnkinhtếthịtrườngđịnhhướngxãhộichủnghĩa,

bìnhđẳngtrướcphápluật, cùngpháttriểnlâudài, hợptácvàcạnhtranhlànhmạnh Kinhtếnhànướcgiữvaitròchủđạo, làlựclượngvậtchấtquantrọngđểNhànướcđịnhhướngvàđiềutiếtnềnkinhtế,

tạonênmôitrườngvàđiềukiệnthúcđẩycácthànhphầnkinhtếcùngpháttriển

vớitrìnhđộpháttriểncủalựclượngsảntrongthờikỳđổimớiđãlàmchonềnkinhtếnước ta cónhữngbướcpháttriểnvượtbậc Nềnkinhtếthoátkhỏitìnhtrạngkhủnghoảng, tạođàchosựpháttriển, tốcđộtăngtrưởngkinhtếcao

Việcnhậnthứcđúngvàvậndụngmộtcáchsángtạoquyluậtnàycó ý nghĩađặcbiệtquantrọngđốivớicácnướcđilênchủnghĩaxãhộibỏ qua chếđộtưbảnchủnghĩa

Câu 2: Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở việt nam.

1 Khái niệm Thế giới quan là gì?

Thế giới quan được hiểu cơ bản chính là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, bản thân, con người và vị trí của con người trong thế giới đó Nó đóng vai trò định hướng đối với toàn bộ cuộc sống của con người, từ thực tiễn cho đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân, xác định lý tưởng, hệ giá lối sống cũng như nếp sống của mình

Khái niệm thế giới quan thể hiện cái nhìn bao quát về thế giới trong ý thức của mỗi chủ thể bao gồm thế giới bên ngoài, con người và mối quan hệ giữa con người với thế giới đó Đây cũng được xem chính là kim chỉ nam cho thái độ, hành vi của con người đối với thế giới bên ngoài

Nguồn gốc của thế giới quan ra đời từ sự sống Tất cả các hoạt động của con người sẽ đều bị chi phối bởi thế giới quan nhất định Yếu tố cấu thành nên thế giới quan thực chất đó chính là tri thức, lý chí, tình cảm và niềm tin; chúng sẽ liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất, chi phối đến nhận thức và hành động thực tiễn của con người

Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng và lựa chọn, vận dụng phương pháp trong thực tiễn và nhận thức Phương pháp luận cũng sẽ có nhiều cấp độ, trong đó phương pháp luận triết học và phương pháp luật chung nhất

Thế giới quan và phương pháp luận triết học là lý luận nền tảng cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin: đó chính là sự kế thừa, phát triển tinh hóa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại

Chủ nghĩa duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin được hiểu là chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan Các quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, động lực và những quy luật chung nhất chi phối sự vận động, phát triển của con người

Khi các chủ thể nắm vững nội dung cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là điều kiện tiên quyết để nhằm từ đó có thể nghiên cứu toàn hộ hệ thống lý luận mà còn là điều kiện để vận dụng nó một cách sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn để giải quyết vấn đề đời sống, xã hội

2 Khái niệm thế giới quan duy vật là gì?

Thế giới quan được hiểu là toàn bộ những nhận thức, hiểu biết, cách nhìn nhận của con người đối với thế giới xung quanh và với bản thân của mình Dưới góc độ triết học, thế giới quan được phân thành thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm Điểm nhận biết hai trường phái nghiên cứu này của triết học là việc tìm đáp án cho câu hỏi giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau; Cái nào quyết định đến sự tồn tại của cái còn lại

Thế giới quan duy vật nhận định rằng vật chất là thứ tồn tại trước ý thức, vật chất quyết định ý thức nhưng không thể tiêu diệt được ý thức mà sự tồn tại của vật chất là độc lập so với ý thức Còn thế giới quan duy tâm có quan điểm nghiên cứu trái ngược lại

Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thế giới quan duy vật chính là cách thức, quan điểm của một người, một nhóm người, một cộng đồng đối với thế giới tự nhiên xung quanh mình, về vị trí, vai trò của mình đối với thế giới, từ đó, tác động và quyết định đến ý chí, nhận thức, biểu hiện ra ngoài bởi các hành vi

Ví dụ đơn giản: Lửa có thể nấu chín thức ăn, trong quá trình tiến hóa, con người đã hiểu rõ công dụng này của lửa, do đó, con người ghi nhớ, nhận thức được công dụng của lửa, áp dụng điều nhận biết được trong việc đun nấu thức ăn hàng ngày

Về bản chất, thế giới quan duy vật có thể hiểu đơn giản giống như một bộ môn nghiên cứu khoa học của triết học Thế giới quan duy vật không phải là một ý nghĩ, một lập luận, một lĩnh vực cụ thể mà nó là tổng hợp của tất cả các nghiên cứu khoa học liên quan, xoay quanh con người

Phạm vi nghiên cứu của thế giới quan duy vật rất đa dạng, là kết quả có được từ tổng hợp các nghiên cứu về hành vi, tâm trí, ý thức, quan điểm, lối sống của con người, sự phát triển của loài người, nền văn minh của loài người qua các giai đoạn tồn tại, cách sống, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, Các nghiên cứu này phải thực hiện bằng phương pháp luận (phương pháp nhận thức khoa học để tìm tòi,

Trang 6

giải đáp các sự vật, hiện tượng) để lý giải sự tồn tại của vật chất đã tác động, quyết định đến ý thức của con người đối với sự tồn tại của mình, với thế giới xung quanh

Nói tóm lại, thế giới quan duy vật được hiểu là một nhánh nghiên cứu khoa học của triết học, lấy cái gốc là sự tồn tại của vật chất quyết

định đến ý thức con người làm tiền đề để, lấy phương pháp luật là cách thức để lý giải sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng Tổng hợp các kết quả nghiên cứu này chính là biểu hiện cho quan điểm sống, cách nhìn nhận vị trí, vai trò của con người đối với thế giới xung quanh

Liên hệ tại Việt Nam

Thế giới quan duy vật biện chứng cũng nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, giúp họ nắm bắt được tình hình một cách nhanh chóng, ra được những quyết định kịp thời Bởi vì người cán bộ, đảng viên mà chỉ dừng lại ở trình độ tư duy kinh nghiệm, tuyệt đối hóa tri thức kinh nghiệm sẽ rơi vào bệnh kinh nghiệm và phương pháp tư duy siêu hình

Thứ hai, thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho cán bộ, đảnh viên, người lạnh đạo có được niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa

xã hội, tin vào đường lối chính trị của Đảng, tin vào quần chúng nhân dân Niềm tin cộng sản là niềm tin có cơ sở khoa học, nó là yếu tố then chốt trong việc hình thành nhân cách xã hội chủ nghĩa trong mỗi con người việt nam Trong tình hình phức tạp hiện nay, thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo có cơ sở để nhận thức sự phát triển tất yếu lịch sử, đồng thời thấy được bức tranh tổng quát về thế giới, tính quy luật phổ quát của xã hội - quá độ từ chủ

Niềm tin tất thắng vào chủ nghĩa xã hội của người lãnh đạo được biểu hiện ở sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tính cách mạng của thế giới quan duy vật biện chứng là cơ sở để hình thành và luận chứng cho đường lối chính trị của Đảng

ta Từ đó, giúp người lãnh đạo tiếp thu, vận dụng sáng tạo và vạch ra đường lối, chiến lược, sách lược nhằm cải tạo hiện thực Thế giới quan duy vật biện chứng cũng giúp cho người lãnh đạo tin vào vai trò to lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Họ

là lực lượng cách mạng tiến bộ nhất có thể tạo ra những điều kiện tồn tại cho con người, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, thế giới quan duy vật biện chứng nói riêng là biểu hiện về mặt lý luận vị trí, lợi ích

và nhu cầu cải tạo cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nó là vũ khí tư tưởng cho cuộc đấu tranh xây dựng chủ nghĩa

Thứ ba, thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người lãnh đạo nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, đúc rút bài học kinh nghiệm,

định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn tiếp theo

Sự thống nhất biện chứng giữa lí luận và thực tiễn, là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Thế giới quan duy vật biện chứng không chỉ định hướng cho nhận thức mà còn chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong cải tạo thế giới khách quan Có thể nói, hoạt động của con người nói chung và người lãnh đạo nói riêng rất cần tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm giúp cho người cán bộ giải quyết được nhiều vấn đề cụ thể Nhưng chỉ dừng lại ở tri thức kinh nghiệm thì sẽ lại khó tránh khỏi lúng túng, bất lực thậm chí sai lầm khi giải quyết những vấn đề phức tạp trước yêu cầu của thời kỳ mới Muốn vậy, người cán bộ khi giải quyết công việc phối kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý giữa kinh nghiệm với lý luận khoa học, đút rút ra bài học kinh nghiệm kết hợp với tri thức lý luận khoa học nhằm giải quyết công việc có hiệu quả Chỉ trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng người cán bộ mới tổng kết thực tiễn đút rút kinh nghiệm một cách khoa học, kịp thời phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho chúng phát triển

Câu 2: MQH giữa lý luận và thực tiễn Liên hệ ở địa phương trong quá trình đổi mới hiện nay.

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những tri thức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống, nguyên lý, quy luật, phạm trù

Lý luận có những đặc trưng :

Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ

Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận

Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất, hiện tượng

+ KN thực tiễn

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là một phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất - cảm tính có tính lịch sử xã

hội của con người nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và xã hội Thực tiễn có ba đặc trưng sau:

Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, đắp đê, cày ruộng,v.v…

Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong

xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định

Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn

Có ba hình thức thực tiễn cơ bản:

Một là, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người

Hai là, những hoạt động chính trị-xã hội Chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, mít tinh, biểu tình

Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức đặc biệt, bởi lẽ trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới

Ba hình thức thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất

- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

+ Vai trò của thực tiễn đối với lý luạn

+Vai trò của lý luận đối với thực tiễn

+ Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

- Bài học phương pháp luận rút ra

- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận

Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật, làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó, con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp « vật liệu » cho nhận thức Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức Chính việc đo đạt ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp - La

Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago ra đời

Trang 7

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói cách khác, thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức giải quyết Trên cơ sở đó, nhận thức phát triển

Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con người Chẳng hạn, thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác được rèn luyện Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn

Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc cho con người nhận thức hiệu quả hơn như kính thiên văn, máy vi tính đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó, thúc đẩy nhận thức phát triển

Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ tưở mông muội, để sống, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn

Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức

Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng

Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng Thông qua quá trình đó, côn người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được

trước đây, hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn

* Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:

Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn

Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo

- Góp phần thuyết phục giáo dục động viên tập hợp quần chúng tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng góp phần cải tạo xã hội

- Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

+ Lý luận càng cao hiểu biết càng sâu sắc thực tiễn càng đa dạng và phong phú

+ Thực tiễn càng đa dạng và phong phú càng tạo điều kiện kích thích lý luận phát triển

+ Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mang tính biện chứng

* Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau Trong mối quan hệ đó, thực tiễn có vai trò

quyết định, vì thực tiễn là hoạt động vật chất, còn lý luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận thể hiện ở chổ : chính thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích, là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức và lý luận; nó cung cấp chất liệu phong phú sinh động để hình thành lý luận và thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo hiện thực Lý luận mặc dù được hình thành từ thực tiễn nhưng nó có vai trò tác động trở lại đối với thực tiễn Sự tác động của lý luận thể hiện qua vai trò xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn (lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn), vai trò điều chỉnh hoạt động thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Lý luận cách mạng có vai trò to lớn trong thực tiễn cách mạng Lênin viết “không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” Như vậy, giữa lý luận và thực tiễn

có sự liên hệ, tác động qua lại, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển và gắn bó hữu cơ với nhau do đó sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên lý cao nhất của triết học Mác Lênin Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng”, “Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suôn”

-Ý nghĩa phương pháp luận

– Không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận trong lao động, công tác, sản xuất

Nếu không coi trọng vai trò của lý luận, ta sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm Nếu không có lý luận, ta sẽ ở vào tình trạng mò mẫm, không phương hướng, không xác định được các chương trình, kế hoạch khả thi

– Ngược lại, ta không được đề cao vai trò của lý luận đến mức xem nhẹ thực tiễn, rời vào bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí Việc xa rời thực tiễn sẽ đưa đến những chương trình, kế hoạch viển vông, lãng phí nhiều sức người, sức của

– Trong sự nghiệp Đổi Mới hiện nay, ta phải không ngừng đổi mới tư duy gắn liền với nắm sâu, bám sát thực tiễn

Chỉ có đổi mới tư duy lý luận, gắn liền với việc đi sâu, đi sát vào thực tiễn thì mới đề ra đường đường lối, chủ trương đúng đắn trong việc xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh

*Liên hệ

- Liên hệ sự vận dụng của Đảng ta (kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, phương hướng (nếu đề yêu cầu liên hệ sự vận dụng của Đảng)

* Trước đổi mới đất nước

Do chưa nhận thức đầy đủ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, chưa gắn lý luận với thực tế điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta nên đã chủ quan, nóng vội,

bỏ qua những bước đi cần thiết

Trang 8

Nhận thức được những sai lầm trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có mọi phương hướng đổi mới phải xuất phát từ thực tiễn như Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã xác

định “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”.

* Quá trình đổi mới đất nước sau năm 1986.

Đại hội VI đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm trong đó bài học thứ hai là "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo

đúngđắncủaĐảng"

Thựctếđấtnướcsau nămđổimới,đấtnướctađãđạtđượcnhữngthànhtựubướcđầu rất quan trọng Đất nước ta từ mức thiếu lương thực, phải nhập khẩu lương thực hơn 45 vạn tấn vào năm 1988, nhờ đổi mới phát triển nông nghiệp mà từ năm 1989 trở đi đã có đủ lương thực tiêu dùng trong nướcvàcómộtphầnxuấtkhẩumỗinăm1–

1,5triệutấngạo.Nềnkinhtếhànghóanhiềuthanhphầnvậnhànhtheocơchếthịtrườngcósựquảnlýcủanhànướctừngbướcđượchìnhthành

Đại Hội Đảng lần IX cũng đã nhấn mạnh “Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào…”

Những nhận định trên của Đảng chính là sự tiếp thu và vận dụng đúng đắn quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN phải lấy thực tế làm điểm xuất phát để xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ của cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn

để xác định chủ trương, chính sách.

Thực tiễn 35 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: đất nước ta đã ra khỏi khủnghoảngkinhtế

-xãhội,cósựthayđổitoàndiệnvàcơ bản,đờisốngnhân dânđượccảithiệnrõrệt, hệ thống chính trị và khối đại đòan kết toàn dân tộc được củng

cố và tăng cường, giữ vững an ninh, quốc phòng,vịthếnướctatrêntrườngquốctế

khôngngừngnângcao.NhữngthànhtựuđóchứngtỏđườnglốiđổimớicủaĐảngtalàđúngđắn,sángtạo,phùhợpvớithựctiễnViệtNam

Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố

Lýluậnđổimớiởnướctangàycàngcóvaitròquantrọngtrongviệctácđộngtrởlạithựctiễn.Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh trở thành cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng, cho việc quản lý của nhà nước Đại hội X đã

chỉ ra: "Thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước".

ĐạihộiXđãchỉra:"Thườngxuyêntổngkếtthựctiễn,bổsungpháttriểnlýluận,

giảiquyếtđúngđắnnhững vấn đề do cuộc sống đặtra".

Đại hội XII, ĐHXIII ……

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay

Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với

những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước

công tác lý luận ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập Lý luận vẫn còn tình trạng tách rời thực tiễn, chưa sâu sắc và nhạy cảm để phát hiện những mâu thuẫnvàtìnhhuốngcóvấnđềtrongquátrìnhđổimới.Chínhvìvậy,chưabaogiờlýluậnlạicầnthiếtvàcótầmquan

trọngnhưhiệnnay

Thực trạng hiện nay cho thấy không ít cán bộ đảng viên ta chưa thực sự quán

triệtquanđiểmthựctiễn,khôngbámsátthựctiễn,khôngthườngxuyêntổngkếtthựctiễn,tổchứchoạtđộngthựctiễnchonênviệctriểnkhailýluậnchưatố t,lýluậnchưađượcbổsungkịpthờiđểtheokịpvớithựctiễn

Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hóa, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Phương hướng: Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú

trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội(2) Về xã hội, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái

về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng…

Liên hệ địa phương/đơn vị

+Đặc điểm địa phương/đơn vị

+Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, đề xuất giải pháp

VD: Liên hệ tỉnh TT.Huế

Liên hệ:

Đặt vấn đề:

Trang 9

Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm ở duyên hải miền Trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông diện tích 503.320,53ha, Thừa Thiên - Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, là nơi giao thoa giữa điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của cả hai miền Nam - Bắc Thừa Thiên - Huế là một trong những trung tâm văn hóa, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của

cả nước và là cực phát triển kinh tế quan trọng của vùng kinh tế ữọng điểm miền Trung

Dân số 1.150 nghìn người tốc độ tăng trưởng GDP 7,8%/năm

Thừa Thiên - Huế gồm một thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Huế), 2 thị xã (Hương Thủy, Hương Trà) và 6 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đông) với 105 xã, 39 phường, 8 thị trấn

Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời là trung tâm văn hoá lớn và đặc sắc của Việt Nam có 7

di sản văn hoá thế giới là: Quần thể di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Mộc bản triều Nguyễn., Châu bản triều Nguyễn., Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ VN, Chèo văn

Thừa Thiên - Huế là trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước, Thừa Thiên Huế từ lâu đã được biết đến là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn của khu vực miền trung và cả nước

Thực trạng

Kết quả đạt được:

Năm năm qua, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ mang lại cả thời cơ và thách thức; sự chống phá của các thế lực thù địch, tranh chấp trên biển Đông, biến đổi khí hậu, sự cố môi trường biển, dịch bệnh đã tác động nhiều mặt đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trước thực tiễn đó, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và hỗ trợ kịp thời của các ban, bộ, ngành Trung ương; kế thừa những thành tựu của các nhiệm kỳ trước, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã đoàn kết, chủ động, sáng tạo,

nỗ lực phấn đấu đạt những thành quả quan trọng trên các lĩnh vực, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội

lần thứ XIII của Đảng, và NGhị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI:

- Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các ngành, lĩnh vực có bước phát triển

Kiên trì thực hiện mục tiêu phát triển theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững, kinh tế có mức tăng trưởng khá, bình quân ước đạt 6,5%/nămi, cao hơn bình quân chung cả nước và một số tỉnh trong khu vực miền Trung So với năm 2015, quy mô nền kinh tế tăng gấp 1,6 lần; thu ngân sách nhà nước tăng bình quân gần 8%/nămii; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 2.169 USD, đứng thứ 3 của Vùng duyên hải miền Trung Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 105.180 tỉ đồng, tốc độ tăng bình quân 11%/năm Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 4%/năm

- Thực hiện có hiệu quả công tác đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển; hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có nhiều chuyển biến tích cực; khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp

- Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội hài hòa giữa các vùng

- Phát triển kinh tế gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đạt nhiều kết quả tích cực Tỉ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom đạt 97%, tỉ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở các xã, phường, thị trấn đạt trên 82% Nhiều

phong trào, hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng lan tỏa sâu rộng như: “Xây dựng Thừa Thiên Huế xanh - sạch - sáng”, “Ngày chủ nhật xanh”, “Nói không với túi ni lông và sản phẩm nhựa sử dụng một lần”

Hạn chế:

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội vẫn còn những hạn chế, yếu kém:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp (đạt 6,12%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 6 tháng đầu năm 2017) Quy mô nền kinh tế còn quá nhỏ Chỉ riêng nhà máy thủy điện A Lưới (công suất 170MW) dừng hoạt động để bảo trì trong các tháng đầu năm đã tác động làm giảm gần 1% tốc độ tăng trưởng

Khu vực dịch vụ, mặc dù lượt khách tăng cao nhưng ngày khách lưu trú bình quân có xu hướng giảm, chỉ đạt 1,76 ngày/lượt khách

Nguyên nhân là do chỉ mới tập trung khai thác một số dịch vụ thông thường, thiếu các dịch vụ cao cấp, chất lượng cao để giữ chân du khách lâu hơn

Cơ cấu nội bộ ngành kinh tế dịch vụ chuyển biến chậm, các phân ngành dịch vụ quan trọng như y tế, giáo dục, tài chính, viễn thông, CNTT, chưa đủ mạnh, tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có

- Mặc dù Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết rà soát, giám sát tiến độ các dự án ngoài ngân sách và các sở, ngành đã tích cực đôn đốc, hỗ trợ; nhưng nhìn chung tiến độ đầu tư các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách còn chậm, chưa đạt như kỳ vọng đã đề ra

- Công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tuy có bước cải thiện nhưng vẫn chưa theo kịp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước

- Tiến độ xây dựng các đề án đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu quả các đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) của các sở, ngành, địa phương còn chậm

Nguyên nhân khách quan

Những biến động phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, nhất là sự cố môi trường biển, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống an sinh xã hội; biến động về giá cả, nguyên, nhiên vật liệu đã gây nhiều ảnh hưởng bất lợi đến nỗ lực của tỉnh trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, vị trí địa kinh tế không thuận lợi làm ảnh hưởng đến môi trường và sức hút đối với các nhà đầu tư Chưa có nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp với thực tiễn phát triển của tỉnh

Nguồn lực trong phát triển kết cấu hạ tầng và các thiết chế văn hóa, xã hội còn hạn chế Sự hỗ trợ ngân sách của Trung ương để đầu

tư một số đề án đã được Chính phủ phê duyệtiii chưa kịp thời, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện

Nguyên nhân chủ quan

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội có lúc, có việc chưa thực sự quyết liệt Chậm ban hành các cơ chế, chính sách

có tính đột phá trên các lĩnh vực Khả năng phân tích, dự báo hạn chế nên đề ra nhiều chỉ tiêu còn cao, khó thực hiện

Công tác phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan Trung ương trên một số mặt chưa thực sự chặt chẽ Sự liên kết, hợp tác với các địa phương trong cả nước, nhất là các tỉnh trong khu vực hiệu quả chưa cao

Trang 10

Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền có mặt còn hạn chế Chất lượng một bộ phận cán bộ, nhất là cấp cơ sở chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức thiếu năng động, quan liêu, gây phiền hà, khó khăn trong thực thi công vụ Chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ trí thức khoa học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ hội nhập quốc tế

Để khắc phục hạn chế, cần thực hiện đồng bộ các Giải pháp:

- Lĩnh vực kinh tế: Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng về kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh;

phát triển doanh nghiệp; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước; phát triển kinh

tế tư nhân; nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài; cơ cấu lại, phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chính sách phát triền công nghiệp quốc gia; xây dựng nền kinh tế số và các chủ trương, giải pháp để tiếp cận, khai thác và phát huy các thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ 4

- Lĩnh vực văn hóa, xã hội: Xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong

tình hình mới; nội dung phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa”; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống

văn minh, phòng, chống các tệ nạn xã hội; giảm nghèo bền vững, chăm sóc người có công, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết những vấn

đề xã hội bức xúc; phát triển, quản lý xã hội bền vững, đồng thuận, kỷ cương; trồng và bảo vệ rừng; bảo vệ môi trường; phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu

- Lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong

tình hình mới; bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh mạng, an ninh thông tin; phòng, chống “diễn biến hòa bình”, tội phạm, tệ nạn xã hội và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội chính trị; hội nhập quốc tế, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước, các tổ chức quốc tế, các ngành, địa phương nước ngoài

- Lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo

đức; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng Công tác tổ chức cán bộ (tuyển dụng, đánh giá, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm ); những kinh nghiệm hay, mô hình mới trong sắp xếp, tố chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, cải cách hành chính; công tác kiểm tra, giám sát; công tác dân vận; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể; phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận (khoa học) soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, không rơi vào mò mẫm, vòng vo,

mù quáng mất thời gian Còn lý luận (khoa học) phải dựa trên cơ sở thực tiễn, nảy sinh từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, luôn liên hệ với thực tiễn và được bổ sung, hoàn thiện, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn có lý luận nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau Không có thực tiễn sẽ không có lý luận; ngược lại, không có lý luận thì thực tiễn sẽ mất phương hướng Thấm nhuần tinh thần ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới luôn quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

CÂU 1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biển

I Đặt vấn đề

Phép biện chứng duy vật là “linh hồn sống”, “là cái quyết định” của chủ nghĩa Mác Bởi khi nghiên cứu các quy luật phát triển phổ biến của hiện thực khách quan và nhận thức của khoa học, phép biện chứng duy vật thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nguyên lý khái quát nhất

II Giải quyết vấn đề

1 Khái niệm mối liên hệ phổ biến

Liên hệ là khái niệm chỉ sự phụ thuộc, sự ảnh hưởng, sự tương tác và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của một sự vật, hiện tượng, một quá trình

Liên hệ phổ biến là khái niệm để chỉ mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng, phong phú nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Cơ sở của mối liên hệ này là tính thống nhất vật chất của thế giới

2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến

- Tính khách quan: Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ, tác động trong thế giới Giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau, giữa các sự vật hiện tượng với các hiện tượng tinh thần và giữa các hiện tượng tinh thần với nhau Chúng tác động qua lại, chuyển hoá và phụ thuộc lẫn nhau Đây là cái vốn có của bản thân sự vật, tồn tại độc lập và không phụ thuộcvào ý muốn chủ quan hay nhận thức của con người

- Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ: Dù ở bất kỳ đâu, trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng

- Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau thì mối liên hệ khác nhau; một sự vật hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong – bên ngoài, chủ yếu – thứ yếu, cơ bản – không cơ bản ), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn

Ngày đăng: 20/12/2022, 10:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w