1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY nghiên cứu hiện trạng và khai thác sử dụng tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên phu canh tỉnh hòa bình​

177 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Hiện trạng và Khai thác Sử dụng Tài nguyên Lâm sản Ngoài Gỗ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phu Canh, Tỉnh Hòa Bình
Tác giả Đoàn Sỹ Võ
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Ngọc Hải, TS. Vương Duy Hưng
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý Bảo vệ Tài nguyên rừng & môi trường
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Một vài đặc điểm về thực vật cho LSNG (14)
    • 1.2. Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới (15)
    • 1.3. Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam (19)
    • 1.4. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây LSNG ở Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình (21)
  • Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình (24)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (24)
    • 2.2. Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội (27)
      • 2.2.1. Dân tộc (27)
      • 2.2.2. Dân số, lao động và giới (28)
      • 2.2.3. Hiện trạng sản xuất (28)
      • 2.2.4. Cơ sở hạ tầng (30)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (33)
      • 3.1.1. Mục tiêu chung (33)
      • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể (33)
    • 3.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (33)
      • 3.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 3.2.2. Phạm vi nghiên cứu (33)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (33)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (34)
      • 3.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (34)
      • 3.4.2. Phương pháp chuyên gia (34)
      • 3.4.3. Điều tra thực địa theo tuyến (34)
      • 3.4.4. Phương pháp phỏng vấn có sự tham gia của người dân (PRA) (37)
      • 3.4.5. Xử lý số liệu (37)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 4.1. Sự đa dạng của thực vật bậc cao có mạch và thực vật LSNG ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình (40)
      • 4.1.1. Đa dạng về các taxon phân loại (40)
      • 4.1.2. Đa dạng về phân bố, dạng thân và bộ phận sử dụng (44)
    • 4.2. Thành phần các loài cây LSNG có giá trị cần đƣợc bảo vệ (44)
    • 4.3. Thực trạng LSNG ở KBT Phu Canh (48)
      • 4.3.1. Phân loại theo mục đích sử dụng (48)
      • 4.3.2. Nhóm cây cho sợi (49)
      • 4.3.3. Nhóm cây làm thực phẩm (50)
      • 4.3.4. Nhóm cây làm dƣợc liệu (0)
      • 4.3.5. Nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm (56)
      • 4.3.6. Nhóm cây cho tinh dầu, tanin, nhựa, dầu béo, sơn (57)
      • 4.3.7. Nhóm cây cảnh, bóng mát và cây có công dụng khác (58)
    • 4.4. Thực trạng các loài LSNG tại Khu bảo tồn Phu Canh được người dân (60)
      • 4.4.1. Các cây cho dƣợc liệu ở Khu BTTN Phu Canh (0)
      • 4.4.2. Các cây cho rau, quả, thực phẩm, gia vị (69)
      • 4.4.3 Các cây cho tinh dầu, tanin, nhựa, dầu béo (72)
      • 4.4.4 Các loài LSNG khác (76)
    • 4.5. Các loài có giá trị, quí hiếm, các loài cần bảo tồn và phát triển (79)
      • 4.5.1. Nhóm loài nằm trong danh mục ƣu tiên bảo tồn (0)
      • 4.5.2. Các loài chịu áp lực cao của khai thác và buôn bán (80)
      • 4.5.3. Nhóm loài có giá trị kinh tế và có khả năng gây trồng (80)
      • 4.5.4 Kiến thức bản địa của người dân địa phương trong khai thác, chế biến và sử dụng LSNG (81)
    • 4.6. Thị trường và tiềm năng phát triển thực vật cho LSNG (89)
      • 4.6.1. Thị trường LSNG ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (89)
      • 4.6.2. Tiềm năng phát triển thực vật cho LSNG (95)
      • 4.6.3. Khó khăn và thuận lợi trong việc phát triển thực vật cho LSNG (99)
    • 4.7. Tình hình quản lý nguồn tài nguyên thực vật LSNG tại địa phương (103)
      • 4.7.1 Hệ thống quản lý của nhà nước đối với nguồn LSNG (103)
      • 4.7.2 Hệ thống quản lý cộng đồng (104)
      • 4.7.3. Quản lý tƣ nhân (0)
      • 4.7.4 Chính sách quản lý tài nguyên (105)
      • 4.7.5 Các chính sách hỗ trợ (106)
    • 4.8 Giải pháp quản lý bền vững nguồn tài nguyên LSNG tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (107)
      • 4.8.1. Giải pháp về tổ chức (108)
      • 4.8.2. Giải pháp về kỹ thuật (109)
      • 4.8.3. Giải pháp về vốn (110)
      • 4.8.4. Giải pháp về xã hội (110)
      • 4.8.5. Giải pháp thị trường (111)
  • Chương 5 KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ .................................... 1022 TÀI LIỆU THAM KHẢO (40)

Nội dung

Giá trị kinh tế - xã hội của các loài thực vật cho LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, dược phẩm

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Một vài đặc điểm về thực vật cho LSNG

Non Timber Forest Products (NTFPs) là các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật từ rừng, không phải là gỗ, được khai thác để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi.

LSNG thường được phân chia theo nhóm giá trị sử dụng như sau:

- Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp

- Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ

- Nhóm LSNG dùng làm lương thực, thực phẩm và chăn nuôi

- Nhóm LSNG dùng làm dƣợc liệu

- Nhóm LSNG dùng làm cảnh

LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội:

+ LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội Chúng có giá trị lớn và có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm

LSNG có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng và đóng góp đáng kể vào sự đa dạng sinh học của khu vực rừng Chúng là nguồn gen hoang dã quý hiếm, có thể được bảo tồn và phục vụ cho mục tiêu gây trồng công nghiệp.

LSNG hiện đang cạn kiệt và gặp phải sự suy thoái nghiêm trọng về rừng do tác động của gia tăng dân số và nhu cầu đất cho sản xuất nông nghiệp Việc mở rộng diện tích canh tác, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ và thu hái chất đốt đã làm mất rừng, suy giảm chất lượng hệ sinh thái và đe dọa đa dạng sinh học, nguồn nước cũng như đời sống cộng đồng ở khu vực này.

Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới

Kể từ những năm 1980, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh giá trị thiết thực của thực vật lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đối với phát triển rừng bền vững và vai trò của chúng trong bảo tồn hệ sinh thái Các phát hiện cho thấy thực vật LSNG có khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao và ổn định, có thể được khai thác liên tục với tác động ít gây phá hủy hệ sinh thái Vì vậy, duy trì sự nguyên vẹn của rừng tự nhiên và áp dụng mô hình bảo tồn có khai thác có thể nuôi dưỡng đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sống Bảo tồn có khai thác cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho một bộ phận xã hội một cách bền vững Theo Mendelsohn (1992), thực vật LSNG đóng vai trò quan trọng cho bảo tồn bởi khai thác chúng có thể thực hiện với mức tổn hại tối thiểu đến rừng và mang lại sự bền vững khi rừng vẫn duy trì ở trạng thái tự nhiên trong quá trình khai thác Thêm vào đó, thực vật LSNG mang lại nhiều sản phẩm cho đời sống như thực vật ăn được, nhựa, thuốc nhuộm, tanin, sợi, cây làm thuốc, và người thu hái có thể bán hoặc trao đổi các sản phẩm này, biến rừng thành một “nhà máy” của xã hội và LSNG trở thành một trong những sản phẩm quan trọng của nhà máy ấy.

LSNG đƣợc hiểu theo nhiều cách dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đƣa ra ở các thời điểm khác nhau:

Theo De Beer (1989), LSNG được xem như tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của loài người LSNG bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, như song, mây, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi.

Theo Wicken (1991): “LSNG bao gồm tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp), gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy, có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng đƣợc dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội, việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lãnh vực dịch vụ của rừng”

Theo FAO (1999): “LSNG là các lâm sản có nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng”

Năm 2000, JennH.DeBeer định nghĩa về LSNG nhƣ sau: “LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre, nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi.”

Định nghĩa rõ ràng về LSNG là một thách thức và không có một định nghĩa duy nhất được cho là đúng Nó có thể thay đổi chút ít tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm và nhu cầu khác nhau của các địa phương cũng như theo từng thời điểm Tuy nhiên, dựa trên các khái niệm đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra những cách nhìn chung về LSNG và từ đó nhận thức được giá trị của nó.

Cũng đã có nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị của LSNG về kinh tế rất lớn

Các nghiên cứu của Peter (1989) cho thấy giá trị thu nhập hiện tại từ lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có thể lớn hơn giá trị thu nhập từ bất kỳ hình thức sử dụng đất nào Balic và Mendelsohn (1992) khẳng định ở một số nước nhiệt đới rằng thu nhập từ dược liệu trên 1 ha rừng thứ sinh có thể cao hơn thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp trên cùng diện tích Ở nhiều vùng LSNG có thể mang lại nguồn tài chính lớn hơn cả gỗ Nghiên cứu của Heinzman (1990) cho thấy kinh doanh các sản phẩm từ các cây họ cau dừa ở Guatemala đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với kinh doanh gỗ Ở Zimbabwe, có 237.000 người làm việc liên quan tới LSNG, trong khi chỉ có 16.000 người làm trong ngành lâm nghiệp, khai thác và chế biến gỗ (FAO, 1975) WHO ước tính 80% dân số các nước đang phát triển dùng LSNG để chữa bệnh và làm thực phẩm, và hàng triệu gia đình phụ thuộc vào các sản phẩm này cho tiêu dùng và nguồn thu nhập Tuy nhiên, theo CIFOR, giá trị LSNG tính qua thu nhập cần được xem xét theo một cách tiếp cận khác: không chỉ đo lường thu nhập mà còn đánh giá tác động kinh tế, xã hội và sinh thái của LSNG trên toàn hệ sinh thái.

- Thứ nhất, LSNG quan trọng vì chức năng an toàn và sinh tồn, nhiều loại không chắc có giá trị về thu nhập

Thứ hai, có loại LSNG mang lại giá trị thu nhập cao nhưng hiện nay chưa được đầu tư đúng mức và chưa có đủ điều kiện phát triển ở những nơi thiếu hạ tầng cơ sở, thiếu thông tin và thị trường.

- Thứ ba, những mục tiêu về bảo tồn chƣa gắn chặt với mục tiêu phát triển

Thực vật LSNG đóng vai trò rất lớn trong xuất khẩu và nguồn thu ngoại tệ cho nhiều quốc gia Riêng đối với các nước Đông Nam Á, hàng song mây thành phẩm đã tạo ra gần 3 tỉ USD thương mại hàng năm Tại Thái Lan, năm 1987 xuất khẩu LSNG ở dạng thô có giá trị bằng 80% giá trị xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ; tổng giá trị xuất khẩu LSNG năm đó là 32 triệu USD Sản phẩm tre cũng là mặt hàng xuất khẩu quan trọng; theo Thammincha, năm 1984 tre xuất khẩu trị giá 3 triệu USD Thuốc chữa bệnh có nguồn gốc từ thực vật có giá trị xuất khẩu năm 1979 là 17 triệu USD Ở Indonesia, giá trị LSNG xuất khẩu đạt 238 triệu USD vào năm 1987 Ở nước này song mây là LSNG được xem là mặt hàng chủ yếu về giá trị xuất khẩu, và Indonesia được coi là nước cung cấp song mây chủ yếu trên thế giới, ước tính chiếm 70–90% thị trường toàn cầu Malaysia năm 1986 cũng đạt mức đáng kể trong ngành LSNG.

Giá trị xuất khẩu LSNG đạt khoảng 11 triệu USD Ở Bắc Phi, cây rừng là nguồn thực phẩm và dược liệu quan trọng Tại Cameroon, vỏ một loại cây Prunus (họ Rosaceae) được khai thác làm thuốc và trong những năm 1990 có tới 3.000 tấn loại cây này xuất khẩu hàng năm, với giá trị khoảng 220 triệu USD/năm Ở Châu Mỹ, người dân ở nhiều nước đang phát triển nằm trong khu vực rừng nhiệt đới vẫn phụ thuộc rất nhiều vào rừng nói chung và LSNG nói riêng Một số sản phẩm quan trọng như hạt dẻ Brazil mang lại nguồn thu từ 10-20 triệu USD mỗi năm cho những người thu hái Ở Brazil, cây cọ Babacu được khai thác cho tiêu thụ tại chỗ và thương mại từ thế kỉ 17.

Dựa trên các nghiên cứu, những phát hiện và lợi ích được ghi nhận của thực vật LSNG, nhiều quốc gia và tổ chức đã thể hiện sự quan tâm ngày càng sâu sắc bằng những hành động cụ thể như tăng cường hợp tác nghiên cứu, cấp nguồn lực tài chính cho các dự án LSNG và xây dựng khung chính sách nhằm bảo tồn đồng thời khai thác bền vững nguồn gen LSNG.

Ví dụ tại châu Phi, dưới sự hỗ trợ của FAO, các chương trình và dự án tập trung phát triển các loài LSNG mũi nhọn Tại Trung tâm Nghiên cứu Nông Lâm Kết Hợp Quốc tế (ICRAF) đã triển khai các biện pháp chọn lọc và quản lý các loài cây cung cấp thực vật LSNG hoang dại, xem chúng như chìa khóa mở đường cho nhiều hoạt động nông lâm kết hợp Những nỗ lực này đã được áp dụng ở một số mô hình như trồng xen canh dưới tán rừng ở châu Á, và ở vùng nhiệt đới một số loài cau và dừa được thuần hóa hoặc khai thác hoang dã, trồng cùng với các loài thân gỗ và thân thảo.

Các nghiên cứu về LSNG cho thấy tiềm năng to lớn ở các nước nhiệt đới, mở ra cơ hội phát triển rừng bền vững Kinh doanh thực vật LSNG đang mở ra triển vọng và có thể kết hợp với kinh doanh rừng gỗ để hình thành một mô hình kinh doanh có hiệu quả trên mọi mặt.

Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam

LSNG từ xưa đến nay giữ vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của các gia đình vùng trung du và miền núi ở nước ta Gần đây, nhờ hoạt động buôn bán biên giới, các sản phẩm LSNG được định giá cao hơn trên thị trường Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn hiểu biết hạn chế về nguồn tài nguyên này, cũng như cách khai thác và sử dụng của người dân địa phương Hầu như chưa có một công trình tổng quát và sâu sắc nào về LSNG, trong khi kiến thức địa phương tích lũy từ lâu đang bị mai một do sự ra đi của thế hệ già và nhiều nguyên nhân khác.

Việt Nam, cũng như các nước trong vùng nhiệt đới, có một tập đoàn thực vật LSNG vô cùng đa dạng và phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu và người tìm tòi Việc này cho phép ứng dụng các kết quả đã được nghiên cứu và thử nghiệm trên thế giới nhằm phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên LSNG của đất nước.

Theo Hoàng Hòe (1998), nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam rất lớn và đa dạng, với số loài cây làm thuốc chiếm tới 22% tổng số loài thực vật Việt Nam; khoảng trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm 7,14% tổng số loài); hơn 600 loài cho tannin và còn rất nhiều loài khác cho dầu nhờn, dầu béo và cây cảnh Bên cạnh đó, song mây, tre nứa có diện tích tre ở nước ta lên tới 1.492.000 ha với khoảng 4.181.800.000 cây, không chỉ là nguyên liệu xây dựng truyền thống từ xa xưa mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nghề thủ công mỹ nghệ, tạo ra những sản phẩm đẹp mắt và có tiềm năng xuất khẩu mang lại giá trị cao.

Phạm Xuân Hoàn (1997) tiến hành nghiên cứu phân loại thực vật LSNG tại Phia Đén – Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, dựa trên mục đích sử dụng Kết quả cho thấy việc khai thác thực vật LSNG thích hợp nhất là do người dân địa phương thực hiện, đồng thời tác giả đánh giá tình hình khai thác và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tài nguyên thực vật LSNG.

Lê Quý Ngưu và Trần Nhự Đức (1998) đã tập trung mô tả công dụng và kỹ thuật thu hái, chế biến các bài thuốc từ thực vật, trong đó có thực vật LSNG Ninh Khắc Bản (2003) bước đầu nghiên cứu nguồn tài nguyên thực vật LSNG trong tự nhiên và nhận thấy khai thác quá mức là một trong những dấu hiệu cho thấy chúng đang bị đe dọa Theo ông, chúng cần được bảo tồn tuyệt đối và có kế hoạch bảo tồn, chuyển vị nguồn gen trong vườn hộ gia đình hay trên trang trại theo hướng sử dụng bền vững để giảm áp lực lên nguồn tài nguyên ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học.

Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu quan tâm đến phát triển tài nguyên tre ở Việt Nam (như Nguyễn Tưởng, 1995) và một số nghiên cứu quan tâm đến tài nguyên cây thuốc ở rừng Việt Nam (Đỗ Nguyên Phương, Đào Viết Phú, 1997), đồng thời có các công trình sơ bộ và hành động thực địa nhằm thử nghiệm các mô hình quản lý LSNG đã được triển khai song chưa mang tính đồng bộ (An Văn Bảy, Võ Thanh Giang, 2002).

Các nghiên cứu hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc phát hiện loài và mô tả đặc tính sinh thái, từ đó làm cơ sở cho trồng và khai thác, đồng thời so sánh hiệu quả kinh doanh của thực vật LSNG với các loại hình kinh doanh khác; tuy nhiên, chúng chưa đi sâu khảo sát và xác định những loài thực vật LSNG có triển vọng thương mại hoặc ứng dụng thực tế.

Song song với những nghiên cứu đó, một số chương trình được triển khai nhƣ:

1 Dự án nghiên cứu một số vấn đề kinh tế xã hội và vai trò của phụ nữ trong chế biến song, mây, tre do Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam thực hiện từ 1993- 1995

2 Dự án nghiên cứu thị trường địa phương cho sản phẩm ngoài gỗ ở Bắc Thái do sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Bắc Thái thực hiện

3 Dự án trồng rừng đặc sản (được lồng ghép trong chương trình 5 triệu ha rừng)

4 Dự án sử dụng bền vững các LSNG do trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản và tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thực thi với sự cộng tác của trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường (CRES), viện nghiên cứu sinh thái (ECO-ECO) Tuy nhiên, dự án này cũng chỉ mới đƣa ra các khuyến nghị cho địa phương nơi tiến hành dự án là vùng đệm khu bảo tồn Kẻ Gỗ và vùng đệm vườn quốc gia Ba Bể, chưa thuyết minh được một cách thuyết phục bằng con số là những thực vật LSNG nào sẽ mang lại hiệu quả cao thực sự

Các chương trình phát triển và nghiên cứu trong nước đã thể hiện sự quan tâm đối với thực vật LSNG Tuy nhiên, nghiên cứu thực vật LSNG ở Việt Nam vẫn còn thiếu chiều sâu Do vậy, tuy đã có nhiều nghiên cứu và dự án được triển khai ở nhiều nơi, vẫn chưa có nơi nào thực sự phát huy cao được vai trò của thực vật LSNG.

Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây LSNG ở Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình

Năm 2002, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình công bố Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh có trên 100 loài thực vật thuộc gần 50 họ, được phân thành ba ngành là Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín.

Năm 2003, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã tiến hành đề tài Xây dựng luận cứ khoa học để bảo vệ tri thức bản địa cho việc sử dụng đa dạng sinh học tại một số điểm ở huyện Đà Bắc và Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuy nhiên, những ghi nhận này chỉ là một phần nhỏ của đề tài nghiên cứu được triển khai tại nhiều huyện, tỉnh trên khắp cả nước.

Năm 2012, Phùng Văn Phê đã nghiên cứu "Điều tra đánh giá nhanh các loài thực vật quan trọng và xây dựng kế hoạch giám sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Hòa Bình" [35], và nội dung ghi nhận nằm trong khu vực.

Khu BTTN có trên 150 loài, chiếm số lượng đáng kể trong tổng số loài của toàn khu vực Các loài cây dùng cho LSNG tập trung chủ yếu ở các họ thực vật tiêu biểu như họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae), họ Cam và họ Cà phê (đều thuộc Rubiaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Ô rô (Acanthaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Mã tiền (Loganiaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Mạch môn đông (Convallariaceae), họ Mía dò (Costaceae) và họ Rau dền (Amaranthaceae).

(Amaranthaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Cau (Arecaceae), … Một số loài thực vật cho thuốc đang có ở khu vực như: Cỏ xước -

Achyranthes aspera (Amaranthaceae), Khôi tía - Ardisia silvestris

(Myrsinaceae ), Trám đen - Canarium tramdenum (Burseraceae), Cẩu tích -

Cibotium barometz (Dicksoniaceae), Mía dò - Costus tonkinensis (Costaceae),

Key herbs listed include Cốt toái bổ (Drynaria fortunei) of the Polypodiaceae family; Bổ béo đen (Goniothalamus vietnamensis) of the Annonaceae family; Cỏ tranh (Imperata cylindrica) of the Poaceae family; Chè vằng (Jasminum subtriplinerve) of the Oleaceae family; Gối hạc (Leea rubra) of the Leeaceae family; Cao cẳng (Ophiopogon dracaenoides) of the Convallariaceae family; Núc nác (Oroxylum indicum) of the Bignoniaceae family; Bảy lá một hoa (Paris chinensis) of the Trilliaceae family; Phèn đen (Phyllanthus reticulatus) of the Euphorbiaceae family; Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata) of the Sargentodoxaceae family; and Thảo quyết minh (Senna tora).

(Caesalpiniaceae), Bách bộ nam - Stemona cochinchinensis (Stemonaceae),

Danh sách các loài được đề cập bao gồm Trầu tiên (Asarum glabrum, Aristolochiaceae), Dạ cẩm (Hedyotis capitellata, Rubiaceae), Sến mật (Madhuca pasquieri, Sapotaceae), Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia, Convallariaceae) và Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum, Cucurbitaceae), cùng nhiều loài khác; trong đó có 31 loài thuộc diện quý hiếm cần được bảo vệ Đây là công trình tổng hợp đánh giá nhanh các loài có giá trị trong bảo tồn đa dạng sinh học nhằm xây dựng kế hoạch giám sát của Khu Bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN).

Năm 2016, Nguyễn Văn Hưởng đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình Trong báo cáo, tác giả ghi nhận khu vực Khu bảo tồn có 479 loài cây thuốc, thuộc 350 chi và 126 họ Nghiên cứu cho thấy tiềm năng đa dạng của thực vật thuốc tại Phu Canh và những gợi ý cho khai thác bền vững.

5 ngành thực vật, chiếm 12,44% tổng số loài cây đƣợc dùng làm thuốc ở Việt Nam

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố về nguồn tài nguyên LSNG tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phu Canh, và cũng chưa có dự án nào nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật LSNG hiện có ở khu vực này.

ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1 Vị trí ranh giới

Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh nằm trên địa bàn 4 xã Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cách thị trấn Tu Lý của huyện Đà Bắc 30 km và cách thành phố Hòa Bình 50 km Vị trí này giúp khu bảo tồn dễ tiếp cận cho các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn hệ sinh thái của vùng.

- Phía Bắc giáp xã Tân Pheo

- Phía Tây giáp xã Đồng Ruộng, Đồng Chum

- Phía Đông giáp xã Tân Pheo, xã Đoàn Kết

- Phía Nam giáp xã Yên Hoà, xã Đoàn Kết

Khu BTTN Phu Canh có tổng diện tích tự nhiên 5.647 ha, được chia thành phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 2.434,6 ha và phân khu phục hồi sinh thái có diện tích 3.212,4 ha, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì cân bằng hệ sinh thái.

Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh là vùng núi thấp và núi cao, gồm ba dải núi chính và các dải núi phụ, hình thành một hệ thống địa hình đa dạng Đỉnh Pu Canh cao nhất với độ cao 1.349 m, độ cao trung bình khoảng 900 m và độ cao thấp nhất khoảng 300 m so với mực nước biển Độ dốc bình quân trên 30 độ và chiều dài các sườn dốc từ 1.000 đến 2.000 m, khiến khu vực này hiểm trở và di chuyển rất khó khăn.

Dựa vào hệ thống đường phân thủỷ, Khu Bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) là lưu vực của suối Nhạp và suối Cửa Chông chảy ra hồ Sông Đà, cung cấp nước cho Nhà máy thủy điện Hoà Bình và nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của 5 xã trong vùng, trong đó có xã Tân.

Khu BTTN Phu Canh gồm các khu vực Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Đoàn Kết và Yên Hoà So với các khu rừng đặc dụng khác ở miền núi phía Bắc Việt Nam, Khu BTTN Phu Canh có độ cao không lớn, nhưng địa hình đồi núi và thảm thực vật ở đây lại đa dạng, mang giá trị bảo tồn sinh học và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, đồng thời là môi trường thuận lợi cho giáo dục môi trường và nghiên cứu khoa học.

Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của tỉnh Hòa Bình, với hai mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình đạt 1.824,4 mm, chiếm khoảng 93,6% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô diễn ra từ những tháng còn lại của năm Những đặc điểm khí hậu này ảnh hưởng đến cảnh quan và hệ sinh thái của Phu Canh, đồng thời là yếu tố quan trọng cho công tác bảo tồn và quản lý khu vực.

Trong thời kỳ từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa trung bình đạt 125,2 mm, chiếm 6,4% tổng lượng mưa trong năm; số ngày mưa trung bình trong năm dao động từ 110 đến 130 ngày; độ ẩm không khí trung bình là 83%, cao nhất 87% và thấp nhất 79%.

Nhiệt độ không khí trung bình của khu vực là 21,7 °C, cao nhất trung bình 29 °C và thấp nhất trung bình 14,6 °C; đôi khi có ngày xuống tới 5 °C vào tháng 1 Hướng gió chính thay đổi theo mùa: mùa hè là gió Đông Nam, mùa đông là gió Đông Bắc.

* Thuỷ văn: Trong khu bảo tồn có các suối lớn Suối Nhạp xã Đồng

Ruộng có hai nhánh suối chính là nhánh Chum và nhánh Nhạp Nhánh suối Chum bắt nguồn từ xã Mường Chiềng, chảy qua xã Đồng Chum và gặp nhánh Nhạp tại khu vực xóm Nhạp, xã Đồng Ruộng Nhánh suối Nhạp bắt nguồn từ xã Tân Pheo, chảy qua các xã Tân Pheo và Đồng Chum, rồi về hợp với nhánh Chum tại xóm Nhạp xã Đồng Ruộng Ngoài hai nhánh chính còn có một nhánh suối phụ bắt nguồn từ chân núi Phu Canh, xã Đồng Ruộng, gặp suối Nhạp và đổ ra hồ Sông Đà.

Hai suối lớn có nước chảy quanh năm nhưng do độ dốc cao, nhiều đá nổi và ghềnh thác nên không thể vận chuyển đường thuỷ liên hoàn ra đến hồ Sông Đà Vào mùa mưa, nơi đây thường xảy ra lũ đột xuất, cản trở việc đi lại của người dân các xã thuộc khu bảo tồn và vùng phụ cận.

* Địa chất : Khu bảo tồn có địa hình vùng núi cao, phần lớn diện tích là núi đất và núi đất lẫn đá Trong khu bảo tồn có 3 loại đá mẹ chủ yếu: đá vôi, đá mác ma a xít và đá sa thạch Trong đó: Đá vôi có thành phần khoáng vật chủ yếu là can xít màu đỏ nâu, sản phẩm phong hoá cho thành phần cơ giới thịt trung bình (hạt mịn) Đá a xít có thành phần khoáng vật chủ yếu là Kali, mua ga đen, bi ro xin, clo rít, sản phẩm phong hoá cho thành phần cơ giới thịt nhẹ Đá sa thạch có thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, li mô nít, sản phẩm phong hoá cho thành phần cơ giới hạt thô, do phong hoá không triệt để nên có nhiều sỏi cuội với nhiều cỡ đường kính khác nhau

* Đất: Trong khu bảo tồn có 2 nhóm đất chính:

Nhóm đất Feralitic mùn có màu từ đỏ vàng đến vàng nhạt, phân bố trên các núi có rừng ở độ cao từ 700–1700 m Diện tích của nhóm đất này khoảng 3.800 ha, chiếm 67,3% tổng diện tích khu bảo tồn Trong khu vực này có các loại đất với các đặc điểm và tính chất riêng biệt, phù hợp với điều kiện thảm thực vật và môi trường khí hậu, đóng vai trò quan trọng trong duy trì đa dạng sinh học và chức năng bảo tồn của khu vực.

Đất Feralitic, mùn, màu vàng nhạt trên núi có rừng, phát triển trên đá sa thạch, tầng dày trên 120 cm; thành phần cơ giới thịt nhẹ, có nhiều hạt thô, lẫn sỏi, cuội; diện tích 1.500 ha; có đặc tính thấm nước nhanh, giữ nước kém; tập trung chủ yếu tại xã Tân Pheo và xã Đoàn Kết.

Đất feralit mùn đỏ trên núi, nơi rừng phát triển trên đá vôi, có tầng đất dày trên 120 cm và thành phần cơ giới thịt trung bình; diện tích khoảng 1.200 ha, đặc tính thấm nước và giữ nước tốt, tập trung chủ yếu tại xã Đồng Ruộng.

Đất feralit mùn màu đỏ vàng trên núi có rừng phát triển trên đá là đặc trưng thổ nhưỡng của khu vực này Đất có tính axit, tầng đất dày trên 120 cm, thành phần cơ giới ở mức trung bình và diện tích khoảng 1.100 ha Đặc tính thấm nước chậm, giữ nước tốt, tập trung chủ yếu ở xã Đồng Chum.

Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội

Khu BTTN Phu Canh nằm trong khu vực 4 xã gồm 3 dân tộc chính là:

Dân tộc Tày có 9.565 người, chiếm 85,34 %; Dân tộc Mường có 467 người, chiếm 4,16 %; Dân tộc Dao có 1.062 người chiếm 9,47 % và dân tộc Kinh có

Bảng 1.1: Cơ cấu dân tộc các xã thuộc khu bảo tồn

Xã Xóm Tổng số hộ

Dân số chia theo dân tộc (người) Tày Mường Dao Kinh

Tân Pheo 7 845 3.527 2.668 191 569 79 Đồng Chum 9 621 2.871 2.778 84 0 9 Đoàn Kết 6 632 2.693 2.200 0 493 Đồng

Bảng 1.2: Thành phần dân tộc các xã sống trong khu bảo tồn

Xã Xóm Tổng số hộ

Dân số chia theo dân tộc (người)

Tân Pheo 3 389 2.135 2.055 32 0 38 Đồng Chum 2 164 818 812 3 0 3 Đoàn Kết 4 420 1.795 1.301 0 494 0 Đồng Ruộng 3 265 1.119 965 150 0 3

2.2.2 Dân số, lao động và giới

Dân số ở 4 xã có 2.606 hộ với 11.207 nhân khẩu cư trú tại 28 xóm; bản chiếm 22,25% dân số toàn huyện Trong cơ cấu lao động, 10.927 người làm nông nghiệp chiếm 97,5%, trong khi 280 người làm phi nông nghiệp chiếm 2,5%, chủ yếu là giáo viên và nhân viên y tế Tốc độ tăng dân số hàng năm được ước tính khoảng 1,3%.

Toàn vùng có tổng số lao động 5.529 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 5.317 người (96,1% tổng số lao động) và lao động phi nông nghiệp là 212 người (3,9% tổng số lao động).

Vấn đề giới tại khu bảo tồn cho thấy phụ nữ quanh khu vực đang đối mặt với nhiều hạn chế trong việc tham gia công tác bảo vệ rừng Nguyên nhân chủ yếu là họ bận rộn với công việc gia đình và chăm sóc rừng trồng theo các chương trình dự án, khiến việc tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng bị hạn chế Vì vậy, sự tham gia của phụ nữ vào bảo vệ rừng còn chưa được tối ưu, ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý và phát triển bền vững của khu bảo tồn.

2.2.3 Hiện trạng sản xuất a Sản xuất nông nghiệp: hoạt động trồng trọt trong 4 xã chủ yếu là cây lương thực, cây màu các loại và một số ít diện tích cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày Tổng diện tích đất trồng lúa của 4 xã chỉ có 277,24 ha, năng xuất bình quân 3,1 tấn/ha, sản lƣợng lúa hàng năm đạt 650,5 tấn/năm, bình quân 60,4 kg/người/năm mới chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu lương thực của nhân dân Để khắc phục tình trạng thiếu lương thực triền miên, nhân dân phải phát rừng làm nương trồng cây lương thực (lúa, ngô)

Bảng 1.3: Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp của 4 xã thuộc Khu BTTN Phu Canh

Các xã trong khu bảo tồn

Tân Pheo Đồng Chum Đoàn Kết Đồng Ruộn g

1 Đất trồng cây hàng năm 631,97 95,44 309,23 163,30 64

- Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 13,70 13,70

- Đất trồng cây hàng năm khác

Đất trồng cây lâu năm chiếm diện tích đáng kể trong cơ cấu nông nghiệp địa phương Chăn nuôi là hoạt động mang lại thu nhập quan trọng cho cộng đồng, đồng thời cung cấp hàng hóa tại chỗ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thị trường và cải thiện cuộc sống Cộng đồng chủ yếu nuôi trâu, bò, lợn, gà, ngan, vịt, ngỗng, dê và các loại gia súc gia cầm khác Trong những năm qua, số lượng đàn gia súc và gia cầm trên địa bàn có xu hướng tăng, thể hiện tiềm năng phát triển và đóng góp của chăn nuôi vào sinh kế người dân.

Trong khu vực, 4 xã tăng tương đối nhanh nhất do nhu cầu tiêu thụ thịt bò trên thị trường ngày càng cao, đặc biệt là đàn bò và đàn trâu Theo thống kê năm 2009, đàn trâu có 1.872 con, đàn bò 1.652 con và đàn lợn 4.010 con; nguồn lực chăn nuôi chủ yếu tập trung trên đất trồng đồi trọc và rừng tự nhiên Hoạt động sản xuất và khai thác lâm nghiệp được thực hiện bằng nguồn vốn từ các dự án đầu tư.

Trong các năm qua, nhân dân ở 4 xã đã tích cực phát triển sản xuất lâm nghiệp Họ đã nhận khoán, khoanh nuôi bảo vệ rừng hiện có (rừng phòng hộ xung yếu và rất xung yếu) với tổng diện tích 7.158 ha Đồng thời, trồng mới rừng phòng hộ trên diện tích trên 837 ha, trong đó có 364 ha rừng luồng, một loài cây vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa đóng góp cho sự phát triển bền vững của địa phương.

Ở hai xã Đồng Chum và Đồng Ruộng, diện tích trồng cây ăn quả trên 113 ha và 181,5 ha được cải tạo thành vườn tạp; thực tế tại địa bàn vẫn xảy ra khai thác rừng và săn bắt động vật trái phép, đốt nương làm rẫy ở quy mô nhỏ Do phong tục tập quán và đời sống người dân còn khó khăn, đặc biệt là thiếu đất sản xuất nên một số hộ lén lút phát nương lấn vào rừng bảo tồn Tình trạng khai thác cây dược liệu, củi, lâm sản phụ, mây, măng tre vẫn diễn ra và một phần được dùng cho gia đình, phần còn lại đem ra bán Thu nhập của nhân dân cho thấy sinh kế chính là sản xuất nông lâm nghiệp; đất nông nghiệp ít, năng suất thấp, bình quân lương thực chỉ đạt 65,9 kg/người/năm Rừng tự nhiên phần lớn là rừng gỗ đã quy hoạch là rừng phòng hộ xung yếu và không được khai thác Các ngành nghề khác phát triển chậm nên đời sống người dân ở đây còn nhiều khó khăn, với thu nhập bình quân khoảng 15,5 triệu đồng/người/năm (khoảng 740 USD).

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, khu bảo tồn đã có đường ôtô đến trung tâm xã, nổi bật là tuyến tỉnh lộ 433 nối từ xã Tân Minh sang xã Tân Pheo và đến xã Đồng Chum Tuyến đường này nâng cao khả năng tiếp cận, tạo thuận lợi cho du khách tham quan và công tác bảo tồn, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và cải thiện giao thông liên xã.

Tuyến đường liên xã dài 31 km, bắt đầu từ ngã ba Ênh (xã Tân Minh), đi qua xã Đoàn Kết, xã Yên Hòa và đến xã Đồng Ruộng, là trục giao thông quan trọng kết nối các xã trong khu bảo tồn Tuyến đường này có điện lưới quốc gia cho tất cả các xã trong khu bảo tồn, nhưng đường dây tải điện còn yếu nên thường xuyên xảy ra mất điện.

Nhờ Dự án 472 và dự án do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng đường ống dẫn nước và các bể chứa nước công cộng, tạo nguồn cấp nước sạch cho khu vực Việc này đảm bảo 100% số hộ dân trong khu vực có nước sinh hoạt an toàn và ổn định, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng.

4 xã có đủ nước sinh hoạt

Thuỷ lợi hiện nay ở các xã đảm bảo hệ thống kênh mương dẫn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp Riêng hồ Cang tại xã Đoàn Kết dự trữ nước tưới cho gần 40 ha đất nông nghiệp Tuy nhiên, do diện tích che phủ của rừng Phu Canh ngày càng thu hẹp, khả năng tích nước và dự trữ nước tưới của hồ Cang đang giảm nhanh chóng, ảnh hưởng đến nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trong khu vực.

Ở khu bảo tồn, bốn xã đã có hệ thống giáo dục với hai cấp tiểu học và trung học cơ sở, với các phòng học kiên cố được xây dựng từ nguồn vốn của Chương trình 135 của Chính phủ và dự án giảm nghèo của Ngân hàng Thế giới Nhờ nguồn vốn này, chất lượng cơ sở vật chất và điều kiện học tập được cải thiện, góp phần nâng cao giáo dục địa phương và thúc đẩy phát triển bền vững cho cộng đồng trong khu vực bảo tồn.

Trong khu vực này, tổng số trẻ em ở độ tuổi đi học từ 6–14 tuổi là 3.562 em Đội ngũ giáo viên hiện nay chủ yếu là những thầy cô từ tỉnh, huyện và một số huyện miền xuôi lên công tác, khiến công tác giảng dạy thiếu sự ổn định và phân bổ chưa đồng đều Vì thiếu chỗ ở ổn định, thiếu sự quan tâm tình cảm và thiếu môi trường hoạt động văn hóa, văn nghệ tại địa phương, nhiều thầy cô chưa yên tâm công tác và hạn chế khả năng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cưởng, đảm bảo khám chữa bệnh ban đầu kịp thời cho nhân dân Mạng lưới y tế từ xã đến thôn bản hoạt động đồng bộ, thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch và chăm sóc sức khỏe ban đầu Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, thiếu thuốc men, thiếu trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế có năng lực cao, nên hiệu quả khám chữa bệnh chưa cao Các hoạt động dân số - kế hoạch hóa gia đình được quan tâm chỉ đạo, việc đổi mới công tác tuyên truyền đã tiếp cận tốt hơn với từng đối tượng Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện đầy đủ và mang lại hiệu quả thiết thực.

Mục tiêu nghiên cứu

Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên cây lâm sản ngoài gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình; mục tiêu là tăng cường đa dạng sinh học, quản lý bền vững và khai thác có trách nhiệm nguồn lợi từ lâm sản ngoài gỗ, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế địa phương dựa trên nguồn lực rừng.

- Xác định đƣợc thành phần loài công dụng, dạng sống của cây lâm sản ngoài gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình

Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh nhằm nhận diện mức độ khai thác, tác động tới đa dạng sinh học và tiềm năng bảo tồn lâm sản ngoài gỗ Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật, tập trung vào quản lý hợp lý nguồn lực, bảo vệ loài nguy cấp và tăng cường khai thác có trách nhiệm Các biện pháp cụ thể gồm bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái, kiểm soát thu hái và khai thác, trồng phục hồi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ thực vật phi gỗ, cùng với đẩy mạnh nhận thức cộng đồng và sự tham gia địa phương Kết quả kỳ vọng là nâng cao sinh kế và du lịch sinh thái tại Phu Canh, đồng thời thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá tác động và cơ chế phối hợp liên ngành để bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật một cách bền vững.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Các loài cây lâm sản ngoài gỗ phân bố trong phạm vi Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình

- Về không gian: Đề tài đƣợc thực hiện trong phạm vi Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

- Về thời gian: Đề tài đƣợc thực hiện trong thời gian từ tháng 9/2016 đến tháng 5/2017.

Nội dung nghiên cứu

1- Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, công dụng, dạng sống, loài có giá trị bảo tồn cây lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn

2- Thực trạng lâm sản ngoài gỗ phân theo mục đích sử dụng

3- Đánh giá thực trạng thị trường và tiềm năng phát triển một số loài thực vật cho LSNG

4- Tình hình quản lý nguồn tài nguyên LSNG tại khu vực nghiên cứu

5- Xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn thực vật LSNG tại địa phương với sự tham gia của người dân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sự đa dạng của thực vật bậc cao có mạch và thực vật LSNG ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình

4.1.1 Đa dạng về các taxon phân loại

Qua quá trình điều tra, nghiên cứu đã xác định và thống kê đƣợc 1024 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 581 chi, 162 họ của 6 ngành, trong đó có

Có 545 loài LSNG được ghi nhận tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, chiếm trên 53,22% tổng số loài thực vật của khu vực (Bảng 3.1) Trong đó, 479 loài được kế thừa từ các nghiên cứu trước và 66 loài LSNG được bổ sung trong các nghiên cứu mới Những kết quả này làm nổi bật mức độ đa dạng thực vật của Phu Canh và cung cấp cơ sở dữ liệu cập nhật cho công tác bảo tồn và nghiên cứu hệ thực vật của khu vực.

Bảng 3.1 Đa dạng các taxon thực vật bậc cao có mạch ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh

Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %

Nguồn: Khu BTTN Phu Canh (2012)

Hầu hết các loài thực vật bậc cao có mạch tập trung ở ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm 91,50% tổng số loài; 91,39% tổng số chi và 80,86% tổng số họ Nghiên cứu cho thấy Magnoliophyta chiếm ưu thế rõ rệt về đa dạng ở ba cấp phân loại này Đồng thời, điều tra các loài LSNG tại khu vực Khu Bảo tồn Phú Cảnh (KBT Phú Cảnh) nhằm xác định thành phần loài và mức độ phong phú của nhóm này trong khu vực bảo tồn.

Các tuyến điều tra Điều tra và thu mẫu tiêu bản

Trong khu bảo tồn Phu Canh, tổng số thực vật bậc cao có mạch là 1024 loài; 545 loài thuộc LSNG chiếm 53,22% tổng số loài Có 581 chi thực vật bậc cao được ghi nhận, trong đó 289 chi có LSNG chiếm 49,74% tổng số chi có LSNG 162 họ thực vật được xác định, trong đó 132 họ có LSNG chiếm 81,48%.

Bảng 3.2: Đa dạng các Taxon về LSNG ở KBT Phu Canh

Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %

Đa số loài thực vật bậc cao có mạch cho LSNG tập trung ở ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm 86,79% tổng số loài, 84,08% tổng số chi và 80,30% tổng số họ; tiếp theo là ngành Polypodiophyta với 8,62% tổng số loài, chiếm 11,07% tổng số chi và 12,88% tổng số họ Các ngành tiếp theo gồm Pinophyta và Lycopodiophyta, trong khi hai ngành Psilotophyta và Equisetophyta chỉ chiếm 0,18% tổng số loài.

Trong 132 họ có 15 họ giàu loài cho LSNG nhất, đó là: Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Cà phê

Ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, có 15 họ thực vật được ghi nhận, bao gồm Rubiaceae, Orchidaceae, Moraceae, Poaceae, Lauraceae, Verbenaceae, Caesalpiniaceae, Apocynaceae, Araliaceae, Lamiaceae, Arecaceae và Zingiberaceae, với tổng số 241 loài, chiếm 44,22% tổng số loài LSNG ở khu bảo tồn Trong số này, 10 chi có sự đa dạng loài LSNG cao nhất là chi Sung (Ficus), chi Sồi (Lithocarpus), chi Trọng đũa (Ardisia), chi Khúc khắc (Smilax), chi Dẻ gai (Castanopsis), chi Củ nâu (Dioscorea), chi Móng bò (Bauhinia), chi Bời lời (Litsea), chi Trâm (Syzygium) và chi Thị (Diospyros).

Hầu hết các loài trong các họ và các chi này đƣợc khai thác để làm thuốc và để ăn

Theo kết quả điều tra về khai thác và sử dụng LSNG, đã thống kê đƣợc

Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, có 545 loài cây được người dân khai thác để sử dụng và để bán, chiếm 53,22% tổng số loài cây LSNG trong khu vực Số loài này chủ yếu thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm 87,14% tổng số loài, và lớp Ngọc lan chiếm phần lớn với 77% Các họ có số loài khai thác nhiều nhất gồm Fabaceae (họ Đậu), Euphorbiaceae (họ Thầu dầu), Rubiaceae (họ Cà phê), Asteraceae (họ Cúc) và Poaceae (họ Cỏ).

4.1.2 Đa dạng về phân bố, dạng thân và bộ phận sử dụng

Ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, các sinh cảnh sống của LSNG được phân thành 5 nhóm; sinh cảnh phổ biến nhất là rừng chiếm 53%, tiếp đến là đồi núi đá với 22%, còn lại là nương rẫy, ven đường, vườn và ven khe suối, mỗi loại chiếm từ 7–9%; về dạng thân, cây gỗ và cây thảo chiếm tỷ lệ lớn nhất.

(32 và 30%), tiếp đến là các cây thân leo (19%) và thân bụi (17%), 2% là dạng thân bì sinh và ký sinh

Trong thực tế có 545 loài cây LSNG được khai thác ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, với nhiều bộ phận khác nhau được người dân sử dụng Phổ biến nhất là lá và ngọn của 188 loài, tiếp theo là toàn cây ở 116 loài, rễ ở 102 loài, thân ở 61 loài, còn lại là vỏ và quả.

Thành phần các loài cây LSNG có giá trị cần đƣợc bảo vệ

Trong Khu BTTN Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, dựa trên khảo sát 545 loài cây LSNG, chúng tôi xác định có 34 loài thuộc diện bảo vệ, chiếm 6,24% tổng số loài LSNG được ghi nhận ở khu vực theo các tiêu chí đánh giá đã được áp dụng.

Việt Nam Sách đỏ năm 2007 và Danh mục các loài có nguy cơ bị đe doạ do IUCN công bố năm 2009 cho thấy nhiều loài đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về đa dạng sinh học Nghị định số 32/2006 của Chính phủ thiết lập khung pháp lý cho bảo tồn và quản lý nguồn gen quý hiếm, đòi hỏi biện pháp bảo tồn nghiêm ngặt Kết quả cụ thể được trình bày ở Bảng 3.3, làm rõ các loài có nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ và ưu tiên cho các chương trình bảo tồn.

Bảng 3.3: Thành phần các loài cây LSNG đang bị đe dọa tại Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình

TT Tên la tinh Tên

Việt Nam Họ SĐ IU

1 Rauvolfia verticillata Lour Ba gạc vòng Apocynaceae VU

Woodson Thần linh lá nhỏ Apocynaceae VU

3 Goniothalamus vietnamensis Bân Bổ béo đen Anonaceae VU

Merr.; Ngũ gia bì gai Araliaceae EN

5 Asarum balansae Franch Tế hoa Aristolochiaceae EN IIA

6 Asarum caudigerum Hance Thổ tế tân,

7 Codonopsis javanica Hook.f & Thomson Đẳng sâm Campanulaceae VU

(Thunb.) Makino Giảo cổ lam 5 lá Cucurbitaceae EN

10 Cyperus rotundus Củ gấu Cyperaceae LR

11 Dalbergia rimosa Trắc dây Fabaceae LR

Gagnep.; Hoè bắc bộ Fabaceae VU

13 Gnetum montanum Dây mấu Gnetaceae LR

Thành ngạnh, đỏ ngọn Hypericaceae LR

Kurz Đỏ ngọn Hypericaceae LR

17 Fibraurea tinctoria Hoàng đằng Menispermace ae

18 Chukrasia tabularis Lát hoa Meliaceae VU LR

19 Stephania dielsiana Củ dòm Menispermaceae VU IIA

22 Ardisia silvestris Pitard Lá khôi Myrsinaceae VU

Lindl.; Lan kim tuyến Orchidaceae EN IA

Gaudich Chân trâu xanh Orchidaceae VU IIA

26 Nervilia fordii Schltr Thanh thiên quỳ Orchidaceae EN IIA

Pfitzer Lan hài đốm Orchidaceae IA

28 Eleusine indica (L.) Gaertn Cỏ mần trầu Poaceae LR

H.J.Lam; Sến mật Sapotaceae EN VU

Roxb Thổ phục linh Smilacaceae LR

(Hook et Arn.) Planch Chè dây Vitaceae LR

32 Calamus platyacanthus Song mật Arecaceae VU

33 Aquilaria crassna Pierre Trầm hương Thymeleaceae VU

34 Tinospora sinensis Merr Đau xương Menispermaceae VU

Ghi chú: SĐ, 2007: Sách đỏ Việt Nam năm 2007; CR: rất nguy cấp; EN:

Nguy cấp là trạng thái nguy cơ cao của một loài; VU biểu thị sẽ nguy cấp; IUCN là danh mục các loài có nguy cơ bị đe dọa do hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế xếp hạng; LR là loài đe dọa thấp; DD là thiếu dữ liệu NĐ 32 là Nghị định số 32 của chính phủ năm 2006; IA nhằm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại; IIA nhằm hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại.

Nhƣ vậy, theo bảng trên có 34 loài thuộc diện các loài thực vật quý hiếm cần đƣợc bảo vệ trong đó:

22 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam năm 2007 được liệt kê, trong đó 1 loài ở mức nguy cấp (CR) là Re hương (Cinnamomum parthenoxylon); 7 loài ở mức Nguy cấp (EN) gồm Tế hoa (Asarum balansae), Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus), Giảo cổ lam năm lá (Gynostemma pentaphyllum) và các loài khác; 14 loài thuộc mức sẽ nguy cấp (VU), trong đó có Ba gạc vòng và các loài liên quan.

(Rauvolfia verticillata), Thổ tế tân (Asarum caudigerum), Đẳng sâm (Codonopsis javanica), Củ gió (Tinospora sagittata), Lá khôi (Ardisia silvestris), Song mật (Calamus platyacanthus),…

11 loài nằm trong danh mục các loài có nguy cơ bị đe dọa được IUCN công bố Trong danh sách này, một loài ở mức nguy cơ cao (VU) là Sến mật (Madhuca pasquieri) Mức LR ghi nhận 9 loài, bao gồm Chè dây (Ampelopsis cantoniensis), Thổ phục linh (Smilax glabra) và Lát hoa (Chukrasia tabularis), cùng với các loài khác được xếp hạng tương ứng.

Trắc dây (Dalbergia rimosa), Mức Thiếu dữ liệu - DD chỉ có 1 loài là Re hương (Cinnamomum parthenoxylon)

12 loài nằm trong Nghị định số 32 của Chính phủ năm 2006, trong đó 3 loài thuộc mục IA (cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) là Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus), Lan Kim tuyến (Anoectochilus roxburgiana) và Lan hài đốm (Paphiopedilum concolor); 9 loài còn lại thuộc mục khác của nghị định.

IIA (Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại) là biện pháp kiểm soát nhằm hạn chế khai thác và sử dụng cho mục đích thương mại đối với các loài dược liệu thuộc các chi như Bình vôi (Stephania spp.), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), Thổ tế tân (Asarum caudigerum), Tế hoa (Asarum balansae) và Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia) Việc áp dụng IIA giúp bảo tồn nguồn gen, ổn định nguồn cung và hướng đến khai thác bền vững, đồng thời nhấn mạnh vị trí của các loài này trong ngành dược liệu.

Trong quá trình nghiên cứu, căn cứ vào các điểm đã phát hiện đƣợc cây thuốc ngoài thực địa (đã đƣợc xác định vị trí bằng GPS), chúng tôi đã đánh dấu điểm phân bố của các loài cây có giá trị cần đƣợc bảo vệ trên bản đồ của Khu BTTN Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Theo đó, có 4 loài chƣa quan sát được mà chỉ ghi nhận qua các tài liệu có trước là Chân trâu xanh, Hòa bắc bộ, Ngũ gia bì gai, Bổ béo đen; một số loài đƣợc cho là số lƣợng nhiều nên không thể hiện trong sơ đồ sau là Cỏ mần trầu, Củ gấu.

Thực trạng LSNG ở KBT Phu Canh

4.3.1 Phân loại theo mục đích sử dụng

Mục đích sử dụng LSNG của người dân địa phương rất đa dạng, bao gồm: làm lương thực, thực phẩm, gia vị, dệt vải, nhuộm sợi, nhuộm răng, chăn nuôi, thuộc da, bện sừng, làm dây buộc, làm lưới, làm công cụ lao động, dựng nhà, làm đồ dùng trong gia đình, chữa bệnh cho con người và vật nuôi, bồi bổ sức khỏe, làm đồ chơi, diệt côn trùng, ký sinh trùng, làm mồi đánh bắt cá, săn thú vật,

Phân bố của 545 loài LSNG tại khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh được phân theo 6 nhóm công dụng như trình bày trong bảng 3.4 Thực tế cho thấy nhiều loài có nhiều công dụng khác nhau, vì vậy tổng số lượt loài xuất hiện trong các nhóm công dụng ở bảng 3.4 lên tới 782 lượt Kết quả này cho thấy mức độ đa dạng chức năng của LSNG tại Phu Canh và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu, bảo tồn và khai thác bền vững dựa trên cơ sở phân loại công dụng.

Bảng 3.4: Phân bố của các loài LSNG ở KBT Phu Canh theo công dụng

TT Công dụng Số loài Tỷ lệ (%)

2 Nhóm cây cho thực phẩm 107 19,63

4 Nhóm cây cho dầu và nhựa, dầu béo 43 7,89

5 Nhóm cây tanin, thuốc nhuộm 28 5,14

6 Nhóm cây cảnh và công dụng khác 93 17,06

Trong thực tế, nghiên cứu khai thác và sử dụng 545 loài cây LSNG cho các mục đích khác nhau đã ghi nhận 782 lượt loài được khai thác cho 6 nhóm mục đích, nổi bật nhất là nhóm cây được các ông lang bà mế ở địa phương sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và vật nuôi, với 495 loài chiếm 90,82% tổng lượt khai thác, tiếp đến là nhóm cây ăn được (107 lượt loài), nhóm cây cảnh và cây khác (93 lượt loài), nhóm cây cho sợi (45 lượt loài), nhóm cây nhựa, dầu (43 lượt loài) và nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm (28 lượt loài).

Trong tổng số 545 loài cây cho LSNG ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, có 45 loài cây cho sợi, chiếm 8,26% Nhóm này gồm các loài song, mây, tre, nứa, luồng, dây buộc, sợi dệt vải, đan lưới, bện thừng, bột làm giấy; tuy số loài ít nhưng được khai thác thường xuyên và nhu cầu thị trường khá lớn, đặc biệt là thị trường nguyên liệu mây tre đan xuất khẩu Do quá trình khai thác quá mức và thiếu kế hoạch nên nhiều loài cạn kiệt trong tự nhiên, ví dụ như Song mật (Calamus platyacanthus), Song bột (Calamus poilanei), Mây nếp (Calamus tetradactylus), Dướng (Broussonetia papyrifera), Gai (Boehmeria nivea), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Trầm

(Aquilania crassna), Trẩu (Vemicia montana), Dó (Rhamnoneuron balansae), Nứa lá to (Schizostachyum funghmi McClure), Nứa lá nhỏ (Schizostachyum pseudolima McClure), Lành hanh (Oligostachyum sp) ,…

Bảng 3.5: Sự phân bố số lƣợng và tỷ lệ họ, chi, loài cây cho sợi ở KBT Phu Canh

Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %

Bảng 3.5 trình bày sự phân bố về số lượng và tỷ lệ của các họ, chi và loài trong nhóm cây lấy sợi ở khu vực KBT Phu Canh Hầu hết các loài cây lấy sợi thuộc ngành Ngọc lan, chiếm 91,11% tổng số loài Trên 60% tổng số loài cây lấy sợi thuộc lớp Loa kèn (Liliopsida) của Magnoliophyta, tập trung chủ yếu ở các họ chính là Họ Cau – Arecaceae và Họ Cói – Cyperaceae.

4.3.3 Nhóm cây làm thực phẩm

Nhóm cây cho thực phẩm có số lượng loài khá lớn, gồm 107 loài, chiếm tỷ lệ 19,632% tổng số loài LSNG ở KBT Phu Canh Các taxon phân loại, các bộ phận thu hái và nơi sống của các loài cây ăn được rất đa dạng, cho thấy sự phong phú về đặc điểm sinh học và cách khai thác Dạng thân của các loài cây ăn được cũng rất đa dạng, phản ánh khả năng thích nghi và tiềm năng sử dụng cao trong chế biến và nuôi dưỡng nguồn thực phẩm.

Bảng 3.6 trình bày sự phân bố về số lƣợng và tỷ lệ họ, chi, loài của nhóm cây thực phẩm ở KBT Phu Canh

Nơi sống của các loài cho thực phẩm rất đa dạng và xuất hiện ở mọi sinh cảnh, nhưng phổ biến nhất vẫn là rừng chiếm 45%; tiếp đến là đồi núi chiếm 21% và ven khe suối chiếm 19% tổng số loài ăn được.

Bảng 3.6: Sự phân bố về số lƣợng và tỷ lệ họ, chi, loài của các cây ăn đƣợc

Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %

Trong các dạng cây ăn quả, cây thân gỗ chiếm khoảng 43%, là nguồn cung cấp quả, hoa, hạt, lá và rễ có thể ăn được; người dân thu hái từ rừng để ăn và bán, điển hình có các loài Dâu da đất (Baccaurea ramiflora), Trám đen (Canarium tramdenum), Trám trắng (Canarium album), Mắc mật (Clausena indica), Hồng bì (Clausena lansium), Vối (Cleistoclalyx operculata), Sấu (Dracontomelum duperrianum) và Tai chua (Garcinia Roxb).

Bứa (C oblongifolia Champ ex Bent), Rổi ăn quả (Michenlia tonkinensis), … are listed first, followed by a group of herbaceous plants that accounts for about 27% and whose leaves, tubers, flowers, fruits, or even the whole plant are commonly used as vegetables, such as gotu kola (Centella asiatica), rau tàu bay (Crasso), rau dớn (Diplazium esculentum), giấp cá (Houttuynia cordata), and lá lốt (Piper lolot); climbing plants form a major portion, with fruits (122 types) also including buds, shoots, stems, tubers, whole plants, flowers, and seeds, such as Thiên lý (Telosma cordata), lá Mơ lông (Paederia foetida), Mùng tơi (Basellaceae), Củ nâu (Dioscorea cirrhosa), and Củ mài (Dioscorea peperoides).

Củ từ (Dioscorea sp), Gấc (Momordica cochinchinensis), Sắn dây (Pueraria thomsoni),… đều chiếm số lƣợng không nhiều, từ 8 – 32 lƣợt loài

4.3.4 Nhóm cây làm dược liệu

Bảng 3.7: Sự phân bố về số lƣợng và tỷ lệ họ, chi, loài của nhóm cây làm dƣợc liệu ở khu Bảo tồn Phu Canh

Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %

Nhóm cây làm thuốc là nhóm có số loài lớn nhất trong 6 nhóm LSNG đã thống kê ở bảng 3.7, với 495 loài, chiếm 90,82% tổng số loài cây LSNG thống kê được của khu vực KBT Phu Cảnh Kế thừa từ tài liệu 479 loài, đã bổ sung thêm 16 loài cây có giá trị làm thuốc, như Quyết thân gỗ (Cyathea duinensis Copel), Cốt cắt (Nephrolepis cordifolia (Linn.) Prest), Thiên tuế và một số loài khác có giá trị làm thuốc.

Traditional Vietnamese medicinal plants featured here include Cycas balansae Warb (Cycas balansae), Vỏ rut (Ilex godajam Colebr), Gleditsia triacanthos (honey locust), Momordica cochinchinensis (gac), Helicia nilagirica Bedd (mạ sa lá xẻ), Eberhardtia aurata, Đắng cảy (C cyrtophyllum Turez), Thủy xương bồ (A verus Houtt), Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn), Củ mài (Dioscorea peperoides), Huyết giác (Dracaena cochinchinensis D), Nghệ đen (Curcuma aeruginosa Roxb), and Gừng gió (Zingiber zerumbet).

(Zingber zerumbet (L.) J E Smith), Mộc nhĩ (Auricaria polytricha Mont Sacc)

Trong KBT Phu Canh, phân bố 6 ngành, 128 họ và 350 chi thực vật bậc cao có mạch; số loài, chi và họ tập trung chủ yếu ở lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), chiếm 92,53% tổng số loài, 92,28% tổng số chi và 82,81% tổng số họ Những họ có nhiều loài cây làm thuốc gồm Họ Đậu (Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Phong lan (Orchidaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae); tiêu biểu cho nhóm này là Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), Lan Kim tuyến (Anoectochilus roxburgiana), Bụp trắng (Mallotus apelta), Kinh giới rừng (Elsholtzia blanda), Rè vàng (Machilus bonii), Bình vôi (Stephania aff rotunda), Gừng núi (Zingiber zerumbet), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia), Đu đủ (Carica papaya), Tai chua (Garcinia cowa) và Lông cu li (Cibotium barometz).

Nơi sống của các loài cây làm thuốc rất đa dạng và có mặt ở mọi sinh cảnh Tuy nhiên, rừng chiếm tỷ lệ cao nhất với 50% số loài, tiếp đến là đồi núi với 22% Các sinh cảnh còn lại chứa 8-11% tổng số loài Nhìn chung, phân bố cây thuốc theo sinh cảnh nghiêng về rừng và đồi núi, còn lại phần nhỏ được phân bổ ở nhiều môi trường khác.

Dạng thân của các loài cây cho dược liệu rất đa dạng, với 32% là dạng thảo, 28% là dạng gỗ, 20% là dạng leo, 19% là dạng bụi, và chỉ khoảng 1% thuộc dạng bán ký sinh hoặc ký sinh.

Thu hái lá và ngọn để làm thuốc là hình thức phổ biến nhất, chiếm đến 421 loài, như Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), Bông mã đề (Plantago major), Thạch xương bồ (Acorus calamus) và Ngải cứu (Artemisia vulgaris) Việc khai thác đúng cách các phần lá và ngọn của những loài này giúp bảo tồn dược tính, tăng hiệu quả điều trị và an toàn cho người dùng khi được thực hiện theo hướng dẫn và liều lượng phù hợp.

Thực trạng các loài LSNG tại Khu bảo tồn Phu Canh được người dân

4.4.1 Các cây cho dược liệu ở Khu BTTN Phu Canh

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các bộ phận sử dụng của cây thuốc giúp tối ưu hóa việc khai thác nguồn nguyên liệu và định hướng phân tích thành phần hóa học cũng như dược tính của chúng Theo kinh nghiệm y học cổ truyền, các bộ phận khác nhau của cây được dùng cho mục đích khác nhau, và cùng một bộ phận ở cùng một cây có thể có tác dụng khác nhau tùy cách vận dụng của thầy thuốc.

Trong y học cổ truyền, rễ và củ, kể cả thân củ, được đánh giá cao về hiệu quả chữa bệnh và được sử dụng phổ biến với 87 loài, chiếm 18,16% tổng số loài được khảo sát Rễ cây có thể giã tươi uống hoặc đắp trực tiếp, điển hình ở các loài như Ráy trắng (Alocasia macrorrhiza), Gừng núi (Zingiber zerumbet) và Gừng (Zingiber officinale) Ngoài ra, rễ và củ còn có thể phơi khô, sắc hoặc nấu nước uống, như Cốt cắn (Nephrolepis cordifolia), Củ dòm (Stephania dielsiana), Ráy leo Trung Quốc (Pothos chinensis) và Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia).

Cỏ bạc đầu (Killinga nemoralis), chữa các bệnh như đau xương, trị giun sán, xoa bóp, đau răng,

Các bộ phận còn lại như hoa, quả, hạt cũng được sử dụng, nhưng không nhiều bằng thân, rễ, lá Tuy vậy, đây thường là những loài có tác dụng chữa bệnh đặc biệt: hoa của cây Kim ngân dại (Lonicera japonica) được nấu nước uống để hạ nhiệt và làm mát cơ thể; hoa vàng của Cúc nút áo (Spilanthes paniculata) được dùng tươi, nhai ngậm để chữa đau răng, sâu răng; còn nhiều loài vừa có tác dụng chữa bệnh vừa là thực phẩm ngon miệng như gừng (Zingiber officinalis), đu đủ (Carica papaya), tai chua (Garcinia cowa), rau ngót (Sauropus androgynus),

Chỉ 12 loài, chiếm 2,51% tổng số loài ghi nhận có thể khai thác nhựa mủ hoặc tinh dầu để chữa bệnh Điển hình là Đu đủ (Carica papaya) và Bứa nhuộm (Garcinia tinctoria), được dùng để điều trị các bệnh như ngoài da, bỏng lửa và tưa lưỡi ở trẻ em; đặc biệt có một loài có thể lấy lông từ thân để cầm máu, đó là Lông cu li (Cibotium barometz).

Nấm linh chi (Ganoderma lucidum)

Bảng 3.11 Một số loài thực vật LSNG làm dƣợc liệu được người dân thu hái

1 Bạc hà Mentha arvensis Thân, lá

Có tác dụng hạ sốt, làm ra mồ hôi, làm dịu họng, lợi tiêu hoá, chống

2 Bổ cốt toái Drynaria fortunei Thân rễ

Chữa thận hƣ, tiêu chảy kéo dài, đau lƣng mỏi gối, bong gân, sai khớp, gãy xương

3 Cam thảo đất Scoparia dulcis Toàn cây

Thân và rễ chữa say sắn, sốt, giải độc cơ thể Cây còn chữa ho, viêm họng, kinh nguyệt quá nhiều

Thân rễ trị thấp khớp, đau lƣng, đau dây thần kinh, người già đi tiểu nhiều lần

Rễ làm thuốc bổ; vỏ cây chữa cảm sốt, họng sƣng đau, thấp khớp

Dùng cho phụ nữ sau khi sinh, trị kinh

++ nguyệt không đều, bế kinh hoặc thấy kinh đau bụng

Tác dụng làm mát cơ thể, chữa hậu sản

8 Đinh lăng* Polyscias fruticosa Thân, lá, rễ tăng thể lực, giải tỏa lo âu, mệt mỏi, chống oxy hóa, bảo vệ gan, kích thích miễn dịch

Rừng, đồi, nương, vườn nhà

9 Gấc Momordica cochinchinensis Qủa Chữa quai bị, ngộ độc

Rừng, đồi, nương, vườn nhà

Dùng trong trường hợp kém ăn, ăn không tiêu, nôn mửa, đi ngoài tiêu chảy, làm toát mồ hôi, chữa ho mất tiếng

Rừng, đồi, nương, vườn nhà

11 Giảo cổ Gynostemma Thân, Giải độc gan, Rừng, ++++ lam* pentaphyllum rễ, lá hạ huyết áp, giảm mỡ máu… đồi, nương, vườn nhà

Dùng để chữa thiếu máu, thần kinh suy nhƣợc, ăn ngủ kém, đau nhức gân xương, bạc tóc sớm,…

Thân già và thân rễ

Trị các loại sƣng viêm, kiết lỵ, viêm ruột ỉa chảy, lở ngứa ngoài da

Trị phong thấp, tê bại nửa người, kinh nguyệt không đều, mụn nhọt lở ngứa, rắn cắn, ong đốt

15 Ích mẫu Leonurus japonicus Toàn cây

Chữa các bệnh về kinh nguyệt, làm an thai, chữa viêm thận, phù

Rừng ++ thũng, đái ra máu

16 Khôi tía* Ardisia sylvestris Lá Chữa đau dạ dày nương dãy, vườn nhà

17 Ngải cứu Artemisia vulgaris Lá chữa đau đầu, động thai

Chữa đau dạ dày, đau bụng, ăn không tiêu, bế kinh, kinh nguyệt không đều, phong thấp, vàng da,…

Rừng, đồi, nương, vườn nhà

Chữa vàng da, sốt nóng, tiểu tiện không thông và cho phụ nữ sau khi sinh uống làm ăn ngon, chóng lại sức

Dùng làm thuốc cấp cứu bệnh do hàn,

++ cảm lạnh, viêm và hen phế quản, tiêu hoá kém,… vườn nhà

21 Riềng nếp* Alpinia galangal Thân rễ

Chữa đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa, lỵ

22 Sa nhân Alpinia sp Thân, rễ

Làm thuốc bổ cho phụ nữ sau khi sinh, tiêu thực và an thai

Rừng, đồi, khe suối, ven đường

Làm thuốc bổ, chữa phong thấp, thần kinh suy nhƣợc, liệt dương, chữa ho, trĩ, vàng da, đi ỉa lỏng, đau bụng

Trị đái tháo đường, viêm họng, ho, ban đỏ, thủy đậu, bệnh tay chân miệng Đồi, nương, vườn nhà, ven đường

26 Thạch Acorus calamus Lá Chữa bệnh Rừng, ++ xương bồ hàn, dạ dày, tiêu hoá nương dẫy

Chữa thấp khớp, tay chân và các khớp xương nhức mỏi hoặc co quắp, tê bại

Chữa thấp khớp, mụn nhọt, lở ngứa, giang mai, giải độc thuỷ ngân, dị ứng

Celastrus hindsii Benth.et Hook

Phòng chống ung thƣ, lở ngứa, mụn nhọt, tiêu hạch, tiêu độc, thanh nhiệt, mát gan…

Nguồn: điều tra thực địa và phỏng vấn người dân Mức độ gặp: ++++: rất nhiều; +++: trung bình; ++: gặp ít; +: hiếm gặp

(*): Những loài LSNG được khai thác buôn bán chủ yếu trong những năm gần đây Điều tra phỏng vấn người dân

Măng được người dân thu hái làm thực phẩm bán

4.4.2 Các cây cho rau, quả, thực phẩm, gia vị

Rau, quả rừng và các loại gia vị là những món ăn quen thuộc và gần gũi với người dân nông thôn nói chung và người miền núi nói riêng Ngày nay, xu hướng sử dụng rau rừng ngày càng tăng lên vì đây là nguồn rau sạch được xem như đặc sản ở các thành phố lớn và được người dân địa phương dùng thường xuyên Tại 4 xã quanh khu bảo tồn, người dân có nhiều kinh nghiệm khai thác, trồng và sử dụng các loài rau, quả rừng, kết quả được thể hiện ở bảng sau.

Bảng 3.12: Một số loài LSNG làm thực phẩm, gia vị được người dân thu hái

Tên loài Bộ phận sử dụng

Dendrocalamus velutinus Măng Làm rau Đồi, rừng +++

2 Củ mài Dioscorea peperoides Củ Luộc ăn Rừng, đồi +

3 Củ từ Dioscorea esculanta Củ Luộc ăn Rừng, đồi +

Schefflera heptaphylla Lá Lá non làm rau Đồi, rừng +

5 Chua me đất Oxalis corniculata Thân, lá Nấu canh Đồi, ven ruộng +

6 Chuối hột* Musa balbisiana Quả Ăn quả Nương +++

Làm màu cho thực phẩm (nấu xôi) Đồi, nương ++

8 Khoai sọ* Colocasia esculenta Củ Luộc ăn, nấu canh Rừng, đồi +++

9 Luồng* D.barbatus Măng Làm rau Đồi, rừng +++

10 Màng tang* Litsea cubeba Pers Quả Gia vị Rừng ++

11 Mắc khén* Zanthoxylum rhetsa Quả Gia vị Rừng ++

12 Mắc mật Clausean indica Lá, quả Gia vị, rau Rừng, vườn ++

13 Măng nứa* Neohouzeana dulloa Măng Làm rau Rừng, đồi +++

14 Mộc nhĩ* Auricaria polytricha Cả cây Làm rau

Rừng, đồi, nương, vườn nhà

15 Mùi tàu Eryngium foetidum Lá Gia vị Nương, vườn ++

Momordica charantica Quả Ăn quả nương bãi ++

17 Nấm hương* Lentinula edodes Cả cây Làm rau

Rừng, đồi, nương, vườn nhà

18 Rau bợ Marcilea quadripholya Thân Làm rau Nương bãi, ven ruộng ++

Peperomia pellucida Thân Làm rau Ven ruộng ++

Amaranthus viridis Thân, lá Rau ăn Nương bãi ++

Cylosorus paraciticut Thân Làm rau Nương, bãi +++

22 Rau má Centella asiatica Cả cây Rau, nấu canh Ven ruộng ++

23 Rau sam Portulata oleracea Thân, lá Rau Nương bãi ++

Erechtites valerianifolia Lá Làm rau Nương, vườn +

Physalis angulata Lá Làm rau Nương bãi, ven ruộng ++++

26 Sấu* Dracontomelum duperrianum Quả Ăn quả Rừng, đồi +++

Rhodomyrtus tomentosa Quả Ăn quả Rừng +

28 Sung* Ficus racemosa Quả, lá Làm rau Đồi, rừng ++

29 Tai chua Garcinia cowa Quả Làm rau rừng, đồi, vườn +++

Canarium tramdenum Quả Ăn quả Rừng ++

31 Trám trắng Canarium album Quả Ăn quả Rừng ++

32 Tre gai Bambusa blumeana Măng Làm rau Đồi, rừng ++

33 Trứng gà Pouteria sapota Quả Ăn quả Rừng +

34 Vả Ficus auriculata Quả, lá Làm rau Đồi, rừng ++

Indosasa parviflora C.S Chao Măng Làm rau Đồi, rừng +++

Nguồn: Điều tra, phỏng vấn người dân Mức độ khai thác: ++++: rất nhiều; +++: nhiều; ++: trung bình; +: ít

(*): Những loài LSNG được khai thác buôn bán chủ yếu trong những năm gần đây

4.4.3 Các cây cho tinh dầu, tanin, nhựa, dầu béo

Trong nhóm LSNG, hiện nay đã phát hiện 17 loài cây có khả năng cho tinh dầu tại khu vực nghiên cứu, nguồn tài nguyên đang ở dạng tiềm năng của khu bảo tồn Trong số 17 loài này, có tới 4 loài thuộc họ Hoa Môi (Lamiaceae), phần lớn là cây thân thảo, dễ sống và có thể trồng với diện tích lớn Chúng có thể trồng quanh năm và mỗi năm thu hái từ 1 đến 2 lần Tinh dầu từ nhóm này rất quý, có thể dùng làm hương liệu trong công nghiệp dược phẩm và các sản phẩm liên quan như thuốc đánh răng, nước uống, các loại mứt kẹo, thuốc lá và kem chống ngứa.

Bảng 3.13 Một số loài LSNG cho tinh dầu tại vùng nghiên cứu

Bộ phận sử dụng Công dụng Sinh cảnh

Tên Việt Nam Tên Khoa Học

1 Bạc hà Mentha avensis Toàn cây Tinh dầu

2 Bạch đàn Eucalyptus spp Lá Tinh dầu Rừng, đồi +++

Calocedrus macrolepis Thân Tinh dầu Rừng +

4 Bời lời Litsea glutinosa Vỏ Tinh dầu Rừng, đồi ++

5 Chổi xuể Baeckea frutescens Phần trên mặt đất Tinh dầu Rừng +++

Tinh dầu, thuốc, gia vị

7 Giổi xanh Michelia mediocris Hạt Tinh dầu, gia vị

8 Hoắc hương Pogostemon cablin Lá Tinh dầu, thuốc

9 Hương lâu Dianella ensifolia Rễ Tinh dầu Rừng +

10 Hương nhu tía Ocium sanctum Phần trên mặt đất

Tinh dầu, thuốc vườn nhà ++

12 Màng tang Litsea cubeba Vỏ, hạt, lá Tinh dầu Rừng, đồi ++

13 Pơ mu Fokienia hodginsii Thân Tinh dầu Rừng +

Vỏ thân, lá Tinh dầu

15 Sa nhân Amomum villosum Quả Tinh dầu, thuốc

Homalomena occulta Thân rễ Tinh dầu, thuốc Rừng ++

Abelmoschus mostratus Hạt Tinh dầu Rừng +

Nguồn: Điều tra, phỏng vấn người dân cho thấy mức độ khai thác cây Hương Lâu ở mức rất cao (++++), và ngoài cung cấp nguyên liệu làm hương, tinh dầu của cây này có giá trị lớn được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng, với giá xuất khẩu tại Việt Nam khoảng 30 USD/kg Đáng chú ý nhất là tinh dầu Vông Vang có giá trị xuất khẩu lên tới 5.000 USD/kg và có mặt ở nhiều thị trường quốc tế; tuy vậy số lượng cây cho loại tinh dầu này không nhiều, thường gặp ở ven đường đi hoặc ở các nương đồi thấp, do đó việc trồng và thu hái với quy mô lớn gặp nhiều khó khăn Riêng hai họ Sim (Myrtaceae) và Gừng (Zingiberaceae) đều có hai loài cho tinh dầu, và các cây thuộc hai họ này mọc phổ biến ở vùng nghiên cứu với số lượng lớn, rất thuận lợi cho việc thu hái.

Bên cạnh các loài cây cho tinh dầu, cộng đồng địa phương còn khai thác và sử dụng các sản phẩm tanin, nhựa và dầu từ nguồn LSNG Tuy nhiên mức độ tận dụng vẫn còn rất hạn chế, thậm chí thiếu tính khoa học, và chỉ một phần nhỏ người dân ý thức được giá trị của nguồn tài nguyên quý báu này nên việc khai thác và sử dụng nguồn LSNG tại địa phương chưa phát huy hết tiềm năng Thực tế, tanin, nhựa và dầu là các sản phẩm LSNG nhưng ít được quan tâm vì chúng chỉ phục vụ cho những nhu cầu hạn chế trong gia đình Vì vậy nhóm sản phẩm LSNG này vẫn ít được khai thác.

Bảng 3.14: Một số cây cho sản phẩm Tanin, Dầu béo, Sơn

Bộ phận sử dụng Công dụng Sinh cảnh

1 Bồ đề Styrax tonkinensis Vỏ, lá Tanin, tinh dầu

Terminalia myriocarpa Vỏ Tanin Rừng +

3 Lai Aleuriles moluccana Hạt, vỏ Dầu béo, mực in Rừng +

4 Quế Cinnamomum cassia Vỏ Tinh dầu

5 Sơn ta Rhus succedanesa Thân Nhựa Rừng ++

6 Thầu dầu Ricinus communis Hạt Dầu béo Rừng, đồi ++

7 Trẩu Vernicia montana Hạt Dầu

8 Xoan ta Melia azedarach Thân Nhựa

Nguồn: Điều tra, phỏng vấn người dân Mức độ khai thác: ++++: rất nhiều; +++: nhiều; ++: trung bình; +: ít

Ngoài những LSNG đã trình bày ở trên, vùng nghiên cứu còn có nhiều LSNG được người dân địa phương sử dụng trong đời sống hàng ngày Một nhóm LSNG được 100% các hộ gia đình sử dụng làm vật liệu xây dựng nhà ở, gồm tre, nứa, mét, tranh, cọ, giang, mây và các sản phẩm từ chúng Ngoài ra chúng còn được dùng làm hàng rào và làm các vật dụng khác Ở các xóm nằm rải quanh vùng nghiên cứu với mật độ dân cư thưa thớt, việc dùng LSNG làm vật liệu xây dựng không nhiều Thậm chí như cây cọ để lợp mái nhà, khi cần dựng nhà mới, các hộ không phải vào rừng chặt cọ mà huy động toàn bộ số cọ được trồng trong vườn nhà để dùng, điều này như một hương ước thôn bản lâu đời và vẫn còn tồn tại cho đến nay.

Ngay từ xa xưa, người dân đã biết sử dụng những cây làm chất nhuộm để nhuộm màu quần áo và vải vóc, từ đó làm đẹp cho chính mình và gia đình Những chất nhuộm tự nhiên từ cây cỏ mang đến bảng màu phong phú cho trang phục, đồng thời phản ánh trí tuệ và sự khéo léo của các thế hệ đi trước Việc dùng cây nhuộm không chỉ làm rạng rỡ vẻ ngoài mà còn gắn kết đời sống hàng ngày với truyền thống, thể hiện sự quan tâm và chăm sóc cho bản thân và người thân.

Nhóm sản phẩm này vẫn hữu ích cho người dân và đóng vai trò thiết yếu trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, ngày nay đa số người dân dùng các sản phẩm công nghiệp với mẫu mã đa dạng và màu sắc bắt mắt nên họ hầu như không còn nhuộm màu nữa Vì vậy những sản phẩm chứa chất nhuộm ít được chú ý, còn người tiêu dùng tập trung vào những loại phục vụ trực tiếp cho cuộc sống hàng ngày và mang lại lợi nhuận trước mắt.

Trước đây, khi nghề dệt thổ cẩm đang phát triển, các loại cây Bông, Chàm và Củ nâu được khai thác để cung cấp nguồn sợi và chất nhuộm cho sản phẩm thổ cẩm Tuy nhiên, hiện nay nghề dệt này đang mai một và chỉ còn một số hộ gia đình hoặc vài tổ chức nhỏ tiếp tục duy trì nghề Họ chủ yếu dùng sợi và phẩm màu công nghiệp được bán phổ biến trên thị trường, nên các loài LSNG trên cũng không được khai thác nhiều.

Bảng 3.15: Một số loài cây cho LSNG khác

Bộ phận sử dụng Công dụng Sinh cảnh

Họ Orchideceae Cây Cây cảnh Rừng ++++

2 Cọ Livostona cochinchinensis Lá, quả

Lá dùng để lợp nhà, quả thường được đập lấy nhân ăn bùi và béo

4 Cỏ mực Eclipta alba Thân, lá Dùng làm chất nhuộm

5 Củ nâu Dioscorea cirrhosa Củ

6 Dâm bụt Hibiscus singalus Lá Chất nhuộm Đồi, ven đường

Dùng làm chổi Đồi, rừng +++

Lấy phần bao quanh hạt làm màu nhuộm

Hàng thủ công mỹ nghệ Đồi, ven đường

10 Giang Dendrocalomus sp Thân Dây buộc, măng để ăn

Thân cho sản phẩm nhuộm màu vàng

Phrynium placentarium Lá Gói bánh

Rừng, dọc theo khe suối

Dùng làm vật liệu xây dựng, măng để ăn

Calamus tetradactylus Thân Đan lát, làm hàng thủ công mỹ nghệ, trồng làm hàng rào

15 Mây song Calamus sp Thân

Làm hàng thủ công, dây buộc

Dây buộc, đan lát, làm bè mảng, măng để ăn

17 Sanh Ficus benjamina Cây Cây cảnh

18 Si Ficus microcarpa Cây Cây cảnh

Rừng, đồi, ven suối, vườn nhà

20 Tuế Cycas revoluta Cây Cây cảnh

Làm vật liệu xây dựng, hàng thủ công, măng dùng để ăn Đồi, nương, vườn nhà

Nguồn: Điều tra, phỏng vấn người dân Mức độ khai thác: ++++: rất nhiều; +++: nhiều; ++: trung bình; +: ít

Các loài có giá trị, quí hiếm, các loài cần bảo tồn và phát triển

4.5.1 Nhóm loài nằm trong danh mục ưu tiên bảo tồn

Ở khu vực KBT Phu Canh, có 545 loài LSNG được ghi nhận, trong đó 22 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) Trong số 100 loài được thu hái từ rừng để bán trên thị trường địa phương, ngoại tỉnh và xuất khẩu trái ngạch sang Trung Quốc, có tới 55 loài đã ở mức cạn kiệt nguồn gen Chỉ có 34 loài được ghi tên trong Sách Đỏ và NĐ 32; còn lại tới 38 loài không thuộc danh mục ưu tiên bảo tồn nhưng hiện nay đã tuyệt chủng trong tự nhiên ở khu vực KBT Phu Canh Các số liệu này cho thấy cần có ngay các biện pháp bảo vệ các loài này để ngăn chặn tình trạng sắp nguy cấp (VU) hoặc EN cho chúng.

4.5.2 Các loài chịu áp lực cao của khai thác và buôn bán

Qua kết quả phỏng vấn những người cung cấp thông tin quan trọng, đã thống kê được 92 loài đã và đang bị khai thác quá mức trong hơn 10 năm qua ở khu vực KBT Phu Canh và trở nên khan hiếm Hiện nay, rất nhiều loài LSNG quý đã cạn kiệt ở khu vực KBT Phu Canh nên các thương lái đã dịch chuyển thu mua lên khu vực huyện Đà Bắc Hầu hết các loài này đều bị khai thác hoàn toàn trong tự nhiên.

4.5.3 Nhóm loài có giá trị kinh tế và có khả năng gây trồng

Việc đánh giá và lựa chọn các loài có giá trị kinh tế và khả năng gây trồng dựa trên ý kiến của hơn 20 cán bộ quản lý lâm nghiệp tại 4 xã Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruộng, cùng với Ban quản lý Khu BTTN Phu Canh, Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp và PTNT và Trạm khuyến nông - Khuyến lâm được thực hiện theo 4 tiêu chí: tính phù hợp; có giá trị kinh tế - xã hội; có ý nghĩa môi trường; có thị trường Kết quả cho thấy 35 loài được lựa chọn vào danh sách các loài có khả năng gây trồng tại địa phương (khu vực vùng đệm của KBT Phu Canh) Trong 35 loài được lựa chọn để gây trồng, có 15 loài có số điểm ≥18 (điểm tối đa là 20), đó là: Giảo cổ lam (Gymnostemma pentaphylla (Thunb ex Murr.) Makino); Cát sâm (Callerya speciosa (Champ.) Schot); Sắn dây (Pueraria thomsonii Benth.); Tô mộc (Caesalpinia sappan L.); Chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume); Khôi tía (Ardisia silvestris Pit.); Ba kích (Morinda officinalis F C How); Bách bệnh (Eurycoma longifolia Jack).

Thiên niên kiện (Homalomena occulta (Lour.) Schott); Hoàng tinh vòng (Disporopsis longifolia Craib); Sẹ (Alpinia globosa (Lour.) Horan.); Khoai

Key medicinal plants listed include Mài (Dioscorea persimilis Prain & Burk.); Hương lâu (Vetiveria zizanioides (L.) Nash ex Smal); Mây tắt (Calamus tetradactylus Hance); Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn); Xạ đen (Celastrus hindsii Benth.et Hook); and song mật (Calamus platyacanthus Warb.et Becc).

4.5.4 Kiến thức bản địa của người dân địa phương trong khai thác, chế biến và sử dụng LSNG

Qua điều tra thực địa và phỏng vấn người dân ở 4 xã Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruông thuộc khu bảo tồn Phu Canh, chúng ta có thể nhận thấy thực trạng khai thác, chế biến và sử dụng LSNG đang diễn ra với nhiều vấn đề đáng quan tâm Các hoạt động khai thác thiếu đồng bộ và quản lý chưa chặt chẽ khiến nguồn tài nguyên có nguy cơ bị mất cân bằng; công nghệ và cơ sở hạ tầng chế biến còn hạn chế, ảnh hưởng đến an toàn và chất lượng môi trường; việc sử dụng LSNG tại địa phương đặt ra thách thức về quản lý rủi ro và tác động đến hệ sinh thái của khu bảo tồn Cần có sự phối hợp giữa cơ quan chức năng, nhà quản lý khu bảo tồn và cộng đồng để thiết lập khung quản lý, giám sát và tuyên truyền, từ đó đảm bảo khai thác, chế biến và sử dụng LSNG theo hướng bền vững.

* Nhóm cây làm dƣợc liệu:

Thuốc Bắc và thuốc Nam được người dân ưa dùng không chỉ vì dễ kiếm và rẻ tiền mà còn nhờ hiệu quả chữa bệnh kéo dài và ít gây phản ứng phụ hay dị ứng Nhiều loại thuốc đặc trị các bệnh khác nhau được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (gia truyền) để góp phần chữa bệnh cứu người trong y học cổ truyền.

Trong các loại cây làm thuốc, tác dụng dược lý phụ thuộc vào bộ phận thu hái và cách chế biến; các phần cây khác nhau và kỹ thuật chế biến khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau, vì vậy cần chú ý lựa chọn đúng phần thu hái và phương pháp xử lý Có những vị thuốc có thể dùng riêng để phát huy tác dụng, nhưng cũng có loại cần phối hợp nhiều loài với nhau để chữa bệnh hiệu quả.

Trong thu hái dược liệu, mùa vụ thu hái, sơ chế và bảo quản khác nhau tùy theo bộ phận thu hái của từng loài: thân, cành và củ thường được khai thác khi đã già hoặc bánh tẻ để đảm bảo chất lượng; hoa thu hoạch khi còn ở dạng nụ hoặc vừa bắt đầu nổ hoa để bảo toàn dược tính và hương thơm; quả và hạt làm thuốc thu hái khi còn non, bánh tẻ hoặc già tùy thuộc mục đích sử dụng và từng loài cây Quá trình sơ chế và bảo quản sau thu hoạch cũng cần phù hợp với từng bộ phận nhằm tối ưu hiệu quả và bảo toàn thành phần hoạt chất.

Để bảo tồn nguồn nguyên liệu dược liệu và đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai, cần cân bằng giữa khai thác trong tự nhiên có kiểm soát và công tác tái sinh nguồn bằng các biện pháp bảo tồn, đồng thời tăng cường nghiên cứu gây trồng và nhân giống các loài cây thuốc để đảm bảo nguồn cung bền vững Sự kết hợp giữa khai thác hợp lý, bảo tồn đa dạng gen và phát triển hoạt động trồng trọt cây thuốc sẽ giúp hệ sinh thái được bảo vệ, giá trị dược liệu được duy trì và thị trường luôn có nguồn cung ổn định.

Các loại LSNG được thu hái và chế biến nhằm phục vụ tiêu thụ tại gia đình và bán ra trên thị trường, với mục đích làm thuốc nam hoặc nấu nước uống như thuốc nam.

Nhìn chung, hình thức chế biến của đa số các loại sản phẩm này cũng rất đơn giản nhƣ phơi/ sấy hoặc sao khô ở các hộ gia đình

* Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm:

Nhìn chung các loại LSNG dùng làm lương thực hiện nay được người dân thu hái lẻ tẻ cho mục đích sử dụng gia đình là chính, cho thấy vai trò của LSNG trong chế độ ăn phổ thông Hình thức chế biến cho sử dụng gia đình cũng rất đơn giản, như nấu canh để ăn trong các bữa cơm gia đình hoặc luộc hay rang để ăn vào các bữa phụ, giúp tiết kiệm thời gian và tăng giá trị dinh dưỡng từ LSNG.

+ Các loài cây làm thực phẩm, rau ăn gồm nhiều loài dùng làm rau ăn dưới dạng cành lá, thân đều khai thác khi bộ phận đó còn non như rau ngót rừng, rau tày bay, rau dớn, rau đốm… Nếu dùng để chăn nuôi có thể lấy già hơn Thời điểm khai thác có thể ở các tháng khác nhau trong năm tùy thuộc từng loài cụ thể

+ Các loại quả có thể khai thác lúc còn non hoặc khi già, lúc xanh hoặc chín tuỳ theo từng loài

+ Quan trọng nhất trong nhóm này phải kể đến các loại măng tre, măng giang, nứa, nành anh, bương mốc, luồng… của rừng được người dân thu hái không chỉ cho mục đích sử dụng gia đình mà phần lớn chủ yếu để bán trên thị trường ở hầu hết các tỉnh trên toàn quốc

Các hình thức chế biến và bảo quản các loại LSNG thuộc nhóm này rất đơn giản: với các loại rau có thể ăn sống hoặc dùng để nấu canh; các loại măng tre, nứa, bương, luồng, nành anh thường được sơ chế theo kinh nghiệm cổ truyền của người dân địa phương như luộc, muối chua hoặc luộc rồi phơi khô và dự trữ trên dàn bếp.

* Nhóm cây dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ:

Song mây là các loại mây thường dùng để đan lát, làm bàn ghế, lẵng hoa và các đồ dùng gia đình khác Theo kinh nghiệm dân gian, người ta chọn những cây mây dài 4–5 m trở lên mới chặt, sau đó bóc bẹ từ phía gốc, vừa bóc vừa kéo để lấy sợi mây, cuộn thành vòng tròn và đem bán Với các loài mây sống trong bụi, người ta chọn những cây có đốt phía gốc đã rụng, vỏ thân màu xanh để chặt; vì cây to, bám chắc nên phải nhiều người phối hợp vừa kéo vừa bóc bẹ, chặt mạnh tay và cố định cành để lấy sợi mây Đoạn gần ngọn non không lấy vì khi khô dễ bị tóp, nhăn nheo và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.

Thị trường và tiềm năng phát triển thực vật cho LSNG

4.6.1 Thị trường LSNG ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh

LSNG rất đa dạng và phong phú, với nhiều sản phẩm được thu hái và gây trồng nhằm phục vụ lợi ích của gia đình và cộng đồng địa phương Các loại LSNG khác nhau cho thấy tiềm năng sử dụng tại chỗ và góp phần làm giàu nguồn lực sinh thái cũng như kinh tế cho người dân sống gần rừng thông Việc trao đổi thương phẩm các sản phẩm LSNG đã mang lại nguồn thu nhập tiền mặt đáng kể cho cộng đồng, từ đó tăng cường sự ổn định sinh kế Khía cạnh thị trường đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển các loại LSNG, vì vậy việc cân nhắc giá cả, nhu cầu và chuỗi cung ứng là yếu tố cần được chú trọng để duy trì sự bền vững.

Bảng 3.16: Thị trường và giá bán của một số loại LSNG tại địa phương

Mức tính Giá (đ) Nơi bán

Mây nếp Thân bóc bẹ Cây 4000 - 7000đ Tư thương địa phương

Song mật Thân bóc bẹ Cây 7000 - 9000đ Tư thương địa phương

Thân cây Mắng tươi Măng khô

10 nghìn/kg tươi 70-80 nghìn/kg khô

Vầu đắng Măng tươi Kg 8.000- 15.000 Tư thương địa phương

Thân cây Măng tươi Măng khô

10 nghìn/kg tươi 80-90 nghìn/kg khô

Củ mài Củ tươi Kg 25 - 30 nghìn Tư thương địa phương

Lá khôi Lá tươi Kg 2000 Tư thương địa phương

Thổ phục linh Củ tươi Kg 30 - 35 nghìn Tư thương địa phương

Hoàng đằng Thân tươi Kg 30 - 40 Tư thương địa phương

Trám đen Quả tươi Kg 20-30 nghìn Tư thương địa phương

Trám trắng Quat tươi Kg 20-30 nghìn Tư thương địa phương

Thân cây Măng tươi Măng khô

8000-10.000/cây 8.000/kg tươi 50-70 nghìn/kg khô

Giang Ống thân Thân 2000-3000 /ống Tư thương địa phương

Chít (Đót) Bông còn non Kg 500-600đ/kg Tư thương địa phương Đẳng sâm Thân rễ Kg 60-80 nghìn/kg khô

Chè dây Lá, ngọn kg 25-30 nghìn/kg khô

Nguồn: Phỏng vấn hộ gia đình khai thác và sử dụng LSNG, 2016

Giá của một số loại LSNG như Bương mốc, Vầu đắng, Nứa, Thổ phục linh, Hoàng đằng, Trám đen, Trám trắng và Đẳng sâm đang ở mức cao, cho thấy giá trị thị trường lớn dẫn đến việc các sản phẩm này bị khai thác bừa bãi Người khai thác thường chú ý tới lợi ích trước mắt mà quên đi tác hại về lâu dài Thị trường tiêu thụ các sản phẩm này phần lớn do một số người buôn bán địa phương mua từ người khai thác rồi bán lại cho các tư thương ở vùng đồng bằng để đưa đi tiêu thụ.

Trong mùa Chít (Đót), các hộ thu mua ở đây thường tham gia khai thác đót, phần lớn là hộ nghèo và một số hộ có mức sống trung bình trong xã Mọi thành viên trong gia đình, từ người già đến trẻ em, đều có thể ra khai thác đót với lượng khá lớn Giá đót tươi dao động trung bình 500-600 đồng/kg; một ngày một người lớn có thể thu 20-30 kg, tương đương 10.000-18.000 đồng/ngày Người mua sau khi thu mua sẽ phơi khô đót và bán ra với giá 1.500-2.500 đồng/kg Đót được khai thác chủ yếu từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 4 dương lịch Bên cạnh đót, người dân còn khai thác các loại măng như măng bương, măng nứa, măng luồng, vầu đắng và bán măng tươi cho tư thương với giá 8.000-15.000 đồng/kg; nếu biết sơ chế như luộc rồi phơi khô, giá trị măng khô có thể lên đến 50.000-90.000 đồng/kg.

Các sản phẩm người dân khai thác quanh năm như mây, song, nứa và luồng được bán rải rác, không có mùa vụ rõ ràng; chỉ khi nông nhàn hoặc cần tiền họ mới vào rừng khai thác Trong số đó, mây chủ yếu là mây nước và mây song, giá bán bình quân khoảng 3.000 đồng cho mỗi đơn vị tùy loại và thời điểm.

5000đ/cây dài 3-4m Vì nguồn lâm sản này khan hiếm nên để khai thác, người dân phải đi sâu vào rừng, ở lại khoảng một tuần mới về Họ thường chỉ khai thác khi có đơn đặt hàng Người thu mua địa phương hoặc thương nhân trung gian cho người hái vay tiền mặt hoặc lương thực trước, sau đó dùng mây để trả nợ, vì vậy giá cả do thương nhân quyết định và người thu hái không có quyền mặc cả Mặc dù bị ép giá, nhiều người vẫn phải làm vì thiếu tiền hoặc lương thực để sống Giá bán tại địa phương thường chỉ bằng khoảng 50-70% so với giá tại chợ đầu mối nông sản của huyện Đà Bắc Hiện nay lượng mây không còn nhiều nhưng thị trường và giá cả vẫn khá ổn định; nếu biết khai thác đúng cách, đi song song với trồng trọt và bảo vệ khu bảo tồn, đây có thể trở thành một thế mạnh phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của người dân sống quanh khu bảo tồn.

Ở địa phương, nguồn cung các sản phẩm từ nứa và mét khá dồi dào nhờ người dân trồng ven khe suối, giúp chúng phát triển tốt và đáp ứng nhu cầu thị trường Theo kết quả phỏng vấn, lượng nứa và mét được bán ra hiện nay phụ thuộc vào từng thời điểm trong năm, nhưng giá cả tương đối ổn định, tạo thuận lợi cho người làm nông và người kinh doanh.

Kênh thị trường của các sản phẩm mây, mét, nứa, đót, măng và một số sản phẩm khác tại 4 xã thuộc khu bảo tồn đƣợc mô tả ở sơ đồ1

Sơ đồ 3.1: Kênh thị trường tiêu thụ một số sản phẩm LSNG

Mạng lưới hay kênh thị trường của hầu hết các loại LSNG ở địa phương có sự tham gia của rất nhiều người buôn bán nhỏ Mỗi loại sản phẩm có thể có những kênh hoặc mạng lưới thị trường khác nhau, nhưng nhìn chung kênh thị trường của hầu hết LSNG đều có một số thành phần tham gia chính.

- Người khai thác: đây đối tượng trực tiếp vào rừng khai thác sản phẩm nhưng họ lại không được hưởng lợi nhiều bằng những con buôn, bởi phần lớn

Người thu mua ở địa phương

Trong chuỗi cung ứng lâm sản, người buôn bán trung gian và đại lý đóng vai trò chủ chốt giữa các hộ sản xuất – chế biến nhỏ lẻ và người tiêu dùng Người khai thác trực tiếp thường không đánh giá được giá trị thật của lâm sản cũng như mục đích sử dụng, nên phần lớn lợi nhuận lại thuộc về những lái buôn Vì vậy, các hộ sản xuất chế biến nhỏ lẻ bị thiệt thòi và khó tối ưu hóa giá trị sản phẩm khi thị trường bị chi phối bởi các đầu mối, khiến nguồn cung gặp bất ổn và người tiêu dùng chịu mức giá cao.

Người thu mua hoặc dự trữ tại địa phương là đối tượng có thể dùng lương thực, thực phẩm để đổi lấy LSNG của người thu hái hoặc thanh toán bằng tiền mặt, rồi dự trữ hoặc bán ngay cho các thương lái trung gian Hoạt động của họ đóng vai trò như đầu mối cung ứng tại địa phương, giúp luân chuyển nguồn LSNG từ người dân đến thị trường nhanh chóng và có tác động đến nguồn cung cũng như giá cả tại khu vực Việc nắm bắt và quản lý nguồn LSNG từ người thu hái ở địa phương là yếu tố then chốt trong chuỗi phân phối, từ thu hoạch đến phân phối đến người tiêu dùng.

Những người buôn bán trung gian là thương nhân độc lập chuyên mua LSNG trực tiếp từ người thu hái hoặc từ các hộ thu mua địa phương, chiếm phần lớn từ đối tượng này, sau đó vận chuyển về vùng đồng bằng để bán cho các người mua ở vùng đô thị Họ đóng vai trò là cầu nối trong chuỗi cung ứng LSNG, đảm bảo nguồn hàng được thu hoạch ở nông thôn và phân phối tới thị trường đô thị.

- Đại lý: là nơi thu mua LSNG từ những người buôn bán trung gian rồi bán lẻ cho người chế biến, chế biến

- Điểm bán nhỏ, lẻ: là nơi mua lại các sản phẩm LSNG từ các đại lý lớn rồi bán trực tiếp cho người tiêu dùng

Người dân khai thác cây LSNG và có thể dùng trực tiếp khi có nhu cầu hoặc bán cho thu mua địa phương Những người thu mua tại địa phương sau đó bán cho các người buôn bán trung gian, thường là ở thị trấn Đà Bắc hoặc người từ tỉnh Phú Thọ lên mua Những người buôn trung gian tiếp tục bán cho các đại lý, rồi đại lý lại bán lẻ cho các hộ sản xuất và chế biến Cuối cùng, các hộ này bán lại cho người tiêu dùng.

Thị trường LSNG đang có nhu cầu rất lớn, nhưng nguồn nguyên liệu khan hiếm khiến các hoạt động mua bán diễn ra rất phức tạp Với mạng lưới kênh thị trường như hiện nay, những người trực tiếp thu hái LSNG thường kiếm được thu nhập thấp và bị ép giá, trong khi người tiêu dùng phải trả giá rất cao cho sản phẩm Để tăng thu nhập cho người dân và thu mua được những sản phẩm đẹp, chất lượng, các làng nghề và các nhà máy nên trực tiếp thu mua ở các điểm cố định và cung cấp cho người dân địa phương các thông tin, tư liệu về LSNG và thị trường Nhờ đó, nguồn cung được ổn định hơn, chi phí trung gian giảm và người dân địa phương có cơ hội tham gia thị trường một cách công bằng hơn.

* Những trở ngại ảnh hưởng đến hệ thống thị trường LSNG trong khu vực:

- Thiếu thông tin thị trường về giá bán, chất lượng sản phẩm, số lượng người mua yêu cầu…

Trong cấu trúc thị trường hiện tại còn nhiều khâu trung gian, khiến người lao động trực tiếp khai thác phải bỏ ra nhiều ngày công lao động nhưng nhận mức thu nhập thấp, trong khi các bên trung gian chỉ cần bỏ ra ít công sức lại thu được lợi nhuận lớn hơn từ chuỗi cung ứng; sự chênh lệch này dẫn tới phân bổ lợi ích không cân bằng và kìm hãm động lực của người lao động trực tiếp khai thác.

- Người khai thác chủ yếu là các hộ gia đình nghèo, thiếu ăn, thiếu hiểu biết về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

- Hình thức khai thác thiếu bền vững

4.6.2 Tiềm năng phát triển thực vật cho LSNG

* Những loài có khả năng phát triển tốt ở khu vực nghiên cứu:

Những loài này phù hợp với địa hình, địa chất và khí hậu của địa phương, đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao cho khu vực Theo người dân địa phương, ở đây có khoảng vài loài có khả năng thích nghi tốt và mang lại lợi ích kinh tế từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng và du lịch sinh thái.

30 loài nhƣ Song, Mây, Tre, Nứa, Luồng, Quế, Sa Nhân, Hà Thủ Ô, củ Nâu, củ Mài, Nghệ, Gừng,… có thể trồng ở vườn nhà, vườn rừng

Qua điều tra thực tế cho thấy có hơn 20 loài cây được người dân trồng, nhưng hiệu quả kinh tế vẫn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của gia đình như rau và một số cây thuốc dễ trồng Bên cạnh đó, vẫn có những loài có giá trị kinh tế cao đang được trồng tại địa phương như quế, Song, Mây, Trầm hương Vì thế, cần chú trọng công tác khuyến nông khuyến lâm, tạo nguồn vốn và tìm kiếm thị trường để giúp các hộ gia đình phát triển kinh tế vườn, tăng thu nhập, đồng thời hạn chế khai thác tài nguyên rừng.

Tình hình quản lý nguồn tài nguyên thực vật LSNG tại địa phương

4.7.1 Hệ thống quản lý của nhà nước đối với nguồn LSNG a Cấp quốc gia

Ở cấp địa phương, quản lý tài nguyên rừng thực sự được thực hiện trực tiếp bởi hệ thống lâm trường, Hạt Kiểm lâm và Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh Hệ thống này tập trung kiểm soát các nguồn lực chính như gỗ và bảo vệ các sinh vật quý hiếm, đặc hữu và đang có nguy cơ tuyệt chủng Các quy định được thiết kế để ngăn cấm khai thác, săn bắt và buôn bán các nhóm đối tượng nêu trên nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và đảm bảo phát triển bền vững của rừng.

Chưa có văn bản nào có tính hệ thống hướng dẫn cho cấp cơ sở về quản lý nguồn LSNG Đối với các văn bản pháp lý tại cộng đồng, với các sản phẩm LSNG không thuộc nhóm cấm khai thác, tại điểm nghiên cứu chưa tìm thấy một văn bản quy định nào về cách quản lý khai thác và phát triển, và phần lớn dựa vào sự quản lý của địa phương Hiệu quả của các hoạt động quản lý nguồn LSNG vẫn còn phụ thuộc nhiều vào mức độ tổ chức và thực thi của quản lý địa phương.

Trong nhiều trường hợp, cán bộ thực địa của Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh và cấp chính quyền địa phương lúng túng khi hướng dẫn người dân thực hiện các hoạt động trong khoanh nuôi tái sinh rừng Hệ quả là sự thiếu nhất quán và thiếu hướng dẫn cụ thể dẫn tới ảnh hưởng không tích cực đến công tác bảo vệ đa dạng sinh học nguồn LSNG và nguồn thu của người dân.

Ở nhiều địa phương, công tác giám sát và quản lý chịu áp lực từ mạng lưới mối quan hệ xã hội chi phối, như quan hệ họ hàng, người cùng địa phương hoặc quen biết, khiến phần lớn các vụ vi phạm chưa được xử lý đúng mức; sự chi phối này ảnh hưởng tới tính công bằng và hiệu quả của quy trình xử lý, dẫn đến thiếu sự nhất quán trong từng trường hợp; để cải thiện, cần tăng cường cơ chế độc lập, minh bạch và nâng cao năng lực giám sát nhằm đảm bảo mọi vi phạm được xử lý đúng chuẩn bất kể mối quan hệ xã hội.

4.7.2 Hệ thống quản lý cộng đồng a Thôn bản quản lý Một phần nhỏ rừng và đất rừng suy kiệt đƣợc giao cho các xã quản lý

Phần diện tích do xã quản lý được sử dụng làm quỹ đất dự trữ để phân chia cho các hộ khi có nhu cầu và để phục vụ các mục đích chung của xã, đồng thời phản ánh thực tế quản lý của địa phương.

Mỗi xóm của bốn xã trong khu vực có một khu rừng chung do cộng đồng quản lý, nơi mọi người dân ý thức bảo vệ rừng và được khai thác khi cần thiết với mức khai thác nhất định theo quy định của thôn bản.

Ngoài ra, còn có những khu rừng tồn tại nhờ yếu tố tâm linh; cả bốn xã được nghiên cứu đều ghi nhận những khu rừng như vậy, ví dụ núi Pù Canh và các xã đều có rừng nghĩa địa, nơi người dân không dám chặt cây hay đốt rừng.

Như vậy, xây dựng một hệ thống tự quản cơ sở có hiệu lực là điều thiết yếu để quản lý tốt tài nguyên rừng Những sáng kiến và hành động của người dân địa phương có thể mang lại thành công trong bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng, đồng thời tăng cường sự tham gia và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý nguồn lực thiên nhiên.

4.7.3 Quản lý tư nhân a Thực tế quản lý

Quản lý nguồn LSNG do nhóm người dân tự quản phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của thị trường Hiện nay, 11 loài đang được thị trường tiêu thụ, trong đó có các đối tượng trồng như mét, mây nếp, quế, trầm hương, sa nhân, nành anh, và các đối tượng dự tuyển triển vọng như song, luồng, trám, hà thủ ô, máu chó, xạ đen Khi nhu cầu thị trường thay đổi, sự quan tâm của người dân đối với các đối tượng này chắc chắn sẽ thay đổi theo Cách tiếp cận quản lý là những loại cây có nhu cầu thị trường và mang lại thu nhập ổn định sẽ được người dân quan tâm và có thể là trồng hoặc khai thác.

Trồng cây cho LSNG phụ thuộc vào nhu cầu của người dân và thị trường tiêu thụ Qua điều tra và phỏng vấn người dân tại 4 xã Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng, chúng tôi đã đưa ra một số loài có triển vọng để người dân đưa vào gây trồng như mét, mây nếp, quế, gió trầm, sa nhân và xạ đen Đối với một số loài cây, phần lớn người dân thiếu thông tin về khả năng trồng, vì vậy cần có các cán bộ về hướng dẫn cụ thể cho người dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ.

Khai thác cây cho LSNG đã giao nhiệm vụ khai thác trong rừng đồng thời chú ý bảo tồn nguồn gen và tái sinh, nhưng PRA cộng đồng ở 4 xã cho thấy chưa có hướng dẫn cụ thể từ cán bộ chuyên môn về các quy trình thu hái và chăm sóc đối với sản phẩm LSNG, ngay cả với những cây đang có nhu cầu thị trường Bài học từ quản trị nguồn lực và quản lý nhân sự ở đây là sự cần thiết của sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, thợ rừng và cộng đồng để xây dựng chuỗi quy trình thu hái – chăm sóc, quản lý nguồn gen và đào tạo người dân, nhằm nâng cao giá trị và tính bền vững của cây LSNG.

Khi rừng được giao cho hộ dân quản lý, tài nguyên rừng được bảo tồn và phát triển bền vững, đồng thời đảm bảo cho sự phát triển của cộng đồng địa phương Việc giao rừng cho hộ dân thúc đẩy bảo vệ rừng và nâng cao sinh kế thông qua quản lý tài nguyên hiệu quả, gắn kết bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Những kết quả này cũng phù hợp với mục tiêu phát triển của quốc gia, đóng góp vào chiến lược phát triển bền vững và tăng trưởng xanh ở cấp độ toàn quốc.

Nhu cầu thị trường đang là động lực chính định hình xu hướng và cách thức quản lý nguồn LSNG Xu hướng chủ đạo là người dân cố gắng trồng những loại LSNG mà thị trường đang có nhu cầu mua, trong khi với các loại không hoặc khó trồng được, họ tìm cách khai thác hợp lý hơn để không làm mất nguồn giống tái sinh.

4.7.4 Chính sách quản lý tài nguyên

Hiện nay, các chính sách như giao đất khoán rừng, đóng cửa rừng và Chương trình 327 đã mang lại những thay đổi tích cực trong công tác bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng Tuy nhiên, chúng cũng nảy sinh nhiều vấn đề dẫn đến tình trạng bất ổn trong đời sống của người dân tộc thiểu số ở vùng núi, khi nguồn thu nhập chủ yếu từ rừng là gỗ đã không còn, khiến họ chưa tìm được hướng khắc phục và chuyển đổi sinh kế phù hợp.

Hiện nay, người dân vẫn chú ý khai thác rừng tự nhiên (rừng chưa có chủ quản lý) nhưng chưa cân nhắc đầy đủ đến khoanh nuôi phục hồi rừng được giao; vì đất canh tác còn quá thấp và nhiều đất rừng vẫn thuộc quyền quản lý của các lâm trường, việc giao rừng phối hợp với các cơ quan chức năng quản lý được xem là một chính sách khả thi cho người dân tộc miền núi; mô hình này giúp bảo vệ và phục hồi rừng, tối ưu hóa sử dụng đất, nâng cao sinh kế cho cộng đồng và tăng tính minh bạch trong quản lý rừng ở địa phương.

4.7.5 Các chính sách hỗ trợ

Khuyến lâm và quản lý nguồn LSNG:

Ngày đăng: 20/12/2022, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Gary J. Martin (Dịch và biên soạn: Trần Văn Ơn, Phan Bích Nga, Trần Công Khánh, Trần Khắc Bảo, Trần Đình Lý) (2002), Thực vật dân tộc học, sách hướng dẫn phương pháp. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật dân tộc học, sách hướng dẫn phương pháp
Tác giả: Gary J. Martin, Trần Văn Ơn, Phan Bích Nga, Trần Công Khánh, Trần Khắc Bảo, Trần Đình Lý
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2002
17. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác (2016) “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp”, Hà Nội. Chương LSNG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành Lâm nghiệp
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác
Năm: 2016
18. Dương Văn Thành, 2007, Bài giảng lâm sản ngoài gỗ, khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Dương Văn Thành
Nhà XB: khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm Huế
Năm: 2007
19. Nguyễn Phương Hạnh, Lưu Đàm Cư (2013), Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc M’ Nông tỉnh Đắk Lắc, Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ năm, tr. 1026 – 1030, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc M’ Nông tỉnh Đắk Lắc
Tác giả: Nguyễn Phương Hạnh, Lưu Đàm Cư
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2013
20. Đỗ Sĩ Hiến (2012), Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc Mường sử dụng tại Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc Mường sử dụng tại Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Đỗ Sĩ Hiến
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2012
21. Vũ Tiến Hinh (2012), Điều tra rừng, Giáo trình dùng cho sau đại học, 204 trang, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra rừng
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2012
22. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần (đồng chủ biên) (2005), Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc, 280 trang, Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc
Tác giả: Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2005
23. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, Nxb. Mekong, Santa Ana/Montreal, tập 1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb. Mekong
Năm: 1991-1993
24. Triệu Văn Hùng (chủ biên) (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Nxb. Bản Đồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng
Nhà XB: Nxb. Bản Đồ
Năm: 2007
25. Lê Thị Thanh Hương (2015), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững, Luận án tiến sĩ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
26. Trần Công Khánh và cộng sự (1992), Cây độc ở Việt Nam, Nxb. Y học, 255 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây độc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Công Khánh và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1992
27. Phạm ăn Điển và cộng sự (2009). Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ. NXB Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Phạm ăn Điển và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông
Năm: 2009
29. Đỗ Tất Lợi (1969), Thuốc nam thường dùng, Nxb. Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc nam thường dùng
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb. Khoa học
Năm: 1969
30. Đỗ Tất Lợi (1995), Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1995
31. Trần Đình Lý và cộng sự (1993), 1900 loài cây có ích ở Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1900 loài cây có ích ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Lý và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 1993
32. Lê Quý Ngưu và cộng sự (1992), Danh từ dược học đông y, Nxb. Thuận hoá, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ dược học đông y
Tác giả: Lê Quý Ngưu và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Thuận hoá
Năm: 1992
33. Ninh Thị Phíp, Nguyễn Tất Cảnh, Trần Văn Ơn (2009), “Đánh giá đa dạng nguồn gen cây thuốc tắm của người Dao Đỏ tại Sapa, Lào Cai”, Tạp chí khoa học và phát triển, 7(4), tr 434- 442 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đa dạng nguồn gen cây thuốc tắm của người Dao Đỏ tại Sapa, Lào Cai
Tác giả: Ninh Thị Phíp, Nguyễn Tất Cảnh, Trần Văn Ơn
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2009
34. Trần Văn Ơn (2006), Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại VQG Ba Vì, Luận án tiến sĩ dược học, Trường Đại học Y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại VQG Ba Vì
Tác giả: Trần Văn Ơn
Nhà XB: Trường Đại học Y, Hà Nội
Năm: 2006
36. Nguyễn Hữu Quang (2012), Phát triển lâm nghiệp toàn diện bền vững theo hướng hiện đại hóa, bảo tồn đa dạng sinh học, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lâm nghiệp toàn diện bền vững theo hướng hiện đại hóa, bảo tồn đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Hữu Quang
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2012
37. Trương Thị Sinh và cộng sự (1992), Trung dược lâm sàng, Nxb. Y học, Hà Nội, 548 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung dược lâm sàng
Tác giả: Trương Thị Sinh và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w