1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY nghiên cứu hiện trạng các loài cây lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên pù hu, tỉnh thanh hóa​

80 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Hiện Trạng Các Loài Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Pù Hu, Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Phương Đông
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Ngọc Hải
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Khoa Học Lâm Nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Phân loại thực vật cho LSNG (11)
    • 1.2. Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới (12)
    • 1.3. Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam (13)
    • 1.4. Nghiên cứu về thực vật và LSNG ở Khu BTTN Pù Hu (19)
      • 1.4.1. Nghiên cứu về thực vật bậc cao có mạch tại Khu BTTN Pù Hu (19)
      • 1.4.2. Nghiên cứu về cây LSNG tại Khu BTTN Pù Hu (19)
  • CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 2.1. Mục tiêu và đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu (21)
      • 2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu (21)
      • 2.1.2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu (0)
    • 2.2 Nội dung nghiên cứu (21)
      • 2.2.1. Nghiên cứu thành phần loài, công dụng, giá trị bảo tồn, dạng sống của cây LSNG ở khu vực (21)
      • 2.2.2. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây LSNG (22)
      • 2.2.3. Nghiên cứu hiện trạng khai thác, tiêu thụ cây LSNG và đánh giá các tác động ảnh hưởng tới tài nguyên LSNG ở Khu BTTN Pù Hu .......................... 13 2.2.4. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG tại Khu BTTN Pù Hu . 13 (22)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 2.3.1. Phương pháp kế thừa (22)
      • 2.3.2. Điều tra ngoại nghiệp (22)
      • 2.3.3. Công tác nội nghiệp (28)
      • 2.3.4. Phương pháp đánh giá thực trạng khai thác, tiêu thụ cây LSNG và điều tra, đánh giá các tác động ảnh hưởng tới cây LSNG (33)
  • CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (34)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (34)
      • 3.1.2. Địa hình (35)
      • 3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn (35)
      • 3.2.1. Dân số, phân bố dân cƣ và lao động (0)
      • 3.2.2. Tình hình kinh tế (37)
      • 3.2.3. Cơ sở hạ tầng (37)
      • 3.2.4. Y tế, giáo dục (38)
    • 3.3. Hiện trạng tài nguyên rừng (39)
      • 3.3.1. Tổng diện tích đất tự nhiên (39)
      • 3.3.2. Hiện trạng và tình hình sử dụng tài nguyên rừng (39)
  • CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THÀO LUẬN (0)
    • 4.1. Nghiên cứu thành phần loài, công dụng, dạng sống, giá trị bảo tồn của thực vật LSNG (41)
      • 4.1.1. Xây dựng danh lục cây LSNG (41)
      • 4.1.2. Đa dạng thành phần cây LSNG (41)
      • 4.1.3. Đa dạng về dạng sống và bộ phận sử dụng cây LSNG (44)
      • 4.1.4. Đa dạng về công dụng của cây LSNG (46)
      • 4.1.5. Đa dạng về giá trị bảo tồn (48)
    • 4.2. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây LSNG (53)
    • 4.3. Nghiên cứu hiện trạng khai thác tiêu thụ cây LSNG và đánh giá các tác động ảnh hưởng tới tài nguyên LSNG ở Khu BTTN Pù Hu (61)
      • 4.3.1. Hiện trạng khai thác, tiêu thụ cây LSNG (61)
      • 4.3.2. Các tác động ảnh hưởng đến tài nguyên LSNG (63)
    • 4.4. Các giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG tại Khu BTTN Pù Hu (0)
  • PHỤ LỤC (77)

Nội dung

NGUYỄN PHƯƠNG ĐÔNG NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HU, TỈNH THANH HÓA Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng Mã số: 60620211 LUẬN VĂ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Phân loại thực vật cho LSNG

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là tập hợp các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải gỗ, được khai thác từ rừng nhằm phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa và nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, song, mây và sợi Dựa vào phân nhóm giá trị sử dụng LSNG theo giáo trình LSNG của Trường Đại học Lâm nghiệp, LSNG được phân chia theo nhóm giá trị sử dụng như đã trình bày trong [14].

- Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp

- Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ

- Nhóm LSNG dùng làm lương thực, thực phẩm và chăn nuôi

- Nhóm LSNG dùng làm dƣợc liệu

- Nhóm LSNG dùng làm cảnh

Theo quan điểm của Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 -2020 ban hành kèm theo Quyết định số 2366/BNN-LN, ngày 17/8/2006 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT phân chia LSNG thành 6 nhóm (cho sợi, thực phẩm, làm thuốc, làm cảnh, tinh dầu và các loại khác)

LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội:

+ LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội Chúng có giá trị lớn và có tạo ra nhiều công ăn việc làm

+ LSNG đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp

LSNG hiện đang bị cạn kiệt và suy thoái rừng do tác động của tăng dân số, mở rộng đất canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ và thu hái chất đốt Những áp lực này làm giảm chất lượng rừng, mất đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến nguồn nước, đất đai cũng như sinh kế của người dân sống dựa vào lâm nghiệp và nông nghiệp.

Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới

Kể từ thập niên 1980, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh giá trị thực của thực vật LSNG đối với phát triển bền vững và nhấn mạnh vai trò của chúng trong bảo tồn hệ sinh thái Các phát hiện nổi bật cho thấy thực vật LSNG có khả năng hồi phục nhanh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao và ổn định, đồng thời khai thác thường ít làm hại hệ sinh thái Nhờ đó, duy trì sự nguyên vẹn của rừng tự nhiên và khai thác có thể nuôi dưỡng đa dạng sinh học cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Bảo tồn có khai thác cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho xã hội một cách bền vững và có thể thương mại hóa Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) cho thấy thực vật LSNG đóng vai trò quan trọng cho bảo tồn bởi có thể khai thác với thiệt hại tối thiểu đối với rừng, và cho tính bền vững khi khai thác vẫn giữ rừng ở trạng thái tự nhiên Nó cũng có giá trị thiết yếu trong đời sống thông qua nhiều dạng sản phẩm như thực vật ăn được, nhựa, thuốc, tanin, sợi, cây làm thuốc; ngoài sử dụng trực tiếp, người hái có thể bán hoặc trao đổi các sản phẩm này Do đó, rừng được xem như một nhà máy quan trọng của xã hội và thực vật LSNG là một trong những sản phẩm quan trọng của nhà máy ấy.

LSNG đƣợc hiểu theo nhiều cách dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đƣa ra ở các thời điểm khác nhau:

LSNG (lâm sản ngoài gỗ) là khái niệm chỉ tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng tự nhiên nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người Theo De.Beer (1989), LSNG bao gồm thực phẩm, thuốc (dược phẩm), gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, đồng thời còn bao hàm các nguồn nguyên liệu từ song, mây, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi.

LSNG (lâm sản nguyên liệu gỗ) là tập hợp tất cả các sản phẩm sinh vật từ rừng, trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm và gỗ làm bột giấy; những sản phẩm này có thể khai thác từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng và được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc mang ý nghĩa tôn giáo và văn hóa xã hội Việc sử dụng LSNG cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên và quản lý vùng đệm thuộc lĩnh vực dịch vụ của rừng.

Theo FAO (1999): “LSNG là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, loài trừ gỗ lớn có ở rừng, ở đất rừng và các cây bên ngoài rừng” [15]

Năm 2000, Jenn H DeBeer đã định nghĩa lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, không phải từ gỗ được khai thác từ rừng để phục vụ con người LSNG gồm nhiều nhóm hàng hóa như thực phẩm, dược phẩm, gia vị, tinh dầu, nhựa và nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã và các sản phẩm từ chúng, cùng với củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi.

Như vậy, các khái niệm trên có thể đưa ra những cách nhìn chung về LSNG, từ đó giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về giá trị của nó trong thực tiễn Việc hệ thống hóa các khái niệm này tạo nền tảng cho một phân tích có hệ thống và dễ tiếp cận, đồng thời giúp người đọc nắm bắt các yếu tố định hình LSNG và vai trò của nó trong bối cảnh hiện tại.

Những nghiên cứu về LSNG cho thấy tiềm năng to lớn của loại cây này ở các nước nhiệt đới, nơi điều kiện sinh thái thích hợp cho sự phát triển và khai thác bền vững Do đó, kinh doanh thực vật LSNG mở ra triển vọng phát triển rừng bền vững và có thể được kết hợp với kinh doanh rừng gỗ để hình thành một mô hình kinh doanh hiệu quả trên mọi mặt, tối đa hóa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam

LSNG từ xưa đến nay luôn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của các hộ gia đình ở vùng trung du và miền núi nước ta Gần đây, nhờ hoạt động buôn bán qua biên giới các sản phẩm này được đánh giá cao hơn và mở rộng thị trường tiêu thụ, cho thấy tiềm năng kinh tế của vùng này ngày càng được ghi nhận.

Việt Nam, giống như các nước vùng nhiệt đới, sở hữu một hệ thực vật đa dạng và phong phú, tạo nền tảng cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khác nhau Điều kiện này thuận lợi cho các nhà khoa học tìm tòi và áp dụng các kết quả nghiên cứu và thử nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật phong phú của nước ta.

Việt Nam là một trong những nước có tài nguyên đa dạng sinh học cao, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển LSNG Sự đa dạng sinh học phong phú được thể hiện qua mức độ đa dạng loài, hệ sinh thái đa dạng và sự phân bố địa lý đặc thù, tạo nguồn lực sinh học quý giá cho nghiên cứu và ứng dụng trong LSNG Những yếu tố này không chỉ thúc đẩy khả năng khai thác và bảo tồn mà còn mở ra cơ hội hợp tác nghiên cứu, đổi mới công nghệ và phát triển các giải pháp bền vững liên quan đến LSNG.

Việt Nam có sự đa dạng về hệ sinh thái nhờ điều kiện địa hình và khí hậu phong phú, khiến nơi đây quy tụ nhiều loại hệ sinh thái khác nhau Ba hệ sinh thái chủ chốt, có vai trò kinh tế, khoa học và xã hội lớn nhất, là hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái đất ngập nước và hệ sinh thái biển và hải đảo Sự phong phú này mở ra cơ hội phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp, thúc đẩy du lịch sinh thái và các nghiên cứu khoa học, đồng thời đóng góp vào bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái của đất nước.

+ Hệ sinh thái trên cạn: Hai phần ba lãnh thổ Việt Nam là rừng núi

Diện tích rừng Việt Nam hiện nay trên 12 triệu ha rừng tự nhiên và khoảng 2 triệu ha rừng trồng, tạo độ che phủ rừng trên 36% (Bộ NN&PTNT 2005) Hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam có nhiều tầng: tầng cây gỗ, tầng bụi và tầng thảo; trong một ha rừng nguyên sinh có thể ghi nhận hàng chục loài cây gỗ và rất nhiều loài cây thảo Các loài cây và thực vật đa dạng tập trung nhất trong hệ sinh thái rừng trên cạn Đặc biệt, rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chứa nhiều loài cây thuốc, song mây và tre nứa; rừng thưa rụng lá có ưu thế của họ Dipterocarpaceae, với nhiều loài cây cho nhựa dầu và nhiều loài thú lớn; rừng thuộc đai á nhiệt đới ở độ cao trên 800 m có rất nhiều cây lá kim, cây hoa và cây cảnh; rừng trên đá vôi có nhiều loài cây thuốc quý và phong lan đẹp.

Hệ sinh thái đất ngập nước Việt Nam đa dạng về loại hình, chức năng và giá trị kinh tế, khoa học Hiện nay Việt Nam đã xác định 39 kiểu đất ngập nước, trong đó gần 70 khu đất ngập nước có tầm quan trọng cấp quốc gia và quốc tế về đa dạng sinh học và bảo tồn.

Các khu đất ngập nước ven biển với rừng ngập mặn và rừng tràm rộng lớn là nguồn cung cấp tamin, thuốc nhuộm, tinh dầu và mật ong quý giá cho Việt Nam, đồng thời đóng vai trò then chốt cho đa dạng sinh học và nền kinh tế địa phương Những khu hệ sinh thái này cũng bảo vệ bờ biển và cung cấp nguồn hải sản phong phú cho các vùng ven biển, tạo nền tảng cho hoạt động ngư nghiệp và du lịch sinh thái.

Việt Nam có hệ sinh thái biển và hải đảo đa dạng nhờ bờ biển dài trên 3.000 km, với các sinh cảnh phong phú như cửa sông, đầm phá ven biển, rạn san hô và các hải đảo Đây là vùng nuôi trồng và đánh bắt nhiều loại hải sản nổi tiếng, đồng thời là nơi sinh sống của các loài rong câu và cỏ biển, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái và nguồn lợi biển.

- Đa dạng về hệ động – thực vật:

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các nhà thực vật đã thu thập và giám định hơn 7.000 loài thực vật bậc cao; đến nay, cơ sở dữ liệu thực vật ghi nhận trên 11.370 loài thuộc 2.524 chi và 378 họ Riêng ngành thực vật hạt trần có 63 loài và thực vật hạt kín lên tới 9.812 loài (theo Nguyễn Nghĩa Thìn).

1999) Đa số các loài LSNG của Việt Nam nằm trong 2 ngành thực vật này

Trong hệ thực vật, một số họ có số loài rất lớn nổi bật như họ Long não (Lauraceae), họ Hoa môi (Lamiaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae), được biết đến với các sản phẩm tinh dầu chất lượng Nhiều loài thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae), Hoa môi và Tiết dê (Menispermaceae) là cây thuốc quý, với danh sách nổi tiếng gồm Sâm ngọc linh, Tam thất, Bình vôi, Vàng đắng và Hoàng đằng Hầu hết các loài thuộc họ Lan (Orchidaceae) và Đỗ quyên (Ericaceae) được ưa chuộng như cây cảnh đẹp.

Về động vật có xương sống đã thống kê được 310 loài và phân loài thú,

840 loài chim, 286 loài bò sát, 162 loài ếch nhái (Đặng Huy Huỳnh, 2005)

Về động vật không xương sống cũng đã thống kê được 5.155 loài côn trùng,

Việt Nam sở hữu một hệ động vật đa dạng với 113 loài bò nhảy (Colembolla), 145 loài ve giáp (Acari: Oribatida), 200 loài giun đất (Oligochaeta), 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc và 307 loài giun tròn (Nematoda) Hệ động vật nước ta là nguồn cung cấp thịt chim thú rừng và nhiều loài động vật cảnh có giá trị Nhu cầu về chim và cá cảnh hiện nay rất lớn, khiến đây trở thành các mặt hàng LSNG có tiềm năng lớn trong tương lai khi công tác thuần hóa động vật hoang dã được đẩy mạnh [LSNG Việt Nam, 2007].

Thị trường LSNG đang phát triển nhanh, với việc hình thành mạng lưới thu mua LSNG mới để đáp ứng nhu cầu sản xuất và lưu thông phân phối Các doanh nghiệp Nhà nước dần thu hẹp phạm vi hoạt động, nhường chỗ cho các thành phần kinh tế khác tham gia thị trường, từ đó thúc đẩy cạnh tranh và đa dạng hóa nguồn cung trên thị trường.

Trong giai đoạn từ 1990 đến 1995, sản xuất LSNG hầu nhƣ bị thả nổi

Do mất thị trường Đông Âu, xuất khẩu LSNG chủ yếu qua đường tiểu ngạch và phi mậu dịch ở biên giới nên dữ liệu thống kê chưa đầy đủ Tuy nhiên, khi được khai thông lối vào các thị trường khu vực và thế giới, thị trường LSNG phục hồi và sản xuất phát triển, đặc biệt ở chế biến tre trúc và song mây Các sản phẩm chế biến từ tre và song mây có ý nghĩa kinh tế đáng kể; song mây là nguồn tài nguyên quan trọng sau gỗ và tre nứa Hàng năm Việt Nam xuất khoảng 2 triệu sản phẩm đan lát, 0,6 triệu m2 mặt mây đan và nhiều mặt hàng khác chế biến từ song mây; riêng mặt hàng mây đã thu hút từ 20–40 vạn lao động từ khai thác đến lưu thông và chế biến, đem lại nguồn lợi kinh tế bình quân khoảng 30 triệu USD/năm Sản xuất các sản phẩm khác như quế, hồi, nhựa thông cũng được đẩy mạnh.

Từ năm 1999, xuất khẩu LSNG và các mặt hàng LSNG đã có bước phát triển mạnh mẽ nhờ sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân, làng nghề và cả doanh nghiệp Nhà nước Trong danh mục hàng hóa xuất khẩu, hàng thủ công mây tre đan tiếp tục giữ vai trò quan trọng trên các thị trường mới của Việt Nam, và mặt hàng này đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới.

Theo Hoàng Hòe (1998), nguồn tài nguyên LSNG ở nước ta rất lớn và có nhiều loài có giá trị cao: khoảng 22% tổng số loài cây làm thuốc ở Việt Nam, trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm 7,14% tổng số loài), khoảng trên 600 loài cho tanin và còn nhiều loài khác cho dầu nhờn, dầu béo và cây cảnh Bên cạnh đó, song mây, tre, nứa – hiện nay diện tích tre nứa của nước ta là 1,492 triệu ha, với khoảng trên 4 tỷ cây – không chỉ là nguyên liệu xây dựng truyền thống mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nghề thủ công mỹ nghệ, tạo ra những sản phẩm vô cùng đẹp mắt và có khả năng xuất khẩu mang lại giá trị cao.

Nghiên cứu về thực vật và LSNG ở Khu BTTN Pù Hu

1.4.1 Nghiên cứu về thực vật bậc cao có mạch tại Khu BTTN Pù Hu

Theo kết quả điều tra, lập danh lục động thực vật tại Khu BTTN Pu Hu năm 2013 và phỏng vấn người dân trong khu vực, cùng các báo cáo của Ban quản lý Khu BTTN Pu Hu, khu bảo tồn được ghi nhận có 1.725 loài thuộc 696 chi, 170 họ, 71 bộ, 12 lớp và 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Phần lớn các loài thực vật bậc cao trong hệ thực vật của khu bảo tồn tập trung ở khu bảo vệ nghiêm ngặt.

Trong số 1.725 loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận tại Khu BTTN Pù Hu trong giai đoạn 2012–2013, 144 loài được xếp vào thang phân loại quý hiếm có nguy cơ đe dọa Trong đó, 96 loài có tên trong IUCN, 52 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, 16 loài có tên trong Nghị định 32/NĐ-.

1.4.2 Nghiên cứu về cây LSNG tại Khu BTTN Pù Hu

Sự phong phú của hệ thực vật kéo theo sự đa dạng của nguồn LSNG

Trong khu bảo tồn Pù Hu, một số LSNG phổ biến gồm Sa nhân, Song mật, Tai chua, Tre nứa, Cu ly, Máu chó và Ba kích Dựa trên kết quả phỏng vấn người dân địa phương và các báo cáo của Ban Quản lý Khu Bảo tồn Pù Hu, khu Bảo tồn ghi nhận 357 loài thực vật có tác dụng làm thuốc, 75 loài dùng làm thực phẩm cho người, 50 loài cho ăn quả và 48 loài được dùng làm cảnh.

Hiện nay, nhận thấy tầm quan trọng của LSNG (lâm sản ngoài gỗ), một số hộ dân vùng đệm khu bảo tồn đã sưu tầm và gây trồng một số LSNG như Trám lấy quả, Giổi lấy hạt, trồng Gừng, Nghệ, Song mây, phục vụ nhu cầu tại chỗ hoặc buôn bán Tuy nhiên, do chưa có biện pháp kỹ thuật phù hợp và hình thức nuôi trồng còn lạc hậu nên năng suất chưa cao Trình độ khai thác, bảo quản và chế biến cũng bị giảm sút Thêm vào đó, quy mô nuôi trồng còn manh mún, chủ yếu mang tính tự phát nên dễ bị tư thương ép giá và thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn.

Tóm lại, cho đến thời điểm hiện nay, tại Khu BTTN Pù Hu chƣa có một công trình nào nghiên cứu chi tiết về thực vật cho LSNG.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu và đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 2.1.1.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu đánh giá thực trạng tài nguyên thực vật LSNG nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (Khu BTTN) Nghiên cứu phân tích mức độ phong phú, phân bố và tình trạng bảo tồn của các loài LSNG, đánh giá tác động của yếu tố môi trường và hoạt động con người lên hệ thực vật và đa dạng sinh học LSNG, từ đó đề xuất chiến lược bảo tồn nguồn gene, quản lý bền vững và khai thác hợp lý Các khuyến nghị gồm cải thiện quản trị khu bảo tồn, ứng dụng tiến bộ khoa học trong bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội gắn với LSNG, nhằm tăng cường giá trị sinh thái và tiềm lực phát triển của LSNG tại khu BTTN.

Pù Hu, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế ở vùng đệm khu bảo tồn

Đánh giá thực trạng cho thấy thành phần loài và dạng sống của các loài cây LSNG ở Khu BTTN Pù Hu phong phú và đa dạng, cùng với phân tầng và phân bố theo các kiểu sinh thái khác nhau Nghiên cứu cũng xác định các bộ phận có giá trị sử dụng và đánh giá các giá trị bảo tồn của từng loài, nhằm làm rõ tiềm năng khai thác hợp lý và các ràng buộc bảo vệ Đặc điểm phân bố của các loài được mô tả chi tiết, giúp nhận diện vùng phân bố chính và khu vực dễ bị đe dọa Kết quả tổng hợp cung cấp cơ sở dữ liệu cho quản lý bảo tồn và phát triển bền vững tại khu vực Pu Hu.

- Phân tích được các tác động ảnh hưởng và đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên LSNG ở khu vực

2.1.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tƣợng nghiên cứu: Các loài cây LSNG thuộc thực vật bậc cao có mạch ở Khu BTTN Pù Hu

- Phạm vi nghiên cứu: Khu BTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu thành phần loài, công dụng, giá trị bảo tồn, dạng sống của cây LSNG ở khu vực

- Danh lục các loài cây LSNG tại Khu BTTN Pù Hu

- Bộ phận và giá trị sử dụng của các loài cây LSNG

- Thành phần loài LSNG nguy cấp, quý hiếm

2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây LSNG

- Phân bố theo độ cao

- Phân bố theo trạng thái rừng

2.2.3 Nghiên cứu hiện trạng khai thác, tiêu thụ cây LSNG và đánh giá các tác động ảnh hưởng tới tài nguyên LSNG ở Khu BTTN Pù Hu

- Hiện trạng khai thác, tiêu thụ cây LSNG

- Các tác động ảnh hưởng tới tài nguyên LSNG: Tác động bởi hoạt động khai thác; Tác động bởi hoạt động nương rẫy, chăn thả gia súc

2.2.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển LSNG tại Khu BTTN Pù Hu

Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát và tổng hợp các công trình, tài liệu liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu tại Khu BTTN Pù Hu trong những năm trước đây, bao gồm văn bản khoa học, các báo cáo, kết quả từ các cuộc hội nghị và hội thảo, cùng với các chương trình và kế hoạch hành động nhằm làm rõ hiện trạng và định hướng quản lý bền vững của khu vực.

- Thu thập các tài liệu, công trình nghiên cứu về thực vật làm tài liệu tham khảo khi thực hiện đề tài

Để chuẩn bị cho công tác điều tra ngoại nghiệp, cần có đầy đủ các dụng cụ thiết yếu như bản đồ, thước, kẹp tiêu bản, địa bàn, máy GPS, giấy báo, dây buộc, nhãn, kim chỉ, bút chì 2B, sổ ghi chép, cồn và kéo cắt cành Những dụng cụ này hỗ trợ việc ghi nhận vị trí, đánh dấu và xử lý mẫu trên địa bàn một cách hiệu quả và an toàn.

2.3.2 Điều tra ngoại nghiệp 2.3.2.1 Điều tra thành phần loài thực vật LSNG

Áp dụng phương pháp điều tra chuyên ngành dựa trên bản đồ địa hình để nhận diện các kiểu trạng thái rừng và từ đó xây dựng các tuyến điều tra điển hình đại diện cho khu vực nghiên cứu cùng với các điểm nghiên cứu cụ thể trước khi khảo sát ngoài thực địa Từ bản đồ sơ bộ, sử dụng hệ thống GPS để xác định chính xác các tuyến và điểm nghiên cứu trên thực địa Đề tài tiến hành điều tra trên 5 tuyến chính.

+ Tuyến I : Tiểu khu 98 (xã Hiền Chung) - Đỉnh Pù Hu (xã Trung

Độ dài tuyến là 3500 m Kiểu trạng thái rừng ở khu vực gồm trảng cỏ cây bụi và rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi (IIa, IIb); rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (IIIa1); rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình (IIIa2).

Tuyến II từ Tiểu khu 98 (xã Hiền Chung) đến Tiểu khu 94 (xã Phú Sơn) có độ dài 4200 m, và kiểu trạng thái rừng trên tuyến là rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi (IIa, IIb); rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình (IIIa2); và rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh giàu (IIIa3).

+ Tuyến III : Tiểu khu 102 (Nam Tiến) - Tiểu khu 94 (Phú Sơn)

Chiều dài tuyến: 5000 m Kiểu trạng thái rừng: Rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi (IIa,IIb), rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (IIIa1), rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình (IIIa2), rừng hỗn giao (HG)

+ Tuyến IV : Tiểu khu 83 (Phú Sơn) - Tiểu khu 72 (Trung Thành)

Chiều dài tuyến: 4000 m Kiểu trạng thái rừng: Rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (IIIa1), rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình (IIIa2), rừng tre nứa (TN)

+ Tuyến V : Tiểu khu 56 (Trung Thành) - Tiểu khu 71 (Trung Lý)

Chiều dài tuyến đo đạc là 6.000 m, tập trung đánh giá hiện trạng rừng núi đất lá rộng Kiểu trạng thái rừng được phân thành ba nhóm chính: rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (IIIa1), rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình (IIIa2) và rừng hỗn giao (HG) Sự phân loại này phản ánh sự đa dạng của hệ sinh thái rừng núi đất lá rộng ở các điều kiện đất và khí hậu khác nhau, từ nghèo đến trung bình, đồng thời cho thấy vai trò của rừng hỗn giao trong cảnh quan và quản lý tài nguyên rừng.

Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN Pù Hu

Hình 2.2 Sơ đồ tuyến điều tra

Trên các tuyến điều tra đi sang hai bên theo hình xương cá, với khoảng cách 10 m so với đường tuyến chính Tiến hành ghi chép đặc điểm của các tác động tự nhiên hoặc do con người tác động lên hệ thực vật ở từng vị trí dọc theo tuyến Số liệu thu được trên tuyến sẽ bổ sung cho số liệu điều tra trên ô, giúp xây dựng cơ sở dữ liệu tổng hợp cho khu vực nghiên cứu Các thông tin thu được được ghi vào mẫu biểu 01 để lưu trữ và xử lý sau này.

Biểu 01: Điều tra thực vật theo tuyến

Số hiệu tuyến Người điều tra

Chiều dài tuyến… Ngày điều tra…

STT Tên phổ thông Dạng sống Công dụng

2.3.2.2 Đặc điểm cấu trúc tầng thứ và mật độ cây LSNG

Sử dụng phương pháp điều tra chuyên ngành:

Trong khuôn khổ các tuyến điều tra, tôi đã lập ô tiêu chuẩn (ÔTC) trên 3 đai cao của khu vực nghiên cứu, bố trí mỗi đai với các ÔTC đại diện cho các kiểu trạng thái của rừng Các ÔTC điển hình được xác định bằng thước dây và công tác địa bàn để đảm bảo tính chuẩn hóa và khả năng so sánh Tổng số ÔTC là 15 ô, mỗi ô có diện tích 500 m² (20 × 25 m), trong đó tiến hành điều tra các chỉ tiêu của toàn bộ thực vật bậc cao.

Trong các ÔTC tiến hành điều tra thành phần loài, số lƣợng của tất cả các cây có D1.3≥ 6cm Kết quả điều tra đƣợc ghi theo mẫu biểu 02

Biểu 02: Điều tra tầng cây cao ÔTC số: Vị trí toạ độ:

Trạng thái rừng: Lô: Khoảnh: Độ tàn che: Độ che phủ: Độ cao:

Nhóm điều tra: Ngày điều tra:

* Điều tra cây tái sinh, cây bụi thảm tươi, thực vật ngoại tầng:

Trên mỗi ÔTC của rừng tự nhiên lập 5 ô dạng bản (ÔDB) có diện tích

SÔDB= 9m 2 (3x3m), ( tổng diện tích các ô dạng bản chiếm khoảng 10% diện tích ô tiêu chuẩn) các ÔDB đƣợc bố trí theo sơ đồ:

+ Điều tra cây tái sinh: Trên các ÔDB điều tra cây tái sinh theo thành phần loài, số lƣợng các loài Kết quả ghi theo mẫu biểu 03

Biểu 03: Điều tra cây tái sinh ÔTC số: Vị trí toạ độ:

Trạng thái rừng: Lô: Khoảnh: Độ tàn che: Độ che phủ: Độ cao:

Nhóm điều tra: Ngày điều tra: ÔDB Loài

Tình hình sinh trưởng Bộ phận sử dụng

< 0,5 0,5-1,0 >1,0 Hạt Chồi Tốt TB Xấu

Điều tra cây bụi thảm tươi và thực vật ngoại tầng nhằm đánh giá đa dạng loài và cấu trúc của khu vực Trong quá trình khảo sát, các nhóm cây bụi thảm tươi, dây leo của cây bụi và cây phụ sinh được ghi nhận đầy đủ thành phần loài và số lượng từng loài, theo mẫu biểu 04 Kết quả được tổng hợp để phân tích mức độ phong phú của hệ sinh thái, phục vụ công tác quản lý bảo tồn và nghiên cứu môi trường Dữ liệu từ mẫu biểu 04 cho phép so sánh giữa các khu vực và theo dõi biến động theo thời gian.

Biểu 04: Điều tra cây bụi, thảm tươi, thực vật ngoại tầng ÔTC số: Vị trí toạ độ:

Trạng thái rừng: Lô: Khoảnh: Độ tàn che: Độ che phủ: Độ cao:

Nhóm điều tra: Ngày điều tra:

TT ÔDB Tên địa phương Tên phổ thông Tổng số cây/ số bụi Độ che phủ

2.3.2.3 Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển các loài cây LSNG tại khu vực nghiên cứu

Áp dụng phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal) và công cụ thảo luận nhóm để nhận diện rõ ràng những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ các loài LSNG, từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu và nâng cao hiệu quả thực thi.

Để phát triển tài nguyên LNG tại khu vực nghiên cứu, cần áp dụng phương pháp của chuyên gia bằng cách tham khảo ý kiến của các chuyên gia đầu ngành nhằm đề xuất các giải pháp tối ưu và bền vững Những ý kiến chuyên gia giúp định hình chiến lược khai thác, quản lý nguồn LNG và đánh giá rủi ro, từ đó hình thành các đề xuất cụ thể và có thể triển khai được Việc kết hợp các quan điểm chuyên môn đảm bảo phù hợp với điều kiện địa phương và xu hướng thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án LNG tại khu vực nghiên cứu.

Trong quá trình xử lý tài liệu điều tra, cần tổng hợp các vấn đề đã phát hiện trong thời gian ngoại nghiệp, sắp xếp thứ tự ưu tiên và mức độ quan trọng của từng vấn đề, phân tích các ý kiến và quan điểm liên quan Đồng thời thực hiện phân tích định lượng đối với một số vấn đề có thể triển khai được và liên hệ chúng với các vấn đề được phát hiện qua điều tra nhanh Những thông tin thu thập được từ phân tích định tính và định lượng đều có tầm quan trọng như nhau và được dùng làm nguồn liệu cơ bản để xây dựng đề tài.

2.3.3.1 Giám định mẫu tiêu bản và xác định công dụng của loài:

Những loài thực vật chưa có tên hoặc chưa xác định được công dụng sẽ được thu thập mẫu tiêu bản và tiến hành giám định Việc xác định tên cây, công dụng và dạng sống của chúng được thực hiện theo phương pháp tra cứu tài liệu chuyên môn, tham khảo cơ sở dữ liệu herbarium và các tài liệu khoa học liên quan nhằm đảm bảo tính chính xác của quá trình nhận diện và định danh.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Từ 20 0 22’30” đến 20 0 40’00” vĩ độ Bắc

Từ 104 0 40’00” đến 105 0 05’00” kinh độ Đông

- Ranh giới: Nằm trên địa bàn 11 xã của 2 huyện Quan Hoá 10 xã:

Khu vực quản lý gồm các xã Nam Tiến, Thiên Phủ, Hiền Trung, Hiền Kiệt, Thanh Xuân, Phú Xuân, Phú Sơn, Phú Thanh, Trung Thành và Trung Sơn, cùng với huyện Mường Lát (xã Trung Lý) Trụ sở văn phòng Ban đóng trên địa bàn xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.

Hình 3.1 Bản đồ vị trí Khu BTTN Pù Hu

Khu BTTN Pù Hu ở phía Tây vành đai núi đá vôi chạy theo hướng Tây - Nam, từ khu BTTN Pù Luông tới Vườn Quốc gia Cúc Phương Về mặt địa chất, khu BTTN Pù Hu chủ yếu là vùng núi đất với thành phần đá mẹ phức tạp, bao gồm đá granite, riolite, sa thạch, phiến thạch, cuội kết, đá czát và đá vôi Đỉnh cao nhất là đỉnh Pù Hu cao 1.458 m, nằm ở phía Bắc khu bảo tồn; phía Nam có các đỉnh cao 1.390 m và 1.420 m Phía Bắc, phía Đông và phía Nam của các đỉnh núi này độ cao giảm mạnh xuống tới các thung lũng sông Mã và sông Luồng.

Khu BTTN Pù Hu có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đặc trưng của vùng Tây Bắc Việt Nam Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20°C đến 25°C, với nhiệt độ tối đa lên tới 40°C và nhiệt độ tối thiểu khoảng 10°C Lượng mưa bình quân năm tương đối thấp, dao động từ 1500 mm đến 1600 mm Trong khu vực có hai loại gió chính là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Do vùng nằm tiếp giáp với vùng Tây Bắc nên chịu ảnh hưởng của bão thông qua những trận mưa lớn và không có gió mạnh.

Về hệ thống thủy văn, khối núi Pù Hu bị chia cắt mạnh bởi các con suối ở các phía Tây, Bắc và Đông, chảy ra sông Mã Các con suối ở phía Nam bảo tồn chảy vào sông Luồng, sau đó đổ vào sông Mã, sông chính của vùng Bắc Trung Bộ Lưu vực của sông Mã mở rộng sang phía bắc tỉnh Hủa Phăn của Lào và tỉnh Thanh Hóa, cho thấy sự liên kết thủy văn giữa hai nước và vùng miền Do mạng lưới thủy văn dày đặc, lượng mưa thường tập trung vào hai hệ thống sông chính là sông Mã và sông Luồng, làm nảy sinh lũ lớn ở nhiều địa bàn trong khu vực.

3.2.1 Dân số, phân bố dân cư và lao động

Khu BTTN Pù Hu thuộc vùng sâu, vùng xa và là vùng đầu nguồn sông

Vị trí giáp với sông Mã và sông Luồng khiến cư dân ở đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Dao và Mông Đặc biệt, các dân tộc này không tập trung sinh sống ở một thôn bản duy nhất mà phân tán, sinh sống riêng rẽ theo từng bản làng Trong vùng đệm của khu bảo tồn hiện có 6.268 hộ và khoảng 35.936 nhân khẩu, với 15.689 lao động tham gia vào lực lượng lao động địa phương.

Trên địa bàn 11 xã có 4 dân tộc cùng sinh sống đó là: Kinh, Mường, Thái và Mông với mật độ là 38 người /1km 2 Trong khi đó tỷ lệ tăng dân số giữa các xã và các dân tộc lại không đồng đều nhƣ: Mông 3,3%, Thái 2,9%…

- Vùng dân cƣ đồng bào Mông: với 565 hộ, 3.494 nhân khẩu thuộc 12 bản Mông sinh sống tại vùng đệm Khu BTTN Pù Hu Đây là những hộ đƣợc di dời từ vùng lõi về vùng quy hoạch, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn

Bảng 3.1 Tổng hợp số liệu dân sinh vùng đồng bào Mông sinh sống vùng đệm Khu BTTN Pù Hu

TT Đơn vị bản Số hộ Số khẩu Lao động Tỷ lệ tăng dân số

(Nguồn: Báo cáo của Khu BTTN Pù Hu năm 2015)

Về trồng trọt, các sản phẩm chủ yếu gồm lúa, ngô, sắn và cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc, mía, cùng với cây công nghiệp dài ngày như chè Tuy nhiên, sản lượng tính theo đầu người vẫn ở mức quá thấp, dẫn đến thiếu lương thực kéo dài 2–5 tháng và có nơi lên tới 6 tháng Chính tình trạng thiếu lương thực này là nguyên nhân và sức ép lên an ninh rừng.

Trong khu bảo tồn, người dân chủ yếu chăn nuôi một số loài gia súc và gia cầm như trâu, bò, lợn, gà và cá Tuy có quy mô đàn được duy trì, nhưng số lượng đàn theo hệ thống còn thấp và tập quán chăn thả lạc hậu, thiếu kiểm soát khiến năng suất rất thấp Đặc biệt, việc chăn thả gia súc ở đây chưa có quy hoạch và chiến lược phát triển rõ ràng, dẫn đến tác động tiêu cực đến bảo tồn thiên nhiên và sinh thái của khu vực.

- Tình hình sản xuất lâm nghiệp:

Toàn vùng trồng được trên 9.000 ha rừng tập trung, trong đó chủ yếu là rừng Luồng được giao khoán đến hộ gia đình theo nghị định 02/CP Năm 2016, Dự án khu BTTN Pù Hu mới triển khai trồng rừng đặc dụng với diện tích 30 ha tại địa bàn các xã Trung Sơn, Trung Thành và Thanh Xuân.

Quản lý bảo vệ rừng tại khu BTTN Pù Hu được triển khai trên diện tích rộng lớn với điều kiện giao thông đi lại đặc biệt khó khăn; nhờ đặc thù đơn vị có Hạt Kiểm lâm có chức năng thừa hành pháp luật nên công tác bảo vệ rừng được triển khai hiệu quả, và diện tích được giao khoán bảo vệ cùng khoanh nuôi tái sinh của đơn vị hiện đang được bảo vệ tốt cả về số lượng lẫn chất lượng rừng.

Vùng có tiềm năng rất lớn về thủy điện trên hai hệ sông Mã và sông Luồng Hiện nay đã có ba công trình thủy điện đang được xây dựng trên hệ thống sông Mã nhưng chưa đi vào hoạt động, khiến người dân trong vùng phần lớn phải dùng máy phát điện cỡ nhỏ; một số xã dọc theo Quốc lộ 15 đã có điện lưới Về thủy lợi, trên địa bàn hiện chỉ có 28 công trình thủy lợi cỡ nhỏ bán kiên cố, nhưng trong phạm vi dự án chỉ có 6 công trình đảm bảo đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho một bộ phận dân cư nhất định.

Về giao thông nông thôn, mặc dù đã có hai trục đường nhựa chính chạy qua địa bàn là Quốc lộ 15A và Quốc lộ 15C, hầu hết các tuyến đường liên thôn liên xã vẫn hư hỏng và xuống cấp Tình trạng xuống cấp này gây khó khăn cho việc di chuyển của người dân, đặc biệt vào mùa mưa lũ khi đường dễ ngập úng và sạt lở Cần có kế hoạch nâng cấp, cải tạo mạng lưới giao thông nông thôn để đảm bảo an toàn, thuận tiện và thúc đẩy kinh tế địa phương.

Ở vùng nông thôn, nhiều cơ sở y tế thôn bản chưa được xây dựng hoặc chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu của nhân dân Hầu hết các thôn, bản đều bố trí người làm công tác y tế, nhưng trình độ chuyên môn còn hạn chế và trang thiết bị, thuốc men chưa được đầu tư đầy đủ Tại các trung tâm xã có trạm y tế, công tác khám chữa bệnh cho người dân vẫn còn rất hạn chế Như vậy, người dân tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản vẫn gặp khó khăn và chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa được đảm bảo.

Chương trình 159 và 135 đã tập trung đầu tư cho 80 trường tiểu học và THCS với tổng diện tích 8.623 m2, trong đó các bản thuộc huyện Quan Hóa có 54 trường với diện tích 6.068 m2 và các bản thuộc huyện Mường Lát có 26 trường với diện tích 2.555 m2; một số phòng học và nhà ở giáo viên vẫn chưa được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đang ở trạng thái nhà tạm tre nứa, đồng thời trang thiết bị dạy và học còn rất thiếu thốn và nghèo nàn.

* Đánh giá tình hình chung về dân sinh - kinh tế - xã hội: Khu BTTN Pù

Hiện trạng tài nguyên rừng

3.3.1 Tổng diện tích đất tự nhiên

Khu BTTN Pù Hu có tổng diện tích là: 28.473,71 ha

Cơ cấu các loại đất:

+ Rừng tự nhiên: 27.282,58 ha + Rừng trồng: 465,39 ha

3.3.2 Hiện trạng và tình hình sử dụng tài nguyên rừng

Khu BTTN Pu Hu vẫn bảo toàn một phần diện tích rừng tự nhiên và chứa nhiều loài cây quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam Trước khi khu bảo tồn Pu Hu được quy hoạch, một số khu vực tại đây đã bị tàn phá do đồng bào Mông di cư tự do để phát nương làm rẫy.

Sau khi dự án di dân khỏi vùng bảo tồn được thực hiện thành công, phần lớn diện tích tại khu vực này đã tự tái sinh và cần được khoanh nuôi để tái sinh và phục hồi rừng, kể cả ở những khu vực có tác động và không có tác động Đồng thời, những diện tích không có khả năng tái sinh thành rừng cần được đầu tư trồng mới với các loài cây bản địa nhằm tái tạo hệ sinh thái, phục hồi tầng che phủ và nâng cao độ che phủ của rừng.

Khu BTTN Pù Hu được thành lập theo Quyết định số 447/QĐ-UBND ngày 20/3/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Khu bảo tồn có tổng diện tích tự nhiên là 28.473,71 ha, vùng đệm có diện tích trên 50 ngàn ha và thuộc 11 xã của khu vực liên quan.

Ở hai huyện Quản Hóa (10 xã) và Mường Lát (xã Trung Lý), tại thời điểm quy hoạch khu bảo tồn, có một số bản đồng bào Mông di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc vào vùng lõi khu bảo tồn Bản Cò Cài, xã Trung Lý, huyện Mường Lát là bản nằm trong vùng quy hoạch khu bảo tồn.

Vào năm 2000, Dự án di dân tự do đồng bảo Mông được thực hiện thành công, đưa người dân từ vùng lõi khu bảo tồn về khu vực quy hoạch để ổn định sản xuất Đến năm 2002, khu BTTN Pù Hu đề xuất cắt chuyển một phần diện tích bảo tồn và giao lại cho nhân dân bản Cò Cài, xã Trung lý để ở và sản xuất Tính đến nay, không còn hộ dân nào sinh sống trong khu bảo tồn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THÀO LUẬN

Nghiên cứu thành phần loài, công dụng, dạng sống, giá trị bảo tồn của thực vật LSNG

4.1.1 Xây dựng danh lục cây LSNG

Kết quả điều tra tuyến, OTC và kế thừa tài liệu tại Khu BTTN Pù Hu cho thấy có 805 loài thuộc 478 chi, 139 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch (chi tiết xem tại phụ lục 01) Sau khi xác định tên khoa học cho các loài, đánh giá mức độ phong phú và đa dạng của hiện trạng cây LSNG trong Khu BTTN Pù Hu được trình bày ở phần dưới đây và các chi tiết được nêu trong phụ lục 01.

4.1.2 Đa dạng thành phần cây LSNG

Đa dạng về ngành thực vật của hệ thực vật LSNG tại khu BTTN Pù Hu được ghi nhận với 805 loài thuộc 478 chi và 139 họ, thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Sự phân bố của các taxon trong từng ngành được thể hiện đầy đủ trong bảng 4.1 kèm theo.

Bảng 4.1 Bảng tổng hợp số lƣợng các taxon tại khu BTTN Pù Hu

STT Tên ngành Họ Chi Loài

Tên phổ thông Tên la tinh SL % SL % SL %

Nhận xét: Căn cứ kết quả bảng 4.1 ta thấy cây LSNG tại khu BTTN Pù

Hu có đầy đủ các ngành thực vật bậc cao có mạch của hệ thực vật Việt Nam

Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm số lượng và đa dạng nhất với 117 họ, 448 chi, 767 loài, chiếm 84,17% số họ, 93,72% số chi và 95,28% số loài của toàn cây LSNG trong khu vực Các ngành còn lại đáng kể là Dương xỉ (Polypodiophyta) với tỉ lệ từ 3,35% đến 10,79%, ngành Thông đất (Lycopodiophyta) khoảng 0,50% đến 0,72%, và ngành Thông (Pinophyta) có tỉ lệ khoảng 0,62% đến 2,88% Trong khi đó ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) và ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) là những ngành kém đa dạng nhất.

Để đánh giá sự đa dạng về bậc họ của cây LSNG tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành lựa chọn 9 họ có số lượng loài lớn nhất để tiến hành đánh giá Quá trình phân tích nhấn mạnh mức độ phong phú và phân bổ loài theo từng bậc họ, từ đó xác định cấu trúc đa dạng của cộng đồng cây LSNG khu vực Kết quả chi tiết được trình bày ở bảng 4.2, cho thấy các họ chiếm số lượng loài lớn nhất và những đặc trưng phân bố loài nổi bật trong khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.2: Các họ đa dạng nhất cây LSNG tại Khu BTTN Pù Hu

STT Tên ngành Chi Loài

Tên phổ thông Tên la tinh SL % SL %

Nhận xét: Qua bảng 4.2, vị trí các họ được sắp xếp theo số lượng loài từ cao xuống thấp, cho thấy mức độ đa dạng của từng họ Trong đó họ Thầu dầu – Euphorbiaceae là đa dạng nhất với số lượng loài lớn nhất được ghi nhận, thể hiện sự phong phú của Euphorbiaceae so với các họ khác.

Trong khu bảo tồn, hệ thực vật LSNG ghi nhận 27 chi và 49 loài, chiếm 5,65% tổng số chi và 6,09% tổng số loài của toàn hệ LSNG trong khu bảo tồn; các họ khác như Rubiaceae (Cà phê) có 14 chi và 31 loài; Asteraceae (Cúc) 23 chi và 26 loài; Moraceae (Dâu tằm) 7 chi và 25 loài; Poaceae (Hòa thảo) 16 chi và 25 loài, đây đều là những họ có số loài phong phú và đa dạng tại Việt Nam.

Mặc dù 9 họ trên chỉ chiếm có 6,47% tổng số họ nhƣng số lƣợng chi là

Ở khu vực nghiên cứu, 129 chi chiếm 26,99% tổng số chi; số lượng loài ghi nhận là 240 loài, chiếm 29,81% tổng số loài trong khu vực Các con số này cho thấy mức độ đa dạng ở cấp chi và cấp loài khá cao Trong 9 họ có mức độ đa dạng cao nhất ở Khu BTTN Pù Hu, mỗi họ cũng có ít nhất 19 loài cây LSNG được ghi nhận.

Đa dạng về chi được đánh giá dựa trên số lượng loài từng chi; dựa trên thống kê, chúng tôi chọn 15 chi có số lượng loài lớn nhất để tiến hành so sánh và đánh giá mức độ đa dạng giữa các chi này Kết quả của quá trình phân tích được ghi rõ trong bảng 4.3, cho thấy mức độ phong phú loài và các mô hình phân bổ loài ở từng chi, từ đó làm cơ sở nhận diện xu hướng đa dạng và sự khác biệt giữa các chi trong tập dữ liệu khảo sát.

Bảng 4.3: Các chi đa dạng nhất cây LSNG trong Khu BTTN Pù Hu

STT Tên chi Họ Loài

Nhận xét cho thấy các chi đa dạng nhất ở Khu BTTN Pù Hu chiếm 3,13% tổng số chi trong khu vực; tuy nhiên lại có tới 98 loài chi, chiếm 12,17% tổng số loài cây LSNG Chi Ficus là chi có số loài nhiều nhất, với 15 loài, chiếm 1,86% tổng số loài.

4.1.3 Đa dạng về dạng sống và bộ phận sử dụng cây LSNG Để đánh giá về mức độ đa dạng của dạng sống chúng tôi đánh giá theo tiêu chuẩn của của Raunkiaer (1934) Từ số liệu thống kê đƣợc tỉ lệ phần trăm số loài theo nhóm dạng sống và các dạng sống đƣợc thể hiện trong bảng 4.4

Bảng 4.4 Tỉ lệ các loài LSNG theo các dạng sống trong khu vực

Dạng sống Ký hiệu Số loài Tỷ lệ %

Nhóm cây chồi trên Ph 645 80.12

Chồi trên to: Cây gỗ lớn Meg 59 7.33

Chồi trên vừa: Cây gỗ vừa Mes 154 19.13

Chồi trên nhỏ: Cây gỗ nhỏ Mi 146 18.14

Chồi trên lù: Cây bụi Na 107 13.29

Cây bì sinh, sống lâu năm Ep 29 3.60

Cây thân thảo sống lâu năm Hp 34 4.22

Dây leo sống lâu năm Lp 114 14.16

Cây kí sinh, bán kí sinh Pp 2 0.25

Nhóm cây chồi sát đất Ch 25 3.11

Nhóm cây chồi nửa ẩn Hm 32 3.98

Nhóm cây chồi ẩn Cr 44 5.47

Nhóm cây một năm Th 59 7.33

Dựa vào tỷ lệ của nhóm dạng sống đã được xác định ở trên, chúng ta sẽ lập Phổ dạng sống (Spectrum of Biology - SB) cho các loài LSNG tại Khu BTTN Pù Hu như sau: SB được xây dựng bằng cách phân loại và định lượng các nhóm dạng sống dựa trên sự hiện diện và tần suất của chúng, từ đó xác định tỷ lệ đóng góp của từng nhóm vào đa dạng sinh học của khu vực; mục tiêu của SB là cung cấp khung tham chiếu để đánh giá trạng thái đa dạng sinh học, hỗ trợ công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học tại khu BTTN Pù Hu; kết quả SB được dùng để ưu tiên các hành động quản lý, giám sát môi trường và truyền thông về bảo tồn cho cộng đồng.

SB = 80,12Ph + 3,11Ch + 3,98Hm + 5,47Cr + 7,33Th

Hình 4.1: Biểu đồ hiển thị phổ dạng sống cây LSNG

Qua biểu đồ trên, nhóm cây chồi chiếm tỉ lệ cao nhất và thể hiện ưu thế vượt trội so với các nhóm khác về số loài cây LSNG trong khu vực nghiên cứu, chứng tỏ tính chất nhiệt đới của khu vực BTTN Pù Hu Đối với nhóm cây chồi có ưu thế này, chúng tôi tiến hành phân tích phổ dạng sống và kết quả cụ thể được trình bày tại hình 4.2.

Hình 4.2 Biểu đồ hiển thị phổ dạng sống nhóm cây chồi trên

Qua biểu đồ, thành phần loài LSNG thuộc các nhóm dạng cây gỗ vừa, gỗ nhỏ, dây leo và cây bụi thể hiện sự phân bổ rõ rệt: cây gỗ vừa chiếm 19,13% tổng số loài, là lớn nhất; kế đến là cây gỗ nhỏ với 18,14%; dây leo 14,16%; cây bụi 13,29%; và cây gỗ lớn chiếm 7,33% tổng số loài Như vậy, các loài LSNG ở khu vực không chỉ đa dạng về số lượng mà còn đại diện cho hệ sinh thái núi đất của khu vực, khi các loại cây gỗ vừa và nhỏ, dây leo và cây bụi chiếm phần lớn thành phần loài.

Có 805 loài cây LSNG trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu và người dân đã khai thác, sử dụng chúng từ lâu Trong số này, bộ phận được thu hái nhiều nhất là lá và ngọn ở 489 loài, tiếp đến là toàn cây ở 473 loài, rễ ở 411 loài, thân ở 214 loài, vỏ ở 124 loài, quả và hạt ở 68 loài, nhựa ở 25 loài và hoa ở 17 loài.

4.1.4 Đa dạng về công dụng của cây LSNG

Dựa vào bảng danh lục cây LSNG của Khu bảo tồn chúng tôi tổng hợp số loài theo từng công dụng và đƣợc tổng hợp tại bảng 4.5 nhƣ sau:

Bảng 4.5 Tỉ lệ cây LSNG theo từng công dụng trong Khu vực nghiên cứu

Công dụng Kí hiệu Số loài Tỷ lệ %

Cây ăn đƣợc (Food and fruit) F 252 19.97

Cây làm cảnh (Ornamental) Or 126 9.98

Cây cho dầu (Oil) Oi 6 0.48

Cây cho tinh dầu (Essential oil) E 53 4.20

Cây có độc (Poisonous plants) Pm 2 0.16

Cây cho tanin, nhựa, nhuộm Ta 13 1.03

Cây cho sợi (Fibre) Fb 43 3.41

Cây có công dụng khác U 78 6.18

Tổng số lƣợt công dụng 1.262 100

Trong khu bảo tồn cây LSNG, giá trị tài nguyên của hệ thực vật bậc cao được xác định với 805 loài Số loài này cho thấy sự phong phú và đa dạng về giá trị sử dụng của cây LSNG trong khu bảo tồn Toàn hệ có 689 loài thực vật làm thuốc (54,60% tổng giá trị sử dụng) và 252 loài làm thức ăn cho người (19,97% tổng giá trị sử dụng), bên cạnh một số loài được dùng làm cảnh.

126 loài (9,98% tổng giá trị sử dụng)

Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây LSNG

Để nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài LSNG trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi áp dụng phương pháp điều tra chuyên ngành và thiết kế các tuyến điều tra nhằm lập các OTC; trên mỗi OTC tiến hành đo đếm các chỉ tiêu của tàng cây gỗ, tầng cây tái sinh, tầng cây bụi và thảm thực vật, đồng thời ghi nhận thực vật ngoại tầng nhằm làm sáng tỏ cấu trúc và mức độ phân bố của LSNG trong khu vực.

Phân chia khu vực nghiên cứu làm 3 đai cao khác nhau: Đai 1 từ 200 m – 700 m, Đai 2 từ 700 m – 1000 m và Đai 3 từ 1000 m – 1400 m Tại mỗi đai, thiết kế các ô tiêu chuẩn đại diện cho các kiểu trạng thái rừng TXP, TXB và TXG Tiến hành lập 03 OTC trên ba đai cao đối với từng trạng thái rừng.

Hình 4.4 Các vị trí đai cao tại khu vực nghiên cứu

Trạng thái rừng giàu (IIIa3) Trạng thái rừng trung bình (IIIa2)

Trạng thái rừng nghèo (IIIa1) Trạng thái rừng phục hồi (IIa, IIb)

Hình 4.5 Các kiểu thạng thái rừng và trạng thái rừng chính tại Khu BTTN Pù Hu

Cấu trúc tầng thứ được xác định dựa trên dạng sống của các loài thực vật, và LSNG của khu vực nghiên cứu được xếp vào hai tầng chính: tầng cây gỗ và tầng cây bụi thảm tươi Kết quả tổng hợp cho hai tầng này được trình bày tại bảng 4.7 và bảng 4.8, cho thấy sự phân bổ loài và đặc điểm cấu trúc thảm thực vật ở mỗi tầng, cũng như mức độ đa dạng và tỉ lệ thành phần cây gỗ so với cây bụi và thảm thực vật cây bụi trong khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.7 Thành phần loài và cấu trúc tầng thứ theo đai cao Đai cao

Tầng cây gỗ Tầng cây bụi thảm tươi

Số loài/ÔTC Số loài LSNG/ÔTC Số loài/ÔTC Số loài LSNG/ÔTC

Qua điều tra về thành phần loài và cấu trúc tầng thứ theo đai cao ở các ÔTC, kết quả cho thấy ở các đai cao khác nhau thành phần loài gỗ LSNG và loài cây bụi thảm tươi LSNG có sự biến động rõ rệt theo độ cao; khi lên cao khí hậu dần tiệm cận ôn đới nên mức đa dạng loài cây gỗ LSNG giảm, ngược lại ở vùng thấp hơn khí hậu nhiệt đới thúc đẩy sự phát triển của nhiều loài, làm tăng đa dạng loài Đối với mỗi đai cao thì thành phần loài cây bụi thảm tươi LSNG luôn kém đa dạng hơn so với cây gỗ LSNG Ở đai dưới 700 m, phần lớn LSNG thuộc họ Đậu, họ Xoan và họ Bồ hòn chiếm ưu thế, cùng với một số loài gỗ như Giổi, Trường mật, Nhãn rừng, Lát hoa, Song mật và một số loài cây bụi như Tầm phong, Cam thảo, Cốt khí, Đuôi chồn, Trắc dây Ở đai cao 700–1000 m, các loài LSNG chủ yếu thuộc họ Dẻ, họ Dâu tằm và họ Long não chiếm ưu thế, với một số loài cây gỗ như Quế, Re, Vù hương, Kháo, Dẻ, Chay và một số loài bụi như Lấu, Vú bò, Đơn nem, Trọng đũa Trên 1000 m, các loài LSNG thuộc họ Dẻ, Long não và Mộc lan chiếm ưu thế xen lẫn với một số loài hạt trần, cùng với các loài gỗ như Thông tre, Sa mu, Sến mật, Vàng tâm.

Bảng 4.8 Thành phần loài LSNG theo trạng thái rừng

Trạng thái Số loài LSNG dạng cây gỗ

Số loài LSNG dạng cây bụi, thảm tươi

Rừng phục hồi (IIa, IIb) 12 10

Qua số liệu điều tra tại các ÔTC cho thấy thành phần loài LSNG thay đổi theo trạng thái rừng: ở trạng thái rừng trảng cây bụi số loài LSNG ít nhất, với các đại diện như Sim, Mua, Lạc tiên, Guột, Sẹo gà, Nhân trần và Tu hú; ở trạng thái rừng phục hồi đã xuất hiện nhiều loài cây LSNG ở dạng sống là cây gỗ, ví dụ Ba gạc, Sẻ gai, Trẩu, Trám đen, Trám trắng, và một số loài cây bụi như Lấu, Đắng cẩy, cùng một số loài dây leo như Cảm cang, Khúc khắc, Sa nhân, Giang, Bồ đắng, Le, Nứa.

Trạng thái rừng phục hồi có các loài cây cho LSNG điển hình nhƣ:

Trám trắng, Trám đen, Dẻ gai, Thôi ba, Ngũ gia bì Nhóm cây bụi nhƣ Găng, Lấu ; Dây leo nhƣ Móc câu đằng, Bằm bằm

Trạng thái rừng nghèo kiệt đang tác động mạnh đến đa dạng sinh học và nguồn lợi của cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng Các loài LSNG như Dẻ gai, Núc nác, Chè đuôi dây, Lim xẹt, Bồ hòn, Cọ phèn, Trám, Muối, Sắn thuyền, Me rừng, Lá lến và Xoài ngày càng bị thu hẹp phạm vi phân bố do khai thác quá mức và biến đổi môi trường Để bảo tồn và phục hồi rừng nghèo kiệt, cần có quản lý bền vững, phục hồi tầng lớp cây bản địa, bảo vệ các loài đặc hữu và tăng cường chăm sóc đất, nước, cũng như nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của hệ sinh thái rừng và nguồn thu nhập từ rừng.

Trạng thái cây bụi, thảm tươi có một số loài LSNG như Lấu, Ba gạc, Móc mèo, Mây

Trạng thái rừng ở mức trung bình với sự đa dạng loài và thành phần cây phong phú, bao gồm các loài cho LSNG như Tai chua, Bứa lá thuận, Vối thuốc, Trám, Trâm, Chẹo trắng, Cà ổi, Sồi phảng, Vối rừng, Gó; các nhóm thực vật tầng mặt đất như Chay, Sảng nhung, Eo kén, Đu đủ rừng, Đán, Ngót rừng, Trầm hương, Máu chó; nhóm bụi gồm Ớt rừng, Hồng bì, Sói rừng, Ngấy hương; nhóm dây leo như Bằm bằm, Dây quặt, Sứn dây rừng, Song mật, Đại hái, Lá khôi, Lá dong; và nhóm khí sinh có đại diện như Tắc kè đá, Ổ phượng (Tổ điểu), Đoản kiếm.

Trạng thái rừng giàu: Các loài cây gỗ nhƣ Giổi xanh, Giổi bà, Sến mật,

Trong hệ sinh thái rừng, các nhóm cây bụi và dây leo phong phú như Vù hương, Dẻ gai, Bứa, Ngũ gia bì, Gội gác và nhiều loài cây bụi khác như Ớt rừng, Vối hạt, Táo rừng cho thấy sự đa dạng và tầng lớp của thảm thực vật; Dây leo như chè gây và Nho đất bổ sung sự phong phú cho các tầng leo tán và đất phủ; Thực vật ngoại tầng và khí sinh như Đại hái, Song mật, Lan cầu điệp, Mật khẩu, Hoàng thảo môi cho thấy khả năng sống trên thân cây và trên đá, đồng thời tăng cường đa dạng của hệ thực vật; Địa lan có Trân châu xanh là minh chứng cho sự phong phú của nhóm địa lan; Nhóm tre trúc có các loài Sập cho thấy sự phân bố của thực vật ở tầng dưới tán và trong các hệ sinh thái tre trúc.

Mật độ cây là chỉ tiêu biểu thị số lượng cá thể của từng loài hoặc của toàn bộ các loài tham gia trên một đơn vị diện tích, phản ánh mức độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vai trò của mỗi loài trong quần xã thực vật Cấu trúc mật độ cho LSNG được tổng hợp theo các đai cao và cho từng kiểu trạng thái rừng, từ đó làm sáng tỏ sự phân bổ và đóng góp của các loài trong hệ sinh thái rừng Kết quả tổng hợp mật độ cây LSNG đối với các đai cao cho từng kiểu trạng thái rừng được trình bày tại bảng 4.9 và bảng 4.10, cho phép so sánh và đánh giá mức độ hiện diện của cây ở các đai cao khác nhau và xu hướng biến đổi mật độ theo điều kiện môi trường.

Bảng 4.9 Mật độ cây LSNG theo đai cao Đai cao (m) Số loài cây gỗ cho LSNG Các dạng sống khác cho LSNG

Từ kết quả mật độ cây LSNG theo đai cao ta nhận thấy mật độ cây gỗ cho LSNG tăng dần theo đai cao từ đai cao

Ngày đăng: 20/12/2022, 10:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Tiến Cường (2012), Điều tra thành phần loài thực vật Hai lá mầm (Magnoliopsida) tại khu vực khe Nước Sốt, xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thành phần loài thực vật Hai lá mầm (Magnoliopsida) tại khu vực khe Nước Sốt, xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Tiến Cường
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 2012
14. Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer, Phạm Xuân Phương và các cộng sự (2002), Tổng quan ngành lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam, Dự án sử dụng bền vững các lâm sản ngoài gỗ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan ngành lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer, Phạm Xuân Phương
Năm: 2002
15. Trần Ngọc Hải và nhóm tác giả (2009), Giáo trình Lâm sản ngoài gỗ, NXB NN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Trần Ngọc Hải
Nhà XB: NXB NN
Năm: 2009
16. Triệu Văn Hùng và tập thể tác giả (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Dự án Hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam- Pha II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng, tập thể tác giả
Nhà XB: Dự án Hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam- Pha II
Năm: 2007
17. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (2013), Dự án điều tra đa dạng sinh học Khu BTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án điều tra đa dạng sinh học Khu BTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu
Năm: 2013
18. Phạm Hoàng Hộ (1970-1972), Cây cỏ miền Nam Việt Nam, Tập 1-2, NXB Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ miền Nam Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: NXB Sài Gòn
Năm: 1970-1972
19. Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Cây cỏ Việt Nam, NXB Trẻ, 3 tập, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1999-2000
20. Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, NXB Nông nghiệp, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây gỗ Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
21. Klein R.M., Klein D.T. (1975), Phương pháp nghiên cứu thực vật, (2 tập). NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu thực vật (2 tập)
Tác giả: R.M. Klein, D.T. Klein
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
Năm: 1975
22. Trần Thị Kim Liên (2002), Thực vật chí Việt Nam, Tập 4: Họ Đơn nem- Myrsinaceae, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật chí Việt Nam, Tập 4: Họ Đơn nem- Myrsinaceae
Tác giả: Trần Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
23. Đỗ Tất Lợi (1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
24. Trần Đình Lý và cộng sự (1993), 1900 loài cây có ích ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1900 loài cây có ích ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Lý và cộng sự
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1993
25. Trần Đình Lý (2005), Thực vật chí Việt Nam, Tập 5: Họ Trúc đào- Apocynaceae, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật chí Việt Nam, Tập 5: Họ Trúc đào- Apocynaceae
Tác giả: Trần Đình Lý
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2005
26. Phạm Nhật, Vũ Văn Dũng, Trần Ngọc Hải, Đỗ Quang Huy, Nguyễn Cử, Lê Nguyên Nhật, Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Thế Nhã (2003), Sổ tay điều tra, giám sát đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay điều tra, giám sát đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn Việt Nam
Tác giả: Phạm Nhật, Vũ Văn Dũng, Trần Ngọc Hải, Đỗ Quang Huy, Nguyễn Cử, Lê Nguyên Nhật, Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
27. Vũ Xuân Phương (2002), Thực vật chí Việt Nam, Tập 2: Họ Bạc hà- Lamiaceae, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật chí Việt Nam, Tập 2: Họ Bạc hà- Lamiaceae
Tác giả: Vũ Xuân Phương
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
28. Richard B.P. (1999), Cơ sở sinh học bảo tồn, Bản tiếng Việt do Võ Quí, Phạm Bình Quyền, Hoàng Văn Thắng, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội dịch. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học bảo tồn
Tác giả: Richard B.P
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
29. Tạp chí Sinh học (1995), Số chuyên đề hệ thực vật Việt Nam, Tập 17 - số 4, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Sinh học
Nhà XB: Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Việt Nam
Năm: 1995
30. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Năm: 1997
31. Nguyễn Nghĩa Thìn, Đặng Thị Sy (2004), Hệ thống học thực vật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống học thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn, Đặng Thị Sy
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
32. Tolmachop (1974), Phương pháp nghiên cứu thực vật bậc cao, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu thực vật bậc cao
Tác giả: Tolmachop
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1974

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm