Suy dinh dưỡng là vấn đề thường gặp ở những người bệnh nhập viện. Trên thế giới, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở những người bệnh nhập viện có thể lên tới 50%, phụ thuộc vào quần thể và tiêu chuẩn đánh giá1. Tại Việt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng bệnh viện khá cao, có thể lên tới 78,9% ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối. Người bệnh bị suy dinh dưỡng phải chịu nhiều hậu quả như thời gian nằm viện kéo dài, tăng sử dụng thuốc, tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn và tử vong. Thành công của cuộc phẫu thuật không chỉ quyết định bởi việc chẩn đoán, chỉ định phẫu thuật đúng, phẫu thuật viên giỏi và điều kiện trang thiết bị đầy đủ. Bên cạnh đó tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước phẫu thuật cũng có vai trò quan trọng không kém. Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật là cần thiết giúp phân loại sớm tình trạng dinh dưỡng và có những can thiệp dinh dưỡng kịp thời cho người bệnh2. Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng. Tuy nhiên đa phần nghiên cứu chủ yếu về mảng dinh dưỡng cộng đồng mà chưa tập chung vào dinh dưỡng cho người bệnh nằm viện đặc biệt là người bệnh ngoại khoa trước mổ3. Trên lâm sàng có nhiều cách để đánh giá tình trạng dinh dưỡng như dùng các chỉ số nhân trắc (BMI, bề dày lớp mỡ dưới da, vòng cánh tay), các thang điểm đánh giá như thang đánh giá dinh dưỡng tổng thể chủ quan SGA, thang sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng NRS hay các xét nghiệm cận lâm sàng (Albumin, prealbumin, transferrin). Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng. Một trong những công cụ dễ áp dụng là đánh giá dinh dưỡng tổng thể chủ quan (Subbjective Global Assessment: SGA). Từ năm 1984, SGA đã được Detsky và cộng sự xây dựng và phát triển 4. Những nghiên cứu so sánh cho thấy SGA có hiệu quả trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra công cụ này có giá trị và đáng tin cậy5,6. Đây là một phương pháp đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng, dễ huấn luyện và có thể áp dụng đại trà trên lâm sàng với kết quả đáng tin cậy. Đó là lý do phương pháp này cần được mở rộng sử dụng trong thực tế lâm sàng7. Trên thế giới hiện nay có khoảng 200 triệu người mắc bệnh tuyến giáp8. Riêng tại Việt Nam, chỉ tính tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương, các người bệnh mắc bệnh lý tuyến giáp đến khám và điều trị ngày càng tăng với lượt tăng gấp 4 lần chỉ trong vòng 4 năm (20142017). Điều trị bệnh tuyến giáp bằng phương pháp ngoại khoa thường cho kết quả lâu dài và bền vững hơn điều trị nội khoa nên hiện nay nhiều người bệnh thường ưu tiên lựa chọn phương pháp này. Tuy nhiên sau mổ vẫn có thể xảy ra một số biến chứng như suy hô hấp sau mổ, cơn cường giáp kịch phát, nói khàn hoặc mất tiếng sau mổ... Vì vậy can thiệp dinh dưỡng trước và sau mổ đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm biến chứng sau mổ. Để có một chương trình can thiệp dinh dưỡng hợp lý, cần phải xác định chính xác tình trạng dinh dưỡng của các người bệnh phẫu thuật tuyến giáp. Do đó mà chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương” với mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022.
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH THU
THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP TẠI KHOA NGOẠI CHUNG BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2020 - 2022
HÀ NỘI - 2022
Trang 2NGUYỄN THỊ MINH THU
THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP TẠI KHOA NGOẠI CHUNG BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2020 - 2022
Người hướng dẫn khoa học:
THS NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2022
Trang 3nhân y khoa này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quí báu từ các Thầy
cô, các anh chị em và các bạn đồng nghiệp, với lòng kính trọng và biết ơn sâusắc, tôi xin chân thành cảm ơn tới:
ThS Nguyễn Thị Thu Hương– Giảng viên khoa Điều dưỡng hộ sinh,
người đã giúp tôi phát triển ý tưởng, định hướng nghiên cứu ngay từ nhữngngày đầu làm tiểu luận và đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để tôihoàn thành tiểu luận này
Các Quý Thầy, Cô trong Khoa Điều dưỡng - hộ sinh, Trường Đại học Y
Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trongsuốt thời gian học tập, rèn luyện tại nhà trường và đã đóng góp nhiều ý kiến quýbáu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện tiểu luận này
Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo đại học, trường Đại học Y HàNội, Đảng ủy-Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Ngoại Chung
và toàn thể cán bộ của Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã tạo điều kiện cho tôihọc tập, nghiên cứu và hoàn thành tiểu luận
Cuối cùng, tôi xin xin dành trọn tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắcsâu sắc tới cha mẹ, chồng, con anh chị em và bạn bè đồng nghiệp đã luôn giúp
đỡ, động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện giúp tôi trong suốt thời gianhọc tập
Tôi xin ghi nhận những tình cảm quý báu và công lao to lớn đó
Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Sinh viên
Nguyễn Thị Minh Thu
Trang 4- Phòng Quản lý đào tạo đại học, Trường Đại học Y Hà Nội
- Hội đồng chấm tiểu luận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các sốliệu, kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong công trình, tài liệu nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Sinh viên
Nguyễn Thị Minh Thu
Trang 5BMI: Body Mass Index
(Chỉ số khối cơ thể)
(Phương pháp sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng)
(Đánh giá dinh dưỡng tổng thể chủ quan)
Trang 6DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương phẫu thuật các bệnh tuyến giáp 3
1.2 Vai trò của dinh dưỡng đối với người bệnh phẫu thuật 5
1.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 9
1.4 Một số nghiên cứu dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật trên thế giới và tại Việt nam 12
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu 14
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 14
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 14
2.3.3 Các nhóm biến số chỉ số 15
2.3.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin nghiên cứu 17
2.3.5 Thời điểm thu thập số liệu 18
2.3.6 Sai số và biện pháp khắc phục 18
2.4 Xử lý số liệu 19
2.5 Đạo đức nghiên cứu 20
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21
Trang 7thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 25
Chương 4 BÀN LUẬN 29
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 294.2 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tạiBệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 324.3 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng SDD của người bệnh trước phẫuthuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022 35
KẾT LUẬN 38 KHUYẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh 21
Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh của người bệnh trước phẫu thuật 23
Bảng 3.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BMI 24
Bảng 3 4 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và tuổi 25
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và giới 25
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và dân tộc 26
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và nghề nghiệp 26
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và khu vực sống 27
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và trình độ học vấn 27
Bảng 3 10 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và bệnh lý đi kèm 27
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và chẩn đoán ung thư 28
Bảng 3 12 Mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và thời gian mắc bệnh 28
Biểu đồ 3 1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo SGA 24
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng là vấn đề thường gặp ở những người bệnh nhập viện.Trên thế giới, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở những người bệnh nhập viện có thể lêntới 50%, phụ thuộc vào quần thể và tiêu chuẩn đánh giá1 Tại Việt Nam, tỷ lệsuy dinh dưỡng bệnh viện khá cao, có thể lên tới 78,9% ở người bệnh suythận mạn giai đoạn cuối Người bệnh bị suy dinh dưỡng phải chịu nhiều hậuquả như thời gian nằm viện kéo dài, tăng sử dụng thuốc, tăng tỷ lệ nhiễmkhuẩn và tử vong
Thành công của cuộc phẫu thuật không chỉ quyết định bởi việc chẩnđoán, chỉ định phẫu thuật đúng, phẫu thuật viên giỏi và điều kiện trang thiết bịđầy đủ Bên cạnh đó tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước phẫu thuậtcũng có vai trò quan trọng không kém Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡngtrước phẫu thuật là cần thiết giúp phân loại sớm tình trạng dinh dưỡng và cónhững can thiệp dinh dưỡng kịp thời cho người bệnh2 Tại Việt Nam, đã cónhiều nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng Tuy nhiên đa phần nghiên cứu chủyếu về mảng dinh dưỡng cộng đồng mà chưa tập chung vào dinh dưỡng chongười bệnh nằm viện đặc biệt là người bệnh ngoại khoa trước mổ3
Trên lâm sàng có nhiều cách để đánh giá tình trạng dinh dưỡng như dùngcác chỉ số nhân trắc (BMI, bề dày lớp mỡ dưới da, vòng cánh tay), các thangđiểm đánh giá như thang đánh giá dinh dưỡng tổng thể chủ quan - SGA, thangsàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng - NRS hay các xét nghiệm cận lâm sàng(Albumin, prealbumin, transferrin) Mỗi phương pháp đều có ưu và nhượcđiểm riêng Một trong những công cụ dễ áp dụng là đánh giá dinh dưỡng tổngthể chủ quan (Subbjective Global Assessment: SGA) Từ năm 1984, SGA đãđược Detsky và cộng sự xây dựng và phát triển 4 Những nghiên cứu so sánhcho thấy SGA có hiệu quả trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh
Trang 10phẫu thuật tuyến giáp Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra công cụ này cógiá trị và đáng tin cậy5,6 Đây là một phương pháp đơn giản, rẻ tiền, dễ sửdụng, dễ huấn luyện và có thể áp dụng đại trà trên lâm sàng với kết quả đáng tincậy Đó là lý do phương pháp này cần được mở rộng sử dụng trong thực tế lâmsàng7
Trên thế giới hiện nay có khoảng 200 triệu người mắc bệnh tuyến giáp8.Riêng tại Việt Nam, chỉ tính tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương, các ngườibệnh mắc bệnh lý tuyến giáp đến khám và điều trị ngày càng tăng với lượttăng gấp 4 lần chỉ trong vòng 4 năm (2014-2017) Điều trị bệnh tuyến giápbằng phương pháp ngoại khoa thường cho kết quả lâu dài và bền vững hơnđiều trị nội khoa nên hiện nay nhiều người bệnh thường ưu tiên lựa chọnphương pháp này Tuy nhiên sau mổ vẫn có thể xảy ra một số biến chứng nhưsuy hô hấp sau mổ, cơn cường giáp kịch phát, nói khàn hoặc mất tiếng saumổ Vì vậy can thiệp dinh dưỡng trước và sau mổ đóng vai trò quan trọngtrong việc làm giảm biến chứng sau mổ Để có một chương trình can thiệpdinh dưỡng hợp lý, cần phải xác định chính xác tình trạng dinh dưỡng của cácngười bệnh phẫu thuật tuyến giáp Do đó mà chúng tôi thực hiện nghiên cứu
“Thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương” với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương phẫu thuật các bệnh tuyến giáp
1.1.1 Dịch tễ học
Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 200 triệu người mắc bệnhtuyến giáp Rối loạn tuyến giáp có thể gặp ở mọi lứa tuổi trên cả hai giới Tuynhiên tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới gấp 10 lần nam giới Có đến 50% người mắcbệnh không được chẩn đoán do triệu chứng bệnh không đặc trung, dễ nhầmlẫn với các bệnh lý khác cũng như nhầm lẫn với những biểu hiện thường ngàycủa cuộc sống bận rộn Theo dữ liệu báo cáo của trung tâm thông kê y họcHoa Kỳ năm 2006, bệnh lý tuyến giáp nằm trong hai bệnh thường gặp nhấtvới 21,3 trường hợp phát hiện mới/1 triệu dân/năm, chỉ đứng sau các bệnh cơxương khớp với 33 trường hợp mới/1 triệu dân/năm9
Tại Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á với dân số 97triệu người, các số liệu thống kê dịch tễ về bệnh lý tuyến giáp vẫn rất hạn chế,vẫn chưa có nghiên cứu nào về gánh nặng ung thư tuyến giáp và xu hướngtuổi, giới, mô học khối u Tuy nhiên chỉ tính riêng tại Bệnh viện Nội tiết trungương, các người bệnh mắc bệnh lý tuyến giáp đến khám và điều trị tại bệnhviện ngày càng tăng với lượt khám các bệnh lý tuyến giáp tăng hơn 6 lần chỉtrong vòng 5 năm qua (2015-2019) Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỷ
lệ mắc ung thư tuyến giáp cao Theo GLOBOCAN 2008, ung thư tuyến giápđứng hàng thứ 9 trong số các ung thư nữ giới với khoảng hơn 160.000 ca mớimắc hàng năm đứng hàng thứ 20 trong số các loại ung thư ở nam giới với gần50.000 ca mới mắc hằng năm và đứng hàng thứ 17 chung cho cả hai giới10 Tỷ
lệ mắc khoảng 3/100.000 dân ở cả hai giới và tỷ lệ nam/nữ là 1/311
Trang 121.1.2 Phân loại bệnh lý tuyến giáp
Bướu giáp đơn thuần: Bướu giáp là một bệnh khá phổ biến trên thế giới
cũng như ở Việt Nam12,13 Trong bướu giáp đơn thuần có bướu giáp lan toả,phình tuyến giáp và bướu giáp nhân, nhưng phần lớn bướu giáp đơn thuần làlành tính, chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ chứ không gây nguy hại đến sức khỏe
Về điều trị, có 2 phương pháp là: phẫu thuật và không phẫu thuật Trong đóphẫu thuật giữ vai trò then chốt góp phần quan trọng giải quyết triệt để bướu,đặc biệt là trong bướu giáp đơn nhân lành tính, là tình trạng tuyến giáp phình
to nhưng không có rối loạn hoạt động của tuyến giáp11 14
Bướu giáp nhiễm độc: là một căn bệnh nội tiết thường gặp, căn bệnh này
do các yếu tố phản ứng tự miễn của cơ thể từ đó gây nên sự tăng tiết của tếbào tuyến giáp mà sinh ra bệnh Tuyến giáp phình to là do tiết ra quá nhiềunội tiết tố tuyến giáp, làm tăng biểu hiện chuyển hoá gây bệnh Đây là bướuđộc nhưng không phải ung thư Bướu cường giáp bắt buộc phải điều trị thuốctrước nếu có kèm bướu giáp nhân sẽ mổ cắt bướu giáp nhân Còn với bướugiáp lan toả, điều trị nội khoa kéo dài Với những người bệnh có bướu to sauđiều trị tạm ổn sẽ phẫu thuật Phương án điều trị tốt nhất là: thuốc – phẫu thuật –
xạ trị bằng i-ốt phóng xạ Cần điều trị nội khoa trước, sau mới mổ Sau mổ, chế độdinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến việc điều trị bệnh Riêng basedow thì khôngđược dùng muối i-ốt, vì sẽ làm tăng nội tiết tố tuyến giáp, bệnh nặng thêm Vớibướu cường giáp thì dinh dưỡng cần phải tuân thủ chặt chẽ theo đúng chỉ dẫn củathầy thuốc15
Ung thư tuyến giáp: là bệnh ác tính thường gặp, chiếm 90% người bệnh
ung thư tuyến nội tiết và khoảng 1% các loại ung thư, tỷ lệ tử vong chiếm63% trong số tử vong do ung thư tuyến nội tiết16,17, 18
Trang 131.1.3 Chỉ định phẫu thuật tuyến giáp
Phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tuyến giáp tùy thuộc vào tìnhtrạng cụ thể của người bệnh Các trường hợp phổ biến được chỉ định phẫuthuật tuyến giáp bao gồm:
Ung thư tuyến giáp : Ung thư là lý do phổ biến nhất cho việc cắt bỏ
tuyến giáp;
Bướu cổ (sự mở rộng của tuyến giáp nhưng không phải ung thư): Cắt
bỏ toàn bộ hoặc một phần tuyến giáp là 1 trong những lựa chọn khi bướu cổlớn gây khó chịu, khó thở, khó nuốt hoặc trong trường hợp bướu cổ gây racường giáp
Cường giáp là tình trạng tuyến giáp của bạn sản xuất quá nhiều
hormone thyroxine
Các nhân giáp không xác định hoặc nghi ngờ: Một số nhân giáp
không thể được xác định là ung thư hay không phải ung thư sau khi xétnghiệm sinh thiết Các bác sĩ có thể khuyến nghị những người có các nhân
này nên phẫu thuật cắt tuyến giáp nếu các nhân có nguy cơ ung thư cao hơn
19, 20
1.2 Vai trò của dinh dưỡng đối với người bệnh phẫu thuật
1.2.1 Vai trò của dinh dưỡng đối với người bệnh phẫu thuật
Chất dinh dưỡng là những chất hay hợp chất hóa học có vai trò duy trì
và phát triển sự đống, hoạt động của cơ thể thông qua quá trình trao đổi chất
và thường được cung cấp qua đường ăn uống Đối với con người, chất dinhdưỡng được cung cấp chính qua các bữa ăn mỗi ngày Chất dinh dưỡng baogồm các chất sinh nặng lượng và không sinh năng lượng Chất sinh nănglượng gồm protid, lipid và glucid Các chất không sinh năng lượng bao gồmcác vitamin, các chất khoáng và nước11, 21
- Dinh dưỡng có ba mục đích chính:
Trang 14- Tạo điều kiện thuận lợi để có thể có sức khỏe tốt
- Phòng ngừa các bệnh liên quan tới ăn uống
- Khôi phục sức khỏe sau thời kỳ bệnh tật, thương tích
Trung bình mỗi ngày một người cần nạp 118g protid vào cơ thể Chấtprotid đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh lý của cơ thể như tiêuhóa thức ăn, vận chuyển oxy, hoạt động của tim, hoạt động của não bộ Protid
có nhiều trong thức ăn từ nguồn động vật như thịt, cá, sữa, trứng và từ cácnguồn thực vật như các loại đậu, đặc biệt là đậu tương, lạc, vừng Protid đượchấp thụ vào cơ thể dưới dạng các acid amin, là thành phần chính của cáckháng thể giúp cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, là nguyên vật liệu xâydựng và tái tạo các tổ chức trong cơ thể Đồng thời protid cũng là thành phầncủa các men và các nội tiết tố rất quan trọng trong quá trình chuyển hóa của
cơ thể
Glucid có vai trò chuyển hóa quan trọng và là nguồn cung ứng nănglượng chính cho cơ thể Nguồn thức ăn chứa nhiều glucid nhất là các hạt ngũcốc và hạt họ đậu Nguồn glucid thường đi kèm theo một lượng tương ứngvới các vitamin nhóm B vì vậy các loại đường ngọt, gạo xay trắng quá dễthiếu vitamin B1
Chất béo giúp cho cơ thể hấp thu các vitamin, đặc biệt là các vitamintan trong dầu như vitamin A, D, E, K và đóng vai trò quan trọng trong quátrình làm đông máu tự nhiên Lipid cũng là nguồn cung cấp năng lượng cho
cơ thể Chỉ cần 12-25g lipid/ngày là có thể đáp ứng được nhu cầu cơ thể.Nguồn cung cấp chất béo cho cơ thể là mỡ động vật và dầu thực vật Nếutrong mỡ động vật có nhiều cholesterol thường ứ đọng gây xơ cứng thànhmạch máu thì trong dầu thực vật lại có nhiều acid béo không no, có khả năngchống lại sự phát triển của bệnh xơ vữa động mạch
Trang 15Vitamin là chất hữu cơ cần thiết, tuy số lượng ít nhưng chúng rất quantrọng và bắt buộc phải có trong thức ăn.
Bên cạnh đó yếu tố vi lượng còn tham gia vào các quá trình chuyểnhóa Do đó yếu tố vi lượng là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn hằngngày để thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể 22
Trong các bệnh lý ngoại khoa dinh dưỡng đóng vai trò hỗ trợ quantrọng ở các giai đoạn trước, trong và sau phẫu thuật nhằm giúp người bệnhvượt qua được các cuộc phẫu thuật khi mất máu và mất sức lực trong phẫuthuật
- Dinh dưỡng tốt kích thích quá trình phục hồi sau phẫu thuật nhanh hơn
- Giảm biến chứng của cuộc phẫu thuật
- Giảm bớt tỷ lệ tử vong xung quanh và sau khi phẫu thuật 23
1.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho người bệnh trước phẫu thuật
Thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào giai đoạn cần cấp cứu và tìnhtrạng dinh dưỡng của người bệnh Chế độ ăn cần tăng cường chất dinh dưỡngcho người bệnh đủ sức chịu đựng cuộc phẫu thuật người bệnh có tình trạngdinh dưỡng bình thường cần đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng và nhu cầu đạmtheo tình trạng bệnh lý Trong trường hợp lịch phẫu thuật 7-14 ngày ngườibệnh cần chú ý tư vấn dinh dưỡng và chuẩn bị tâm lý tránh lo lắng quá mứclàm tình trạng dinh dưỡng của người bệnh bị ảnh hưởng tiêu cực Do vậy, đánhgiá tình trạng dinh dưỡng cần được thực hiện trước các cuộc phẫu thuật 24.Đối với người bệnh phải mổ cấp cứu thì đối tượng người bệnh suy dinhdưỡng nặng cần hỗ trợ càng sớm càng tốt, chọn lựa phương pháp hỗ trợ dinhdưỡng cho đối tượng theo thứ tự ưu tiên đường miệng, ăn bổ sung, đườngruột, đặt uống sonde, đường tĩnh mạch Cần bổ sung vitamin và khoáng chấtkhi hỗ trợ dinh dưỡng5,6
Trang 16Đối với người bệnh có các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng như đáitháo đường, tăng huyết áp, béo phì nên được kiểm soát ổn định các bệnh lý vàchế độ dinh dưỡng hỗ trợ để tăng hiệu quả hồi phục sớm sau phẫu thuật 25.Khẩu phần ăn cân đối và cung cấp đầy đủ năng lượng góp phần quantrọng đối với việc điều trị cũng như tăng cường thể trạng cho người bệnhtrước phẫu thuật Do đó, một khẩu phần ăn tốt cần đảm bảo mục tiêu:
Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người bệnh
Giúp tăng cường tình trạng miễn dịch cho người bệnh
Nguyên tắc chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đối với người bệnh trước khi phẫu thuật sẽ phụ thuộcvào tình trạng dinh dưỡng người bệnh: Bình thường, suy dinh dưỡng, béophì hay các bệnh lý kèm theo như đái tháo đường, tăng huyết áp 23,26
1.2.3 Nhiệm vụ của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh
Theo thông tư số: 31/2021/TT-BYT ngày 28 tháng 12 năm 2021 về quyđịnh hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện, nhiệm vụ của điều dưỡng 27 là:
Tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc, theodõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện
Chăm sóc, giao tiếp với người bệnh với thái độ ân cần và thông cảm.Động viên người bệnh, kịp thời giải đáp những băn khoăn, thắc mắc trong quátrình điều trị và chăm sóc
Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh hằng ngày gồm vệ sinh răngmiệng, vệ sinh thân thể, hỗ trợ đại tiện, tiểu tiện và thay đổi đồ vải
Phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá, theo dõi tình trạng dinh dưỡng
và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh Đối với người bệnh có chỉ định ănqua ống thông phải do điều dưỡng viên trực tiếp thực hiện
Hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng sớm cho ngườibệnh
Trang 17Hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện chuẩn bị cho người bệnh trước phẫuthuật, thủ thuật theo yêu cầu của chuyên khoa và của bác sĩ điều trị.
Dùng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ điều trị Kiểm tra, hướng dẫn,giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị Thực hiện 5 đúng khi dùng thuốccho người bệnh Theo dõi, phát hiện các tác dụng phụ, tai biến sau dùng thuốc
và báo cáo kịp thời cho bác sĩ điều trị
Người bệnh ở giai đoạn hấp hối được bố trí buồng bệnh thích hợp.Thông báo, giải thích, động viên, an ủi người bệnh và người nhà người bệnh.Khi người bệnh tử vong cần phối hợp với hộ lý thực hiện vệ sinh tử thi vàthực hiện các thủ tục cần thiết
Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng theo quy định, quy trình kỹ thuậtphù hợp, cập nhật Phải tuân thủ quy trình kỹ thuật chuyên môn, kỹ thuật vôkhuẩn
Phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá, phân cấp chăm sóc và thựchiện chăm sóc, theo dõi phù hợp cho từng người bệnh Nếu phát hiện ngườibệnh có dấu hiệu bất thường, phải có ngay hành động xử trí phù hợp trongphạm vi hoạt động chuyên môn và báo cáo cho bác sĩ điều trị để xử trí kịpthời
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, bảo đảm
an toàn, tránh nhầm lẫn cho người bệnh trong việc dùng thuốc, phẫu thuật vàthủ thuật
Ghi chép hồ sơ bệnh án: các thông tin về người bệnh chính xác vàkhách quan Ghi đầy đủ, kịp thời diễn biến bệnh và các can thiệp điều dưỡng.Lưu trữ hồ sơ bệnh án theo quy định 27 -30
1.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là xác định chi tiết, đặc hiệu và toàndiện giúp phân loại tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh như thừa cân, béo
Trang 18phì, bình thường hay suy dinh dưỡng, các thành phần của cơ thể (khối cơ, mỡ,phù ) mà còn giúp ước lượng được tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng (như bằngđiều trị khẩu phần ăn trước nhập viện), tình trạng dụng nạp và tiêu hóa thức
ăn Quá trình đánh giá tình trạng dinh dưỡng sẽ đưa ra kế hoạch chăm sócdinh dưỡng cho người bệnh và cũng là cơ sở cho việc theo dõi các can thiệp
về dinh dưỡng cho người bệnh, gợi ý để chỉ định thực hiện thêm các xétnghiệm cần thiết Việc phát hiện sớm tình trạng thiếu dinh dưỡng giúp xâydựng chiến lược hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời hơn là khi người bệnh rơi vào tìnhtrạng suy kiệt dinh dưỡng quá nặng mới can thiệp31
1.3.1 Nhân trắc học (BMI)
Nhân tắc học dinh dưỡng có mục đích xác định/đo lường các biến đổi
về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Số đonhân trắc được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, để theo dõi thayđổi về tình trạng và tình trạng mất khối cơ Tuy nhiên không đánh giá được sựthay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn 32
Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và
có thể điều tra trên một mẫu lớn, trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Cóthể khai thác được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ vàxác định được mức độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phương pháp nhân trắc họccũng có một vài nhược điểm như: Không đánh giá được sự thay đổi về tìnhtrạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếuhụt dinh dưỡng đặc hiệu
Nhân trắc học là kết quả tổng hợp của yếu tố di truyền và môi trườngbên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng Có thể chia racác nhóm kích thước nhân trắc sau:
Khối lượng cơ thể
Kích thước về độ dài
Trang 19Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về nặng lượng và protein, thông qua các
mô mềm bề mặt như lớp mỡ dưới da và cơ 23
1.3.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo phương pháp tổng thể chủ quan
Phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA- Subjective GlogalAssessment) được Denstky xây dựng và công bố năm 1985, SGA là một công
cụ để đánh giá tình trạng sinh dưỡng của người bệnh lúc nhập viện trong vòng
48 giờ Đây là phương pháp phân loại chủ quan người bệnh có dinh dưỡngtốt, suy dinh dưỡng vừa và suy dinh dưỡng nặng dựa vào các kết quả thay đổicân nặng, khẩu phần, các triệu chứng dạ dày-ruột, các thay đổi chức năng vàcác dấu hiệu lâm sàng liên quan đến thiếu dinh dưỡng Các nghiên cứu chorằng SGA là một kỹ thuật lâm sàng đơn gian, không tốn kém, phương phápđáng tin cậy nhất và hiệu quả để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và suy dinhdưỡng, ngoài ra nó còn tiên đoán các biến chứng và tử vong liên quan đếndinh dưỡng SGA hiện nay là công cụ tốt để đánh giá tình trạng của ngườitrưởng thành trong nhiều mặt bệnh khác nhau như trong: phẫu thuật, bệnhthận, bệnh xơ gan, ung thư, bệnh nặng 5, 6
SGA xác định suy dinh dưỡng tốt hơn và độ nhạy cao khi so sánh vớinhiều chỉ số sinh hóa (Albumin) số đo nhân trắc và thành phần cơ thể
SGA đánh giá thay đổi về cân nặng, những biểu hiện của tình trạngdinh dưỡng kém (chán ăn, buồn nôn, nôn….) những đánh giá về lâm sàng(mất lớp mỡ dưới da, teo cơ, phù, cổ chướng) SGA là công cụ đánh giákhông tốn kém, có tính nhạy, độ tin cậy và đặc hiệu cao
SGA được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới và sử dụng rộng rãitrong nhiều bệnh viện, nhiều loại hình chăm sóc y tế
SGA là một kỹ thuật kết hợp dữ liệu từ các khía cạnh chủ quan vàkhách quan SGA có 2 phần đánh giá:
Trang 20Phần 1: kiểm tra bệnh sử (thay đổi cân nặng, chế độ ăn uống, các triệuchứng tiêu hóa, và những thay đổi chức năng)
Phần 2: Kiểm tra lâm sàng (mất lớp mỡ dưới da, teo cơ, phù mắt cáchân và cổ chướng) giúp sàng lọc dinh dưỡng khi người bệnh vào viện 5,6
1.4 Một số nghiên cứu dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật trên thế giới và tại Việt nam
1.3.1 Trên thế giới
Năm 2010, Grarth AK và cộng sự nghiên cứu trên 95 NB phẫu thuậttiêu hóa, cho thấy tỷ lệ SDD ở NB là 48% trong đó mức độ trung bình là32%, mức độ nặng là 16%33
Barbosa và cộng sự nghiên cứu SDD ở NB trước phẫu thuật ung thưđại trực tràng Tỷ lệ SDD theo SGA là 36,4% Tỷ lệ SDD là cao hơn đáng kể
ở phụ nữ và NB có trên 2 triệu chứng ung thư đại trực tràng34
Nghiên cứu của Beaton và cộng sự cho thấy 23% NB SDD mức độ nhẹđến trung bình và 1% NB SDD nặng tại thời điểm nhập viện35
1.3.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Lưu Ngân Tâm năm 2011 trên người bệnh trước mổ tạikhoa gan mật tụy bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỷ lệ người bệnh SDD trướcphẫu thuật là 25,8% theo BMI và 56,7% theo SGA – B và SGA – C, 18,3%với Albumin huyết thanh dưới 35 g/L36
Nghiên cứu của Bùi Thị Phương năm 2017 trên người bệnh trước phẫuthuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho kết quả 23,2%người bệnh SDD theo BMI, 20,7% người bệnh SDD theo MUAC, 56,1%người bệnh SDD theo SGA trong đó SDD mức độ vừa là 37,8%, mức độ nặng
là 18,3% 23,9% NB có Albumin <35g/L37
Nghiên cứu của Trần Thị Trà Giang năm 2019 trên NB trước phẫu thuậttuyến giáp có 6,3% NB SDD (SDD độ 1 là 4,7%, SDD độ 2 là 1,3%, SDD độ
Trang 213 là 0,3%) Theo SGA có 31,3% NB SDD Thời gian mắc bệnh càng lâu thì tỷ
lệ SDD càng cao38
Nghiên cứu của Đoàn Duy Tân khoảng 55,1% NB trước phẫu thuật ởbệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y dược Hồ Chí Minh
có nguy cơ SDD theo SGA trong đó 32,9% SGA B và 22,3% SGA C39
Nghiên cứu của Phạm Văn Năng tại trường Đại học Y Dược Cần Thơcho thấy 5,7% NB phẫu thuật ngoại tổng quát có tình trạng SDD trước mổ và
tỷ lệ xảy ra biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật bụng ở nhóm người bệnhsuy dinh dưỡng cao hơn nhóm người bệnh không có SDD40
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh trên 18 tuổi nhập viện Nội Tiết Trung Ương để phẫu thuậttuyến giáp từ 1/8/2022 đến 30/8/2022
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh phẫu thuật có chuẩn bị
- Người bệnh có chỉ định phẫu thuật tuyến giáp
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh đang mắc các rối loạn tâm thần
- Người bệnh phẫu thuật tuyến giáp cấp cứu
- Người bệnh không thể thu thập được các thông tin, số liệu (câm, điếc,suy giảm trí tuệ…)., không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có các khiếm khuyết ảnh hưởng đến nhân trắc gù vẹo cộtsống, không đứng được
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: 31/5/2022 đến 15/10/2022
Địa điểm nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Ngoại chung Bệnh việnNội tiết Trung ương
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu
a Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ướclượng một tỷ lệ trong quần thể:
Trang 23Trong đó:
- n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết;
- α: mức ý nghĩa thống kê
(Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, ta có Z (1 – α/2) = 1,96);
- p: tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh trước phẫu thuật của mộtnghiên cứu tương tự Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Trà Giangnăm 2019 trên NB trước phẫu thuật tuyến giáp có 6,3% NB SDD38.p=0,063
- d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tham số mẫu và tham số quần thể(d=0,05 với mong muốn độ chính xác là 95%)
Thay vào công thức trên, n= 91
b Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuậntiện Trong thời gian nghiên cứu, chọn những NB đủ tiêu chuẩn tham gianghiên cứu cho đến khi đủ cỡ mẫu là 91 NB
2.3.3 Các nhóm biến số chỉ số
a Đặc điểm chung của NB
- Giới tính: Tỷ lệ % NB là nam/nữ
- Tuổi: Tỷ % NB theo nhóm tuổi 18 - ≤ 30, 31 - ≤ 40,41- ≤ 50,51- ≤ 60,≥ 61
- Dân tộc: Tỷ lệ NB theo dân tộc Kinh/Khác
- Khu vực sống: Tỷ lệ % NB ở thành thị/nông thôn/ miền núi
- Nghề nghiệp: Tỷ lệ NB làm nội trợ/ nghỉ hưu/mất sức/lao động tự do/ công
nhân/ cán bộ viên chức/ nông dân/ sinh viên/ khác
- Trình độ học vấn: Tỷ lệ NB theo không/giáo dục phổ thông/trung cấp/cao
đẳng/đại học/sau đại học
- Có chẩn đoán bệnh ung thư: Tỷ lệ NB có chẩn đoán ung thư/không ung thư
- Phương pháp phẫu thuật: Tỷ lệ % NB mổ mở/ mổ nội soi
Trang 24- Chỉ định phẫu thuật: Tỷ lệ % NB cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp/ cắt 1 thùy
tuyến giáp/ cắt bán phần hai thùy tuyến giáp/nạo vét hạch cổ/cắt eo tuyếngiáp
- Bệnh mạn tính kèm theo: Tỷ lệ NB có/không có bệnh mạn tính kèm theo
- Thời gian nằm viện: Tỷ lệ % NB <5 ngày/từ 5 – 10 ngày/ >10 ngày
b Thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022
- Tình trạng dinh dưỡng theo SGA: Tỷ lệ NB SGA-A/SGA-B
- Tình trạng dinh dưỡng theo BMI: Tỷ lệ NB thừa cân - béo phì/Bình
thường/SDD độ 1/SDD độ 2/ SDD độ 3
c Một số yếu tố liên quan đến thực trạng dinh dưỡng ở người bệnh trước phẫu thuật tuyến giáp tại khoa Ngoại chung Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2022.
- Phương pháp phẫu thuật
- Có chẩn đoán bệnh ung thư
- Chỉ định phẫu thuật
- Bệnh mạn tính kèm theo
- Thời gian nằm viện
Trang 252.3.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin nghiên cứu
a Cách tiến hành: Nghiên cứu được tiến hành theo hướng dẫn của WHO:
Bước 1: Phỏng vấn và thu thập thông tin từ ĐTNC
Bước 2: Đo các chỉ số nhân trắc bằng các dụng cụ đo
Bước 3: Lấy các chỉ số xét nghiệm từ hồ sơ bệnh án
b Các kỹ thuật và phương pháp sử dụng
Phỏng vấn: Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu theo bộ câu hỏi được
thiết kế sẵn Bộ câu hỏi được tham khảo từ các nghiên cứu của Trần ThịTrà Giang năm 2019 trên NB trước phẫu thuật tuyến giáp có Cronbachalpha là 0,81 38
Đánh giá TTDD của người bệnh nằm viện:
Công cụ đánh giá tổng thể chủ quan (Subjective Global Assessment SGA) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh Nội dungđánh giá theo 3 mức A, B, C dựa vào:
-+ Thay đổi cân nặng
+ Thay đổi khẩu phần ăn
+ Có các triệu chứng dạ dày ruột kéo dài trên 2 tuần
+ Thay đổi chức năng vận động
+ Các bệnh mắc phải và ảnh hưởng của các stress chuyển hóa
+ Các dấu hiệu lâm sàng dinh dưỡng (mất lớp mỡ dưới da, phù, cổtrướng)
Người bệnh được đánh giá phân theo 3 loại: dinh dưỡng tốt, suy dinhdưỡng nhẹ và trung bình, suy dinh dưỡng nặng
+ Dinh dưỡng tốt: SGA mức độ A
+ Suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình: SGA mức độ B
+ Suy dinh dưỡng nặng: SGA mức độ C
Trang 26Bảng 2 1 Đánh giá theo phương pháp SGA 23
thường Giảm cân Nằm tại giường
thường
Giảm lớp mỡdưới da, khối cơ Phù, cổ chướng
2.3.5 Thời điểm thu thập số liệu
Ngày trước PT, sau khi NB được bác sỹ và điều dưỡng tiếp đón hoànthiện xong hồ sơ bệnh án vào khoa, trong khoảng thời gian đảm bảo thuận lợicho đối tượng nghiên cứu
Tại Khoa Ngoại chung của BV Nội tiết trung ương, nhóm nghiên cứu
đã tiếp cận đối tượng đích là người bệnh trước PT đang sử dụng dịch vụ tạikhoa dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ
NCV, ĐTV đối chiếu với tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ đốitượng nghiên cứu, lập danh sách người bệnh và chọn thời gian thuận lợi, phùhợp với người bệnh (Ngày trước PT, sau khi NB được bác sỹ và điều dưỡngtiếp đón hoàn thiện xong hồ sơ bệnh án vào khoa, trong khoảng thời gian đảmbảo thuận lợi cho đối tượng nghiên cứu)
2.3.6 Sai số và biện pháp khắc phục
a Sai số
+ Sai số trả lời: Sai số này đã từng xảy ra trong quá trình thu thập do đốitượng nghiên cứu không hiểu nhưng không trao đổi với điều tra viên
Trang 27+ Sai số ghi chép: Thông tin do đối tượng ghi thiếu thông tin, đánh saiđáp án, không điền đủ thông tin.
+ Sai số khi nhập liệu: Nhân viên nhập liệu bỏ sót phiếu, nhầm lẫn giữacác câu hỏi và các phiếu
+ Các thông tin định nghĩa các vấn đề nghiên cứu chưa rõ ràng, gây khóhiểu cho đối tượng
b Cách khắc phục sai số
+ Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi, xây dựng và chỉnh sửa cho phù hợpvới nội dung nghiên cứu, đảm bảo ngắn gọn, đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu.+ Giải thích kỹ về mục đích và nội dung nghiên cứu, động viên đốitượng nghiên cứu tự nguyện tham gia, hợp tác, tạo sự tương tác cao trongnghiên cứu
+ Tập huấn kỹ cho các ĐTV, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá trướckhi chính thức tiến hành Nhằm đảm bảo ĐTV có thể hướng dẫn, giải thíchcho đối tượng nghiên cứu hiểu và trả lời đúng
+ Việc nhập liệu cũng như giám sát nhập liệu được tiến hành ngay saukhi số liệu được thu thập nhằm đảm bảo tính chính xác và có thể khắc phụcngay được những sự cố gặp phải trong quá trình nhập liệu
Phân tích mối liên quan:
Sử dụng các phép kiểm định mối tương quan Pearson và T-test để kiểmđịnh sự liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng trước PT với các thông tin của
NB Mọi sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05 với khoảng
Trang 28tin cậy 95%
2.5 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Ban Lãnh đạo Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
- Trước khi tiến hành nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ vềmục tiêu và nội dung nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sựđồng ý của đối tượng nghiên cứu
- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được bảo mật, các số liệu,thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, không phục vụ chomục đích nào khác
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của 93 NB trước phẫu thuật tạikhoa Ngoại Chung, Bệnh viện Nội tiết trung ương từ 31/5/2022 đến15/10/2022, chúng tôi thu được một số kết quả sau:
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của NB
Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh
Đặc điểm nhân khẩu học Số người (n) Tỷ lệ (%)