TRẦN NGỌC THÔNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ BÕ SÁT - ẾCH NHÁI TẠI KHU BẢO TỒN CÁC LOÀI HẠT TRẦN QUÝ HIẾM NAM ĐỘNG, TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP HÀ NỘI, 2017... T
Phân bố các loài Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bò sát và ếch nhái phân bố khắp từ Bắc vào Nam, nhưng sự đa dạng lại cao hơn ở các tỉnh miền núi so với đồng bằng Địa hình nước ta với 3/4 diện tích là đồi núi, bị chia cắt bởi các dãy núi lớn như Trường Sơn và Hoàng Liên Sơn và mạng lưới sông Hồng, sông Mã, sông Cửu Long đã hình thành nhiều loài đặc hữu như Cá Cóc Tam Đảo và Cóc Mày Phê Sự phân bố loài còn phụ thuộc vào cấu tạo cơ thể của từng loài: sống trên mặt đất thường có chi dài, đuôi nhỏ, chạy nhanh và leo trèo tốt (họ thằn lằn); sống trong hang hốc, bụi rậm thì chi nhỏ hoặc không có, thân dài và thường uốn mình để vận động (rắn, trăn); sống trên cây có chân có giác bám, còn sống dưới nước là có màng bơi Ví dụ cho môi trường sống khác nhau của một số họ gồm: sống ở nước biển thuộc họ Vích, nước lợ thuộc họ cá sấu hoa cải, sống ở nước ngọt thuộc họ ba ba, sống trên cạn thuộc họ thằn lằn bóng, sống trên cây thuộc họ rắn lục, và sống cả trên cạn lẫn dưới nước thuộc họ rắn nước.
1.4 Lƣợc sử nghiên cứu khu hệ Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động
Ở Khu bảo tồn các loài hạt trần quý Nam Động, huyện Quan Hóa, cho đến nay chỉ có duy nhất một chương trình điều tra hệ động thực vật được thực hiện bởi Ngô Xuân Nam và cộng sự vào năm 2013 Báo cáo kết quả của chương trình điều tra ghi nhận 23 loài thú thuộc 11 họ và 5 bộ; trong đó có nhiều loài động vật quý hiếm như Khỉ vàng (Macaca mulatta), Gấu ngựa (Ursus thibetanus) và Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) [10].
Hiện nay chưa có cuộc điều tra đầy đủ về khu hệ bò sát và ếch nhái cũng như sự phân bố của các loài tại khu bảo tồn, khiến thông tin về thành phần loài, phân bố và các mối đe dọa đối với chúng còn thiếu Nghiên cứu này bổ sung cơ sở dữ liệu về khu hệ bò sát, ếch nhái và đề xuất các giải pháp bảo tồn, nhằm bảo vệ đa dạng sinh học tại khu bảo tồn nói chung và khu hệ bò sát, ếch nhái nói riêng Kết quả sẽ hỗ trợ quản lý bảo tồn, đánh giá rủi ro và nâng cao hiểu biết về hệ sinh thái của khu bảo tồn.
Lược sử nghiên cứu khu hệ Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định thành phần loài và các yếu tố tác động tới khu hệ Bò sát và ếch nhái ở khu bảo tồn Nam Động nhằm làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này Nghiên cứu cho thấy sự đa dạng và phân bố của Bò sát, ếch nhái chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, cấu trúc thảm thực vật và áp lực khai thác Trên cơ sở kết quả, đề xuất các biện pháp quản lý và bảo tồn phù hợp để tăng cường năng lực bảo vệ hệ đa dạng của khu bảo tồn Nam Động, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững của nguồn tài nguyên này.
- Xác định được thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động
- Xác định được các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp quý hiếm
- Xác định được phân bố của bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Xác định được các mối đe dọa đến khu hệ Bò sát ,ếch nhái tại KBT
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát - Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần loài Bò sát, ếch nhái ở khu bảo tồn Nam Động
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu các yếu tố đe dọa đến khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định thành phần loài và các yếu tố tác động đến khu hệ bò sát và ếch nhái tại khu bảo tồn Nam Động là cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này Nghiên cứu cho thấy đa dạng loài và các yếu tố sinh thái — như khí hậu, môi trường đất đai, nguồn thức ăn, cạnh tranh và áp lực khai thác — ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bổ và sự tồn tại của bò sát, ếch nhái trong khu vực Các kết quả này giúp xây dựng chiến lược quản lý bảo tồn phù hợp, tăng cường năng lực sinh học và đảm bảo nguồn tài nguyên động vật lưỡng cư này được sử dụng bền vững tại Nam Động.
- Xác định được thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động
- Xác định được các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp quý hiếm
- Xác định được phân bố của bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Xác định được các mối đe dọa đến khu hệ Bò sát ,ếch nhái tại KBT
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát - Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần loài Bò sát, ếch nhái ở khu bảo tồn Nam Động
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu các yếu tố đe dọa đến khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
Khu hệ Bò sát, ếch nhái hiện có trong khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa
Phạm vi nội dung này tập trung vào nghiên cứu đặc điểm khu hệ bò sát và ếch nhái tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa Nhiệm vụ chính là mô tả đa dạng loài, phân loại, phân bố và thói quen sinh thái của bò sát và ếch nhái; đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sự phân bố và sự tồn tại của chúng trong khu bảo tồn Phương pháp thực hiện bao gồm khảo sát thực địa, ghi nhận tại hiện trường, thu thập mẫu và phân tích dữ liệu về địa hình, khí hậu và thảm thực vật nhằm cung cấp dữ liệu minh chứng cho bảo tồn Kết quả mong đợi sẽ đóng góp vào cơ sở dữ liệu khoa học về khu hệ đồi núi Thanh Hóa, hỗ trợ quản lý khu bảo tồn Nam Động và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị sinh học của khu vực.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, Thanh Hóa, vị trí địa lý: 20 o 16'30'' đến
20 o 39'30'' vĩ độ Bắc và 104 o 44' 00'' đến 105 o 11'30'' kinh độ Đông Với diện tích 646,95 ha
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 5 năm
2.5 Phương pháp nghiên cứu 2.5.1 Công tác chuẩn bị
- Tham khảo tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
- Chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho công việc nghiên cứu, bao gồm: Dụng cụ đựng mẫu (lọ và túi vải); cồn 70 0 ; đèn pin,…
- Quan sát và nhận biết những mẫu vật đang lưu trữ tại phòng tiêu bản của trường
- Sơ bộ nghiên cứu khu vực điều tra thông qua bản đồ địa hình khu vực
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là những người có kinh nghiệm đi rừng, thợ săn và cán bộ KBT Nam Động, có hiểu biết tốt về các loài Bò sát, ếch nhái lựa chọn phỏng vấn để xác định sơ bộ về sự có mặt của các loài cũng như những vùng phân bố quan trọng, sinh cảnh ưa thích của chúng trong KBT Tổng số
Kiểm lâm trạm bản Bâu (xã Nam Động) tiến hành xác định loài cụ thể bằng cách đưa hình ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài cho các đối tượng phỏng vấn xem và nhận diện sau khi họ cung cấp thông tin Các dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn là cơ sở để thiết kế tuyến điều tra thực địa, định hướng các hoạt động khảo sát và thu thập bằng chứng trên hiện trường một cách có hệ thống.
Kết quả phỏng vấn người dân và cán bộ KBT được ghi vào bảng 1; bộ câu hỏi phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1
Bảng 2.1 Biểu phỏng vấn người dân
Tên người được phỏng vấn ……… …… …… Tuổi………
Dân tộc ……… Ngày điều tra………
Sinh cảnh Địa điểm bắt gặp
Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý theo phương pháp thống kê, và tên các loài được hiệu chỉnh theo các tài liệu về nhận dạng động vật rừng.
2.5.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
05 tuyến điều tra với chiều dài từ 2-5 km đã được thiết lập tại KBT nhằm điều tra sự có mặt, phân bố và các mối đe dọa đối với các loài bò sát và ếch nhái (bảng 3.1 và hình 3.1) Tuyến được thiết kế đi qua các dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau trong khu vực, bắt đầu từ hai địa điểm chính là trụ sở hợp tác xã Tiên Phong trước đây và bản Lở; các tuyến được bố trí rộng khắp Khu bảo tồn, chủ yếu ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, ở những nơi rừng còn tốt, có vũng nước hoặc theo các con suối, nơi có sinh cảnh phù hợp với từng loài Thời gian điều tra chủ yếu vào ban đêm từ 19h30 - 23h và ban ngày từ 7h30 - 17h Trên tuyến điều tra di chuyển với tốc độ 1-1,2 km/h, chú ý quan sát hai bên tuyến để phát hiện loài và các mối đe dọa đến loài Khi phát hiện loài, định danh nhanh với những loài nhận dạng được; đối với những loài chưa định danh được, nếu gặp nhiều cá thể thuộc cùng một loài thì chỉ cần bắt 2-3 cá thể, ghi chép lại số lượng bắt gặp và các thông tin sau được ghi vào mẫu biểu chuẩn chuẩn bị sẵn, cập nhật vào bảng 2.2. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng Cáo** 🌸 Tối ưu hóa nội dung bài viết về bảo tồn và điều tra đa dạng sinh học với [Pollinations.AI miễn phí](https://pollinations.ai/redirect/kofi), giúp bạn tuân thủ chuẩn SEO dễ dàng!
Bảng 2.2 Phiếu điều tra bò sát, ếch nhái theo tuyến
Người điều tra: Ngày điều tra:………
Tuyến điều tra: Lần điều tra: Điểm điều tra: ………
TT Tên loài Thời gian gặp
Sinh cảnh Đai cao Ghi chú
Tổng số 5 tuyến điều tra được lập tại Khu bảo tồn cụ thể tại bảng 2.3
Bảng 2.3 Tổng hợp tuyến điều tra
Tuyến số Tọa độ đầu tuyến Tọa độ cuối tuyến Chiều dài tuyến (km)
Hình 2.1 Các tuyến điều tra tại KBT Nam Động
2.5.4 Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa
Các mối đe dọa đối với Khu hệ Bò sát, ếch nhái và sinh cảnh của chúng tại khu vực điều tra được xác định bằng phương pháp phỏng vấn và ghi nhận tại hiện trường trong quá trình điều tra thực địa Các nguồn tác động chính gồm săn bắn và bẫy bắt, khai thác gỗ và khai thác lâm sản ngoài gỗ được ghi nhận và các thông tin này được ghi vào mẫu bảng sau (bảng 2.4) để phân tích ảnh hưởng lên sự đa dạng và phân bố của khu hệ bò sát, ếch nhái và sinh cảnh của chúng.
Bảng 2.4 Biểu ghi chép về tác động của con người Địa điểm điều tra: Ngày:
Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc:
Tuyến số: Quãng đường đi:
3 Lều/Trại (săn bắt, khai thác gỗ)
6 Khai thác lâm sản ngoài gỗ
7 Đường đi lại trong rừng
Vị trí (Kinh độ, vĩ độ)
Không hoạt động Ghi chú Đánh giá các mối đe dọa
Sau khi xác định và liệt kê các mối đe dọa trong KBT, tiến hành đánh giá và gán điểm cho từng mối đe dọa từ 1 đến n, sao cho n là tổng số mối đe dọa và hai mối đe dọa không trùng điểm bằng cách căn cứ vào ba tiêu chí: diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa, cường độ ảnh hưởng và tính cấp thiết của mối đe dọa; phương pháp được áp dụng theo Margoluis và Salafsky (2001).
Phạm vi ảnh hưởng của mối đe dọa được xem xét để xác định liệu nó ảnh hưởng đến toàn bộ diện tích hay chỉ một phần diện tích trong khu vực nghiên cứu; mỗi mối đe dọa được đánh giá dựa trên diện tích bị ảnh hưởng và mối đe dọa có diện tích bị ảnh hưởng lớn nhất sẽ nhận điểm cao nhất, các mối đe dọa còn lại được sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp với điểm số giảm dần tương ứng; việc xác định phạm vi ảnh hưởng giúp ưu tiên quản lý rủi ro, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả các biện pháp can thiệp trong khu vực nghiên cứu.
Đánh giá cường độ của mối đe dọa dựa trên việc xem xét nó phá hủy toàn bộ sinh cảnh hay chỉ ảnh hưởng một phần của khu vực nghiên cứu Mối đe dọa có cường độ phá hủy lớn nhất sẽ được gán điểm cao nhất, và điểm của các mối đe dọa khác sẽ giảm dần theo mức độ phá hủy tương ứng, nhằm phản ánh mức độ ảnh hưởng khác nhau lên sinh cảnh.
Tính cấp thiết của mối đe dọa: Xem xét mối đe dọa đang xảy ra ở hiện tại hay s xảy ra trong tương lai Mối đe dọa nào đang diễn ra ở thời điểm hiện tại thì cho điểm cao nhất và số điểm các mối đe dọa khác được cho giảm dần nếu thời điểm xảy ra càng xa hiện tại
2.5.5 Phương pháp thu và xử lý mẫu Bò sát, ếch nhái
Phương pháp thu mẫu phụ thuộc vào từng loài và dạng địa hình, với hai biện pháp chủ yếu là bắt bằng tay và thu bằng vợt Vợt có cán dài 1 m, miệng vợt hình tròn đường kính 25 cm và mắt lưới cỡ 0,5 x 0,5 cm; khi quan sát thấy đối tượng, dùng vợt chụp lại và quay miệng vợt 90 độ để tránh ếch nhái thoát ra ngoài Tuy nhiên các vị trí thu mẫu thường không bằng phẳng nên việc bắt mẫu chủ yếu bằng tay.
Mẫu ếch nhái được thu vào túi nilon, miệng túi có đường kính 20 cm và độ sâu 40 cm; những mẫu có đặc điểm giống nhau được xếp chung vào một túi Khi trở về nơi cắm trại, các mẫu vật được phân loại sơ bộ, chỉ giữ lại 2-3 mẫu cho mỗi loài, số mẫu còn lại được thả lại tự nhiên Đối với bò sát, thường bắt bằng tay và gậy; bắt bằng tay áp dụng với các loài thằn lằn, rùa, tắc kè,… Cần lưu ý các loài thằn lằn rất dễ rụng đuôi nên bắt cần nắm vào phần đầu và phần đuôi Riêng đối với rắn, phải hết sức thận trọng, nên coi tất cả các loài rắn đều là rắn độc dù thực tế chỉ có khoảng 10% số loài là rắn độc ở Việt Nam Vì vậy, đối với rắn đều dùng gậy có nạng hoặc móc hình chữ “V” để đè đầu xuống đất tránh rắn không kịp thoát Trường hợp bất đắc dĩ mới dùng roi hoặc gậy đập vào phần trước cơ thể cách đầu 10-20 cm (nếu đầu bị dập khó định loại, mẫu không còn giá trị), tiếp đó tìm cách đè đầu xuống rồi dùng hai ngón tay giữ chặt lấy đầu rắn, sao cho chúng không thể quay lại cắn, nhấc rắn lên khỏi mặt đất và đưa đầu rắn xuống dưới, ấn vào túi hoặc lọ rồi nhanh chóng buộc hoặc đậy nắp lại.
- Xử lý mẫu ngoài thực địa: Mẫu được xử lý theo phương pháp của Phạm Nhật và cộng sự (2003) gồm các bước sau:
Để chụp ảnh mẫu vật an toàn và chất lượng, cần ưu tiên phúc lợi động vật và tuân thủ quy định của bác sĩ thú y hoặc người được đào tạo Không nên tự ý phun chất gây mê lên cơ thể mẫu vật hay làm mất phản xạ nhảy mà không có sự giám sát; mọi thao tác liên quan đến gây mê phải được thực hiện trong điều kiện kiểm soát và có giám sát chuyên môn Sau khi mẫu vật được ổn định và an toàn, đặt nó ở tư thế tự nhiên và tiến hành chụp ảnh để ghi nhận các đặc điểm một cách chân thực, đồng thời tối ưu nội dung cho SEO với các từ khóa như chụp ảnh động vật, phúc lợi động vật và quy trình gây mê có kiểm soát.
Bước 3: Cố định mẫu bằng cách đặt mẫu lên gối bông mỏng có kích thước 45x45 cm, sắp xếp mẫu ở tư thế tự nhiên, các ngón chân và tay được căng ra Sau đó phun cồn 70% lên các khớp tay, chân và màng da nối các ngón chân tay và trên toàn cơ thể rồi phủ khăn bông lên số mẫu đã được định hình và giữ mẫu ở tư thế như vậy trong khoảng 1 giờ.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nhằm mô tả đặc điểm khu hệ bò sát và ếch nhái tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa, tập trung vào sự phân bố, đa dạng loài và các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh học của nhóm động vật này Kết quả điều tra cho thấy sự hiện diện của nhiều loài có giá trị bảo tồn, phản ánh mối quan hệ giữa địa hình, nguồn nước và thức ăn với phân bố và hành vi của bò sát, ếch nhái trong khu bảo tồn Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các biện pháp quản lý và bảo tồn habitat, đồng thời đề xuất giải pháp giảm áp lực từ du lịch và ô nhiễm nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học ở Nam Động, Thanh Hóa Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi định kỳ và đánh giá chất lượng môi trường để hỗ trợ quyết định quản lý và tăng cường bảo tồn khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động Từ khóa SEO: bò sát, ếch nhái, Nam Động, Thanh Hóa, khu bảo tồn, đa dạng sinh học, bảo tồn.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, Thanh Hóa, vị trí địa lý: 20 o 16'30'' đến
20 o 39'30'' vĩ độ Bắc và 104 o 44' 00'' đến 105 o 11'30'' kinh độ Đông Với diện tích 646,95 ha
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 5 năm
Phương pháp nghiên cứu
- Tham khảo tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
- Chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho công việc nghiên cứu, bao gồm: Dụng cụ đựng mẫu (lọ và túi vải); cồn 70 0 ; đèn pin,…
- Quan sát và nhận biết những mẫu vật đang lưu trữ tại phòng tiêu bản của trường
- Sơ bộ nghiên cứu khu vực điều tra thông qua bản đồ địa hình khu vực
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là những người có kinh nghiệm đi rừng, thợ săn và cán bộ KBT Nam Động, có hiểu biết tốt về các loài Bò sát, ếch nhái lựa chọn phỏng vấn để xác định sơ bộ về sự có mặt của các loài cũng như những vùng phân bố quan trọng, sinh cảnh ưa thích của chúng trong KBT Tổng số
Kiểm lâm Trạm bản Bâu (xã Nam Động) tiến hành xác định loài cụ thể; hình ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài được đưa cho các đối tượng phỏng vấn xem và nhận diện sau khi họ cung cấp thông tin; các thông tin thu thập được từ phỏng vấn là cơ sở để thiết kế tuyến điều tra thực địa.
Kết quả phỏng vấn người dân và cán bộ KBT được ghi vào bảng 1; bộ câu hỏi phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1
Bảng 2.1 Biểu phỏng vấn người dân
Tên người được phỏng vấn ……… …… …… Tuổi………
Dân tộc ……… Ngày điều tra………
Sinh cảnh Địa điểm bắt gặp
Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý bằng phương pháp thống kê, và tên các loài được hiệu chỉnh dựa trên các tài liệu nhận dạng động vật rừng để đảm bảo độ chính xác của thông tin Quá trình hiệu chỉnh tên loài giúp liên kết dữ liệu với danh mục động vật hoang dã chuẩn, tăng tính tin cậy cho báo cáo và tối ưu cho các từ khóa SEO liên quan đến nhận diện và bảo tồn động vật rừng.
2.5.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Có 05 tuyến điều tra với chiều dài từ 2–5 km được lập tại KBT nhằm điều tra sự có mặt, phân bố và các mối đe dọa đến các loài Bò sát và Ếch Nhái (theo bảng 3.1 và hình 3.1) Tuyến được thiết kế đi qua các dạng địa hình, sinh cảnh, đai cao khác nhau trong khu vực, với điểm xuất phát từ hai địa điểm chính là trụ sở hợp tác xã Tiên Phong trước đây và bản Lở; các tuyến được bố trí rộng khắp Khu bảo tồn (chủ yếu trong Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt), tập trung ở nơi rừng còn tốt, các vũng nước hoặc theo các con suối, nơi có sinh cảnh phù hợp đối với từng loài Thời gian điều tra chủ yếu diễn ra vào ban đêm từ 19h30–23h và ban ngày từ 7h30–17h Trên tuyến di chuyển với tốc độ 1–1,2 km/h, quan sát hai bên tuyến để phát hiện loài và các mối đe dọa đến loài Khi phát hiện loài, tiến hành định loại nhanh với những loài nhận dạng được; với những loài chưa định loại, có thể bắt, và nếu gặp nhiều cá thể thuộc cùng loài thì chỉ bắt 2–3 cá thể, ghi chép lại số lượng bắt gặp và các thông tin sau được ghi vào mẫu biểu chuẩn, cập nhật vào bảng 2.2.
Bảng 2.2 Phiếu điều tra bò sát, ếch nhái theo tuyến
Người điều tra: Ngày điều tra:………
Tuyến điều tra: Lần điều tra: Điểm điều tra: ………
TT Tên loài Thời gian gặp
Sinh cảnh Đai cao Ghi chú
Tổng số 5 tuyến điều tra được lập tại Khu bảo tồn cụ thể tại bảng 2.3
Bảng 2.3 Tổng hợp tuyến điều tra
Tuyến số Tọa độ đầu tuyến Tọa độ cuối tuyến Chiều dài tuyến (km)
Hình 2.1 Các tuyến điều tra tại KBT Nam Động
2.5.4 Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa
Các mối đe dọa đối với khu hệ bò sát, ếch nhái và sinh cảnh của chúng tại khu vực điều tra được xác định bằng phỏng vấn và ghi nhận trực tiếp trong quá trình điều tra thực địa, trong đó các hoạt động tiêu biểu gồm săn bắt, bẫy bắt, khai thác gỗ và khai thác lâm sản ngoài gỗ; toàn bộ thông tin thu thập được được ghi vào mẫu bảng (bảng 2.4).
Bảng 2.4 Biểu ghi chép về tác động của con người Địa điểm điều tra: Ngày:
Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc:
Tuyến số: Quãng đường đi:
3 Lều/Trại (săn bắt, khai thác gỗ)
6 Khai thác lâm sản ngoài gỗ
7 Đường đi lại trong rừng
Vị trí (Kinh độ, vĩ độ)
Không hoạt động Ghi chú Đánh giá các mối đe dọa
Sau khi xác định và liệt kê các mối đe dọa trong KBT, tiến hành đánh giá và gán điểm cho từng mối đe dọa theo thứ tự từ 1 đến n, với mỗi điểm phản ánh một mức độ ảnh hưởng khác nhau Để tránh tình trạng hai mối đe dọa có cùng điểm, bài đánh giá dựa trên ba tiêu chí: diện tích bị ảnh hưởng của mối đe dọa, cường độ ảnh hưởng và tính cấp thiết của mối đe dọa Phương pháp này được thực hiện theo hướng dẫn của Margoluis và Salafsky (2001).
Phạm vi ảnh hưởng của mối đe dọa được đánh giá dựa trên diện tích bị ảnh hưởng trong khu vực nghiên cứu Mối đe dọa ảnh hưởng toàn bộ khu vực nhận điểm cao nhất, trong khi những mối đe dọa chỉ ảnh hưởng một phần nhận điểm thấp hơn, được sắp xếp theo độ rộng của diện tích bị ảnh hưởng Nhìn chung, điểm số cho các mối đe dọa tăng lên khi diện tích bị ảnh hưởng càng lớn và giảm dần theo mức độ thu hẹp của phạm vi ảnh hưởng.
Để đánh giá cường độ của mối đe dọa, xem xét xem nó phá hủy toàn bộ sinh cảnh hay chỉ ảnh hưởng một phần trong khu vực nghiên cứu Những mối đe dọa có mức phá hủy lớn sẽ được gán điểm cao nhất, và điểm của các mối đe dọa khác sẽ giảm dần theo mức độ phá hủy tương ứng Việc phân tích cường độ phá hủy giúp xác định mức độ rủi ro cho sinh cảnh và ưu tiên các biện pháp bảo vệ phù hợp với cấp độ đe dọa.
Tính cấp thiết của mối đe dọa được đánh giá bằng cách xem xét mối đe dọa đang diễn ra ở hiện tại hay dự báo sẽ xảy ra trong tương lai Mối đe dọa đang diễn ra tại thời điểm hiện tại được gán điểm cao nhất, trong khi các mối đe dọa khác nhận điểm giảm dần theo khoảng cách thời gian đến khi xảy ra càng xa hiện tại Quy trình xếp hạng này giúp ưu tiên nguồn lực và các biện pháp phòng ngừa bằng cách cân nhắc mức độ nghiêm trọng và thời gian dự kiến xảy ra, từ đó tối ưu hóa chiến lược ứng phó với rủi ro.
2.5.5 Phương pháp thu và xử lý mẫu Bò sát, ếch nhái
Phương pháp thu mẫu phụ thuộc vào từng loài và dạng địa hình, tập trung vào hai biện pháp chính: bắt bằng tay và bằng vợt Vợt có cán dài 1 m, miệng vợt hình tròn đường kính 25 cm và mắt lưới cỡ 0,5 x 0,5 cm Khi quan sát thấy đối tượng, dùng vợt để chụp lại và quay miệng vợt 90 độ để ếch nhái thoát ra ngoài Tuy nhiên các vị trí thu mẫu thường không bằng phẳng nên việc bắt mẫu chủ yếu bằng tay.
Trong quá trình khảo sát, mẫu ếch nhái được thu đựng trong túi nilon có miệng đường kính 20 cm và độ sâu 40 cm; những mẫu có đặc điểm giống nhau được gom lại chung, sau khi trở về khu cắm trại sẽ phân loại sơ bộ và chỉ giữ lại 2–3 mẫu cho mỗi loài, phần còn lại được thả về môi trường tự nhiên Việc bắt bò sát thường được thực hiện bằng tay hoặc bằng dụng cụ phù hợp với từng loài; thằn lằn và tắc kè cần lưu ý đặc điểm dễ rụng đuôi khi tiến hành bắt Đối với rắn, cần áp dụng các biện pháp an toàn và sử dụng dụng cụ hỗ trợ như gậy hoặc móc hình chữ V để hạn chế nguy cơ, và khi bắt buộc phải xử lý cần thực hiện nhanh chóng và đúng cách để đưa đầu rắn vào thùng hoặc lọ và đóng kín để bảo quản.
- Xử lý mẫu ngoài thực địa: Mẫu được xử lý theo phương pháp của Phạm Nhật và cộng sự (2003) gồm các bước sau:
Bước 1: Gây mê mẫu vật bằng cách cho mẫu vào hộp nhựa rồi phun foocmon 8- 10% lên cơ thể làm con vật mê và mất phản xạ nhảy Để mẫu trong tư thế tự nhiên, chụp ảnh
Bước 2: Tiêm cồn 90 độ vào bụng và các cơ chi của những mẫu có kích thước lớn nhằm định hình nội quan và các nhóm cơ, đồng thời ngăn ngừa mẫu vật bị thối rữa.
Bước 3 của quy trình cố định mẫu là đặt mẫu lên gối bông mỏng có kích thước 45x45 cm, sắp xếp ở tư thế tự nhiên và kéo căng các ngón chân tay Sau đó phun cồn 70% lên các khớp tay chân, lên màng da nối giữa các ngón và trên toàn cơ thể, rồi phủ khăn bông lên mẫu đã được định hình và giữ nguyên tư thế trong khoảng 1 giờ.
Bước 4: Gắn phiếu cho mỗi mẫu và chuyển các mẫu đã được cố định ngâm vào cồn 70% trong túi nilon; những mẫu nhỏ được để riêng vào trong các lọ nhựa và xếp trong xô nhựa có nắp.
2.5.6 Phương pháp xử lý số liệu
2.5.6.1 Phân b ố Bò sát, ế ch nhái theo sinh c ả nh và đai cao
Phân bố theo sinh cảnh: Từ kết quả điều tra theo tuyến tổng hợp số liệu điều tra theo bảng 2.5
Bảng 2.5 Tổng hợp Bò sát ếch nhái theo sinh cảnh
TT Tên loài Sinh cảnh gặp
Sc1 Sc2 Sc… Sc… Sc…
Phân bố theo đai cao: Dựa trên kết quả điều tra theo tuyến tổng hợp và sử lý số liệu theo bảng 2.6 sau
Bảng 2.6 Tổng hợp Bò sát, ếch nhái theo đai cao
TT Tên loài Đai cao (m)
Sau khi tổng hợp và phân tích số liệu s tiến hành dùng phần mềm Mapinfo 11.0 để xây dựng bản đồ các loài bò sát, ếch nhái tại KBT
2.5.6.2 Tài liệu sử dụng phân loại và đánh giá
Phân loại ếch nhái của khu vực theo hệ thống phân loại của Frost
Điều kiện tự nhiên
Nam Động là khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm có đơn vị hành chính đặt tại xã Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa; khu bảo tồn cách trung tâm huyện Quan Hóa 25 km và cách Thành phố Thanh Hóa 150 km theo hướng Đông Nam.
- Tọa độ địa lý: Từ 20° 18' 07” đến 20° 19' 38” vĩ độ Bắc;
Từ 104° 52' 8” đến 104° 53' 26” kinh độ Đông
Hình 3.1 Vị trí khu vực nghiên cứu
- Ranh giới tiếp giáp + Phía Bắc giáp khoảnh 1,2,3,4,5 tiểu khu 185; khoảnh 1,2 tiểu khu 187 huyện Quan Hóa
+ Phía Nam giáp xã Sơn Lư và xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn
+ Phía Đông giáp khoảnh 3, 4 tiểu khu 187 (huyện Quan Hóa) và xã Trung Thượng huyện Quan Sơn
+ Phía Tây giáp khoảnh 4 và 5, tiểu khu 185 huyện Quan Hóa và xã Sơn Điện huyện Quan Sơn
Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động ở huyện Quan Hóa có địa hình núi dốc phức tạp và mạng lưới sông suối dày đặc, bị chia cắt bởi các đường phân thủy, thung lũng và khe suối, tạo nên bề mặt địa hình tự nhiên thay đổi thất thường và mang đặc trưng của hệ sinh thái núi đá vôi Độ cao trung bình từ 700–900 m, độ dốc từ 10–45 độ và nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, thể hiện rõ đặc trưng địa hình của vùng núi đá vôi.
3.1.3 Địa chất thổ nhƣỡng Đất Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động được hình thành từ các loại đá Granit, Riolit, Phiến thạch sét, Sa thạch sét và Sạn kết, đá Vôi gồm các nhóm đất sau:
- Nhóm đất Feralit màu vàng đỏ phát triển trên đá Granit phân bố ở vùng núi trung bình
- Nhóm đất Feralit màu đỏ vàng phát triển trên đá Sa Thạch, Phiến thạch phân bố ở những vùng núi thấp đồi cao
- Nhóm đất Feralit mùn phát triển trên đá Phiến thạch sét và đá Sa thạch có kết cấu mịn phân bố trên vùng núi cao
Đất dốc tụ nằm dọc theo chân núi, hình thành một tổ hợp đất thung lũng đa tầng gồm đất dốc tụ, lũy tích và sản phẩm hỗn hợp Tổ hợp này chứa nhiều sỏi sạn và các cấp hạt khác nhau, cho thấy quá trình tích tụ và biến đổi địa chất ở khu vực thung lũng.
* Đặc điểm các nhóm lập địa chủ yếu Khu bảo tồn
Dạng lập địa N2IVFHs (N2IVFHa) chiếm 29,5% diện tích đất và phân bố trên vùng sườn núi cao với độ cao lớn Đất feralit trên đá granit tạo nên đặc trưng thổ nhưỡng và hệ sinh thái của khu vực này Hướng sử dụng là phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ đa dạng sinh học.
- Dạng lập địa N 3 IVFs; N 3 IVFa, chiếm 24,4% diện tích Phân bố ở độ cao dưới 700m và độ dốc < 25 độ Đất Feralit với độ dày tầng đất không lớn
Hướng sử dụng phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ đa dạng sinh học
Trong phân loại đất, dạng lập địa N3IIIFs và N3IIIFa chiếm 18,5% diện tích khu vực Đất feralit phân bố trên các xã thuộc phân khu phục hồi sinh thái, có độ dốc từ 16 đến 20 độ và tầng đất dày trung bình từ 50–70 cm Hướng sử dụng ở khu vực này tập trung vào bảo vệ đa dạng sinh học.
Dạng lập địa N2 IIIFHs (N2IIIFHa) chiếm khoảng 11% diện tích, phân bố ở vùng núi cao có độ dốc >25 độ Đất feralit trên granít, với tầng đất từ trung bình đến dày, hướng sử dụng đất vào bảo vệ đa dạng sinh học.
Dạng lập địa T1 IVFs (T1IVFa) chiếm 6,4% diện tích và phân bố chủ yếu trên vùng sườn suối với độ dốc khá lớn Đất Ferralit màu đỏ vàng ở khu vực này có đặc tính phù hợp cho mục đích Lâm nghiệp, làm cơ sở cho triển khai các hoạt động trồng rừng và quản lý rừng hiệu quả.
Dạng lập địa T1IIIFs và T1IIIFa chiếm 5,2% diện tích, phân bố trên sườn đồi có độ dốc vừa phải; tầng đất dày đến trung bình và đất Feralit cho thấy tiềm năng sử dụng cho mục đích Lâm nghiệp.
Đất ở Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động chủ yếu là đất nghèo dinh dưỡng hình thành từ các đá nền đơn giản, gồm granít, đá sét, phiến thạch sét và đá cát Các loại đất này thường hình thành trên địa hình có độ dốc cao từ 16–35 độ, thuộc cấp III và cấp IV.
Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động nằm ở vùng có mùa rõ rệt, gồm mùa mưa và mùa khô, tạo điều kiện sinh trưởng cho các loài hạt trần quý hiếm Điều kiện khí hậu tại đây được thể hiện qua nhiệt độ trung bình quanh năm khoảng 8°C và lượng mưa hàng năm dao động từ 1.600–1.900 mm tùy theo từng vùng, hình thành môi trường sinh thái đặc thù cho hệ thực vật và động vật của khu bảo tồn.
+ Độ ẩm: Độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào đầu tháng 1 hoặc tháng
12 (xuống tới 19 – 40%); từ tháng 5 - 10 độ ẩm thấp do gió Tây khô nóng gây ra hạn hán ở nhiều nơi, có khi hạn hán nghiêm trọng kéo dài vào những năm gió Tây kéo dài và mưa đến chậm
+ Nhiệt độ: Khí hậu nhiệt đới vùng cao, đặc điểm khí hậu ảnh hưởng của khu vực Tây Bắc Bộ nhiều hơn là Trung Bộ và Khu bốn cũ Nhiệt độ trung bình từ 23 - 25 0 C, trung bình thấp nhất là 14 0 C, cao nhất là 38 0 C Biên độ nhiệt độ ngày đêm giao động từ 4 - 10 0 C
Gió nhìn chung yếu, tốc độ gió trong bão không vượt quá 25 m/s Ảnh hưởng của gió Tây khô nóng không đáng kể Mỗi năm có từ 3–5 ngày có sương muối, đặc biệt ở một vài nơi có thể xuất hiện băng giá.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 đến 1.760 mm và độ ẩm không khí trung bình khoảng 86%, nhưng phân bố mưa theo tháng không đồng đều Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của tiểu vùng cho thấy nền nhiệt độ ở mức thấp, mùa hè mát và mưa nhiều, còn mùa đông rất lạnh và ít mưa Thiên tai chủ yếu là rét đậm, sương muối và sương giá Nhìn chung khí hậu và thời tiết của khu vực này tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi, nhất là phát triển nghề rừng.
3.1.5 Tài nguyên động thực vật
Đánh giá hiện trạng về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh
Nam Động là khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm nằm trên địa bàn xã Nam Động, huyện Quan Hóa, giáp ranh với 3 xã của huyện Quan Sơn: Sơn Lư (bản Hẹ và bản Bìn), Sơn Điện (bản Na Hồ và bản Xủa) và Trung Thượng (bản Bàng) Toàn vùng hiện có 4.333 khẩu với 3 dân tộc sinh sống: Thái chiếm 75,3%, Mường 19,5%, Kinh 5,2% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn vùng là 0,94%, trong đó thấp nhất ở xã Sơn Điện với 0,8% Mật độ dân số bình quân toàn vùng là 412 người/km2.
Trồng trọt đang chuyển dần từ quảng canh sang thâm canh, gắn với việc áp dụng và chuyển giao giống mới vào sản xuất Quá trình này giúp giảm diện tích canh tác nương rẫy, tập trung khai hoang và phục hoá ruộng lúa nước cùng các bãi chuyên màu, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho nông dân và ngành nông nghiệp.
Chăn nuôi gia súc gia cầm
Trong khu vực này, các loài gia súc, gia cầm được nuôi chủ yếu là các giống địa phương, phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán sản xuất của địa phương Một số hộ còn chăn nuôi Nhím, Dúi, tuy chất lượng thịt cao nhưng năng suất và sản lượng thịt lại thấp, khiến nguồn cung thịt còn hạn chế và ảnh hưởng đến thu nhập của người nuôi.
Trong những năm gần đây, nhờ sự đầu tư từ các dự án trồng rừng sản xuất và trồng rừng thay thế, diện tích rừng trồng đã tăng lên đáng kể Hiện vùng đệm đã có trên 1.000 ha rừng trồng, gồm các loài Keo, Luồng, Lát hoa và Xoan ta Nhìn chung, chất lượng rừng trồng còn thấp, trữ lượng rừng chưa cao và một số diện tích chưa đảm bảo mật độ phù hợp Công tác giao đất, giao rừng được thực hiện theo các Nghị định 02/NĐ-CP, 163/NĐ-CP và nay là Nghị định số 181/NĐ-CP.
Việc giao đất giao rừng do Chính phủ thực hiện đã diễn ra nhiều năm, nhưng công tác này vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Ranh giới đất đai chưa được xác định rõ dẫn đến tranh chấp đất đai, và nhiều diện tích đất được giao còn sử dụng không đúng quy hoạch và mục đích, ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý đất đai.
Lâm sản khai thác trên địa bàn chủ yếu là sản phẩm từ rừng Luồng, với sản lượng hàng năm lên tới gần 500.000 cây Luồng và một phần nhỏ các loại sản phẩm khác như nứa, vầu thanh Hiện nay trên địa bàn có 3 cơ sở sản xuất đũa và các sản phẩm từ cây Luồng, phân bổ tập trung tại xã Nam Động.
3.2.2.3 Thực trạng chung về kinh tế
Ở vùng đệm gồm 4 xã và 12 thôn, kinh tế và thu nhập của các hộ gia đình phụ thuộc chủ yếu vào khai thác sản phẩm từ rừng Khu bảo tồn Nam Động bảo vệ các loài hạt trần quý hiếm và tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân Cơ cấu kinh tế địa phương chủ yếu là Lâm nghiệp, chiếm khoảng 57% tổng giá trị hoạt động kinh tế của khu vực.
Vào năm 2013, quy mô kinh tế còn nhỏ lẻ, chủ yếu là hộ gia đình Tỷ lệ hộ nghèo còn cao với 324 hộ nghèo trên tổng số 947 hộ được khảo sát theo chuẩn nghèo mới, chiếm 34,3% Thu nhập bình quân đầu người ở mức 5,8 triệu đồng/người/năm, chỉ đạt 0,67 lần so với thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh.
3.2.2.4 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng
Nền văn hóa truyền thống của đồng bào Thái và Mường vẫn được gìn giữ nguyên vẹn với những nét bản sắc riêng biệt; phong trào văn hóa văn nghệ ở các làng bản được duy trì và phát triển, làm phong phú đời sống tinh thần cộng đồng Phát triển du lịch văn hóa qua các lễ hội của Thái và Mường giúp quảng bá di sản, thu hút du khách và tăng khả năng lưu trú cho địa phương Đồng thời, du lịch sinh thái mở ra lợi thế cạnh tranh và tiềm năng lớn cho sự phát triển kinh tế bền vững khu vực Đây là hướng đi tiềm năng cần được đầu tư khai thác để bảo tồn di sản và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững cho khu vực.
Toàn địa bàn có 3/12 thôn (bản) chưa có trường mầm non (chiếm 25%) và chưa có phòng học kiên cố; công tác giáo dục mầm non tại khu vực còn hạn chế Tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đạt 100%, trong khi phổ cập trung học cơ sở đạt 90% Công tác đào tạo nghề chưa được quan tâm đúng mức, dẫn tới tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, chỉ ở mức khoảng 20% tổng số lao động.
Trạm y tế xã và cán bộ y tế cơ bản đảm bảo phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa phương Công tác y tế dự phòng, tiêm chủng và phòng chống các bệnh nguy hiểm được đầu tư và triển khai theo các chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt rét, bướu cổ và suy dinh dưỡng nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Các xã trên địa bàn đã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại 11/12 thôn bản, được triển khai thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, cùng nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức phi chính phủ và Ngân hàng Thế giới.
Vệ sinh môi trường của người dân chủ yếu dựa vào các biện pháp tại chỗ, còn hệ thống vệ sinh khép kín hầu như không có Rác thải và chất thải sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng phân hủy tự nhiên hoặc vứt ra môi trường, gây ô nhiễm và khó kiểm soát chất thải.
3.2.3.5 Cơ sở hạ tầng a) Giao thông
Tổng chiều dài các loại đường trên địa bàn các xã là 98 km, trong đó:
- Tỉnh lộ 520: 6 km đã được nhựa hóa
- Đường trục xã: 30 km, đường cấp phối, chưa được cứng hóa để đạt chuẩn
- Đường liên thôn bản có chiều dài khoảng 17 km
- Đường ngõ xóm có tổng chiều dài 45 km, đường đất b) Thủy lợi
Ở các xã, tổng chiều dài các tuyến kênh mương là 15,6 km, trong đó 4 km đã kiên cố hóa (kênh Nà Nưa), chiếm 24,2%; phần còn lại là mương đất Hiện nay có 27 đập nước ở 4 xã vùng đệm, trong đó 5 đập được xây dựng kiên cố và 22 đập tạm làm bằng tre, nứa, đất, đá Hệ thống thủy lợi mới đáp ứng khoảng 75% yêu cầu sản xuất và dân sinh Các nội dung liên quan đến cung cấp điện, nước cũng được đề cập.
Các xã giáp ranh Khu bảo tồn có 4 trạm biến áp và hơn 30 km đường dây hạ thế đi qua địa bàn các thôn, cho thấy sự hiện diện của hệ thống điện lưới ở khu vực này Hệ thống cấp nước sạch tập trung tại trung tâm các thôn thông qua bể chứa, cung cấp nước cho 536/947 hộ gia đình (chiếm 56,5%), trong khi vẫn chưa có hệ thống thoát nước thải Thông tin liên lạc được đề cập ở mục d để người dân có thể liên hệ và cập nhật thông tin liên quan.
Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Giá trị nổi trội của khu bảo tồn được thể hiện ở hiện trạng tài nguyên rừng phong phú và cảnh quan thiên nhiên nguyên vẹn, với nhiều quần thể sinh vật đa dạng so với các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia lân cận Sự đa dạng sinh học và cảnh quan độc đáo của khu bảo tồn tạo nên sức hấp dẫn và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững Các cấp chính quyền hết sức quan tâm và xem đây là lợi thế cạnh tranh của khu bảo tồn, đồng thời là động lực cho công tác quản lý, bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn lực thiên nhiên.
Vùng đệm có lực lượng lao động dồi dào, có thể đào tạo và tham gia các chương trình, dự án quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và Bảo tồn thiên nhiên Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch, Lâm nghiệp được xác định là thế mạnh của vùng, trong khi dịch vụ đang phát triển Đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên từng bước, đây là nền tảng giúp giảm áp lực lên tài nguyên rừng.
Khu vực nghiên cứu là vùng sâu, vùng xa với địa hình chia cắt mạnh và hạ tầng còn thấp, giao thông còn nhiều khó khăn so với mặt bằng chung của tỉnh Điều này làm tăng chi phí vận chuyển và từ đó hạn chế đáng kể thu hút đầu tư cho khu vực, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư trên địa bàn Vì vậy, chi phí vận chuyển cao trở thành yếu tố cản trở sự phát triển và cân đối nguồn lực kinh tế‑xã hội của khu vực nghiên cứu.
Thói quen ỷ lại vào thu nhập từ khai thác tài nguyên rừng, trông chờ sự hỗ trợ của Nhà nước và tỷ lệ lao động chưa được đào tạo cao là những nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ rừng Tập quán canh tác lạc hậu và sự phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên càng làm phức tạp việc duy trì quản lý rừng bền vững và đòi hỏi các giải pháp thích ứng hiệu quả.
Thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động
Qua điều tra khảo sát ngoài hiện trường và phân loại các mẫu vật thu được tại khu vực KBT, Nam Động đã ghi nhận tổng cộng 56 loài bò sát, ếch nhái thuộc 22 họ và 4 bộ Trong đó 30 loài bò sát thuộc 14 họ và 2 bộ; thu mẫu và quan sát được 20 loài (chiếm 66,67% tổng số loài ghi nhận được) và phỏng vấn ghi nhận 10 loài (33,33%) Về ếch nhái, ghi nhận tổng số 26 loài.
08 họ, 02 bộ; quan sát và thu mẫu được 23 loài (chiếm 88,46% tổng số các loài ghi nhận được), phỏng vấn ghi nhận 3 loài (11,53%)
Biểu 4.1 Danh lục các loài bò sát, ếch nhái ghi nhận tại KBT Nam Động
STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Nguồn
3 Draco maculatus (Gray, 1845) Thằn lằn bay đốm QS
Scincidae 2 Họ Thằn lằn bóng
4 Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) Thằn lằn bóng hoa MV
5 Tropidophorus baviensis (Bourret, Thằn lằn tai ba vì MV
STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Nguồn
6 Gekko gecko (Linnaeus, 1758) Tắc kè MV
Liu điu chỉ, Liu điu sáu vạch QS
8 Cyrtodactylus puhuensis (Nguyen et al, 2014)
Thạch sùng ngón pù hu MV
9 Varanus salvator (Laurenti, 1768) Kỳ đà hoa PV
10 Python molurus (Linnaeus, 1758) Trăn đất, Trăn mốc PV
12 Ahaetulla prasina (Boie, 1827) Rắn roi thường QS
13 Coelognathus radiatus (Boie, 1827) Rắn sọc dưa MV
Rắn nước đốm vàng, rắn nước QS
15 Ptyas korros (Schlegel, 1837) Rắn ráo thường MV
16 Boiga guangxiensis (Wen, 1998) Rắn rào quảng tây MV
Dumeril, 1854) Rắn rào ngọc MV
Rắn nước vân tam giác MV
STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Nguồn
20 Enhydris plumbea (Boie, 1827) Rằn bồng chì PV
21 Ovophis monticola (Gunther, 1864) Rắn lục núi MV
22 Ovophis tonkinensis (Bourret, 1934) Rắn lục bắc bộ MV
23 Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) Rắn cạp nong QS
24 Bungarus multicinctus (Blyth, 1861) Rắn cạp nia bắc PV
Platysternidae 11 Họ Rùa đầu to
26 Cuora galbinifrons (Bourret, 1939) Rùa hộp trán vàng PV
27 Cuora mouhotii (Gray, 1862) Rùa sa nhân MV
28 Mauremys sinensis (Gray, 1834) Rùa cổ sọc PV
29 Manouria impressa (Gunther, 1882) Rùa núi viền PV
STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Nguồn
Murphy, Orlov, and Ho, 1998) Cóc mày ba na PV
4 Xenophrys major (Boulenger, 1908) Cóc mắt bên PV
5 Hyla annectans (Jerdon, 1870) Nhái bén dính QS
7 Microhyla pulchra (Hallowell, 1861) Nhái bầu vân MV
8 Microhyla heymonsi (Vogt, 1911) Nhái bầu hây môn MV
Dicroglossidae 5 Họ Nhái chính thức
10 Limnonectes poilani (Bourret, 1942) Ếch poilani MV
11 Limnonectes kuhlii (Tschudi, 1838) Ếch trơn MV
12 Limnonectes dabanus (Smith,1922) Ếch gáy dô MV
14 Quasipaa delacouri (Angel, 1928) Ếch vạch QS
16 Amolops ricketti (Boulenger, 1899) Ếch bám đá MV
18 Amolops cremnobatus (Lnger and Ếch bám đá lào MV
STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Nguồn
19 Odorrana livida (Blyth, 1856) Ếch xanh MV
Ananjeva, and Ho, 2006) Ếch màng nhĩ khổng lồ MV
(Gravenhorst, 1829) Ếch cây mép trắng MV
Kohler, 2001) Ếch cây orlov QS
1893) Ếch cây sần nhỏ MV
(Hallowell, 1860) Ếch cây đầu to MV
CAUDATA II BỘ CÓ ĐUÔI
26 Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930) Cá cóc sần MV
Ghi chú: MV- mẫu vật, QS – Quan sát, PV – Phỏng vấn
Đợt khảo sát lần này ghi nhận các loài bò sát và ếch nhái là những loài mới đối với Khu bảo tồn Nam Động, vì trước đây chưa có nghiên cứu nào về khu hệ bò sát và ếch nhái ở khu vực này Kết quả của nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái nói riêng và khu hệ động vật nói chung tại Khu bảo tồn Nam Động Hình ảnh một số loài được ghi nhận được trình bày tại phụ lục và các hình minh họa đính kèm.
Hình 4.1 Rồng đất (Physignathus cocincinus) Hình 4.2 Rùa sa nhân (Cuora mouhotii)
Hình 4.3 Ếch gáy dô ( Limnonectes dabanus) Hình 4.4 Cá cóc sần
Hình 4.5 Đa dạng phân loại học lớp Bò sát, ếch nhái
Trong phân loại học tại KBT Nam Động, bộ Có vảy (Squamata) có số họ nhiều nhất với 10 họ, chiếm 45,45% tổng số họ bò sát và ếch nhái ghi nhận được Tiếp đến là bộ Không đuôi với 7 họ (31,82%), bộ Rùa với 4 họ (18,18%), và bộ Có đuôi có duy nhất 01 họ (4,55%) Đa dạng phân loại học lớp Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động được trình bày tại hình 4.5.
Trong đánh giá đa dạng loài bò sát, họ Ếch nhái là nhóm có số lượng loài nhiều nhất với 9 loài, chiếm 16,07% tổng số loài bò sát được ghi nhận Họ Rắn nước có 8 loài, tương đương 14,29% tổng số loài Thông tin về các họ Nhái chính thức và họ Ếch cây còn thiếu để hoàn thiện bức tranh về sự đa dạng của bò sát.
Trong tổng số loài được khảo sát, 5 loài chiếm 8,93% tổng số; 3 loài thuộc các họ Rùa đầm, Nhông, Nhái bầu và Tắc kè chiếm 5,36%; 2 loài thuộc các họ Thằn lằn bóng, Rắn hổ, Rắn lục, Cóc và Cóc bùn chiếm 3,57%; và các họ có 1 loài mỗi loài chiếm 1,79% bao gồm họ Rùa núi, họ Ba ba, họ Rùa đầu to, họ Rắn ri, họ Rắn mống, họ Nhái bén, họ Trăn, họ Kỳ đà và họ Cá cóc.
Tính đa dạng Khu hệ bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động
Xem xét tính đa dạng của khu hệ bò sát và ếch nhái tại KBT Nam Động so với các khu vực khác cho thấy về đa dạng phân loại học khu vực nghiên cứu có số họ cao hơn so với KBT Pù Hu (18 họ) và VQG Bến En cùng KBT Pù Luông (21 họ) Tuy nhiên, khi xem xét đa dạng loài, khu vực nghiên cứu có số loài thấp nhất với 56 loài, so với các khu vực lân cận như KBT Pù Luông (66 loài) và KBT Pù Hu (73 loài), và VQG Bến En.
En (113 loài) Kết quả cụ thể được trình bày tại bảng 4.2 và hình 4.6
Bảng 4.2 So sánh sự đa dạng về thành phần loài của khu vực nghiên cứu với một số khu vực khác
Khu vực Bộ Họ Loài Nguồn tài liệu
Chú thích: (1) Kết quả điều tra năm hiện tại; (2) KBT Pù Hu, 2013; (3)
KBT Pù Luông, 2013; (4) VQG Bến En, 2013
Hình 4.6 So sánh đa dạng phân loại học, loài tại khu vực nghiên cứu với một số khu vực khác
Các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp, quý hiếm tại KBT Nam Động
Trong tổng số 56 loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu, có 17 loài đang bị đe dọa ở mức Vulnerable (VU) hoặc cao hơn, chiếm 30,36% tổng số loài ghi nhận được (bảng 4.3) Theo Danh lục Đỏ thế giới, tình trạng bảo tồn của các loài này được đánh giá và cập nhật theo các mức đe dọa hiện hành.
Năm 2016 có 13 loài, chiếm 23,21% tổng số loài, trong đó 01 loài ở cấp cực kỳ nguy cấp (CR), 04 loài ở mức nguy cấp (EN) và 02 loài ở mức nguy cấp (VU); cũng với 13 loài (23,21%) được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, gồm 01 CR, 06 EN và 06 VU Có 01 loài (1,79%) được liệt kê vào danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP Đồng thời có 07 loài (12,5%) nằm trong phụ lục II – hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại được liệt kê trong Nghị định 32 của Chính phủ Ngoài ra có 08 loài (14,29%) được liệt kê trong phụ lục của Công ước CITES, gồm 01 loài ở phụ lục I, 06 loài ở phụ lục II và 01 loài ở phụ lục III.
Biểu 4.3 Danh lục các loài bò sát, ếch nhái quý hiếm ở KBT Nam Động
TT Tên khoa học Tên tiếng
Giá trị bảo tồn IUCN
1 Physignathus cocincinus Rồng đất VU
2 Gekko gecko Tắc kè VU
3 Varanus salvator Kỳ đà hoa LC EN IIB II
4 Python molurus Trăn đất CR IIB II
5 Coelognathus radiatus Rắn sọc dưa LC VU IIB
6 Ptyas korros Rắn ráo EN
TT Tên khoa học Tên tiếng
Giá trị bảo tồn IUCN
Rắn cạp nong LC EN IIB
Rắn cạp nia bắc LC IIB
9 Platysternon megacephalum Rùa đầu to EN EN IIB I
Rùa hộp trán vàng CR EN x II
11 Cuora mouhotii Rùa sa nhân EN II
12 Mauremys sinensis Rùa cổ sọc EN III
Rùa núi viền VU VU IIB
14 Palea steindachneri Ba ba gai EN VU II
15 Ingerophrynus galeatus Cóc rừng LC VU
Cóc mày ba na VU
17 Quasipaa delacouri Ếch vạch DD EN
Ghi chú: NĐ160: Nghị định 160 NĐ-CP của chính phủ năm 2013; SĐVN:
Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 tổng hợp mức độ nguy hiểm của các loài động vật hoang dã tại Việt Nam, làm cơ sở cho các biện pháp bảo tồn và quản lý loài nguy cấp Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã quy định khung pháp lý cho bảo tồn, quản lý nuôi nhốt và buôn bán các loài thuộc danh mục bảo vệ Sách Đỏ thế giới của IUCN năm 2016 cung cấp đánh giá nguy cơ trên phạm vi toàn cầu cho các loài, phản ánh các xu hướng đe dọa và mức độ ưu tiên bảo tồn CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã) thiết lập các điều kiện và danh mục buôn bán nhằm ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng do thương mại quốc tế Tất cả các tài liệu này kết hợp để làm nền tảng cho chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý động vật hoang dã tại Việt Nam và trên toàn cầu.
+ CR: Cực kỳ nguy cấp + EN: Loài ở cấp nguy cấp + VU: Loài ở cấp s nguy cấp + NT: Gần bị đe dọa
+ LC: Ít quan tâm + DD: Thiếu dữ liệu
+ I, II, III: Phụ lục I, phụ lục II và phụ lục III của công ước CITES.
Phân bố của các loài Bò sát, Ếch nhái tại khu bảo tồn Nam Động
Phân bố của bò sát không đồng đều giữa các khu vực, tập trung chủ yếu tại khu rừng núi còn tốt và ẩm; tác động của con người và động vật tới rừng tại những khu vực này vẫn ở mức thấp, giúp môi trường sống của bò sát được duy trì tốt Tuy nhiên, một số loài phân bố gần khu dân cư có thể dễ bắt gặp hơn, như Rồng đất, Thằn lằn bóng hoa, Ô rô vẩy, Rắn ráo thường và Rắn nước.
Một số loài thường tập trung ở trong khu rừng tốt, ít bị tác động, khu vực núi đá (Rắn lục bắc bộ, Rắn lục núi, Tắc kè, Rùa sa nhân )
Phân bố của ếch nhái không đồng đều giữa các khu vực, tại khu vực gần khu dân cư ếch nhái chủ yếu tập trung ở các khe suối, bờ ruộng Một số loài có thể thường xuyên bắt gặp như: Ngóe, Chẫu chuộc, Cóc nhà, Nhái bầu vân, Nhái bầu hây môn, Càng vào sâu trong Khu rừng đặc dụng thì sự phân bố của ếch nhái càng không đồng đều Do khu vực điều tra là núi đá (rất ít các khe nước) nên chúng chỉ phân bố tại một số vũng, trũng có nước để sinh sống) Tại khu vực này có thể bắt gặp một số loài như: Ếch gáy dô, Ếch bám đá lào, Ếch cây mép trắng, Ếch cây sần nhỏ, Ếch poilani, )
Chính vì vậy, việc xây dựng bản đồ phân bố của Khu hệ bò sát, ếch nhái chỉ dựa vào các loài quan sát được 43 loài ngoài thực địa (hình 4.7)
Hình 4.7 Bản đồ phân bố Bò sát, ếch nhái 4.3.1 Phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh
Nghiên cứu sự phân bố của bò sát và ếch nhái theo các dạng sinh cảnh nhằm xác định sinh cảnh thích hợp nhất cho từng loài, từ đó làm căn cứ đánh giá đặc tính sinh thái và khả năng thích ứng với môi trường Việc nắm bắt rõ đặc điểm sinh thái của từng loài và mức độ nhạy cảm với biến đổi của sinh cảnh giúp nhận diện các yếu tố ưu tiên cho bảo tồn Dữ liệu này là nền tảng quan trọng để đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả, thiết kế khu bảo tồn và điều chỉnh quản lý môi trường nhằm duy trì đa dạng loài bò sát và ếch nhái.
Bò sát, Ếch nhái thích hợp
Việc xác định phân bố của các loài bò sát và ếch nhái theo sinh cảnh được thực hiện chỉ với những loài đã quan sát ngoài thực địa Kết quả cho thấy khu hệ bò sát và ếch nhái phân bố tập trung ở năm dạng sinh cảnh chính.
Trong hệ sinh thái rừng trồng, các sinh cảnh được phân thành SC1 đến SC4, mỗi loại có đặc điểm và vai trò riêng cho đa dạng sinh học và sự phát triển bền vững SC1 là sinh cảnh rừng trồng, là nơi cư trú và nguồn thức ăn cho nhiều loài; SC2 là sinh cảnh trảng cỏ cây bụi có xen cây gỗ rải rác, thảm thực vật hỗn hợp tạo môi trường sống phong phú; SC3 là sinh cảnh khe suối, thuỷ vực, nơi nước và hệ thủy sinh duy trì chu trình sinh thái; SC4 là sinh cảnh nương rẫy làng bản, thể hiện mối liên hệ giữa canh tác và thảm thực vật địa phương Nhận diện và bảo vệ các SC này góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì chức năng sinh thái và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
(SC4) và Sinh cảnh rừng giàu ít bị tác động (SC5) Kết quả được trình bày cụ thể bảng 4.4
Bảng 4.4 Phân bố các loài Bò sát, Ếch nhái theo sinh cảnh
TT Tên loài SC1 SC2 SC3 SC4 SC5
12 Ếch màng nhĩ khổng lồ + +
TT Tên loài SC1 SC2 SC3 SC4 SC5
27 Thằn lằn tai Ba vì +
Liu điu chỉ, Liu điu sáu vạch + +
32 Thạch sùng ngón Pù hu +
40 Rắn nước vân tam giác + +
Theo bảng 4.4, kết quả cho thấy sự phân bố khác biệt của các loài bò sát và ếch nhái giữa các dạng sinh cảnh Sinh cảnh rừng, ít bị tác động, ghi nhận được nhiều loài nhất với 28 loài (chiếm 65,12% tổng số loài quan sát trực tiếp); tiếp đến là sinh cảnh nương rẫy làng bản với 25 loài (58,14%); sinh cảnh khe suối, thuỷ vực ghi nhận 20 loài (46,51%); sinh cảnh trảng cỏ cây bụi có xen cây gỗ rải rác ghi nhận 19 loài (44,19%); và sinh cảnh rừng trồng có số loài ít nhất với 14 loài (32,56%) trong tổng số các loài quan sát trực tiếp.
Hình 4.8 Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh
4.3.1.1 Sinh cảnh rừng trồng Đây là sinh cảnh rừng trồng nằm trong vùng phục hồi sinh thái của KBT với diện tích 23ha, được trồng hỗn giao 02 loài Lát, Xoan Kể từ khi thành lập KBT loài Nam Động đến nay được đầu từ trồng rừng đang phát triển tốt, thảm tươi cây bụi nhiều Do đó sinh cảnh này là nơi thích hợp của một số loài Bò sát, Ếch nhái sinh sống như: Cóc nhà, Chẫu chuột, Ô rô,
Bước đầu đề tài đã thống kê được 14 loài, chiếm 32,56% tổng số loài điều tra quan sát được ngoài thực địa
Hình 4.9 Sinh cảnh rừng trồng
4.3.1.2 Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi có xen cây gỗ rãi rác
Sinh cảnh này chủ yếu tập trung ở thung lũng và ven khe suối, nơi hệ động thực vật phong phú tạo nguồn thức ăn cho bò sát và ếch nhái Trong dạng sinh cảnh này, nhiều loài côn trùng như châu chấu, kiến và mối là nguồn thức ăn chính cho bò sát và ếch nhái, góp phần duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái.
Đây là sinh cảnh ưu thích của một số loài bò sát và ếch nhái, ví dụ như ếch cây mép trắng, nhái bén dính và rắn ráo thường Theo thống kê, 19 loài thuộc nhóm này được ghi nhận, chiếm 44,19% tổng số loài quan sát.
Loại sinh cảnh này có diện tích hạn chế do khu vực nghiên cứu chủ yếu là núi đá; tuy nhiên, đây là môi trường sống thích hợp cho nhiều loài bò sát và ếch nhái, nổi bật là những loài có môi trường sống dưới nước.
Sinh cảnh này đã ghi nhận được một số loài bò sát, ếch nhái quan trọng như:
Cá cóc sần; ếch gáy dô,… Sinh cảnh này đã ghi nhận được 20 loài chiếm 46,51% tổng số loài quan sát trong quá trình điều tra
Hình 4.11 Sinh cảnh khe suối
4.3.1.4 Sinh cảnh nương rẫy làng bản
Sinh cảnh này thường gặp ở chân và sườn núi, các thung lũng tại bản
Lở là một sinh cảnh chiếm diện tích nhỏ trong KBT, nhưng lại có nguồn thức ăn phong phú cho bò sát và ếch nhái Nhờ nguồn thức ăn dồi dào, sinh cảnh này thu hút nhiều loài bò sát tập trung sinh sống, điển hình như rắn nước và thằn lằn địa phương.
Tắc kè; nhái bầu vân; thằn lằn bóng hoa,… Qua điều tra thống kê được 25 loài chiếm 58,14% tổng số loài quan sát trong nghiên cứu này
Hình 4.12 Sinh cảnh nương rẫy làng bản
4.3.1.5 Sinh cảnh rừng giàu ít bị tác động Đây là dạng sinh cảnh chiếm diện tích rất lớn ở khu vực nghiên cứu Ở sinh cảnh này rừng hầu như không bị tác động hoặc bị tác động rất ít Tài nguyên thực vật sinh trưởng và phát triển khá tốt, tiêu biểu là các loài hạt trần quý hiếm như Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Dẻ tùng sọc hẹp (Amentotaxus argotaenia), Dẻ tùng sọc rộng (Amentotaxus yunnanensis), Thông đỏ đá vôi (Taxus chinensis), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) Với hệ thống rừng giàu độ che phủ, độ ẩm không khí cao nên thuận lợi cho các loài Bò sát, Ếch nhái sinh sống
Sinh cảnh này ghi nhận đa dạng sinh học với nhiều loài bò sát và ếch nhái, trong đó 28 loài chiếm 65,12% tổng số loài được quan sát trong nghiên cứu Các loài tiêu biểu bao gồm Rùa sa nhân, Rắn lục núi, rắn lục Bắc Bộ, thằn lằn ngón pù hu, ếch cây đầu to và ếch bám đá Lào, cho thấy hệ sinh thái có mức đa dạng loài cao và tiềm năng cho các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và môi trường sống.
Hình 4.13 Sinh cảnh rừng giàu ít bị tác động 4.3.2 Phân bố Bò sát, ếch nhái theo đai cao
Các mối đe dọa đến Khu hệ Bò sát, ếch nhái
Săn bắt là nguyên nhân chính gây suy giảm số lượng động vật hoang dã tại KBT Nam Động Hoạt động này diễn ra chủ yếu ở vùng đệm; tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng bắt gặp người dân săn bắn bò sát, ếch nhái trong rừng đặc dụng (phân khu phục hồi sinh thái) Hoạt động săn bắt chủ yếu diễn ra vào buổi tối tại các con suối trong và ngoài vùng đệm cũng như trong KBT Đối tượng săn bắt không chỉ là đàn ông mà còn có phụ nữ địa phương sống quanh khu vực KBT.
Trong hình 4.15 về săn bắt bò sát, ếch nhái chủ yếu được sử dụng làm thức ăn, điển hình với các loài như ếch suối, rồng đất, rắn nước và rắn sọc dưa; bên cạnh đó, một số loài bò sát được nuôi làm cảnh như tắc kè.
Hoạt động săn bắn đã gây suy giảm nhanh chóng số lượng động vật tại Khu Bảo tồn, và các người được phỏng vấn cho rằng đây là nguyên nhân chính làm suy giảm các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực Kết quả phỏng vấn người dân và điều tra cho thấy một số loài, số lượng, hình thức săn bắt và mục đích sử dụng động vật đã được xác định rõ, cho thấy mức độ tác động đáng kể Tuy nhiên, đây chỉ là thông tin do một phần người dân cung cấp, và thực tế số lượng có thể lớn hơn nhiều so với các báo cáo Những dữ liệu này nhấn mạnh nhu cầu tăng cường quản lý, giám sát săn bắt và các biện pháp bảo vệ để giữ gìn đa dạng sinh học của khu bảo tồn.
Hoạt động của ếch nhái chủ yếu diễn ra ở vùng đệm, nhưng đến mùa sinh sản, các cá thể ếch nhái ghép đôi với nhau khiến chúng dễ bị phát hiện và người dân thường săn bắt ngay khi gặp.
4.4.1.2 Mất và chia cắt sinh cảnh
Mất và chia cắt sinh cảnh là nguyên nhân gây suy giảm số lượng loài tại khu vực điều tra, đặc biệt đối với các loài ếch nhái cần môi trường nước để sinh sản Quá trình điều tra đã ghi nhận một số hoạt động gây chia cắt và mất sinh cảnh, bao gồm canh tác nương rẫy, khai thác gỗ củi và khai thác lâm sản ngoài gỗ.
Canh tác nương rẫy là một phong tục tập quán lâu đời của các đồng bào dân tộc ở đây, gắn với đời sống và hệ thống luân canh truyền thống Hoạt động này chủ yếu diễn ra ở ranh giới giữa đất của người dân và Khu bảo tồn, nơi người dân vừa khai thác vừa bảo vệ nguồn tài nguyên tự nhiên Một số hộ dân vẫn canh tác trong Khu bảo tồn từ nhiều năm trước đây, dù đã có sự di cư hoặc di cư hạn chế khỏi khu vực này Việc duy trì canh tác nương rẫy phản ánh bản sắc văn hóa địa phương đồng thời đặt ra thách thức về quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học cũng như quản lý đất đai ở khu vực này.
Hình 4.16 Canh tác nương rẫy
Ở đây, mỗi hộ dân thường có một chòi để kết hợp giữa canh tác nương rẫy và chăn nuôi (lợn, gà, vịt) Các loài vật nuôi được thả tự do trong rừng đặc dụng, dẫn tới mất sinh cảnh sống và nguồn thức ăn của một số loài động vật hoang dã.
Ngoài hoạt động này, nhiều người dân ngủ lại trên chòi và thường xuyên tham gia săn bắt, bẫy bắt động vật, bò sát và ếch nhái để làm thực phẩm; họ cũng chặt một lượng gỗ để làm củi đốt phục vụ sinh hoạt.
Xung quanh khu vực KBT, người đồng bào Thái và Mường duy trì truyền thống làm nhà sàn từ bao đời nay Hiện nay các hoạt động khai thác gỗ chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng địa phương như dựng nhà và xây dựng chuồng trại Để làm nhà sàn, người dân thường chọn những cây gỗ lớn, gỗ tốt như Sến và Giổi, lấy từ khu rừng đặc dụng và một số khu rừng phòng hộ Việc chặt hạ những cây gỗ lớn có thể làm đổ ngã các cây lân cận, gây ảnh hưởng tới khả năng tái sinh của rừng và sinh cảnh sống của các loài động vật, từ đó tác động đến hệ sinh thái khu vực.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ
Do đời sống của một số hộ dân vẫn còn khó khăn, nhiều người vẫn vào rừng khai thác các loại LSNG như phong lan, cây thuốc và đặc biệt là mật ong để bán lấy thu nhập Những nguồn thu từ rừng giúp gia đình trang trải chi phí sinh hoạt, bổ sung nguồn lực kinh tế và tạo thêm cơ hội việc làm ở vùng nông thôn Tuy nhiên, hoạt động khai thác cần được thực hiện có trách nhiệm và bền vững để bảo vệ hệ sinh thái rừng và đảm bảo an toàn cho người dân.
Hình 4.18 Khai thác mật ong
Mặc dù hoạt động khai thác mật ong rừng không diễn ra thường xuyên, giá trị kinh tế cao khiến một số người dân vẫn vào rừng khai thác Hiện nay người dân khai thác chủ yếu là mật ong để bán với giá từ 4-5 trăm nghìn đồng cho 1 lít Khác với khu vực khác, để lấy được mật ở đây, người dân thường chặt những cây nhỏ và buộc chúng vào cây lớn rồi trèo lên để lấy mật (cũng có trường hợp dùng lửa đốt) Những hoạt động này ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài bò sát và ếch nhái, khi người dân đi lại nhiều hình thành đường mòn và tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng săn bắn tiếp cận Mặc dù mục đích là lấy mật ong, khi gặp các loài bò sát và ếch nhái, người dân cũng bắt giữ chúng.
Chăn thả gia súc tự do
Hiện nay, chăn thả gia súc chủ yếu diễn ra ở khu vực giáp ranh với khu bảo tồn và do thiếu đất canh tác nên hoạt động này đang tăng lên và xâm lấn vào khu bảo tồn Việc chăn thả kéo theo hủy hoại tầng thảm thực vật, làm giảm sự phát triển của cây gỗ tái sinh và gia tăng hiện tượng rửa trôi, xói mòn đất Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực tới nơi sống và nguồn thức ăn của các loài bò sát và ếch nhái, đồng thời đe dọa đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái của khu vực.
Hình 4.19 Chăn thả gia súc tự do 4.4.2 Đánh giá các mối đe dọa
Sau khi xác định và liệt kê các mối đe dọa đối với loài, tiến hành đánh giá và cho điểm từ 1–5 cho từng mối đe dọa, nhằm phân loại mức độ ảnh hưởng từ lớn đến nhỏ Điểm số được cấp dựa trên ba tiêu chí: diện tích bị ảnh hưởng của mối đe dọa, cường độ ảnh hưởng và tính cấp thiết của mối đe dọa, đồng thời tránh cho hai mối đe dọa có số điểm bằng nhau Phương pháp đánh giá theo Margoluis và Salafsky (2001) Kết quả đánh giá được trình bày trong bảng 4.6.
Bảng 4.6 Xếp hạng các mối đe dọa
TT Mối đe dọa Diện tích
Tính cấp thiết Tổng Xếp
2 Mất và chia cắt sinh cảnh
2.1 Canh tác nương rẫy 4 5 3 12 II
TT Mối đe dọa Diện tích
Tính cấp thiết Tổng Xếp
2.4 Chăn thả gia súc tự do 1 1 1 3 V
Kết quả tổng hợp điểm và xếp hạng cho thấy săn bắt có ảnh hưởng lớn nhất đến tập quán canh tác nương rẫy Khai thác gỗ, khai thác LSNG và chăn thả súc tự do có mức độ ảnh hưởng theo mức độ giảm dần.
Đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Ở Việt Nam, săn bắt và mất sinh cảnh đang là nguyên nhân chính làm suy giảm số lượng các loài động vật tại các khu bảo tồn và vườn quốc gia, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái quý hiếm Vì vậy, ưu tiên đầu tiên là bảo vệ loài và sinh cảnh của hệ bò sát, ếch nhái Để thực hiện được giải pháp này, cần thực hiện đồng bộ các hoạt động: tăng cường bảo vệ và phục hồi sinh cảnh tự nhiên; kiểm soát chặt chẽ săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã; đẩy mạnh nghiên cứu, theo dõi và đánh giá quần thể quý hiếm; củng cố quản lý khu bảo tồn, mở rộng mạng lưới bảo vệ và kết nối các khu vực sống của bò sát và ếch nhái; và thúc đẩy giáo dục cộng đồng, hợp tác với địa phương và phát triển du lịch sinh thái bền vững để giảm áp lực lên nguồn tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học.
Để ngăn chặn nạn săn bắt các loài bò sát và ếch nhái, các lực lượng chức năng tăng cường hoạt động tuần tra và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tập trung tại khu rừng có phân bố của nhiều loài thú lớn nhằm bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học của khu vực; cụ thể, các hoạt động được triển khai tại trụ sở hợp tác xã Tiên Phong trước đây thuộc tiểu khu 187, nơi có lán trại là điểm dừng chân của đối tượng săn bắn, và tại tiểu khu 207 và 200A xã Sơn Lư, huyện Quan Sơn.
Để tăng cường quản lý và bảo vệ rừng, chúng tôi thành lập các ban tự quản rừng tại bản Bâu và bản Lở Trong mỗi ban, cán bộ Kiểm lâm địa bàn làm trưởng nhóm cùng với hai người dân địa phương, nhằm tổ chức tuần tra rừng định kỳ, tuyên truyền bảo vệ rừng và kịp thời phát hiện, ngăn chặn phá rừng hoặc lấn chiếm đất rừng Mô hình này thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng tại hai bản, đồng thời góp phần bảo vệ hệ sinh thái và nguồn tài nguyên rừng cho cộng đồng địa phương.
Thực thi pháp luật xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về săn bắn tài nguyên động vật rừng để làm gương cho đối tượng khác
Trong công tác quy hoạch, cần hoàn thiện việc đóng mốc ranh giới cho KBT (Khu Bảo Tồn) để người dân nhận biết rõ phạm vi diện tích, từ đó ngăn ngừa khai thác tài nguyên trái phép trong rừng đặc dụng; đồng thời tăng cường tuyên truyền, giám sát và thực thi pháp luật nhằm bảo vệ khu vực bảo tồn, thúc đẩy quản lý bền vững và nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
4.5.2 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng
Nhận thức của cộng đồng về bảo tồn các loài động vật hoang dã còn ở mức thấp, là thách thức nổi bật cho công tác bảo tồn tại địa phương Vì vậy, trong thời gian tới KBT cần triển khai đồng bộ các chương trình giáo dục bảo tồn và nâng cao nhận thức cho cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương và học sinh, thông qua các hoạt động như tuyên truyền, khóa đào tạo ngắn hạn, workshop, và chương trình trải nghiệm tại khu bảo tồn Các chương trình này nhằm tăng hiểu biết về tầm quan trọng của động vật hoang dã và các hệ quả của mất đa dạng sinh học, khuyến khích hành vi bảo vệ và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý bảo tồn KBT sẽ phối hợp với nhà trường, các tổ chức địa phương và doanh nghiệp để thiết kế nội dung phù hợp từng nhóm đối tượng, đo lường hiệu quả qua chỉ số nhận thức và hành vi sau mỗi chương trình.
Chương trình tuyên truyền trong cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về vai trò và ý nghĩa của việc bảo vệ các loài động vật và sinh cảnh của chúng Đồng thời, giáo dục bảo tồn động vật được tích hợp vào các chương trình ngoại khóa cho học sinh, đặc biệt nhắm tới các trường tiểu học và phổ thông cơ sở để tiếp cận từ giai đoạn học đường Các hoạt động có thể bao gồm workshop, hoạt động ngoài trời và câu lạc bộ bảo tồn, nhằm hình thành thói quen bảo vệ động vật và môi trường từ sớm, đồng thời cung cấp nguồn tài nguyên giảng dạy phù hợp cho nhà trường.
Chương trình phát hành pa nô, khẩu hiệu và tờ rơi nhằm giới thiệu ý nghĩa và hiện trạng của các loài bò sát, ếch nhái cần ưu tiên bảo tồn, đồng thời nâng cao nhận thức và kêu gọi cộng đồng tham gia bảo vệ đa dạng sinh học Nội dung được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào tầm quan trọng của bảo tồn các loài này và các mối đe dọa hiện hữu, cùng với các biện pháp hành động thiết thực Xem chi tiết tại mục 4.2 để nắm rõ phạm vi thực hiện và các chỉ tiêu liên quan.
Chúng tôi tổ chức các buổi nói chuyện, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và động vật rừng, đến tận các bản làng thuộc các xã và các xã lân cận của Khu bảo tồn, nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ hệ sinh thái rừng.
Thúc đẩy thường xuyên các phong trào thi đua và xây dựng làng văn hóa, đồng thời đưa cam kết bảo vệ rừng, không săn bắn và không chặt phá rừng vào nhóm mục tiêu hàng đầu Xây dựng cam kết và quy ước quản lý bảo vệ rừng cho địa phương nhằm tăng cường sự đồng thuận, trách nhiệm và tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng Những nội dung này hỗ trợ bảo tồn hệ sinh thái, đảm bảo nguồn nước và nguồn lương thực từ rừng, đồng thời đóng góp vào phát triển bền vững kinh tế - xã hội địa phương Việc thực thi cam kết bảo vệ rừng được củng cố bằng cơ chế giám sát, tuyên truyền và phối hợp giữa người dân, chính quyền và các tổ chức liên quan, góp phần hình thành phong trào thi đua có ý nghĩa và lâu dài trong khu vực.
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) trên địa bàn các xã, cần được tổ chức và quản lý chặt chẽ hơn với cơ chế phối hợp đồng bộ giữa cấp xã, cấp huyện và các đơn vị liên quan Nâng cao năng lực quản lý và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cùng lực lượng bảo vệ rừng, tăng cường công tác tuần tra, canh gác và kiểm soát địa bàn để kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ vi phạm Bố trí lực lượng bảo vệ rừng đông đảo hơn, đầu tư đầy đủ phương tiện và công cụ hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ rừng Xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm, kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi khai thác, phá hoại hoặc lấn chiếm rừng, nhằm đảm bảo an ninh rừng và phát triển bền vững.
Thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất ổn định kết hợp với giao đất, giao rừng s làm cho diện tích đất lâm nghiệp trên toàn xã đều có chủ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khuyến khích cộng đồng cùng tham gia vào bảo vệ và phát triển rừng
4.5.3 Giải pháp về kinh tế - xã hội
- Tổ chức các chương trình dạy nghề và chuyển đổi nghề: Xúc tiến các hoạt động đào tạo nghề cho người dân, qua đó giúp họ có được một nghề mới, sinh kế mới từng bước thay đổi phong tục, tập quán và truyền thống khai thác lâm sản từ rừng Sinh kế thôn bản s không bền vững nếu như còn nhiều hộ dân vẫn sống dựa vào các hoạt động trái phép
Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của cộng đồng được triển khai tại các thôn (bản) vùng đệm khu bảo tồn, nhằm đảm bảo tính bền vững và phù hợp với thực tế địa phương Trước mắt, cần thực hiện đầy đủ và hiệu quả công tác quy hoạch vùng chăn thả gia súc gắn với chủ động kiểm soát dịch bệnh, đồng thời thực thi chế tài, quy chế và quy định về chăn thả và quản lý bãi chăn thả.
Chương trình tập trung xây dựng các mô hình trình diễn cây, con năng suất cao phù hợp với điều kiện và nhận thức của địa phương để chuyển giao công nghệ sản xuất cho người dân Trọng tâm trước mắt là giúp người dân cải thiện phương pháp chăn nuôi gia súc, gia cầm và công tác phòng dịch; xây dựng mô hình bếp tiết kiệm; phát triển mô hình nuôi ong mật, nuôi nhím, lợn rừng sinh sản và lấy thịt; trồng cây làm nguyên liệu và nhiên liệu; hình thành làng nghề truyền thống dựa trên lợi thế nguồn nguyên liệu tại chỗ để tăng thu nhập và phát triển bền vững cộng đồng.
Sản xuất hàng mây tre đan, bột giấy nguyên liệu, làng du lịch
Triển khai các chương trình và dự án đầu tư cho công tác bảo vệ, khoanh nuôi và trồng rừng, đồng thời thực hiện đồng bộ và toàn diện các chính sách đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng và phát triển rừng trồng Mục tiêu là nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương, thay thế sản phẩm từ rừng tự nhiên bằng sản phẩm từ rừng trồng, từ đó giảm áp lực tới tài nguyên rừng trong khu bảo tồn.