DANH MỤC CÁC HÌNH 4.1 Biểu đồ tỷ lệ chất lượng cây tái sinh của các trạng thái rừng 52 4.2 Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao 53 4.3 Mối quan hệ giữa độ phong phú loài và đai độ c
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới
1.1.1 Tiến triển nghiên cứu về cấu trúc tổ thành rừng
* Về cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới vô cùng phong phú, đã được nhiều nhà khoa học ghi nhận Theo Schimper (1935), trong rừng Bắc Mỹ trên diện tích 0,5 ha có đến 25-30 loài cây gỗ lớn, thể hiện sự đa dạng sinh học cao của hệ thực vật này Brown (1941) cũng nhấn mạnh rằng, trong rừng mưa châu Âu hoặc Bắc Mỹ, đặc biệt trong các trường hợp cực đoan, rừng có thể chứa tới 20-25 loài cây gỗ khác nhau, góp phần vào sự đa dạng và phức tạp của hệ sinh thái rừng mưa.
Trong rừng mưa nhiệt đới, mỗi hecta thường chứa ít nhất 40 loài cây gỗ lớn, thậm chí có trường hợp lên đến hơn 100 loài, thể hiện đa dạng sinh học phong phú Nhiều loài cây gỗ sinh trưởng xen kẽ theo tỷ lệ cân đối, trong khi cũng có những khu vực chỉ nổi bật với một hoặc hai loài chiếm ưu thế rõ rệt Tại khu vực rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shanxin - Trung Quốc, Zeng và cộng sự (1998) đã ghi nhận khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu và 20 loài cây sợi, bên cạnh đó còn có nhiều loài cây gỗ có giá trị khác.
* Nghiên cứu về tổ thành lớp cây tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng phụ thuộc vào yếu tố như mật độ cây trồng, tổ thành loài cây đa dạng, chất lượng của cây con và đặc điểm phân bố của chúng trong khu vực Việc đánh giá chính xác các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thành công của quá trình hồi phục rừng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái bền vững.
Tái sinh rừng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của hệ sinh thái thực vật, là nền tảng cho quá trình diễn thế và đảm bảo rừng luôn trong trạng thái vận động liên tục Các nghiên cứu về tái sinh rừng giúp làm rõ các quy luật tồn tại và phát triển của rừng qua các thời kỳ, từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai Tái sinh rừng không chỉ góp phần bảo vệ đa dạng sinh học mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rừng, mang lại lợi ích lâu dài cho môi trường và cộng đồng.
Quá trình tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới phức tạp và vẫn còn nhiều điều chưa được nghiên cứu rõ ràng Hầu hết các tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa đều tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã bị biến đổi phần nào Van Steenis (1956) đã xác định hai đặc điểm phổ biến của quá trình tái sinh rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, tầng cây gỗ và tầng cây bụi đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của hệ sinh thái Các yếu tố như ánh sáng và chất dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây tái sinh Những khu vực bị khai thác nhiều, tạo ra các khoảng trống lớn, thúc đẩy sự phát triển mạnh của cây bụi và thảm tươi, góp phần vào quá trình phục hồi rừng tự nhiên.
Trong điều kiện đất khô, nghèo dinh dưỡng và lâm phần kín, các cây bụi thảm tươi phát triển chậm, gây cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của các cây tái sinh Ngược lại, khi đất khô và nghèo dinh dưỡng, cây bụi thảm tươi ít phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho cây tái sinh vươn lên mạnh mẽ hơn (Xannikow 1967; Vipper 1973; theo Nguyễn Văn Thêm, 1992).
Trong phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích từ 1 đến 4 m², giúp thuận lợi trong quá trình khảo sát Tuy nhiên, do diện tích ô đo đếm nhỏ, cần phải dùng số lượng ô mẫu đủ lớn để đảm bảo phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm thiểu sai số trong thống kê, Barnard đề xuất các phương pháp hỗ trợ nhằm nâng cao độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
Năm 1950, người đề xuất phương pháp "điều tra chẩn đoán" nhằm xác định kích thước ô đo đếm phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây tái sinh Phương pháp này cho phép điều chỉnh kích thước ô đo đếm theo các trạng thái rừng khác nhau, giúp nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá và quản lý rừng.
1.1.2 Nghiên cứu về tính đa dạng loài trong các trạng thái rừng
Loài là kết quả của quá trình tiến hóa của sinh vật, phản ánh khả năng thích nghi với môi trường sống nhất định Mỗi loài chiếm giữ một không gian sinh thái xác định, tạo thành các quần thể có số lượng cá thể ổn định hoặc biến đổi khi bị cách ly Quần thể loài duy trì sự cân bằng sinh thái, góp phần vào sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái.
Tính đa dạng loài là biểu hiện của tính đa dạng sinh học chung, thể hiện qua độ phức tạp của cấu trúc và chức năng của quần xã sinh vật Đây là yếu tố quan trọng phản ánh mức độ phong phú về số lượng và đặc điểm của các loài trong hệ sinh thái Đa dạng loài góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái, nâng cao khả năng thích nghi của các quần thể trong môi trường Sự đa dạng này không những phản ánh sự phong phú về mặt sinh học mà còn ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe và ổn định của hệ sinh thái nói chung.
Tính đa dạng loài của một khu vực địa lý thể hiện tổng số loài động thực vật phân bố trong phạm vi đó, dựa trên các góc độ phân loại học, hệ thống học và địa lý học Đây còn gọi là tính đa dạng loài khu vực, phản ánh mức độ phong phú và đa dạng sinh học của khu vực đó Việc nghiên cứu tính đa dạng loài giúp hiểu rõ hơn về tình hình sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái trong khu vực.
Tính đa dạng loài của quần xã là nghiên cứu về cấu trúc theo chiều ngang từ góc độ sinh thái học, tập trung vào ý nghĩa sinh thái của sự đa dạng loài Nó thể hiện mức độ đồng đều trong phân bố các loài trên phương diện sinh thái và thường được nghiên cứu trên một phần diện tích của quần xã hoặc các khu vực như OTC, ODB Tính đa dạng loài còn được gọi là đa dạng sinh thái hoặc đa dạng quần xã, phản ánh sự phong phú và cân đối của các loài trong hệ sinh thái.
Từ năm 1943, Wilianms đã đề xuất khái niệm về "Tính đa dạng loài vật," mở đầu cho các nghiên cứu về chỉ số đa dạng loài do Fisher phát triển, góp phần hoàn thiện phương pháp xác định tính đa dạng của quần xã Hiện nay, các phương pháp xác định đa dạng loài được đánh giá cao gồm có phương pháp Magurran, được xem là chi tiết và chính xác, bên cạnh đó còn có phương pháp của Whitaker, dựa trên việc phân chia đa dạng loài thành các loại α-, β-, γ- đa dạng và các chỉ số liên quan.
Tính đa dạng loài của một hệ tiến hóa hoặc không gian tiến hóa nhất định được hình thành qua các quá trình diễn hóa phức tạp Qui luật biến hóa về đa dạng loài phụ thuộc vào thời gian và không gian, gây ra sự biến đổi không giống nhau trong từng giai đoạn Không chỉ riêng các loài vật, mà còn liên quan đến nguồn gốc, quá trình phát triển, thoái hóa và tiêu vong của chúng Điều này chính là bản chất của qui luật diễn hóa trong hệ sinh thái, thể hiện tính đa dạng đặc thù của các loài sinh vật qua các thời kỳ khác nhau.
Xác định các chỉ số tính đa dạng loài sinh vật cũng tùy theo tính chất mà có thể phân thành 4 loại chỉ số sau:
- Chỉ số độ phong phú loài
- Chỉ số tính đa dạng loài
- Chỉ số độ đồng đều
- Chỉ số độ ưu thế sinh thái
Tình hình nghiên cứu ở việt nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 1.2.1.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam dựa trên quan điểm hệ sinh thái đã phân tích các nhóm loài ưu thế dựa trên số lượng và sinh khối, đặc biệt trong rừng nhiệt đới ẩm Thái Văn Trừng (1963, 1978, 1999) đề xuất rằng nhóm loài ưu thế trong các "ưu hợp" không nên vượt quá 10 loài, trong đó tỷ lệ cá thể mỗi loài là khoảng 5%, và tổng số cá thể của các loài này chiếm khoảng 40-50% tổng số cá thể cây trong các tầng cây của quần thể trên diện tích nghiên cứu Trong trường hợp các loài cây không rõ độ ưu thế rõ ràng, các nhóm này được gọi là các phức hợp.
Trong rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, hiếm khi chỉ có một loài ưu thế duy nhất, tạo thành các quần hợp đa dạng như trong các khu vực ôn đới Nguyễn Hồng Quân nhấn mạnh rằng sự đa dạng sinh học này đóng vai trò quan trọng trong sự ổn định và bền vững của hệ sinh thái rừng Việt Nam.
(1982)[32] trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một ha có khoảng
Trong rừng tự nhiên hỗn loài, có đến khoảng 60 loài cây, nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10% Nguyễn Văn Trương (1983) cho rằng, trong rừng hỗn loài, lượng loài cây gỗ từ trạng thái sào trở lên có thể lên đến 30-40 loài trên một hectare, tuy nhiên, trong số đó, loài cây gỗ lớn có khả năng vươn đến chiều cao 30 mét chỉ chiếm 10-20%, đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học và cấu trúc rừng.
Nguyễn Ngọc Lung (1991) đã nghiên cứu về các dạng rừng khí hậu tại Hương Sơn, Kon Hà Nừng và các địa phương lân cận Ông ghi nhận rằng trên mỗi ô tiêu chuẩn diện tích 1 ha rừng thường chứa từ 23 đến 25 loài cây khác nhau Đặc biệt, số lượng cây trong mỗi hectare dao động từ mức thấp nhất là 317 cây đến cao nhất tới 859 cây, phản ánh sự đa dạng sinh học phong phú của hệ sinh thái rừng khí hậu khu vực.
1.2.1.2 Nghiên cứu cấu trúc lớp cây tái sinh rừng
Thái Văn Trừng (1963, 1978) đã xác định hai phương pháp tái sinh tự nhiên của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên sinh và thứ sinh, bao gồm tái sinh liên tục dưới tán cây rậm rạp của các loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để khắc phục các lỗ hổng sinh thái, qua đó kiểm soát và điều chỉnh quá trình tái sinh tự nhiên của rừng.
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái sinh của các loài cây, đặc biệt là những cây có đường kính từ 12 đến 30 cm và chiều cao khoảng 11 đến 20 mét Tầng tán chính của rừng, không bị khai thác, gây ra sự ứ đọng tán và ngăn ánh sáng lọt xuống đất, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và tái sinh của các loài cây ưa sáng.
Trong nghiên cứu của Vũ Tiến Hinh (1991), cây rừng tái sinh liên tục và đa dạng về tuổi, đặc biệt là ở lâm trường Hoành Bồ, Quảng Ninh, cho thấy số lượng cây trẻ càng lớn ở tuổi nhỏ và có mối liên hệ chặt chẽ với hệ số tổ thành giữa tầng tái sinh và tầng cây cao Ngoài ra, Vũ Văn Nhâm (1992) nhận thấy ở vùng Đông Bắc, các lâm phần có diễn thế rừng ổn định thường có hệ số tổ thành tầng cây cao và tầng tái sinh thống nhất, trong khi những lâm phần diễn thế không ổn định thể hiện sự khác biệt rõ rệt trong cấu trúc rừng.
Nguyễn Vạn Thường (1991) nhận định rằng, tình hình tái sinh tự nhiên tại một số khu rừng miền Bắc Việt Nam diễn ra liên tục và không theo chu kỳ rõ rệt Ông cho biết, sự phân bố của cây tái sinh rất không đều, với số lượng cây mạ chiếm ưu thế rõ rệt so với các cây ở các độ tuổi khác, thể hiện khả năng phục hồi và sinh trưởng của rừng trong khu vực này.
Trần Ngũ Phương (1970) nhận xét rằng, rừng tự nhiên dưới tác động của con người như khai thác hoặc làm nương rẫy nhiều lần dẫn đến hình thành đất trống, đồi núi trọc Tuy nhiên, nếu để thảm thực vật hoang dã phát triển tự nhiên, sau một thời gian dài, các trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần thành các dạng thực bì cao hơn qua quá trình tái sinh tự nhiên Cuối cùng, rừng khí hậu có thể phục hồi gần giống với rừng khí hậu ban đầu, thể hiện khả năng phục hồi của hệ sinh thái rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh.
1.2.2 Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các trạng thái rừng
Công trình đầu tiên, hoàn chỉnh nhất trong nghiên cứu thực vật ở Việt Nam là công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của cố GS.TS Thái Văn
Trung, trong giai đoạn 1963-1978, đã dựa trên các công trình trước đó và nghiên cứu riêng để thống kê hơn 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam, thuộc 1.850 chi và 189 họ Ông khẳng định rằng ngành hạt kín chiếm ưu thế trong hệ thực vật Việt Nam với 90,9% tổng số loài (6.336 loài), 93,4% số chi (1.727 chi), và 82,7% số họ (239 họ), phản ánh rõ ràng về sự đa dạng và phổ biến của ngành thực vật này trong hệ sinh thái Việt Nam.
Nguyễn Nghĩa Thìn sinh năm 2004 đã nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Việt Nam và trên thế giới, bắt nguồn từ các công trình phân loại động vật, thực vật và nấm từ rất sớm Phân loại sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ các hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học Các nghiên cứu này giúp xác định các loài đặc hữu, nguy cấp và thúc đẩy các chính sách bảo vệ môi trường hiệu quả Đề tài nghiên cứu của ông góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học trong phát triển bền vững cộng đồng và thiên nhiên.
Nguyễn Nghĩa Thìn (2000) cùng các tác giả đã công bố nhiều bài báo về đa dạng sinh học của các khu vực quan trọng như Vườn quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hòa Bình, KBT Na Hang, vùng núi Sapa, vùng ven biển Nam Trung Bộ, vùng núi Quảng Ninh, lưu vực Sông Đà và các vườn quốc gia khác như Cát Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yok Đôn và Hoàng Liên Sơn Những nghiên cứu này góp phần quan trọng vào việc đánh giá và bảo tồn đa dạng sinh học của các khu vực thiên nhiên phong phú của Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã công bố một cuốn cẩm nang về nghiên cứu đa dạng sinh học, nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu Cuốn cẩm nang này phục vụ cho các cán bộ trực tiếp thực hiện nghiên cứu trong các khu bảo tồn thiên nhiên và khu bảo vệ tài nguyên trên toàn quốc Nội dung hướng dẫn chi tiết giúp nâng cao năng lực phân tích, đánh giá đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái Việt Nam.
Viện Điều tra quy hoạch rừng Việt Nam (1971-1988)[47] đã công bố 7 tập
“Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh họa nhằm phục vụ cho khai thác tài nguyên rừng
Các công trình nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật ở Việt Nam trong nửa đầu và cuối thế kỷ 20 chủ yếu tập trung vào việc thống kê thành phần loài trong phạm vi một vùng, khu vực nhất định Nghiên cứu đa dạng sinh học, đặc biệt là đa dạng thực vật bằng phương pháp định lượng, vẫn còn là vấn đề phức tạp và chưa có hệ thống lý luận hoàn chỉnh được phát triển.
1.2.3 Biến động tính đa dạng thực vật theo đai độ cao
Nguyên Quốc Trị (2007) đã thực hiện nghiên cứu luận án tiến sĩ về tổ thành thực vật và sự biến động của chúng theo độ cao tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai Các kết quả nghiên cứu của ông cung cấp những phát hiện quan trọng về sự phân bố và biến động của các loại thực vật trong khu vực, góp phần nâng cao hiểu biết về hệ sinh thái miền núi Việt Nam và hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
- Trạng thái rừng và rú nguyên sinh chỉ gặp ở đai cao trên 1500m
- Các trạng thái rừng thứ sinh chỉ gặp ở đai cao dưới 2000m
- Về số cây cao trên đơn vị diện tích 1 ha có xu hướng tăng lên theo cấp độ cao tăng lên
- Về tổ thành loài cây theo độ cao tăng lên thì có xu hướng giảm dần xuống, và với những loài qui hiếm thì cũng có dạng tương tự
MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đông Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Nội dung tập trung vào nghiên cứu đa dạng loài thực vật rừng, nhằm thúc đẩy bảo vệ sinh thái và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên này Việc này góp phần nâng cao意识 cộng đồng về tầm quan trọng của bảo vệ các loài thực vật quý hiếm, đồng thời hỗ trợ các chính sách phát triển bền vững tại địa phương.
- Xác định được một số đặc trưng cấu trúc tổ thành và tính đa dạng loài thực vật rừng trong KBTTN
- Xác định được đặc điểm biến đổi tính đa dạng loài thực vật rừng (theo không gian và theo thời gian phục hồi rừng khác nhau)
- Đề xuất được một số giải pháp trong quản lý rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu.
Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các trạng thái rừng tự nhiên nhiệt đới thuộc KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh có diện tích 20.364,0 ha
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và tính đa dạng loài loài thực vật trong các trạng thái rừng của Khu BTTN
(1) Các trạng thái rừng chủ yếu trong KBTTN Đông Sơn - Kỳ Thượng
(2) Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài trong các trạng thái rừng tự nhiên
(3) Đặc điểm về tính đa dạng loài thực vật rừng trong KBTTN
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm biến động tính đa dạng loài thực vật rừng (theo không gian, theo thời gian phục hồi rừng khác nhau)
(4) Biến động tính đa dạng loài thực vật rừng theo không gian
(5) Biến động số loài theo thời gian phục hồi rừng
2.3.3 Bước đầu đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên thực vật trong Khu BTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tất cả những tài liệu có liên quan đến đề tài
Kế thừa các tài liệu và số liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu để đảm bảo độ chính xác và toàn diện Tài liệu tham khảo liên quan từ các tác giả trong và ngoài nước góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu Việc tích hợp nguồn tài liệu phong phú giúp phân tích chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến khu vực phù hợp với các tiêu chí SEO và nội dung nghiên cứu.
2.4.2 Phương pháp điều tra sơ thám và chọn địa điểm lập OTC
Thiết lập các tuyến điều tra và chọn vị trí lập các điểm khảo sát (OTC) để tiến hành nghiên cứu quan sát, đánh giá tổ thành loài, đồng thời xác định tính đa dạng thực vật rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Quá trình này giúp thu thập dữ liệu chính xác về thành phần loài và mức độ đa dạng của hệ sinh thái rừng, hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển bền vững quỹ đất rừng Các bước này đều nhằm mục đích đảm bảo việc phân loại, đánh giá đa dạng sinh học rừng một cách hiệu quả và phù hợp với yêu cầu nghiên cứu.
1) Căn cứ vào các trạng thái rừng khác nhau thiết lập các OTC điển hình tạm thời trên các tuyến điều tra từ thấp lên cao và từ cao xuống thấp theo các diện tích nhỏ 500(m 2 )/1OTC và ODB 4m 2 , 25m 2
2) Thiết lập OTC điển hình tạm thời với diện tích lớn 1000m 2 và 2500m 2
3) Trong phạm vi khu vực thiết lập các OTC điển hình tạm thời với diện tích nhỏ trong diện tích rất lớn: > 1,0 ha, chỉ cần số lượng diện tích tăng lên sao cho đủ thoả mãn được yêu cầu phân tích theo toán thống kê sinh học, có thể phản ảnh được qui luật biến động về bố cục phân bố không gian của tính đa dạng thực vật trong khu vực
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào sự biến động về bố cục không gian của tính đa dạng thực vật rừng trong quá trình phục hồi rừng sau nương rẫy và khai thác với các cường độ khác nhau Các phân tích đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp nghiên cứu về cảnh quan để hiểu rõ hơn về cơ chế duy trì đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng Kết quả cho thấy quá trình phục hồi rừng còn phụ thuộc vào các yếu tố về phân bố không gian, giúp đề xuất các biện pháp bảo tồn phù hợp, tối ưu hóa quá trình phục hồi tự nhiên và giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác.
Dựa trên số liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành tính toán độ phong phú và mô tả hiện trạng đa dạng loài thực vật quý hiếm trong khu bảo tồn Các thông tin này giúp xác định các phương thức quản lý và kinh doanh rừng tự nhiên hiệu quả, góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh thái Ngoài ra, dữ liệu khoa học này là nền tảng quan trọng trong việc thúc đẩy phục hồi rừng tự nhiên và nâng cao khả năng xây dựng kho chứa Carbon của ngành lâm nghiệp Việc này đồng thời góp phần vào quá trình xây dựng hệ sinh thái bền vững và các công trình bảo tồn thiên nhiên.
2.4.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoại nghiệp
1) Phương pháp điều tra thực địa Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp với điều tra trên các OTC: Số liệu được kế thừa tất cả là 45 OTC có diện tích 1000m 2 của các dự án đã tiến hành điều tra trong 2 năm gần đây và đề tài có điều tra bổ sung thêm 9 OTC ở 4 trạng thái rừng chủ yếu trong khu vực Trên mỗi một trạng thái rừng tiến hành lập 2-3 OTC điển hình tạm thời có diện tích 1000 m 2 /ô, từ 2-3 OTC tính bình quân ra thành một OTC để phân tích và đánh giá
Như vậy tất cả tài liệu để tính toán cho đề tài này là 54 ÔTC Các bước tiến hành cụ thể như sau:
* Điều tra tầng cây cao
Trong các OTC, mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao và lịch sử canh tác nương rẫy là bước quan trọng để xác định các đặc điểm sinh thái của khu vực Sau đó, thực hiện xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao nhằm đưa ra đánh giá chính xác về thực trạng rừng tự nhiên Nếu loài chưa rõ, cần thu thập tiêu bản để giám định nhằm đảm bảo độ chính xác trong quá trình phân loại và nghiên cứu.
Đường kính ngang ngực (D1,3, cm) được đo bằng thước kẹp kính chính xác đến millimet, đo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc để đảm bảo độ chính xác cao Sau đó, giá trị đo được sẽ được tính trung bình để xác định kích thước chính xác của vòng ngực Phương pháp đo này giúp đảm bảo độ tin cậy trong các nghiên cứu và đánh giá y học.
Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) là những chỉ tiêu đo lường quan trọng trong đánh giá cây rừng HVN được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, mang ý nghĩa thể hiện chiều cao tổng thể của cây Trong khi đó, HDC đo từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán cây, phản ánh mức độ phát triển của các cành phân chia Cả hai thông số này đều được đo bằng thước độ chính xác đến decimet (dm), giúp đảm bảo độ chính xác cao trong khảo sát và đánh giá rừng.
Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước dây có độ chính xác đến decimet, đo hình chiếu tán lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc Sau đó, giá trị đo được được tính trung bình để đảm bảo độ chính xác Kết quả đo đạc sau đó được ghi chép vào phiếu điều tra tầng cây cao để phân tích và đánh giá sự phát triển của cây.
Kết quả ghi vào mẫu biểu mẫu sau (Biểu 01,02,03, 04…)
Biểu 01: Phiếu điều tra tầng cây cao
Tiểu khu: Độ cao tương đối:
TB (cm) vn (m) dc (m) ĐT (m)
* Xác định độ tàn che:
Phương pháp vẽ trắc đồ rừng của Richards và Davis (1934) giúp xác định diện tích tán che bằng cách biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với tỷ lệ 1/200, trong đó dải rừng có diện tích 500m² (10 x 50m) Quá trình này cho phép tính toán chính xác diện tích tán che trên giấy, từ đó xác định tỷ lệ phần trăm diện tích che phủ của rừng Phương pháp này là công cụ hiệu quả để đánh giá mức độ phủ cây xanh và quản lý rừng bền vững.
* Điều tra cây tái sinh:
Trên OTC, lập 5 ODB có diện tích 25m 2 phân bố đều trên OTC Thống kê tất cả cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng thước sào
- Chất lượng cây tái sinh:
+ Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh
+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh
Trong nghiên cứu về khoảng cách giữa các cây tái sinh trên OTC, chọn ngẫu nhiên một cây tái sinh để đo khoảng cách đến cây gần nhất sử dụng thước dây chính xác đến centimet Để đảm bảo tính chính xác, mỗi trạng thái đo được thực hiện 30 lần và các kết quả này sau đó ghi lại vào phiếu điều tra khoảng cách cây tái sinh, giúp cung cấp dữ liệu đáng tin cậy cho phân tích sự phân bố của các cây tái sinh trong khu vực.
Kết quả điều tra được ghi vào biểu mẫu như sau (Biểu 02)
Biểu 02: Phiếu điều tra cây tái sinh
OTC: Độ cao tương đối:
Số cây theo cấp chiều cao (m) Nguồn gốc Chất lượng
Tổng số cây tái sinh
* Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:
Lập 5 ODB có diện tích 25m 2 (5m x 5m) được bố trí đều trên 2 đường chéo của OTC
- Điều tra cây bụi (shrubs), điều tra thảm tươi (ground cover vegetation) theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ, tình hình
Kết quả điều tra được ghi vào biểu mẫu như sau (Biểu 03)
Biểu 03: Phiếu điều tra tầng cây bụi thảm tươi
OTC: Độ cao tương đối:
ODB Tên loài cây chủ yếu
* Phương pháp điều tra dạng sống của thực vật Tiến hành thống kê tất cả các loài thực vật bắt gặp trên các OTC của khu vực nghiên cứu
Mỗi đài độ cao đào 3 phẫu diện có kích thước (1.2 x 0.8 x 1.0m), tập trung tại trung tâm OTC Các phẫu diện đất được mô tả dựa trên loại đất, độ dày tầng đất, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới và độ ẩm, theo hướng dẫn trong "Sổ tay điều tra quy hoạch rừng" (1995) Các bước khảo sát này giúp đánh giá chính xác đặc điểm đất đai để phục vụ công tác quy hoạch rừng hiệu quả.
Lịch sử can thiệp vào rừng được dựa trên các tài liệu và báo cáo hàng năm của Hạt kiểm lâm Hoành Bồ, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Đồng-Kỳ Thượng, Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, và Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh Các báo cáo này giúp theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, biến động về mục đích sử dụng rừng, cũng như công tác quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả Thông qua đó, các chính sách và biện pháp bảo vệ rừng được điều chỉnh phù hợp để đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái.
2.4.3 Phương pháp xử lý và tính toán nội nghiệp 2.4.3.1 Xác định các kiểu trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu
Các kiểu trạng thái rừng tự nhiên chủ yếu
2.4.3.2 Phân tích cấu trúc tổ thành của các trạng thái rừng
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới 3.1.1.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh có toạ độ địa lý:
Từ 107°00´30´´ đến 107°14´00´´ vĩ độ Bắc
Từ 21°04´00´´ đến 21°11´00´´ kinh độ Đông
Phía Bắc bắt đầu từ đỉnh đèo Mo Cao (852,5m) - ranh giới giữa huyện Hoành Bồ và huyện Ba Chẽ - đến đỉnh cao 562,5m Từ đó, theo hướng Tây Bắc, vượt qua khe Phương lên đỉnh 341,3m, sau đó hướng Bắc qua ngã ba suối lớn chảy về khe Phương Tiếp tục hành trình, từ ngã ba suối lớn lên đỉnh 280,6m, rồi theo dông hướng Tây tới đỉnh 480,3m Từ đỉnh này, theo dông hướng Tây Bắc, vượt khe Luông lên đỉnh đèo Dài cao 579,3m, rồi theo dông hướng Tây qua các đỉnh 444,1m và dọc theo dông đến đỉnh núi khe O, tạo thành đoạn đường hiểm trở của khu vực phía Bắc.
Phía Tây bắt đầu từ đỉnh núi khe O, theo hướng Tây Nam đến ngã ba suối chính rồi lên dông theo hướng Tây Nam qua đỉnh cao 578,4m và đỉnh 457,2m Tiếp đó, đường đi theo khe đến ngã ba nhỏ theo dông hướng Đông Nam để lên đỉnh khe Ru cao 566,9m Từ đỉnh khe Ru, tuyến đường tiếp tục theo phân thủy chia đôi hai khe Đồng Quặng và khe Cài đến đỉnh cao 574,4m nằm trên đường ranh giới giữa hai xã Đồng Lâm và Sơn Dương.
Khu vực phía Nam có hệ thống các đỉnh núi đa dạng, bắt đầu từ đỉnh 547,4m theo đường dông, tiếp tục qua đỉnh 583,0m theo hướng Bắc, xen kẽ rừng sản xuất lên đỉnh 246,0m, sau đó vượt qua đỉnh 224,3m đến đỉnh 198,3m theo sườn hướng Bắc và Đông Bắc Kết thúc đoạn này là khe dẫn lên đỉnh 333,1m, sau đó đi dọc theo sườn đông hướng Đông, cắt qua sông Đồng Trà đến đỉnh cao 442,3m Từ đây, hệ thống núi chạy dọc theo hướng Đông Nam đến đỉnh 472,2m, sau đó theo hướng Nam, vượt qua các đỉnh như 236,2m, 136,2m, 113,1m, rồi cắt qua sông Vũ Oai để lên đỉnh 81,8m, tiếp tục đi qua các khe nhỏ đến đỉnh 132,5m.
Phía Đông: Từ đỉnh 132,5m đi theo hướng Đông Bắc qua các đỉnh 154,8m;
374,9m; 473,3m tiếp tục đi theo dông hướng Bắc, Tây Bắc đến đỉnh 852,5m
Tổng diện tích tự nhiên là 16.878,7 ha (nguồn dự án rà soát điều chỉnh rừng đặc dụng KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng)
Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng
Ninh nằm ở phía Nam của dãy núi chính, tạo ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Hoành Bồ và Ba Chẽ Nơi đây thuộc địa bàn huyện Hoành Bồ, nằm về phía Đông của dãy núi hình cánh cung Đông Triều Vị trí địa lý chiến lược này giúp Ninh có vai trò quan trọng trong việc liên kết các khu vực lân cận và phát triển kinh tế địa phương.
- Hệ thống núi chính của khu bảo tồn nằm theo hướng Đông - Tây, bắt đầu từ đỉnh đèo Mo (947m) chạy qua nhiều đỉnh núi tới đỉnh núi đèo Gốc
- Các dải núi độc lập và các dãy núi phụ trong khu bảo tồn đa phần có hướng Tây Bắc - Đông Nam
Hệ thống dông và núi trong khu bảo tồn nổi bật với đỉnh Thiên Sơn cao 1090m, tạo thành các dông núi chạy từ khe Ru (826m), qua đèo Kinh (694m), Đồng Trà (889m), Am Váp (1501m) đến đèo Mo (974m) Các dông núi này chia khu bảo tồn thành hai lưu vực: phía Bắc dẫn nước về sông Ba Chẽ, còn phía Nam hướng nước về sông Man rồi chảy ra Vịnh Hạ Long Dù độ cao tuyệt đối không quá lớn, nhưng sự chênh lệch cao trong khu vực lên tới hàng ngàn mét tạo ra địa hình đa dạng và phức tạp Địa hình trong khu bảo tồn bị phân chia mạnh bởi nhiều dông núi nhỏ và khe suối, với độ dốc trung bình từ 20 đến 25°, nhiều nơi có độ dốc lớn, làm tăng tính đa dạng và thách thức cho hệ sinh thái.
30 ÷ 40° xen kẽ, đôi chỗ có độ dốc 50 - 60° rất hiểm trở
Các lưu vực sông chính trong khu vực gồm Ba Chẽ và Sông Man, nổi bật với nhiều khe suối sâu, dốc, bắt nguồn từ chân núi Am Váp và Thiên Sơn Những đặc điểm này đã góp phần quan trọng vào việc chia cắt địa hình khu vực, tạo nên đặc trưng địa lý độc đáo.
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho thấy khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng hình thành từ kỷ Trias thuộc thời kỳ Đệ Tứ, với các loại đá mẹ chính gồm Phấn sa, Sa thạch, Sỏi cạn kết, Phù sa cổ, xen kẽ đá Phiến thạch sét Trên các đỉnh núi, đá mẹ có nguồn gốc macma phun trào do hoạt động tạo sơn Hymalaya trong kỷ Trias - Jurassic, góp phần hình thành đặc điểm địa chất khu vực.
Trong tháng 4 năm 2001, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã tiến hành xây dựng bản đồ dạng đất và phát hiện trong khu vực có tổng cộng 22 dạng đất khác nhau, được phân thành 4 nhóm đất chính Các dạng đất này đa dạng và rất phong phú, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và quản lý tài nguyên đất đai của khu vực Việc xác định các dạng đất này giúp nâng cao hiệu quả trong công tác quy hoạch và bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững đất nước.
Đất Feralit có mùn trên núi ở độ cao trên 700m, có màu nâu nhạt nhờ hàm lượng mùn cao, phù hợp phát triển trên đá sa thạch khối Tầng đất của loại đất này khá mỏng đến trung bình hoặc rất mỏng, thường xuyên xuất hiện nhiều đá lộ đầu Phân bố của đất Feralit rải rác chủ yếu tập trung trên các khu vực núi cao như Thiên Sơn, Am Váp và đèo Mo.
Đất Feralit có màu nâu vàng, vàng nhạt, chủ yếu phát triển trên các đá phiến thạch sét, sa thạch, phấn sa và sạn kết, tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi dưới 700m Tầng đất dày đến trung bình, trong khi những nơi đất mỏng thường là đỉnh núi có đá sa thạch khối phân bố Đất có thành phần cơ giới trung bình và phân bố chủ yếu tại các khu vực như Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng và quanh núi Thiên Sơn (Vũ Oai).
Đất Feralit màu vàng đỏ, đỏ vàng hoặc xám vàng phát triển chủ yếu trên đá sa thạch và sỏi kết của nền phù sa cổ, thường phân bố trên các đồi thấp ở các xã Đồng Sơn, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hoà Bình Tầng đất mỏng đến trung bình, có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng, phù hợp với các khu vực đất đai có đặc điểm này.
Nhóm đất thung lũng và đất đồng ruộng chủ yếu phân bố trên nền phù sa cổ và bồi tụ ven suối, mang đặc điểm nhẹ, dễ thoát nước và phù hợp cho các hoạt động nông nghiệp Những loại đất này tập trung chủ yếu dọc theo các sông suối và thung lũng hẹp của các xã trong và quanh Khu bảo tồn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển cộng đồng và bảo tồn sinh thái của khu vực.
Đất trong Khu bảo tồn chủ yếu là đất Feralit màu đỏ vàng, vàng đỏ đến vàng nhạt, có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tơi xốp, dễ thoát nước và có tầng đất trung bình, nhưng khả năng kết dính kém khiến đất dễ bị rửa trôi, xói mòn nếu mất rừng Loại đất này phù hợp cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, tuy nhiên, cần bổ sung phân bón để nâng cao năng suất.
Khí hậu Đồng Sơn - Kỳ Thượng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ảnh hưởng của khí hậu đại dương có các đặc trưng sau:
Năm gồm hai mùa rõ rệt, đó là mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mang đến khí hậu se lạnh và khô ráo Trong khi đó, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9 có nhiệt độ cao, nóng ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngoài trời và du lịch.
Khu vực có chế độ nhiệt đa dạng với nhiệt độ bình quân năm khoảng 23°C, trong đó mùa nóng trung bình 25°C và mùa lạnh trung bình 20°C Biên độ nhiệt ngày và đêm dao động từ 5 đến 8°C, tổng tích ôn trung bình hàng năm đạt khoảng 8.000°C Nhiệt độ tối đa tuyệt đối lên đến 41°C vào tháng 6, trong khi nhiệt độ tối thấp nhất từng giảm xuống còn 0°C vào tháng 1 Trong năm, những ngày nhiệt độ dưới 10°C thường kéo dài do ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc trong mùa rét, đặc biệt diễn ra ở các thung lũng thuộc Đồng Sơn - Kỳ Thượng.
Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư 3.2.1.1 Dân tộc và tập quán
Dân cư trong khu vực chủ yếu gồm bốn dân tộc chính: Dao, Sán Dìu, Kinh và Hoa, trong đó người Dao chiếm tới 99% Tập quán sản xuất chính là làm nương rẫy và khai thác tài nguyên tự nhiên, gây ảnh hưởng đáng kể đến tài nguyên thực vật của khu bảo tồn Việc duy trì các hoạt động nông nghiệp truyền thống của các dân tộc này ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái của khu vực Do đó, cần có các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật nhằm duy trì sự bền vững của khu bảo tồn tự nhiên này.
3.2.1.2 Dân số, lao động và phân bố dân cư
Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng giáp với 29 thôn bản, trong đó có 9 bản với tổng dân số khoảng 2.200 người, chiếm 27,7% tổng dân số của 5 xã trong khu vực Về dân số lao động, khu bảo tồn quản lý khoảng 350 hộ gia đình sinh sống trong phạm vi của khu bảo tồn này.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Trong phạm vi nghiên cứu có diện tích 16.878,7 ha, chiếm 52% tổng diện tích
5 xã, nhưng chỉ có 9 thôn bản với 2.200 nhân khẩu, bằng 27,7% tổng dân số
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 97 ÷ 98% Chất lượng việc dạy và học chưa cao trình độ học sinh thấp hơn so với trung bình khu vực
Các xã có trạm y tế đặt tại trung tâm xã và các bản có cán bộ y tế thôn bản, nhưng trang thiết bị của các cơ sở y tế còn thiếu thốn và trình độ cán bộ y tế còn thấp, khiến dịch vụ khám chữa bệnh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bà con nhân dân Các bệnh sốt rét và suy dinh dưỡng vẫn chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt ở các xã vùng sâu, gây áp lực lớn cho hệ thống y tế địa phương.
- Đời sống văn hoá xã hội
Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc vùng cao của huyện Hoành Bồ, nơi đời sống văn hóa xã hội của người dân còn gặp nhiều khó khăn Do nhiều thôn bản chưa có điện lưới quốc gia, phần lớn người dân chưa tiếp cận được các thiết bị truyền thông hiện đại như truyền hình, điện thoại Tình hình này khiến sức khỏe thông tin của cộng đồng còn hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của địa phương.
3.2.3 Thực trạng các ngành kinh tế
Người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần túy, với phương thức canh tác trên sườn dốc gây nhiều khó khăn và thiếu thốn trong đời sống hàng ngày Tình trạng đói nghèo và lạc hậu vẫn còn phổ biến, dẫn đến các hành động đốt nương làm rẫy và chặt phá rừng bừa bãi Ngoài ra, hoạt động khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra phức tạp, gây khó khăn trong việc quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn.
3.2.4 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực
Khu vực đang có xu hướng chuyển đổi tích cực về cơ cấu kinh tế và mở rộng quan hệ sản xuất với các địa phương lân cận Lực lượng lao động phong phú, với người dân có truyền thống sản xuất nông, lâm nghiệp và luôn quan tâm, gắn bó mật thiết với rừng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của vùng.
Tiềm năng về tài nguyên rừng, thành phần loài tái sinh và tổ thành rừng đa dạng, phong phú là nguồn lợi lớn cho cộng đồng địa phương Diện tích đất lâm nghiệp rộng lớn phù hợp với nhiều loài cây lâm nghiệp khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các dự án trồng rừng kinh tế Đây là một tiềm năng phát triển rừng bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho khu vực.
Chương trình trồng rừng kinh tế và nhận khoán bảo vệ rừng đang thu hút sự quan tâm và đầu tư lớn từ Nhà nước, chính quyền địa phương và doanh nghiệp Các loài cây được đưa vào cơ cấu phát triển kinh tế tại địa phương, nhận được sự ủng hộ tích cực của cộng đồng dân cư Trong tương lai gần, nhóm cây này sẽ trở thành những cây chủ lực thúc đẩy phát triển kinh tế của hộ gia đình và cộng đồng địa phương.
Có 4 trong 5 xã trong khu vực thuộc diện các xã đặc biệt khó khăn, đời sống vật chất, tinh thần của người dân rất thấp Tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 45% số hộ gia đình
Cơ cấu kinh tế chủ yếu dựa trên nông lâm nghiệp, nhưng vẫn duy trì tập quán canh tác cũ, dẫn đến năng suất cây trồng và vật nuôi còn thấp Trình độ thâm canh chưa được nâng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp của địa phương Việc cải thiện kỹ thuật canh tác và áp dụng các phương pháp mới là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững và nâng cao đời sống nông dân.
Nền kinh tế hiện tại vẫn dựa chủ yếu vào tự cung, tự cấp, với các sản phẩm chủ yếu từ rừng tự nhiên như gỗ, nhựa trám và động vật hoang dã Đời sống của người dân phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, tạo ra áp lực lớn đối với môi trường sinh thái Để bảo vệ rừng và duy trì cân bằng sinh thái, cần triển khai các giải pháp phát triển kinh tế bền vững và nâng cao đời sống cộng đồng trong khu vực.
Cơ sở hạ tầng, giao thông, y tế, giáo dục đều kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao