TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ------ NGUYỄN DUY AN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ THÚ TẠI KHU BẢO TỒN CÁC LOÀI HẠT TRẦN QUÝ, HIẾM NAM ĐỘNG, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
- -
NGUYỄN DUY AN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ THÚ TẠI KHU BẢO TỒN CÁC LOÀI HẠT TRẦN QUÝ, HIẾM NAM ĐỘNG, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
- -
NGUYỄN DUY AN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ THÚ TẠI KHU BẢO TỒN CÁC LOÀI HẠT TRẦN QUÝ, HIẾM NAM ĐỘNG, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.0211
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Tiến Thịnh
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Tiến Thịnh Luận văn được thực hiện trong thời gian từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2017 Các kết quả, số liệu, thông tin nêu trong Luận văn là trung thực, khách quan, phản ánh đúng tình hình thực tiễn ở Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Ngày tháng năm 2017
HỌC VIÊN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ thú tại Khu Bảo tồn các loài hạt trấn
quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa” được thực hiện từ
tháng 10 năm 2016 đến nay đã hoàn thành Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
đến các tổ chức và cá nhân sau:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Vũ Tiến Thịnh - Phó Trưởng phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc định hướng nghiên cứu, hướng dẫn xử lý số liệu và hoàn thiện bản luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Ban lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, chính quyền và nhân dân địa phương các xã Nam Động - huyện Quan Hóa, xã Sơn Lư, Sơn Điện, Trung Thượng - huyện Quan Sơn đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực địa, trả lời các câu hỏi phỏng vấn và cung cấp các số liệu liên quan
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên và giúp đỡ tác giả cả về vật chất và tinh thần Đây là sự cổ vũ rất lớn đối với bản thân tôi
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do thời gian và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên bản luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi kính mong nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn./
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CITES Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật nguy cấp, quý hiếm
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.1 Nghiên cứu thú tại Việt Nam 10
1.1.1 Thời kỳ trước năm 1945 10
1.1.2 Thời kỳ từ năm 1955 đến 1975 11
1.1.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay 12
1.2 Nghiên cứu hệ động vật nói chung và thú nói riêng tại Khu Bảo tồn loài Nam Động 14
Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18
2.1 Điều kiện tự nhiên 18
2.1.1 Vị trí địa lý 18
2.1.2 Đặc điểm địa hình 19
2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 19
2.1.4 Khí hậu thủy văn 19
2.2 Hiện trạng về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh 20
2.2.1 Dân số, dân tộc, lao động 20
2.2.1.1 Dân số ở các xã vùng đệm của KBT 20
2.2.1.2 Dân tộc 20
2.2.2 Hoạt động sản xuất 20
2.2.2.1 Trồng trọt 20
2.2.2.2 Chăn nuôi gia súc, gia cầm 21
2.2.2.3 Sản xuất Lâm nghiệp 21
2.2.3 Thực trạng chung về kinh tế 21
2.2.4 Văn hóa, y tế, giáo dục, du lịch 22
2.3 Đánh giá chung về đặc điểm tự nhiên – xã hội khu vực nghiên cứu 23
2.3.1 Thuận lợi cho sự cư trú các loài thú và công tác bảo tồn 23
2.3.2 Hạn chế cho sự cư trú các loài thú và công tác bảo tồn 23
Trang 7Chương 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Mục tiêu 25
3.1.1 Mục tiêu chung 25
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 25
3.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Nghiên cứu tính đa dạng các loài thú tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiêm Nam Động 25
3.3.2 Xác định các loài thú quý, hiếm và tình trạng của chúng tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động 25
3.3.3 Xác định các mối đe dọa tới khu hệ thú tại khu vực nghiên cứu 25
3.3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài thú tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 25
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn 26
3.4.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 27
3.4.4 Xử lý số liệu 30
3.4.4.1 Xác định tính đa dạng của các loài thú tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiếm Nam Động 30
3.4.4.2 Xác định các loài thú quý hiếm và tình trạng của chúng 30
3.4.4.3 Phương pháp đánh giá các mối đe dọa đến các loài thú tại KBT loài Nam Động 31 Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Tính đa dạng của khu hệ thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động 32
4.1.1 Thành phần loài 32
4.1.2 Đa dạng các taxon thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động 39
4.2 Các loài thú quý hiếm và tình trạng của chúng tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động 42
4.2.1 Các loài thú quý hiếm 42
4.2.2 Tình trạng của các loài thú quý hiếm tại KBT loài Nam Động 44
4.3 Các mối đe dọa đến Khu hệ thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động 46
4.3.1 Săn bắn và bẫy bắt động vật rừng 46
4.3.2 Mất sinh cảnh 47
Trang 84.3.2.1 Tập quán canh tác nương rẫy 48
4.3.2.2 Khai thác gỗ trái phép 48
4.3.2.3 Khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép 48
4.4 Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn các loài thú quý, hiếm tại Khu Bảo tồn loài Nam Động 49
4.4.1 Hiện trạng công tác quản lý, bảo tồn tại Khu bảo tồn loài Nam Động 49
4.4.1.1 Chương trình quản lý bảo vệ rừng 49
4.4.1.2 Chương trình phục hồi sinh thái 50
4.4.1.3 Chương trình nghiên cứu khoa học 51
4.4.1.4 Chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm 51
4.4.1.5 Chương trình đào tạo nguồn nhân lực 51
4.4.2 Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn tại thú tại KBT 51
4.4.2.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch bảo tồn các loài thú 51
4.2.2.2 Nhóm giải pháp về giảm thiểu các mối đe dọa 52
4.4.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 52
4.4.2.4 Giải pháp về thu hút nguồn vốn đầu tư 53
4.4.2.5 Tăng cường công tác thực thi pháp luật 54
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Tồn tại 55
3 Khuyến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Thành phần các loài thú tại KBT loài Nam Động 15
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả phỏng vấn 26
Bảng 2.2: Thông tin về các tuyến điều tra thú tại khu vực nghiên cứu 27
Bảng 2.3: Biểu điều tra thú theo tuyến 29
Bảng 2.4: Biểu điều tra các mối đe dọa đến khu hệ thú 29
Bảng 2.5: Thành phần các loài thú tại KBT loài Nam Động 30
Bảng 2.6 Danh sách các loài thú quý hiếm tại KBT loài Nam Động 30
Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả đánh giá các mối đe dọa 31
Bảng 4.1: Danh sách các loài thú được ghi nhận tại KBT loài Nam Động 32
Bảng 4.2: Danh sách các loài thú bổ sung cho KBT loài Nam Động 37
Bảng 4.3: Mức độ đa dạng thú tại KBT loài Nam Động so với cả nước 39
Bảng 4.4: Mức độ đa dạng các bộ thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động 39
Bảng 4.5: Mức độ đa dạng giữa các họ thú tại KBT loài Nam Động 41
Bảng 4.6: Danh sách các loài thú quý, hiếm tại KBT loài Nam Động 42
Bảng 4.7: Tình hình săn bắt động vật tại KBT loài Nam Động 47
Bảng 4.8: Đánh giá mối đe dọa đến các loài thú tại KBT loài Nam Động 49
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Vị trí địa lý Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiếm Nam Động 18
Hình 2.1: Các tuyến điều tra thú tại KBT loài Nam Động 28
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn mức độ đa dạng các bộ thú 40
tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiếm Nam Động 40
Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn mức độ đa dạng giữa các họ thú 41
Hình 4.3: Bản đồ phân bố các loài thú nguy cấp, quý, hiếm 46
tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần Nam Động 46
Trang 11Sa mu hàng nghìn năm tuổi với diện tích trên 2.000 ha tại Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Liên; các quần thể Thông pà cò, Dẻ tùng sọc hẹp, Dẻ tùng vân nam, Kim giao trên 1.000 ha tại Khu BTTN Pù Luông; quần thể Lim xanh, Săng lẻ tại Vườn Quốc gia Bến En; Lát hoa tại Khu BTTN Pù Hu và nhiều loài động vật rừng quý, hiếm đặc trưng: Bò tót, Báo gấm, Beo lửa, Mang ruseven, Gấu ngựa, Gấu chó ); các loài linh trưởng (Vượn đen má trắng, Voọc xám, Khỉ mặt đỏ, Khỉ mốc, Khỉ vàng, ) [4]
Nhằm bảo vệ 9 loài thực vật hạt trần quý hiếm và hệ sinh thái núi đá đặc trưng của vùng Nam Động, Quan Hóa; Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 87/QĐ-UBND ngày 8/01/2014 về việc thành lập Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa (sau đây gọi tắt là Khu Bảo tồn loài Nam Động)
Các thông tin điều tra ban đầu làm cơ sở thành lập Khu Bảo tồn loài Nam Động đã ghi nhận sự có mặt của 23 loài thú thuộc 11 họ, 5 bộ (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, 2013) [14] Tuy nhiên, cuộc điều tra trên diễn ra trong thời gian ngắn và là nghiên cứu đầu tiên tại Nam Động nên chưa phản ánh hết tài nguyên thú ở khu vực Bên cạnh đó, tình trạng của các loài thú, đặc biệt là các loài thú quý, hiếm chưa được khai thác nên việc bổ sung các thông tin về sự đa dạng tài nguyên thú, mối liên hệ giữa các loài thú với sinh cảnh sống của chúng và cập nhật tình trạng của các loài tại Khu Bảo tồn loài Nam Động là rất cần thiết Mặt khác tài nguyên động vật nói chung và tài nguyên thú nói riêng đang là đối tượng săn bắn thường xuyên của người dân, các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ, lấn chiếm đất rừng vẫn đang xảy ra tại Nam Động
Là một cán bộ Kiểm Lâm hiện công tác tại tỉnh Thanh Hóa đang theo học tại Trường Đại học Lâm nghiệp chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng; Với sự đam
mê về tài nguyên thú và trước diễn biến tài nguyên rừng tại Khu Bảo tồn loài Nam
Động, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ thú tại
Khu Bảo tồn các loài hạt trấn quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa” Kết quả của đề tài sẽ bổ sung các thông tin hữu ích về khu hệ thú tại
Khu Bảo tồn loài Nam Động phục vụ công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học bền vững tại Thanh Hóa
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu thú tại Việt Nam
Theo Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) [12]: Lịch sử nghiên cứu khu hệ thú hoang dã Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 thời kỳ như sau: Trước 1954; từ 1954 đến 1975 và từ
1975 đến nay
1.1.1 Thời kỳ trước năm 1945
Nghiên cứu khu hệ thú Việt Nam được bắt đầu vào đầu thế kỷ 18, với các công trình của Lê Quý Đôn (1724 – 1784): sách “Văn đải loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục”, sách “Đại Nam nhất thống chí” của các nhà bác học Triều Nguyễn (1865 – 1882) Trong thời kỳ này, việc nghiên cứu tập trung vào thống kê những loài thú có sản phẩm quý giá như: Voi, tê giác, hưu, nai, hươu xạ, gấu, hổ, báo , liên quan đến việc khai thác các sản phẩm của chúng làm đồ mỹ nghệ, trang trí các lâu đài, chùa chiền, hoặc cống nạp cho các triều đại phong kiến nước ngoài (ngà voi, sừng tê giác, móng trâu bò, vuốt và da hổ, báo ) và làm thuốc chữa bệnh trong nhân dân (mật gấu, mất các loài khỉ, vẩy tê tê, xạ hương, nhung hươu )
Đến thế kỷ 19, các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu các cuộc khảo sát về động vật giới Việt Nam đã thu thập các mẫu vật thú chuyển về các bảo tàng tự nhiên ở Pari (Pháp) và Luân Đôn (Anh) để phân tích George Filayson (Anh) đã tiến hành các cuộc khảo sát thú đầu tiên ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam vào những năm 1821-1822 Các tiêu bản thú thu được trong các đợt khảo sát này dần dần được M.E.Dustalen (1874, 1893, 1898) R.Germain (1887) và J.H.Gurney (1889) phân tích và công bố
Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, việc khảo sát động vật giới Việt Nam tiếp tục được hàng loạt các nhà khoa học nước ngoài thực hiện: Milne – Edwards (1867-1874), Moriee (1875) Billet (1896 - 1898), Butan (1990-1906) Kloss (1920-1926), Delacour (1925-1933), Kelley Roosevelt (1928-1929) Đoàn nghiên cứu lịch sử tự nhiên ở Đông Dương của Pavie (1879 – 1898) đã tiến hành khảo sát chủ yếu ở Nam
Bộ Những tiêu bản thú sưu tầm được đã giao cho De Pousargues phân tích và kết quả được công bố trong bộ sách của Pavie xuất bản năm 1904 Lúc đó ở miền Bắc Việt Nam có đoàn khoa học thường trú Đông Dương do Boutan dẫn đầu Những tiêu bản thú sưu tầm được gửi về Pháp đã được Ménégaux phân tích và thông báo trong tạp chí Bull Mus, Hist (Ménégaux, 1905) Tiếp đến là đoàn Delacour (1925 -1933) khảo sát ở nhiều địa phương trên toàn quốc và đoàn nghiên cứu của Kelley-Roosevelt (1928-1929) đã tiến hành nghiên cứu thú ở Lào Cai, Quảng Trị và Huế
Các tiêu bản thú của 2 đoàn trên được Thomas (1925-1929) và Osgood (1932) phân tích và công bố
Trang 13Một số công trình tiêu biểu trong thời kỳ này: Bộ sách của A.Pavie xuất bản năm 1904 nói về các loài thú ở Đông Dương; công trình của Boutan (1906)
“Decades zoologiques, mammiferes, Miss, Sc Pẻ Explor Indoch, Hanoi” nói về thú ở miền Bắc Việt Nam Đặc biệt, Osgood (1932) “Mammals of the Kelley - Roosevelts and Delcour Asiatic Expeditions” đã thống kê ở Việt Nam có 172 loài
và loài phụ thú Đây là một công trình khoa học đầy đủ nhất về khu hệ động vật có
vú ở Việt Nam trong thời kỳ này
Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã ở Việt Nam
1.1.2 Thời kỳ từ năm 1955 đến 1975
Sau khi miền Bắc được giải phóng và hòa bình được lập lại (1954), do yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế đất nước cần phải nắm vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật Công tác điều tra động vật nói chung
và thú nói riêng được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt Nam
Vào những năm 1955-1960, việc nghiên cứu nguồn lợi thú rừng còn ít: Khoa sinh vật Trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu để phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên Dần dần công tác nghiên cứu được mở rộng hơn, đội ngũ cán bộ ngày càng đông, việc nghiên cứu thú được đẩy mạnh Vào những năm 1960-1975, công tác nghiên cứu thú ở miền Bắc Việt Nam do 3 cơ quan chính đảm nhận là: Ban Sinh vật địa học - Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước; Trường đại học tổng hợp Hà Nội và Tổng cục Lâm nghiệp Ngoài ra, còn có một số cơ quan khác cũng tiến hành nghiên cứu: Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trường đại học quân y thuộc Bộ y tế và Trường Đại học sư phạm Hà Nội Thời kỳ này, nghiên cứu động vật được tiến hành rộng rãi ở khắp các tỉnh miền Bắc Việt Nam Nhiều kết quả lần lượt được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước
Về thú có những công trình của Đào Văn Tiến đã được công bố trên tạp chí Sinh vật - Địa học, tạp chí Hoạt động khoa học vv và một số tạp chí nước ngoài như: Tạp chí động vật học của Liên Xô cũ, Zoologischer Azeiger Mitt Mus Berlin, zeitr Saugetier Kunde v.v Về các loài thú ăn thịt và thú móng guốc ngón chẵn, có công trình của Đặng Huy Huỳnh (1968); nghiên cứu về khu hệ sinh học, sinh thái của một số loài thú có công trình của Võ Quý, Mai Đình Yên, Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1961); Lê Hiền Hào (1962, 1964, 1969, 1973); Lê Hiền Hào và Trần Hải (1970, 1971); Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965); Cao Văn Sung (1971); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh (1973 - 1974); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Bùi Kính (1975)
Trang 14Đáng chú ý là việc điều tra khu vực xã Thường Tiến (Kim Bôi, Hòa Bình) để lập thành Khu bảo vệ thiên nhiên do Cục bảo vệ - Tổng cục Lâm nghiệp tiến hành (Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Mộng Giao 1973)
Từ năm 1962-1966, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tổ chức một đoàn nghiên cứu liên hợp động vật - ký sinh trùng, côn trùng, gồm nhiều cơ quan phối hợp đã tiến hành điều tra 12 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có nhóm nghiên cứu thú Tiếp đó tháng 02-1968, đoàn nghiên cứu động vật của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối hợp với Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng
đã tiến hành nghiên cứu ở Hà Bắc Từ tháng 5/1969 - 5/1970, đoàn đã tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống trên toàn tỉnh Quảng Ninh Kết quả được tổng kết dưới dạng báo cáo “Kết quả điều tra khu hệ động vật có xương sống trên cạn, ký sinh trùng và côn trùng tỉnh Quảng Ninh, 1970”, trong đó có công bố các loài thú phân bố ở tỉnh Quảng Ninh
Tháng 10/1971, đoàn nghiên cứu động vật của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về giới động vật ở tỉnh Hòa Bình Kết quả nghiên cứu đã xuất bản thành công cuốn sách chuyên khảo “Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình, 1974”
Trong thời kỳ này (1955-1975), các nhà khoa học đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32 họ và 11 bộ (Ủy ban Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 1981)
Tại miền Nam Việt Nam có công trình nghiên cứu về thú của F.F.D Van Peenen et at., (1965-1969) đã công bố 164 loài và phân loài thú ở Việt Nam
1.1.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Đất nước hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc một nhà Đây là thời kỳ thuận lợi nhất trong việc tổ chức nghiên cứu động vật hoang dã nói chung và khu hệ thú nói riêng trong phạm vi cả nước Lực lượng tham gia cũng được phát triển mạnh cả về
số lượng và chất lượng nghiên cứu, bao gồm các Viên nghiên cứu (Viện Sinh vật học nay là Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh học Nhiệt đới, ), các trường đại học trong cả nước (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, ) Không những các cơ quan đã độc lập tổ chức các đợt điều tra nghiên cứu,
mà nhà nước cũng có một số chương trình trọng điểm quốc gia: Chương trình 52-02 điều tra tổng hợp Tây Nguyên (1981-1986), Chương trình CT-48C (1987-1990), chương trình nghiên cứu điều tra động vật vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông Nam Bộ do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, Chương trình kiểm kê tài nguyên rừng do Bộ Lâm nghiệp chủ trì; chương trình Động vật chí Việt Nam do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì (1996-2005) Đặc biệt, trong thời kỳ này có sự phát triển đáng kể về hợp tác quốc tế trong điều tra nghiên cứu động vật ở
Trang 15nước ta Trước hết là sự hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (Trung Quốc, Hungary, Ba Lan, Đức, ) Đáng kể nhất là Chương trình hợp tác Việt - Xô nghiên cứu tổng hợp hệ sinh thái rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng (Gia Lai) giữa Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hình thái Tiến hóa
và Sinh thái động vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1981-1985) Sau những năm 1985, với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác được mở rộng sang các nước không phải xã hội chủ nghĩa (Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nhật, ) Một số tổ chức chính phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và có những đóng góp tích cực vào công tác điều tra nghiên cứu động vật ở nước ta: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN), Quỹ quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (WWF), Tổ chức Birdlife Quốc tế, Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Kết quả nghiên cứu thú trong thời kỳ này là rất to lớn, với hàng nghìn công trình được công bố trong nước và trên thế giới của rất nhiều nhà khoa học: Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Hà Đình Đức, Trần Hồng Việt, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên, Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh, Phạm Nhật, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Ngọc Thành Nguyễn Trường Sơn, Lê Đình Thống Ngoài ra còn có rất nhiều các luận án tiến sỹ của các nhà khoa học Việt Nam cũng góp phần tổng kết các kết quả nghiên cứu thú ở Việt Nam Các công trình đã công bố về thống kê thành phần loài thú ở Việt Nam phải kể đến là:
- “Những lo ài gặm nhấm ở Việt Nam” của Cao Văn Sung và cs (1980) đã
thống kê ở Việt Nam có 64 loài găm nhấm thuộc 7 họ
- “Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam” của Đặng Huy
Huỳnh và cs (1981) đã tập hợp được các tư liệu điều tra thú ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, lập danh sách thú miền Bắc Việt Nam gồm 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32 họ và 11 bộ
- “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985) đã phân tích các
mẫu vật thú sưu tầm được ở 12 tỉnh miền Bắc Việt Nam từ năm 1957-1971 và đưa ra danh lục thú miền Bắc Việt Nam gồm 129 loài và phân loài thú thuộc 32 họ, 11 bộ
- “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh
(1986), mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái của 19 loài thú móng guốc ở Việt Nam
- “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh và cs
(1991) [10] đã thống kê ở Việt Nam có 223 loài thú thuộc 12 bộ, 37 họ (không thống kê các loài thú biển)
- “Voọc Cát Bà: Quá khứ, hiện tại và tương lai” của Nadler et al (2000),
giới thiệu một số nghiên cứu hiện trạng quần thể và sinh học, sinh thái học của loài Voọc đầu trắng ở Cát Bà
Trang 16- “Thú linh trưởng của Việt Nam” của Phạm Nhật (2002) mô tả đặc điểm
sinh học, sinh thái của 25 loài thú Linh trưởng Việt Nam
- “Thú Việt Nam” của Kyznetsov (2006) ngoài việc xây dựng danh lục thú
hoang dã Việt Nam gồm 310 loài thú thuộc 44 họ và 14 bộ (kể cả các loài thú biển) còn cung cấp nhiều tư liệu liên quan trọng về đặc điểm khu hệ và sinh học, sinh thái của nhiều loài thú Việt Nam
- “Sách Đỏ Việt Nam Phần Động vật” (2007) [1], mô tả hình dạng và đặc
điểm sinh học, sinh thái của 90 loài thú đang bị đe dọa diệt vong ở Việt Nam
- “Thú rừng (Mammalia) Việt Nam - Hình thái và sinh học sinh thái một số
loài”, tập 1 của Đặng Huy Huỳnh và cs (2007) [11], mô tả đặc điểm sinh học sinh
thái của nhiều loài thú nhỏ (thú ăn sâu bọ Insectivora, Dơi Chiroptera) ở Việt Nam
- “Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam” của Đặng Ngọc Cần và cs
(2008) thống kê 295 loài (298 loài và phân loài) thú thuộc 37 họ và 13 bộ ở Việt Nam (không thống kê thú biển)
- “Động vật chí Việt Nam Tập 25: Lớp thú - Mammalia” của Đặng Huy
Huỳnh và cs (2008) mô tả đặc điểm hình thái phân loại và sinh học sinh thái của
145 loài thú ở Việt Nam thuộc các bộ Linh trưởng (Primates), Ăn thịt (Carnivora), Móng guốc ngón lẻ (Perissodactyla), Móng guốc gón chẵn (Artiodactyla) và bộ Gậm nhấm (Rodentia)
Như vậy, trong suốt 3 thế kỷ qua, các nghiên cứu về khu hệ thú Việt Nam đã từng bước phát triển cả về lượng và về chất Theo danh lục cập nhật nhất hiện nay của tác giả Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) [5], đến nay ở Việt Nam
đã ghi nhận được 332 loài thú thuộc 43 họ và 15 bộ (kể cả các loài thú biển) Các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cũng đã thu được những kết quả đáng kê góp phần quan trọng vào việc quy hoạch quản lý, bảo tồn, phát triển và sử dụng hợp lý khu hệ thú hoang dã Việt Nam Tuy vậy, trong thiên nhiên Việt Nam kỳ vọng rằng còn nhiều điều bí ẩn về khu hệ thú, cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu cả về mặt phân loại học, về sinh thái học, về giá trị và các giải pháp để tổ chức bảo tồn nguồn tài nguyên quý, hiếm này
1.2 Nghiên cứu hệ động vật nói chung và thú nói riêng tại Khu Bảo tồn loài Nam Động
Trước khi thành lập Khu bảo tồn loài Nam Động, huyện Quan Hóa, phần lớn diện tích rừng ở khu vực này đã được giao cho các hộ gia đình trong xã Nam Động quản lý, sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và một phần diện tích UBND xã tạm quản lý
Ngày 8/01/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa có Quyết định thành lập Khu bảo tồn loài Nam Động, huyện Quan Hóa Đồng thời, UBND tỉnh Thanh Hóa tiến hành thu hồi đất của các hộ gia đình xã Nam Động, huyện Quan Hóa giao cho
Trang 17Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa để sử dụng vào mục đích bảo tồn các loài động, thực vật quý, hiếm đang trong tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng như: Thông pà cò
(Pinus kwangtungensis), Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Dẻ tùng sọc hẹp (Amentotaxus argotaenia), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) và phát hiện thêm 2 loài mới trong khu vực là Dẻ tùng sọc rộng (Amentotaxus yunnanensis), Thông đỏ đá vôi (Taxus chinensis) cùng nhiều loài động vật quý hiếm như Voọc xám (Trachypithecus crepusculus), Bò tót (Bos gaurus) [4]
Theo kết quả điều tra xác lập Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động năm 2013 được thực hiện bởi Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa và đơn vị tư vấn là Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình [14] đã ghi nhận 23 loài thú thuộc 11 họ,
5 bộ Thông tin chi tiết về 23 loài thú ghi nhận được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Thành phần các loài thú tại KBT loài Nam Động
(2007)
SĐTG (2012)
NĐ 32 (2006)
Ghi nhận
Trang 18TT Tên thường gọi Tên khoa học SĐVN
(2007)
SĐTG (2012)
NĐ 32 (2006)
Ghi nhận
O – Quan sát hoặc tiếng kêu; Tr – Dấu chân; S – Mẫu vật; I – Phỏng vấn
Những loài được đưa trong ngoặc vuông [ ] là những loài chỉ được ghi nhận thông qua phỏng vấn và cần được kiểm tra lại
Trong số 23 loài thú ghi nhận trong đợt điều tra có 9 loài chỉ được ghi nhận
từ nguồn thông tin phỏng vấn nên chưa có thể chắc chắn về sự có mặt của loài ở
Trang 19khu vực Ngoài ra, nguồn thông tin “V” không được nhóm tác giả chú thích rõ ràng
Vì vậy, điều tra bổ sung thành phần loài thú tại KBT loài Nam Động là rất cần thiết
Mặt khác, trong báo cáo “Báo cáo dự án xác lập Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm tại xã Nam Động, huyện Quan Hóa” có đề cập đến 21 loài thú quý hiếm nhưng thực tế chỉ có 12 loài thú đang có số lượng suy giảm ở ngoài tự nhiên
có nguy cơ tuyệt chủng và cần bảo tồn Tình trạng của một số loài chưa đánh giá
theo Sách đỏ Việt Nam (2007), chẳng hạn như Sóc bay trâu (Petaurista
philippensis) xếp ở cấp R là không chính xác Vì vậy, cập nhật tình trạng của các
loài thú để có kế hoạch quản lý và bảo tồn cần sớm được thực hiện
Trang 20Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động có đơn vị hành chính nằm trên địa bàn xã Nam Động, huyện Quan Hóa, cách trung tâm huyện 25 km và cách thành phố Thanh Hóa 150 km theo hướng Tây Bắc
- Tọa độ địa lý: Từ 20° 18' 07” đến 20° 19' 38” vĩ độ Bắc;
Từ 104° 52' 8” đến 104° 53' 26” kinh độ Đông
- Ranh giới tiếp giáp:
+ Phía Bắc giáp khoảnh 1, 2, 3, 4, 5, tiểu khu 185; khoảnh 1, 2, tiểu khu 187, huyện Quan Hóa
+ Phía Nam giáp xã Sơn Lư và xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn
+ Phía Đông giáp khoảnh 3, 4, tiểu khu 187 (huyện Quan Hóa) và xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn
+ Phía Tây giáp khoảnh 4 và 5, tiểu khu 185 huyện Quan Hóa và xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn
Hình 2.1: Vị trí địa lý Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiếm Nam Động
Trang 212.1.2 Đặc điểm địa hình
Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa có địa hình núi dốc phức tạp, hiểm trở, mạng lưới sông suối dày đặc Khu Bảo tồn bị chia cắt bởi các đường phân thủy, thung lũng và khe suối, bề mặt địa hình tự nhiên thay đổi thất thường, tạo nên dạng địa hình dốc mang nét đặc trưng của hệ sinh thái núi
đá vôi Độ cao trung bình từ 700 – 900m, độ dốc từ 10 – 450 và nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam
2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng
Đất Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động được hình thành từ các loại đá Granit, Riolit, Phiến thạch sét, Sa thạch sét và Sạn kết, đá Vôi gồm các nhóm đất sau:
- Nhóm đất feralít màu vàng đỏ phát triển trên đá Granit phân bố ở vùng núi trung bình
- Nhóm đất feralít màu đỏ vàng phát triển trên đá Sa Thạch, Phiến thạch phân bố ở những vùng núi thấp đồi cao
- Nhóm đất feralít mùn phát triển trên đá Phiến thạch sét và đá Sa thạch có kết cấu mịn phân bố trên vùng núi cao
- Đất dốc tụ nằm dọc theo chân núi Tổ hợp đất thung lũng bao gồm đất dốc
tụ, lũy tích và sản phẩm hỗn hợp Tổ hợp đất thung lũng lẫn nhiều sỏi sạn và các cấp hạt
Nhìn chung đất ở Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động chủ yếu là các đá tạo đất đơn giản và nghèo chất dinh dưỡng, chỉ có vài ba loại đá quen thuộc thường gặp ở các vùng núi như: Granit, Đá sét, phiến thạch sét và đá cát, các loại đất được hình thành trong khu vực thường nằm trên các địa hình có độ dốc cao
từ 16-350 (cấp III và cấp IV), những năm trước đây rừng che phủ còn khá, chu kỳ nương rãy dài nên độ dày tầng đất thường ở cấp trung bình (51-100 cm)
2.1.4 Khí hậu thủy văn
Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động nằm trong vùng khí hậu núi cao phía Tây Bắc của tỉnh nên có khí hậu lục địa chia làm hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) Tổng nhiệt độ khoảng 8.0000C/năm; lượng mưa dao động từ 1.600 – 1.900mm tùy theo từng vùng
Độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào đầu tháng 1 hoặc tháng 12 (xuống tới 19 - 40%); từ tháng 5 - 10 độ ẩm thấp do gió Tây khô nóng gây ra hạn hán ở nhiều nơi, có khi hạn hán nghiêm trọng kéo dài vào những năm gió Tây kéo dài và mưa đến chậm
Khí hậu trong vùng là kiểu khí hậu nhiệt đới vùng cao, đặc điểm khí hậu ảnh hưởng của khu vực Tây Bắc Bộ nhiều hơn là Trung Bộ và khu Bốn cũ Nhiệt độ trung bình từ 23 - 250C, trung bình thấp nhất là 140 C, cao nhất là 380C Biên độ nhiệt độ ngày đêm giao động từ 4 - 100C
Trang 22Gió ở khu vực nhìn chung yếu, tốc độ gió trong bão không quá 25m/s Ảnh hưởng của gió Tây khô nóng không đáng kể Hàng năm có từ 3 – 5 ngày có sương muối, đặc biệt xuất hiện băng giá ở một vài nơi
Lượng mưa trung bình năm từ 1.600 - 1.760mm Ẩm độ không khí trung bình năm là 86%, nhưng phân bố không đồng đều ở các tháng
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên: Tiểu vùng này có nền nhiệt độ thấp, mùa hè mát và mưa nhiều, mùa đông rất lạnh và ít mưa Thiên tai chủ yếu là rét đậm
và sương muối, sương giá Nhìn chung khí hậu và thời tiết khu vực này tương đối
thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt và chăn nuôi, nhất là phát triển nghề rừng
2.2 Hiện trạng về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh
2.2.1 Dân số, dân tộc, lao động
2.2.1.1 Dân số ở các xã vùng đệm của KBT
Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động nằm trên địa bàn xã Nam Động huyện Quan Hóa, nhưng có ranh giới tiếp giáp với 3 xã của huyện Quan Sơn: xã Sơn Lư (bản Hẹ và bản Bìn), xã Sơn Điện (bản Na Hồ và bản Xủa), xã Trung Thượng (bản Bàng) Dân số toàn vùng hiện nay là 4.333 khẩu Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên toàn vùng là 0,94%, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp nhất ở xã Sơn Điện (0,8%) Phân bố dân số bình quân trong toàn vùng 412 người/km2, khu vực đông nhất ở xã Nam Động, thấp nhất ở xã Sơn Điện So với các khu vực miền núi khác, KBT loài Nam Động là khu vực mật độ dân cư cao, trong khi diện tích đất canh tác nông nghiệp không lớn, thời gian nông nhàn nhiều làm gia tăng áp lực trong công tác bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học
2.2.2 Hoạt động sản xuất
2.2.2.1 Trồng trọt
Cùng với sự phát triển của ngành Nông nghiệp của tỉnh, huyện nói chung, hoạt động trồng trọt của các xã vùng đệm Khu bảo tồn trong những năm gần đây đã được quan tâm đầu tư đạt kết quả khá cao Trồng trọt đang chuyển dần từ phương thức quảng canh sang thâm canh gắn với áp dụng, chuyển giao giống mới vào sản
Trang 23xuất, giảm dần diện tích canh tác nương rẫy, tập trung khai hoang, phục hóa ruộng lúa nước và các bãi chuyên màu
Nhận thức về chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi có những chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất, năng suất cây trồng năm sau cao hơn năm trước, một
số sản phẩm Nông nghiệp không chỉ cung cấp tại chỗ mà còn cung cấp ra các vùng phụ cận Một số giống lúa lai, ngô lai được đưa vào sản xuất góp phần ổn định an ninh lương thực trên địa bàn Năm 2010 tổng sản lượng lương thực (cây có hạt) trung bình của 04 xã là 1.280 tấn, đến năm 2014 dự kiến tăng lên 1.680 tấn, bình quân tăng 80 tấn/năm Bình quân lương thực đạt 387kg/người/năm
Diện tích đất sản xuất Nông nghiệp với quy mô nhỏ, manh mún; hệ thống thủy lợi phục vụ cho tưới tiêu chủ yếu là tự chảy, số lượng đập, mương thủy lợi được bê tông hóa không đáng kể, nên việc tưới tiêu còn phụ thuộc nhiều ở tự nhiên, chủ động chưa cao Hoạt động trồng trọt trong khu vực còn nặng về thói quen tập quán canh tác truyền thống, địa bàn chưa có mô hình sản xuất tập trung, quy mô vừa và lớn, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất chưa nhiều; công tác vệ sinh, tiêm phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm chưa được quan tâm đúng mức, còn trông chờ nhiều vào chính sách hỗ trợ của nhà nước
2.2.2.2 Chăn nuôi gia súc, gia cầm
Các loài gia súc, gia cầm được nuôi trong vùng là trâu, bò, dê, lợn, ngan, vịt,
gà và chủ yếu là các loài giống địa phương, tuy chất lượng ngon nhưng năng xuất, sản lượng thịt không cao, bình quân hộ gia đình nuôi các loại gia súc từ 3-4 con/hộ
Tổng số đàn gia súc, gia cầm như sau: Trâu 559 con, Bò 743 con, đàn Lợn 1.659 con và gia cầm, thủy cầm 8.518 con, Dê 636 con
Ngoài ra, trong vùng còn có một số hộ gia đình đang phát triển chăn nuôi Nhím, Dúi… nhưng do đặc điểm xa các trung tâm tiêu thụ, giá cả bấp bênh, kinh nghiệm chăn nuôi còn mới nên chủ yếu cung cấp tại chỗ, chưa trở thành sản phẩm hàng hóa
2.2.2.3 Sản xuất Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng trên địa bàn được thực hiện nhiều năm nay Những năm gần đây được sự đầu tư của các dự án trồng rừng sản xuất, trồng rừng thay thế , diện tích rừng trồng được nâng lên rõ rệt Đến nay, vùng đệm đã có trên 1.000ha rừng trồng, gồm các loài cây Keo, Luồng, Lát hoa, Xoan ta Nhìn chung, chất lượng rừng trồng thấp, trữ lượng rừng không cao, một số diện tích chưa đảm bảo mật độ
Đối với rừng phòng hộ, cơ cấu loài cây chưa đáp ứng mục tiêu phục hồi sinh thái ở vùng đệm Đối với rừng sản xuất, hiệu quả kinh tế từ rừng chưa cao chính sách đầu
tư vốn, giải quyết đầu ra chưa hấp dẫn người trồng rừng
2.2.3 Thực trạng chung về kinh tế
Kinh tế, thu nhập của các hộ gia đình thuộc 12 thôn của 4 xã vùng đệm KBT Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động chủ yếu dựa vào khai thác các sản phẩm từ
Trang 24rừng, cơ cấu kinh tế chủ yếu là kinh tế Lâm nghiệp chiếm 57% (năm 2013), quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình Thu nhập của hộ gia đình trong khu vực chưa khai thác hiệu quả, đúng tiềm năng và lợi thế khu vực Tỷ lệ hộ nghèo còn cao với 324 hộ/947 hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới, chiếm 34,3% Thu nhập bình quân đầu người từ 5,8 triệu đồng/người/năm, mới chỉ đạt 0,67 lần thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh
Các xã vùng đệm của KBT các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động thuộc đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết
số 30a/2008/NQ-CP và chương trình hỗ trợ cho đồng bào vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định 135 của Chính phủ
2.2.4 Văn hóa, y tế, giáo dục, du lịch
Về văn hóa, tiềm năng du lịch: 4 xã vùng đệm KBT các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động hiện có 90% thôn bản đã đạt tiêu chí làng văn hóa Nền văn hóa truyền thống của đồng bào Thái, Mường được gìn giữ, còn nguyên những nét bản sắc riêng; phong trào văn hóa văn nghệ làng bản được duy trì, phát triển nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, chưa được đầu tư đồng bộ nên chưa khai thác hết lợi thế
so sánh, nhất là khai thác ở khía cạnh kinh tế, du lịch nhân văn
Tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch: Phát triển du lịch văn hóa với các lễ hội của đồng bào Thái, Mường; du lịch sinh thái, Khu bảo tồn là môi trường cho các nhà nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên, đây là những lợi thế và là tiềm năng rất lớn cần được đầu tư khai thác Đồng thời Khu bảo tồn và vùng đệm nằm gần Khu BTTN Pù Hu, Pù Luông, Ngọc Sơn – Ngổ Luông - tỉnh Hòa Bình; Khu BTTN Xuân Nha tỉnh Sơn La gần các điểm di tích lịch sử, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh được nhà nước xếp hạng (Hang Co Phường, Hang Phi, thủy điện Trung Sơn, Bản Lát – Mai Châu…) tạo ra mạng lưới gắn kết, lôi kéo du khách đến thăm quan
Về giáo dục: Trên địa bàn có 03/12 thôn (bản) chưa có trường mầm non (chiếm 25%), chưa có phòng học kiên cố; tỷ lệ phổ cập Tiểu học đạt 100%, Trung học cơ sở đạt 90% Công tác đào tạo nghề chưa được quan tâm đúng mức, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp, chiếm 20% tổng số lao động Số thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng là 1/12 thôn/bản (chiếm 0,83%) nên nhu cầu, môi trường sinh hoạt cộng đồng còn nhiều hạn chế, khó khăn
Về Y tế: Trạm y tế xã, cán bộ phụ trách y tế cơ bản đảm bảo phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong vùng Công tác y tế dự phòng, tiên chủng, tiêm phòng được quan tâm đầu tư thực hiện theo các chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt rét, bướu cổ và suy dinh dưỡng Do có nguồn tài nguyên rừng dồi dào, kiến thức bản địa trong chữa bệnh bằng đông y phát triển nên hầu hết nhân dân trong vùng chủ động chữa bệnh bằng các nguồn cây rừng cung cấp dược liệu hoặc gây trồng sẵn ở vườn nhà
Trang 252.3 Đánh giá chung về đặc điểm tự nhiên – xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.1 Thuận lợi cho sự cư trú các loài thú và công tác bảo tồn
Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động có giá trị cao về đa dạng sinh học, đặc biệt là 9 loài hạt trần; tài nguyên rừng cơ bản giữ nguyên được tính nguyên sinh; độ che phủ của rừng trong khu bảo đạt 96,56%, là môi trường lý tưởng, thuận lợi cho công tác nghiên cứu, bảo tồn tham quan du lịch
Tiểu vùng khí hậu có bốn mùa rõ rệt, lượng mưa cao, khí hậu trong lành, mát
mẽ quanh năm do có hệ thống sông, khe suối phân bố tương đối đều trong vùng, là điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng, và là môi trường sống thuận lợi cho phát triển của nhiều loài thú
Trên địa bàn đã cơ bản hoàn thành công tác giao đất lâm nghiệp, rừng đã có chủ thực sự Xã hội hóa công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, từng bước
đi vào nề nếp và phát huy hiệu quả, trồng rừng và bảo vệ rừng phát triển mạnh trong nhân dân, đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển bền vững
Lực lượng lao động dồi dào, đời sống vật chất, tinh thần từng bước được nâng lên; bộ mặt Nông thôn ngày một đổi thay, kết cấu hạ tầng từng bước được đầu
tư, kiên cố hóa góp phần phát huy tiềm năng của vùng để phát triển kinh tế; thu hút
họ tham gia thực hiện các chương trình quản lý, bảo vệ, phát triển rừng
Vùng quy hoạch khu bảo tồn loài có thể liên kết với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có nhiều đỉnh núi cao với thảm thực vật rừng nguyên sinh, nhiều thác nước, hang động, thuỷ điện Trung Sơn, các di tích lịch sử, di tích văn hóa, cùng với các phong tục văn hoá đặc sắc, các lễ hội truyền thống của người Thái và người Mường là tiềm năng cho khai thác phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm, là điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế
Khu bảo tồn loài có vai trò trực tiếp phòng hộ đầu nguồn sông Luồng, sông
Mã, bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa nước tưới, phục vụ nước sinh hoạt, hoạt động công nghiệp cho vùng hạ lưu
Quỹ đất sản xuất thuộc vùng đệm và khu vực có tiềm năng lớn, đây là một lợi thế so sánh để thu hút nguồn lao động tại chỗ, giải quyết việc làm gắn phát triển kinh tế lâm nghiệp và công nghiệp chế biến, xuất khẩu lâm sản cho vùng
2.3.2 Hạn chế cho sự cư trú các loài thú và công tác bảo tồn
Khu vực nghiên cứu nằm trên địa giới hành chính xã Nam Động, huyện Quan Hóa và 3 xã của huyện Quan Sơn, với địa hình chia cắt mạnh, kết cấu hạ tầng thấp, giao thông đi lại khó khăn, bất cập, làm tăng chi phí vận chuyển hàng hóa, hạn chế thu hút đầu tư, ảnh hưởng rất lớn hiệu quả đầu tư trên địa bàn
Khu bảo tồn mới được thành lập, tổ chức chưa ổn định, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa mới bước đầu tiếp cận công tác bảo tồn thiên nhiên, chưa được
Trang 26đào tạo chuyên sâu nên ảnh hướng rất nhiều đến triển khai các hoạt động và thực hiện các mục tiêu quy hoạch
Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội của 12 thôn, 4 xã còn rất nhiều khó khăn, phong tục tập quán canh tác dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có từ rừng, kết cấu hạ tầng thấp…đã và đang tạo áp lực cho công tác QLBVR, PCCCR, sử dụng, kinh doanh rừng nói chung và tính bền vững của công tác bảo tồn tài nguyên thú nói riêng
Nguồn vốn đầu tư, kinh phí đầu tư để thực hiện các chương trình QLBVR, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, nghiên cứu khoa học, phát triển vùng đệm… hầu như chưa có hoặc rất ít nên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả các hoạt động, chưa thú hút tích cực sự tham gia của người dân trong việc gìn giữ, phát huy các giá trị đa dạng sinh học
Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên chưa đi vào chiều sâu, có lúc, có thời điểm còn hình thức, kết quả chưa như mong đợi, nhận thức của người dân địa phương về công tác bảo tồn còn nhiều hạn chế, coi nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm riêng của cơ quan kiểm lâm
Trang 27Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Nam Động - huyện Quan Hóa, xã Sơn Lư, Sơn Điện, Trung Thượng - huyện Quan Sơn thuộc Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý,
hiêm Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu tính đa dạng các loài thú tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý hiêm Nam Động
3.3.2 Xác định các loài thú quý, hiếm và tình trạng của chúng tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động
3.3.3 Xác định các mối đe dọa tới khu hệ thú tại khu vực nghiên cứu
3.3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài thú tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khu vực nghiên cứu được thu thập như: tài liệu về điều kiện tự nhiên; dân sinh, kinh tế, xã hội; các báo cáo về tình hình quản lý; bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, bản đồ địa hình Khu Bảo tồn loài Nam Động; các nghiên cứu về thành phần loài thú và khu hệ thú, đặc biệt là các
Trang 28nghiên cứu về khu hệ thú tại KBT loài Nam Động Từ các tài liệu được thu thập tiến hành đọc, chọn lọc, phân tích và kế thừa các thông tin liên quan nhằm phục vụ các nội dung nghiên cứu của đề tài
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn
Do khả năng nhận diện loài và phân biệt giữa các loài có hình thái giống nhau của những người được phỏng vấn khá hạn chế, đặc biệt là đối với các loài thú nhỏ nên đề tài chỉ sử dụng thông tin phỏng vấn với mục đích tham khảo Phương pháp phỏng vấn được thực hiện nhằm mục đích thu thập các thông tin sơ bộ về sự
có mặt của các loài thú và hiện trạng của chúng Ngoài ra, phỏng vấn thu thập các thông tin liên quan tới việc sử dụng tài nguyên của người dân có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các loài thú trong khu vực nghiên cứu
Phỏng vấn được thực hiện trên 2 đối tượng là cán bộ Kiểm lâm và những người dân địa phương thường xuyên Trong nghiên cứu này, 30 người được lựa chọn phỏng vấn ở các lứa tuổi khác nhau
Các câu hỏi phỏng vấn đơn giản, ngắn gọn và được sắp xếp theo bộ câu hỏi phỏng vấn về: thành phần loài, các mối đe dọa đến các loài chim và công tác quản
lý bảo tồn các loài chim tại khu vực nghiên cứu Nội dung của các câu hỏi phỏng
vấn được trình bày chi tiết trong phụ lục 01
Các câu hỏi phỏng vấn được tiếp cận từ khái quát đến chi tiết với câu hỏi đầu tiên về các nhóm loài Các câu hỏi tiếp theo hướng về các đặc điểm của từng loài
Trong quá trình phỏng vấn luôn khuyến khích người dân địa phương tự kể về những loài mà họ biết và cho xem những mẫu vật mà họ đang lưu giữ như: lông, chân, sừng và cả các mẫu vật nuôi làm cảnh hoặc nhồi bông Đối với những loài mà người dân biết cần được mô tả chi tiết về đặc điểm màu sắc lông, hình dạng cơ thể và đặc điểm nổi bật về loài Để kiểm chứng lại các thông tin phỏng vấn, bộ ảnh màu về các loài thú được sử dụng để đối tượng phỏng vấn nhận diện lại Các thông tin phỏng vấn được phân tích và chọn lọc và tổng hợp kết quả vào bảng 2.1
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả phỏng vấn
Người điều tra:……… Ngày điều tra:……… ……… ……
Tên người được phỏng vấn:…… Dân tộc……….Tuổi…… ……
Trang 293.4.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Điều tra theo tuyến được thực hiện nhằm ghi nhận các loài thú thông qua quan sát trực tiếp loài hoặc các dấu vết mà con vật để lại trên các tuyến điều tra
Ngoài ra, điều tra theo tuyến còn xác định các điểm tác động của con người đến các loài thú trong khu vực
Tuyến điều tra được thiết lập dựa vào kết quả sơ bộ phỏng vấn các khu vực thường xuyên bắt gặp thú, dựa vào địa hình của khu vực, đặc điểm phân bố của thảm thực vật và qua khảo sát sơ bộ khu vực điều tra
Trong nghiên cứu này, năm tuyến điều tra được thiết lập để thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu:
+ Tuyến 1: Bản Lở, xã Nam Động vào Lán ông Hồng (thung lũng), có chiều dài tuyến khoảng 6,5 km
+ Tuyến 2: Lán ông Hồng (thung lũng) lên đỉnh núi phân bố loài Thông đỏ
đá vôi, có chiều dài tuyến khoảng 2,5 km
+ Tuyến 3: Lán ông Hồng (đỉnh Pha Phanh) đi bản Bâu, xã Nam Động, huyện Quan Hóa, có chiều dài tuyến khoảng 2,0 km
+ Tuyến 4: Lán ông Hồng (đỉnh Pha Phanh) đi bản Sủa, xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, có chiều dài tuyến khoảng 1,5 km
+ Tuyến 5: Lán ông Hồng (đỉnh Pha Phanh) đi xã Na Mèo, huyện Quan Sơn,
có chiều dài tuyến khoảng 3,5 km
Các tuyến điều tra có độ dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào điều kiện địa hình và khả năng di chuyển trên các tuyến Thông tin về các tuyến điều tra được trình bày chi tiết trong bảng 2.2 và hình 2.1
Bảng 2.2: Thông tin về các tuyến điều tra thú tại khu vực nghiên cứu
Trang 30Hình 2.1: Các tuyến điều tra thú tại KBT loài Nam Động
Việc điều tra theo tuyến có sự hỗ trợ của người dân địa phương Họ là những người đã tham gia nhiều chương trình điều tra thực địa trước đây Hơn nữa, họ là những người biết rõ các địa điểm thú thường cư trú và thông thạo địa hình Trong quá trình điều tra cần lưu ý: di chuyển nhẹ nhàng, giữ yên lặng, không nói chuyện, chặt cành, cây, không hút thuốc lá, không để lại rác thải, chú ý quan sát tỉ mỉ và ghi chép đầy đủ mọi thông tin ghi nhận được Thời gian điều tra được thực hiện vào cả ban ngày và ban đêm Trong đó, ban ngày điều tra từ 7 giờ đến 17 giờ và buổi tối từ
19 giờ đến 24 giờ
Mỗi tuyến điều tra được điều tra 3 lần theo nguyên tắc lặp lại (thời gian, con người, chiều dài tuyến…) Tại mỗi tuyến, dùng máy GPS xác định tọa độ điểm đầu xuất phát, di chuyển với tốc độ 1,5-2,5 km/h, quan sát về 2 bên tuyến với khả năng quan sát về mỗi bên là 50m Trong quá trình di chuyển quan sát tỉ mỉ bằng mắt thường và dùng ống nhóm Tại các điểm giông thoáng, sườn đồi, hoặc các điểm quan sát thuận lợi dùng ống nhóm quan sát tỉ mỉ 5 – 10 phút Tại các điểm vũng nước, khe suối quan sát tỉ mỉ để phát hiện dấu chân, phân, vết cào bới Khi phát hiện thấy con vật hoặc các dấu vết của con vật tiến hành chụp ảnh, ghi lại tọa độ, ghi chép, đo đếm, mô tả các dấu vết (thời gian xuất hiện dấu vết, thành phần thức
Xã Na Mèo (5)
Bản Xủa (4)
Bản Bâu (3)
Bản Lở (1) Bản Bàng (2)
Trang 31ăn chứa trong phân, số lượng, ) và mở rộng phạm vi điều tra xung quanh khu vực
Các thông tin ghi nhận trong quá trình điều tra được ghi vào các biểu điều tra thiết
kế sẵn (bảng 2.3) và sổ tay ngoại nghiệp
Bảng 2.3: Biểu điều tra thú theo tuyến
Người điều tra:………Ngày điều tra:………
Thời tiết:……… Địa điểm điều tra:………
Tuyến điều tra:……….Chiều dài tuyến:………
Thời gian bắt đầu :……… Thời gian kết thúc:………
Trong quá trình điều tra trên tuyến, ngoài những thông tin về thành phần loài, tại các điểm ghi nhận các tác động của con người như điểm khai thác gỗ, điểm gặp bẫy, điểm gặp người dân khai thác lâm sản, khu vực chăn thả gia súc được đánh dấu tọa độ và ghi chép các thông tin về diện tích ảnh hưởng, cường độ tác động và mức độ nguy cấp của các tác động vào sổ tay ngoại nghiệp và phiếu đánh giá các mối đe dọa như trong bảng 2.4
Bảng 2.4: Biểu điều tra các mối đe dọa đến khu hệ thú
Trang 32Bảng 2.5: Thành phần các loài thú tại KBT loài Nam Động
Nguồn thông tin Quan
sát
Mẫu vật
Phỏng
I Bộ I.1 Họ
1 loài
Việc sắp xếp thứ tự, tên phổ thông, tên khoa học của các loài thú dựa theo tài liệu của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) [5], vì đây là tài liệu cập nhật
và chi tiết hơn cả
Xác định tính đa dạng: từ các kết quả được tổng hợp trong bảng 2.5 tiến hành đánh giá mức độ đa dạng của các loài thú tại KBT loài Nam Động theo: mức độ đa dạng giữa các bộ thú, các họ thú Việc đánh giá mức độ đa dạng được sử dụng theo phương pháp thống kê mô tả
3.4.4.2 Xác định các loài thú quý hiếm và tình trạng của chúng
Từ bảng 2.5, các loài thú quý hiếm được xác định dựa vào các tài liệu: Sách
đỏ Việt Nam (2007) [1], IUCN (2016) Nghị định 32 (2006) [2], Nghị định 160 (2013) [3] và Công ước CITES (2015) Các loài có tên trong các tài liệu trên hoặc
có giá trị ở khu vực được xác định là các loài thú quý hiếm và được tổng hợp vào bảng 2.6
Bảng 2.6 Danh sách các loài thú quý hiếm tại KBT loài Nam Động
TT Tên Phổ thông Tên Khoa học
Tình trạng SĐVN
(2007)
IUCN (2016)
NĐ32 (2006)
CTES (2015)
I.1 Họ
1 loài
Trang 33Tình trạng của các loài thú quý, hiếm được ghi nhận từ các nguồn thông tin phỏng vấn, kế thừa tài liệu và kết quả điều tra tại các tuyến
3.4.4.3 Phương pháp đánh giá các mối đe dọa đến các loài thú tại KBT loài Nam Động
Sau khi xác định được các mối đe dọa tới các loài thú và sinh cảnh sống của chúng tại Khu Bảo tồn loài Nam Động tiến hành đánh giá cho điểm theo thứ tự từ 1 đến n điểm, tương ứng với n mối đe dọa và tùy từng mức độ ảnh hưởng lớn hay nhỏ Khi cho điểm hạn chế cho điểm hai mọi đe dọa có số điểm bằng nhau và dựa trên 3 tiêu chí: diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa, cường độ ảnh hưởng của mối
đe dọa và tính cấp thiết của mối đe dọa Theo phương pháp của (Margoluis and Salafsky, 2001)
Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa: tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng bởi mối đe dọa trong khu vực nghiên cứu Xem xét mối đe dọa đó ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực hay chỉ là một phần Cho điểm cao nhất (n điểm) đối với mối đe dọa mà ảnh hưởng đến diện tích lớn nhất và cho điểm thấp nhất (1 điểm) cho những mối đe dọa ảnh hưởng đến diện tích nhỏ nhất
Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa: mức độ phá hủy của mối đe dọa đối với sinh cảnh Xem xét liệu mối đe dọa đó phá hủy toàn bộ sinh cảnh trong khu vưc
đó hay chỉ là một phần Cho điểm cao nhất đối với mối đe dọa có mức độ tác động mạnh nhất và cho điểm giảm dần theo cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa
Tính cấp thiết của mối đe dọa: mối đe dọa hiện tại hay nó xảy ra trong tương lai Việc cho điểm tiêu chí này tương tự với tiêu chí trên nghĩa là mối đe dọa nào có tính nguy cấp nhất sẽ cho điểm cao nhất và giảm dần theo tính nguy cấp Kết quả cho điểm các mối đe dọa được tổng hợp vào bảng 2.7
Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả đánh giá các mối đe dọa
Trang 34Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tính đa dạng của khu hệ thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động
4.1.1 Thành phần loài
Kết quả điều tra từ nhiều nguồn thông tin khác nhau đã ghi nhận 35 loài, 29 giống, 17 họ và 7 bộ thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động Thông tin về các loài thú được trình bày chi tiết trong bảng 4.1
Bảng 4.1: Danh sách các loài thú được ghi nhận tại KBT loài Nam Động
Nguồn thông tin
6 Voọc xám Trachypithecus crepusculus
4.Họ Chuột chù* Soricidae
Trang 35TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Nguồn thông tin
8 Dơi chó cánh dài* Cynopterus sphinx (Vahl,
8 Họ Dơi muỗi* Vespertilionidae
14 Dơi muỗi đen* Arielulus circumdatus
(Kock & Storch, 1996) QS
Trang 36TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Nguồn thông tin
1777)
18 Cầy vằn bắc* Chrotogale owstoni
19 Cầy gấm Prionodon pardicolor
23 Sơn dương Capricornis milneedwardsii
Trang 37TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Nguồn thông tin
đe doạ Sách đỏ IUCN, 2010: EX – Tuyệt chủng; EW – Tuyệt chủng ngoài tự nhiên; CR – Cực kỳ nguy cấp; EN – Nguy cấp; VU - Sẽ nguy cấp; NT - Sẽ bị đe doạ; LR - ít lo ngại Nghị định 32: IB – Nghiêm cấm khai thác sử dụng; IIB – Hạn chế khai thác sử dụng X (loài nằm trong Nghị định 160/2013) CITES: PLI (là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, cấm buôn bán thương mại giữa các nước trên thế
Trang 38giới); PLII (là các loài có nguy cơ tuyệt chủng được phép buôn bán quốc tế thông qua việc kiểm soát và hạn chế của các nước thành viên)
Các taxon mới bổ sung cho khu vực nghiên cứu: ký hiệu *
Nguồn thông tin ghi nhận loài
Trong tổng số 35 loài thú tại KBT loài Nam Động có 28 loài (chiếm 80%
tổng số loài) được ghi nhận từ nguồn thông tin quan sát trực tiếp ngoài thực địa
Đây là nguồn thông tin tin cậy minh chứng cho sự tồn tại của các loài thú tại khu vực nghiên cứu
Trong đợt điều tra về thành phần các loài thú làm cơ sở để xác lập Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động được thực hiện bởi Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Thanh Hóa và Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình năm 2013 đã thống kê được
23 loài thú thuộc 11 họ và 5 bộ (bảng 1.1) Tuy nhiên loài Cầy vòi hương
(Paradoxurus hermaphrodites) và loài Cầy vòi đốm (Paradoxurus hermaphroditus)
thực chất là một loài Vì vậy, số loài thú đã được ghi nhận tại Nam Động năm 2013
là 22 loài thuộc 11 họ, 5 bộ thay vì 23 loài như đã công bố
Ngoài ra, trong 23 loài thú được ghi nhận (Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, 2013) [14] có 9 loài chỉ được ghi nhận từ nguồn thông tin phỏng vấn và nghi ngờ về
sự có mặt của loài tại Nam Động Đợt điều tra lần này đã quan sát được 3 loài là Cu
li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Cầy vòi mốc (Paguma larvata) và Cầy vòi đốm (Paradoxurus hermaphroditus) nên sự có mặt của 3 loài thú trên tại Khu Bảo tồn
loài Nam Động đã được kiểm chứng Tuy nhiên 6 loài thú còn lại là Khỉ mốc
(Macaca assamensis), Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis), Lửng lợn (Arctonyx collaris), Báo gấm (Neofelis nebulosa), Bò tót (Bos gaurus) và Sóc bay nhỏ (Hylopetes phayrei) nghi ngờ về sự có mặt tại KBT loài Nam Động không được
ghi nhận trong đợt điều tra này nên có thể 6 loài này trước đây có thể sinh sống tại Khu Bảo tồn loài Nam Động nhưng hiện nay không còn nữa Để khẳng định chắc chắn sự có mặt hay không có mặt của loài này ở KBT, các đợt điều tra bổ sung cần được thực hiện
Nhìn chung, với 80% số loài thú được quan sát trong đợt điều tra này và 20% số loài còn lại mặc dù chỉ được kế thừa từ nghiên cứu trước đây nhưng các thông tin này
là hoàn toàn tin cậy cho sự có mặt của các loài thú tại Khu Bảo tồn loài Nam Động
Ghi nhận bổ sung thành phần loài tại Khu Bảo tồn loài Nam Động
Một trong những kết quả rất có ý nghĩa trong nghiên cứu này là đã bổ sung thêm 2 bộ, 7 họ và 18 loài thú vào danh sách các loài thú tại Khu Bảo tồn Các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động Hai bộ thú mới bổ sung là: Bộ Chuột chù (Soricomrpha) và Bộ Dơi (Chiroptera) Bảy họ thú mới bổ sung cho khu vực là: Họ Chuột chù (Soricidae), họ Dơi quả (Pteropodidae), họ Dơi nếp mũi (Hipposideridae), họ Dơi thò đuôi (Molossidae), họ Dơi muỗi (Vespertilionidae), họ
Trang 39Chồn (Mustelidae) và họ Chuột (Muridae) Thông tin về các loài thú bổ sung vào danh sách các loài thú tại KBT loài Nam Động được trình bày chi tiết trong bảng 4.2
Bảng 4.2: Danh sách các loài thú bổ sung cho KBT loài Nam Động
thông tin
4 Dơi cáo nâu* Rousettus leschenaulti (Desmarest,
5 Dơi quả lưỡi dài* Eonycteris spelaea (Dobson, 1871) QS
6 Dơi nếp mũi ba lá* Aselliscus stoliczkanus (Dobson, 1871) QS
7 Dơi nếp mũi xám* Hipposideros larvatus (Horsfield, 1823) QS
9 Dơi muỗi đen* Arielulus circumdatus (Kock &
Trang 40STT Tên tiếng Việt Tên khoa học Nguồn
14 Chuột bụng bạc* Rattus argentiventer (Robinson,
Các taxon mới bổ sung cho khu vực nghiên cứu: ký hiệu *
Cơ sở xác định các loài thú bổ sung vào danh sách các loài thú tại KBT loài
Nam Động là căn cứ vào Báo cáo dự án “Xác lập Khu Bảo tồn Các loài hạt trần
quý hiếm tại xã Nam Động, huyện Quan Hóa” của Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Thanh
Hóa (2013) [14] Trong đợt điều tra này đã bổ sung 18 loài, 7 họ, 2 bộ thú chưa từng được ghi nhận tại Khu Bảo tồn loài Nam Động Tất cả các loài thú bổ sung cho KBT loài Nam Động đều được ghi nhận từ nguồn thông tin quan sát nên rất đáng tin cậy
Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy tiềm năng rất lớn trong việc phát hiện các loài thú bổ sung cho khu vực nghiên cứu Thực tiễn cho thấy, Khu Bảo tồn loài Nam Động là khu bảo tồn mới được thành lập ở Việt Nam năm 2014 nên các nghiên cứu về đa dạng sinh học của khu vực, đặc biệt là tài nguyên thú còn nhiều hạn chế Mặt khác, vị trí địa lý của Khu Bảo tồn loài Nam Động nằm trong vùng địa
lý sinh học Bắc - Trung bộ của Việt Nam là nơi có sự đa dạng sinh học cao và có nhiều loài đặc hữu Vì vậy, KBT loài Nam Động còn là khu vực có tiềm năng rất