1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY nghiên cứu bảo tồn quần thể bò tót (bos gaurus) và quần thể tê giác một sừng java (rhinoceros sondaicus) ở khu vực cát lộc, vườn quốc gia cát tiên​

83 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Bảo tồn Quần thể Bò Tót (Bos gaurus) và Quần thể Tê Giác Một Sừng Java (Rhinoceros sondaicus) ở Khu vực Cát Lộc, Vườn Quốc Gia Cát Tiên
Tác giả Bạch Thanh Hải
Trường học Trường đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Khoa Học Lâm Nghiệp
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được sự cấp thiết và những tồn tại trong nghiên cứu, bảo tồn và phát triển 2 loài thú lớn đặc biệt quý hiếm nói trên chúng tôi chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn quần th

Trang 1

BẠCH THANH HẢI

NGHIÊN CỨU BẢO TỒN QUẦN THỂ BÒ TÓT (Bos gaurus) VÀ QUẦN THỂ TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA (Rhinoceros sondaicus) Ở

KHU VỰC CÁT LỘC, VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010

Trang 2

Vườn Quốc gia Cát Tiên được xem là điểm nóng về đa dạng sinh học ở Việt Nam và trong khu vực, nổi bật là hệ sinh thái rừng kín ẩm nhiệt đới thường xanh, độ cao so với mặt nước biển thấp nhất dưới 115m và cao nhất 626m Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong hệ thống các Vùng sinh thái Global 2000 của WWF (các vùng sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới đồng thời là những điểm nóng

về bảo tồn đa dạng sinh học của thế giới), cũng như trong hệ thống các Khu dự trữ sinh quyển (Biosphere Reserves) thuộc Chương trình MAB của UNESCO năm

2001 Nhờ vào sự ưu ái của điều kiện tự nhiên, các dạng sinh cảnh và hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, Vườn Quốc gia Cát Tiên đang trở thành một trong những nơi trú ngụ cuối cùng của nhiều loài thú lớn ở Việt Nam như tê giác một sừng Java

(Rhinoceros sondaicus), voi châu á (Elephas maximus), bò tót (Bos gaurus) và nhiều

loài khác

Tê giác một sừng java và bò tót là hai loài thú lớn đang bị đe dọa diệt vong cao nhất trên thế giới Loài tê giác chỉ còn tồn tại 2 quần thể nhỏ: quần thể khoảng 60 cá

Trang 3

thể ở VQG Ujung Kulon (Inđônêxia) và quần thể khoảng 7-8 cá thể ở khu vực Cát Lộc, VQG Cát Tiên Danh lục Đỏ của IUCN (2010) xếp tê giác java ở bậc đe dọa cao nhất CR (rất nguy cấp), Sách Đỏ Việt Nam (2007) cũng xếp tê giác java ở bậc CR (rất nguy cấp) Về bò tót, Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp bò tót ở cấp độ Nguy cấp (EN) Trên thế giới, Danh lục đỏ IUCN xếp ở loài bò tót ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU) [IUCN, 2008]; Bò tót cũng được xếp trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác

và sử dụng vì mục đích thương mại) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ

Khu vực Cát Lộc có tổng diện tích là 27.530ha trước kia là Khu Bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc, đến năm 1998, sát nhập vào Vườn Quốc gia Cát Tiên, là một khu vực hiện đang tồn tại cả hai loài thú lớn quý hiếm này (Tê giác java và bò tót) Cát Lộc bị bao bọc xung quanh là các khu dân cư đông đúc, trong đó có nhiều bản làng dân tộc địa phương (Stiêng, Châu Mạ, ) sống rải rác sâu trong vùng lõi, thường xuyên phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng làm nông nghiệp, săn bẫy bắt thú rừng, chăn thả gia súc tự do,… Đây là những đe dọa lớn đối với sự tồn tại của quần thể Tê giác java, quần thể bò tót và nhiều loài sinh vật khác sống trong khu vực

Một nguyên nhân khác gây khó khăn cho bảo tồn các loài thú lớn ở đây là chưa

có sự hiểu biết đầy đủ về các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài như: phân bố thực

tế, hiện trạng sinh cảnh, các nguyên nhân đe dọa… Chính vì thiếu các thông tin này,

đã dẫn đến việc quy hoạch thiếu hoặc sai vùng bảo tồn thích hợp hoặc chưa có được

sự lựa chọn và đưa ra các giải pháp ưu tiên để quản lý, bảo tồn hiệu quả

Nhận thức được sự cấp thiết và những tồn tại trong nghiên cứu, bảo tồn và phát triển 2 loài thú lớn đặc biệt quý hiếm nói trên chúng tôi chọn thực hiện đề tài

“Nghiên cứu bảo tồn quần thể Bò tót (Bos gaurus) và quần thể Tê giác một sừng

java (Rhinoceros sondaicus) ở khu vực Cát Lộc, VQG Cát Tiên” nhằm cung cấp

các thông tin và hiểu biết đầy đủ hơn về các đặc điểm sinh học, sinh thái của 2 loài này ở khu vực Cát Lộc, tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch bảo tồn lâu dài chúng

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN VỀ LOÀI TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA 1.1.1 Các loài tê giác trên thế giới

Trên thế giới có năm loài tê giác khác nhau, hai loài phân bố ở châu Phi

và ba loài phân bố ở châu Á Châu Âu, châu Mỹ và châu Úc không có tê giác sống trong môi trường tự nhiên (Hình 1) Trong suốt thời kỳ Băng Hà một phân loài tê giác cổ đại có lông đã từng cư trú trên lục địa châu Âu và châu Á, nhưng chúng đã sớm bị tuyệt chủng

Tê giác một sừng java (Rhinoceros

sondaicus) – phân bố ở châu Á

Tê giác hai sừng (Dicerorhinus

sumatrensis) - phân bố ở châu Á

- phân bố ở châu Phi

Tê giác đen

(Diceros bicornis)

- phân bố ở châu Phi

Hình 1.1 Các loài tê giác hiện nay trên thế giới

Cả năm loài trên đều có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và đã được đưa vào Danh Lục Đỏ của IUCN (Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế) Đặc biệt, sự

Trang 5

sống còn của hai loài: Tê giác một sừng java (Rhinoceros sondaicus) và Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis) đang bị đe dọa nghiêm trọng (đều

xếp bậc CR-rất nguy cấp trong Danh Lục Đỏ IUCN, 2010)

Tê giác một sừng ấn độ là loài lớn nhất trong số ba loài tê giác châu Á Tê giác một sừng ấn độ sống ở Ấn Độ và Nêpan, nhỏ nhất là loài tê giác hai sừng (hay còn được gọi là tê giác có lông, tê giác sumatra) Loài này sống trong những vùng núi rậm rạp trên đảo Sumatra, Kalimantan và bán đảo Malaixia

Hiếm nhất hiện nay là loài Tê giác một sừng java, hiện chỉ còn từ 50 –

70 cá thể còn sống sót trên toàn thế giới Theo Groves & Guerin (1980), loài này có ba phân loài là:

- Tê giác một sừng xuđăng (Rhinoceros sondaicus sondaicus) sinh sống

ở VQG Ujung Kulon (Inđônêxia)

- Tê giác một sừng việt nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus) sinh sống

ở khu vực Cát Lộc (huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) của VQG Cát Tiên

- Phân loài Rhinoceros sondaicus inermis từng sống tại vùng Sunderbans

thuộc Ấn Độ, Bănglađét và Mianma Phân loài này đả bị tuyệt chủng vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20

1.1.2 Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của Tê giác một sừng java

Tê giác một sừng java cao từ 130 đến 150 cm và có thể nặng tới

1.500kg Phân loài tê giác R.s.annamiticus ở Việt Nam nhỏ hơn nhiều so với

những đồng loại của chúng ở Inđônêxia Loài này, chỉ có con đực mới mang một chiếc sừng tương đối dài (20 - 25cm), con cái thường không có sừng hoặc chỉ có một khối u nhỏ Sừng tê giác thật ra là một túm lông mọc dày đặc, hoàn toàn không phải xương Sừng tê giác được cho là một vị thuốc cổ truyền có giá trị Tuy nhiên, cần biết rằng tác dụng chữa bệnh của nó chưa bao giờ được chứng minh một cách có khoa học

Trang 6

Tê giác là một loài thú sống đơn độc Đa số trường hợp mà ta bắt gặp những con tê giác đi với nhau đều là tê giác mẹ đi với các con của nó Thời gian trưởng thành sinh dục của tê giác một sừng java là từ 4-6 sáu năm, thời gian mang thai là 16 tháng Tê giác con sống với mẹ cho đến khi được ba, bốn tuổi

Tê giác một sừng java khá dễ thích nghi với môi trường sống Chúng sống trong những cánh rừng bán thường xanh và thích kiếm ăn ở những vùng thoáng đãng hơn Tuy nhiên, hiện nay tê giác ở Việt Nam đang bị dồn vào một khu vực đồi dốc với các bụi tre mây gai góc dày đặt bao phủ rất bất lợi

Loài thú này không thích ăn tre hay mây, chúng thích ăn chồi, cỏ, mầm non

và những cây thân thảo Để bổ sung cho chế độ dinh dưỡng, tê giác cần tiêu thụ đều đặn một lượng muối khoáng nhất định Vì thế, tê giác ở VQG Ujung Kulong uống nước biển Ở Việt Nam, tê giác thường hay lui tới một số suối khoáng, sinh lầy giàu khoáng để uống

Dấu chân của tê giác một sừng java ở Ujung Kulong và ở Việt Nam có

sự khác biệt về kích cỡ So với tê giác Ujung Kulon, dấu chân của tê giác ở Việt Nam nhỏ hơn nhiều, chỉ bằng khoảng 60 đến 70% Các nhà khoa học cũng cho rằng mặc dù cùng loài tê giác một sừng, nhưng hai quần thể này khác nhau đến nổi việc phối giống giữa chúng có lẽ sẽ không có kết quả

1.2 TỔNG QUAN VỀ LOÀI BÒ TÓT

1.2.1 Tình trạng của loài bò tót trên thế giới

Đầu thế kỷ XVI, họ Trâu bò (Bovidae) có 12 loài bò hoang dã phân bố trên khắp các châu Á, châu Âu, châu Phi và Bắc Mỹ Ngày nay họ Trâu bò chỉ còn lại 10 loài [50] tồn tại dưới những quần thể nhỏ và phân tán ở một vài

quốc gia Loài bò xám (Bos sauveli) và bò Auroch (Bos primigenus) đã tuyệt

chủng

Ở Việt Nam, họ Trâu bò có 2 họ phụ là Bovinae và Caprinae, trong đó

có 6 loài là: bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos

Trang 7

sauveli), trâu rừng (Bubalus bubalis), Sơn dương (Naemorhendus sumatraensis) và sao la (Pseudoryx nghetinhensis [13]

Bò tót có phân bố ở Nêpan, Bănglađét, Butan, Ấn Độ, Myanma, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Malaixia và Việt Nam Số lượng bò tót trên thế giới hiện nay còn lại ước tính từ 13.000 đến 30.000 cá thể và hiện đang suy giảm nghiêm trọng do sự gia tăng dân số cao ở khu vực Đông Nam

Á Nguyên nhân chính khiến số lượng bò tót suy giảm như vậy là do nạn săn bắn, tình trạng phá hoại sinh cảnh, cạnh tranh nguồn thức ăn và nguy cơ lây bệnh từ bò nuôi Hiện nay, bò tót được xếp ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU)

Ở Việt Nam: Trước đây nhiều tác giả đã ghi nhận bò tót phân bố ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai thượng, Vĩnh Long, Lâm Đồng (núi Lang Biang), Buôn Đôn (Đắc Lắc), Thừa thiên, Quảng Nam –

Đà Nẵng Nhưng do tác động mạnh mẽ của con người, chặt phá rừng, làm mất nơi sống của chúng, vì vậy ngày nay bò tót chỉ phân bố ở trong một số VQG

và khu BTTN

Hiện nay theo nghiên cứu của Đặng Ngọc Cần và cs (2008) bò tót phân

bố ở 27 khu vực thuộc 15 tỉnh trong cả nước [13] Một số tỉnh thuộc Nam Trung Bộ và phần lớn các tỉnh Tây Bắc trước khi có ghi nhận về bò tót nay đã không có thông tin về sự tồn tại của chúng [13] Các vùng phân bố bò tót theo các vùng địa lý như sau:

Tây Bắc: Lai Châu: Mường Nhé (Mường Tè);

Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa: Pù Hu (Mường Lát), Xuân Liên (Thường Xuân); Nghệ An: Pù Hoạt (Quế Phong), Pù Mát (Con Cuông); Hà Tĩnh: Vũ Quang (Vũ Quang); Quảng Bình: Thượng Hóa (Minh Hóa), U Bò (Quảng Ninh); Quảng Trị: Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Triệu Nguyên (Đắk Rông)

Tây Nguyên: Kon Tum: Chư Mom Rây (Sa Thầy), Gia Lai: Chư Prông;

Đắc Lắc: Yok Đôn (Buôn Đôn, Cư Jút), Ea Súp, Ea Sô (Ea Kar), Chư Yang

Trang 8

Sin (Krông Bông, Lắc); Đắc Nông: Tà Đùng (Đắc Lấp), Nam Nung (Đắc Min); Lâm Đồng: Bi Đúp – Núi Bà (Lạc Dương), Bảo Lộc

Đông Nam Bộ: Bình Phước: Tân Lập, Nghĩa Trung (Đồng Phú), Bù Gia Mập (Phước Long), Lộc Ninh; Đồng Nai: Cát Tiên (Tân Phú, Vĩnh Cửu), La Ngà; Ninh Thuận: Phước Bình (Bác Ái), Ninh Sơn

Khu vực phân bố của bò tót tập trung nhất là Tây Nguyên và Đông Nam

Bộ Trong các khu vực phân bố, có 19/27 khu vực phân bố quần thể bò tót tồn tại chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng (70,4%), có 3/27 khu vực là diện tích các lâm trường (11,1%) Chỉ có 5/27 khu vực phân bố của bò tót chưa được bảo

vệ (18,5%) [34]

1.2.2 Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của Bò tót

Bò tót (Bos gaurus) là loài thú móng guốc, ngón chẵn, cỡ lớn, có thân

hình to khỏe Bò tót trưởng thành có đầu to, trán dẹp hơi lõm, có đốm trắng vàng trên đỉnh; vùng trán giữa 2 sừng nhô cao; cặp sừng rỗng lớn, gốc sừng

to, màu vàng xám và cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt; mút sừng nhọn đen bóng Bò tót có bộ lông ngắn và mượt, màu lông thay đổi theo từng cá thể, từ nâu đen (con đực) và màu nâu vàng (con cái) Ở phần bụng lông dài hơn, màu nâu nhạt Mông đen, bốn chân từ kheo trở xuống bàn chân màu trắng nhạt Đuôi dài màu đen Ở điểm chính giữa của hai gốc sừng có phủ lớp lông dài màu nâu nhạt hoặc xám trắng Bò tót non mới sinh màu vàng với đám lông sẩm dọc sống lưng, sau 4 - 5 tháng chuyển dần sang màu nâu đỏ

Bò tót đực có u thịt lớn, khá đặc trưng chạy từ gáy đến giữa lưng, được tạo bởi sự phát triển của gờ đốt sống thứ 3 đến 11 Lớp da ở cổ và trước ngực dài tạo thành yếm nhỏ Bò tót cái cũng có u thịt và yếm nhưng không phát triển như bò tót đực Bò tót cũng là loài duy nhất trong họ Trâu bò có các

Trang 9

tuyến tiết dầu ở da, có tác dụng để chống côn trùng, ký sinh trùng trên da và

có thể có tác dụng đánh dấu sinh học Đặc điểm tiết dầu trên da có thể quan sát rõ ở các cá thể bò tót đực vào mùa khô

Bò đực trưởng thành có thể đạt khối lượng trên 1.000kg, con cái thường nhỏ hơn con đực Các kích thước cơ bản của bò tót như sau: dài thân: 250 - 300cm, đuôi: 70 - 105cm, tai: 30 - 35cm, cao vai: 130 - 180cm

Bò tót thường sinh sống ở các vùng tương đối bằng phẳng, độ cao dưới 1.800m, trong các kiểu rừng khác nhau (rừng khộp, rừng thường xanh, rừng hỗn giao tre nứa, … ) và khu vực đồng cỏ (Schaller, 1967) Chúng hoạt động trong nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau và có xu hướng sinh sống thường xuyên hơn trong các khu rừng thường xanh và những khu vực cao hơn vào mùa khô (Prayurasiddhi, 1997) Vùng đất ven rừng, ven dòng nước, trong đó có những bãi

cỏ mọc sau khi bị đốt cháy là những nơi bò tót đến kiếm ăn thường xuyên nhất

Bò tót có thể sống trong vùng sinh cảnh bị suy thoái do hoạt động của con người Chúng thường kiếm ăn trong khu vực canh tác của người dân Bò tót ăn đồng thời cả cỏ và lá cây Chúng ăn lá cây nhiều hơn các loài bò hoang dã khác Thức ăn của bò tót chủ yếu là cỏ, mầm lá non của lau sậy, chuối rừng, măng non tre nứa, dương xỉ và lá cây Măng tre là một trong những thức ăn thường xuyên nhất của bò tót vào mùa mưa ở Thái Lan (Prayurasiddhi, 1997)

Nguồn nước đảm bảo quanh năm là yếu tố rất quan trọng cho loài này Nói chung, bò tót không đi xa nguồn nước quá một ngày đường (Conry, 1981) Các điểm khoáng và suối giàu khoáng là những yếu tố rất quan trọng đối với bò tót

Phạm vi sinh sống của bò tót thay đổi theo giới tính, theo mùa, theo từng khu vực

và quy mô đàn, dao động từ 27km2- 137km2 ở Malaixia (Conry, 1989) Phạm vi vùng hoạt động của bò tót vào mùa mưa rộng hơn vào mùa khô và đàn lớn có phạm

vi hoạt động hàng năm rộng hơn đàn nhỏ Tuy nhiên, phạm vi di chuyển mỗi ngày

Trang 10

của bò tót lại không thay đổi giữa mùa khô và mùa mưa và chỉ khoảng 3 km/ngày (Prayurasiddhi, 1997)

Thời điểm bò Tót hoạt động nhiều là ban đêm Ban ngày, chúng nằm nhai lại thức ăn ở nơi quang đảng trong rừng hoặc trong những khu vực có cỏ cao Bò tót sống thành từng đàn từ 3 - 40 cá thể Trong đàn có con đực, con cái trưởng thành, con bán trưởng thành (gần trưởng thành) và con non Cơ cấu đàn không thay đổi theo mùa Trong đàn, mỗi cá thể có một vị trí riêng và vị trí thống trị được phân hạng bằng cách đánh nhau (Thomas, 1996) Khi con cái già nhất rời đàn đi kiếm ăn thì những con đực thống trị giữ vai trò bảo vệ cả đàn (Prayurasiddhi, 1997) Vị trí thống trị đàn được phân định bằng kích cỡ cơ thể (Schaller, 1967; Thomas, 1996)

Đôi khi, đàn bò tót đi kiếm ăn cùng với nai (Cervus unicolor) Khi bị tấn công

những con đực khoẻ mạnh quây thành vòng tròn bảo vệ cho con non và con già ở giữa

Bò tót cái động dục và sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng có thời điểm sinh sản nhiều nhất vào tháng 6 – 7 và phụ thuộc vào điều kiện môi trường Mỗi lứa bò tót chỉ đẻ một con, thời gian mang thai khoảng 270 – 290 ngày

Tuổi đời tối đa của cá thể nuôi nhốt là 24 năm (Thomas, 1996) Có rất nhiều loài

thú ăn thịt săn bắt bò tót mới sinh và còn non như hổ (Panthera tigris), báo hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis nebulosa), sói đỏ (Cuon alpinus), nhưng chỉ

có hổ là đủ dũng mãnh để có thể giết được những con bò tót trưởng thành

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BÒ TÓT VÀ TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA Ở VIỆT NAM

1.3.1 Tình hình nghiên cứu bò tót

1.3.1.1 Ở Việt Nam

Trong bối cảnh chung của lịch sử nghiên cứu động vật học ở Việt Nam, nghiên cứu thú móng guốc nói chung và bò tót nói riêng có thể chia thành 3

Trang 11

giai đoạn như sau: giai đoạn trước năm 1945; giai đoạn từ năm 1954 đến 1975; giai đoạn từ 1975 tới nay

 Giai đoạn trước năm 1954

Các nghiên cứu về thú móng guốc ở Việt Nam được bắt đầu sau khi người Pháp đến Đông Dương (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20) Trong thời gian này, các nghiên cứu được các nhà nghiên cứu và thám hiểm nước ngoài thực hiện như Pháp, Anh và Mỹ Các nghiên cứu được thực hiện chung cho nhiều nhóm động vật, chủ yếu về phân loại học và thu mẫu cho các bảo tàng như: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pari, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Luân Đôn, Bảo tàng Lịch sử

Tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Field, Chicago

Các kết quả điều tra và thu mẫu đã được công bố trong các công trình của các tác giả như Milne-Edwards, 1867-1874; Morice, 1875; Billet, 1896-1898; Butan, 1900-1906De Pousargues (1904), Bonhote (1907), Kloss (1916), Robinson & Kloss (1922), Thomas (1927:1928), Bourret (1927:1942), Osgood (1932) và Delacour (1940) Tuy nhiên, rất ít các thông tin về bò tót và

tê giác được nêu trong các báo cáo, kết quả nghiên cứu ở giai đoạn này Các thông tin chủ yếu ở dạng liệt kê các mẫu động vật thu thập được ở vùng Đông Dương Ngoài ra, có một số sách viết về hoạt động săn bắn thú lớn ở Đông Dương, trong đó có các thông tin chung về tê giác và bò tót cũng được một số tác giả như De Monestrol (1952), Demariaux (1949), Fraisse (1954) xuất bản

Các thông tin về phân bố và nguồn gốc mẫu vật thu được ở Việt Nam trong thời kỳ này chỉ được ghi nhận theo các vùng như: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam

Bộ, mà không theo địa phương cụ thể như tỉnh hoặc chi tiết hơn

 Giai đoạn năm 1954 – 1975

Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra tài nguyên, trong đó có nguồn tài nguyên sinh

Trang 12

vật cần phải tiến hành để nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế đất nước

và hoàn toàn do các cán bộ Việt Nam đảm nhận Các kết quả nghiên cứu về thú nói chung còn lẻ tẻ do một số trường đại học và viện nghiên cứu thực hiện Các công trình nghiên cứu về khu hệ, sinh học, sinh thái của Đào Văn Tiến (1960 - 1973); Võ Quý, Mai Đình Yên, Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1961); Lê Hiền Hào (1962, 1964, 1969, 1973) [14]; Lê Hiền Hào và Trần Hải (1970, 1971); Đặng Huy Huỳnh, Vũ Đình Tuân (1964); Đặng Huy Huỳnh, Đỗ Ngọc Quang và Sablina (1964), Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965, 1973); Cao Văn Sung, Đào Văn Tiến (1966), Lê Vũ Khôi (1970), Lê

Vũ Khôi, Nguyễn Trác Tiến (1975),…Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tê giác và bò tót rất ít

Ở miền Nam, do điều kiện chiến tranh, công tác nghiên cứu không được thực hiện rộng rãi Một số công trình nghiên cứu của Vương Đình Sâm, giáo

sư trường Nông Lâm súc Sài gòn để phục vụ giảng dạy; Công trình nghiên cứu của Van Peenen et al, 1967, 1970, 1971; Olson, 1970; Duncan et al, 1970,

1971 Công trình của Van Peenen (1969) [47] nghiên cứu khu hệ thú từ

Quảng Trị trở vào Nam, đề cập đến thông tin về loài bò tót phân bố ở Tây Nguyên và các số đo mẫu vật

 Giai đoạn năm 1975 đến nay

Sau khi miền Nam giải phóng (1975), đất nước được thống nhất thì công tác nghiên cứu đa dạng sinh học thú đã có những bước phát triển lớn Địa bàn nghiên cứu được mở rộng ra toàn quốc và các nghiên cứu hướng đến mục tiêu ứng dụng để phục vụ công tác qui hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo tồn

đa dạng sinh học Năm 1985, với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác

mở rộng sang các nước không phải xã hội chủ nghĩa; một số tổ chức khoa học chính phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và đã có những đóng

Trang 13

góp tích cực vào công tác điều tra động vật hoang dã ở nước ta như WWF, IUCN, FFI, Birdlife International, Trung tâm Nhiệt đới Việt -Nga,…

Kết quả nghiên cứu về thú trong giai đoạn này rất to lớn với hàng ngàn công trình được công bố trong nước và trên thế giới Các công trình chính trong thời gian này của Đào Văn Tiến (1985) [24]; Đặng Huy Huỳnh và cs (1981) [15] đã đưa ra một số thông tin về phân bố của bò tót ở một số địa

phương miền Bắc như Lai Châu, Thanh Hóa và Nghệ An Sách “Sinh học và

sinh thái của các loài thú móng guốc ở Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh

(1986) được xem là tài liệu sớm nhất và tương đối đầy đủ về sinh học và sinh thái của 19 loài thú móng guốc thuộc 7 họ, 2 bộ, trong đó có loài bò tót [16]

Một số công trình nghiên cứu về thú đề cập đến thông tin về bò tót ở Tây Nguyên của Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính, Đặng Ngọc Cần (1981) [15], Trần Hồng Việt (1986) [28], Lê Xuân Cảnh và nnk (1997) [4] là những tư liệu quý góp phần mô tả về các đặc điểm phân bố, sinh học, sinh thái của loài bò tót

Các danh lục thú hoang dã Việt Nam của các tác giả Đặng Huy Huỳnh và nnk

(1994) [17], Lê Vũ Khôi (2000) [21], và gần đây của tác giả Đặng Ngọc Cần

và nnk (2008) [13] cũng góp phần mô tả vùng phân bố và hiện trạng bảo tồn

bò tót trong toàn quốc Ngoài ra các công trình của Nguyễn Hải Hà và Jamse Hardcastle (2005) [19], Nguyễn Mạnh Hà (2008) [18] là những tài liệu khá đầy đủ về các phương pháp điều tra, phân bố, hiện trạng bảo tồn các quần bò tót hiện nay ở Việt Nam

Nhìn chung, các nghiên cứu về bò tót ở Việt Nam không nhiều, tập trung chủ yếu vào ghi nhận các khu vực phân bố, ước đoán số lượng cá thể, xác định các đe dọa và đề xuất các biện pháp bảo tồn Tuy vậy, các vùng phân bố cũng mới được nghiên cứu sơ bộ, chưa có các các nghiên cứu về sinh học sinh thái và

sự thích nghi của loài với điều kiện và hoàn cảnh của mỗi khu vực nên các giải pháp bảo tồn đưa ra còn mang tính tổng thể chưa đặc thù cho từng khu vực

Trang 14

1.3.1.2 Ở VQG Cát Tiên Các nghiên cứu về bò tót và động vật hoang dã khác được thực hiện bởi các nhà khoa học từ Cục Kiểm lâm, Trường đại học Khoa học tự nhiên TP

HCM), các viện nghiên cứu (Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Sinh học nhiệt đới TP HCM) và một số tổ chức phi chính phủ như IUCN, WWF, FFI, Birdlife International, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga Các nghiên cứu về bò tót không nhiều, đáng chú ý có các công trình sau:

- Điều tra bò hoang dã và các loài động vật có vú, Vườn quốc gia Cát Tiên,

Việt Nam Ling, S.D (2000), Dự án bảo tồn VQG Cát Tiên, Đồng Nai, Việt Nam

- Báo cáo kết quả điều tra xây dựng danh lục động vật hoang dã (thú, chim,

bò sát, ếch nhái) ở VQG Cát Tiên Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lập (2001)

- Quan sát động vật có vú ở Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam 2000 – 2001

David Murphy (2001), Dự án bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Tiên, báo cáo số 35

- Điều tra bò hoang dã ở Vườn quốc gia Cát Tiên - Việt Nam Hayes,

B (2004), Báo cáo kỹ thuật số 47, WWF - Dự án bảo tồn Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam

- Hiện trạng và Bảo tồn của Tê giác Java, Cá sấu nước ngọt, chim họ

trĩ và Bò tót ở Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam David Murphy (2004), Dự

án Bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Tiên, Báo cáo số 50

- Năm 2006, VQG Cát Tiên đã được Quỹ Môi trường thế giới (FFEM) tài trợ Dự án Bảo tồn loài Bò lớn hoang dã tại VQG Cát Tiên, Kết quả điều tra ban đầu của dự án cho biết ở Vườn Quốc gia Cát Tiên ước tính có khoảng

19 – 22 đàn bò tót với khoảng 120 cá thể; Cấu trúc đàn có đầy đủ cả con đực, con cái và con non

- Đánh giá quần thể bò tót (Bos gaurus) và Bò rừng (Bos javanicus) ở

Vườn Quốc gia Cát Tiên và Khu bảo tồn thiên nhiên, miền Nam Việt Nam

Trang 15

Nguyễn Mạnh Hà (2007), Trung tâm tài nguyên môi trường/Quỉ bảo vệ môi trường tự nhiên Nagao

Các nghiên cứu nói trên đã xác định quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên (Nam Cát Tiên và Cát Lộc) hiện nay ước tính có khoảng 19 – 22 đàn bò tót với khoảng 120 cá thể Cấu trúc đàn có đầy đủ cả con đực, con cái và con non Các nghiên cứu cũng cung cấp một số thông tin cơ bản về đặc điểm hoạt động của loài này ở VQG Cát Tiên Tuy nhiên, đấy chỉ là kết quả ban đầu do thời gian các đợt điều tra ngắn và gián đoạn Các kết quả nghiên cứu chưa tạo lập được cơ sở tin cậy cho việc xây dựng các hoạt động bảo tồn và phát triển quần thể bỏ tót ở VQG Cát Tiên một các hữu hiệu

1.3.2 Tình hình nghiên cứu Tê giác một sừng java

Trước năm 1990, các nghiên cứu về loài tê giác một sừng java ở Việt Nam rất hạn chế, chỉ là một vài ghi nhận về vùng phân bố của loài này như trong các công trình của Đặng Huy Huỳnh và cs (1994), Nguyễn Xuân Đặng

và cs (1989), Schaller et al (1990) Các nghiên cứu này cho thấy loài tê giác một sừng java có phân bố ở các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước nhưng cho đến năm 1990 chỉ còn một quần thể nhỏ ở khu vực Cát Lộc thuộc VQG Cát Tiên (Schaller et al., 1990)

Sau 1990, các nghiên cứu về tê giác một sừng java được chú trọng hơn

và chỉ thực hiện ở khu vực Cát Lộc, VQG Cát Tiên – nơi duy nhất loài này còn tồn tại ở Việt Nam Những cuộc điều tra tiếp theo đã xác định quần thể tê giác ở khu vực Cát Lộc bao gồm 7-9 cá thể (Haryono và cộng sự, 1993; Đặng Huy Huỳnh và cs., 1998, Nguyễn Xuân Đặng và Phạm Hữu Khánh, 1999, Polet et al, 1999) Các nghiên cứu cũng xác định được 68 loài cây thức ăn của

tê giác ở Cát Lộc và ghi nhận về suy thoái sinh cảnh cho tê giác ở đây (Nguyễn Xuân Đặng và Hà Văn Tuế, 1999)

Trang 16

Với sự tài trợ của Dự án Bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Tiên, Quỹ chiến lược hành động Voi và Tê giác châu Á của WWF, Quỹ tài trợ bảo tồn Hỗ và

Tê giác của Tổ chức Động vật hoang dã và Cá (Mỹ), từ năm 2001, 2 "Đội tuần tra và giám sát Tê giác" đã được thành lập và hoạt động Mục đích của đội tuần tra thu thập thêm thông tin về hoạt động và các đe dọa của Tê giác ở Cát Lộc nhằm quản lý loài này một cách hiệu quả hơn Với sự hỗ trợ của các đội tuần tra và giám sát Tê giác 8 bức ảnh đầu tiên của loài Tê giác một sừng java ở Việt Nam đã được chụp bằng bẫy ảnh tự động Các mẫu phân do các Đội này thu thập được trong các năm 2001-2003, đã giúp xác định được quần thể tê

giác ở Cát Lộc có từ 5-6 cá thể, bao gồm cả đực và cái (Fernado và cs, 2004)

Bên cạnh các nỗ lực xác định hiện trạng quần thể tê giác ở Cát Lộc, các nghiên cứu cũng tập trung xác vùng hoạt động thực tế của quần thể tê giác và những đe dọa trực tiếp đối với quần thể này do các thôn bản cư trú bên trong vùng lõi khu vực Cát Lộc (Nico Vantrien, 2001; Bùi Hữu Mạnh, 2002; Vuong Duy Lập và cs, 2004, Polet và cs, 2006) Các nghiên cứu đã xác định vùng hoạt động thực tế của quần thể tê giác ở Cát Lộc chỉ giới hạn trong phạm vi khoảng 5.000ha và việc di dời các thôn bản ra khỏi khu vực Cát Lộc có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại của quần thể tê giác này

Mặc dù, công tác nghiên cứu quần thể tê giác ở Cát Lộc đã được đẫy mạnh song những tư liệu về về hiện trạng quần thể và các đặc điểm hoạt động của chúng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý bảo vệ chúng

Ví dụ: cho đến nay vẫn chưa xác định được tại sao không phát hiện được dấu hiệu sinh sản của tê giác trong vòng gần 20 năm qua; tỷ lệ đực cái của quần thể này là bao nhiêu ?,

Trang 17

1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI Ở KHU VỰC CÁT LỘC 1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý VQG Cát Tiên được thành lập từ ngày 13/01/1992 và mở rộng trên phạm

vi 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước từ năm 1998 với diện tích là 71.920 ha, bao gồm khu Nam Cát Tiên (Đồng Nai) là 39.627 ha, khu vực Cát Lộc (Lâm Đồng) là 27.850 ha, khu Tây Cát Tiên (Bình Phước) là 4.443 ha

Khu vực Cát Lộc có tổng diện tích là 27.530ha trước kia là Khu Bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc, đến năm 1998, sát nhập vào Vườn Quốc gia Cát Tiên;

tọa độ địa lý: 11020’50” đến 11050’20” độ vĩ Bắc; 107015’05” đến 107035’20”

độ kinh Đông 1.4.1.2 Địa hình Địa hình khu vực Cát Lộc có dạng bậc thềm bình nguyên cổ (đỉnh bằng, sườn dốc) và bán bình nguyên cổ, thấp dần về phía tây nam Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 130 – 500m, độ dốc sườn núi từ 10 – 200 Về phía tây nam địa hình thấp, bằng với hệ thống đồi bát úp tạo nên một số lòng chảo rộng, độ cao trung bình dưới 130m

1.4.1.3 Thổ nhưỡng Cấu trúc địa chất của khu vực nghiên cứu nguyên là sa phiến thạch, quá trình hoạt động của núi lửa thuộc vùng cao nguyên mà những phần thấp của khu vực đã

bị phủ lấp của lớp đá bazan Cùng với quá trình phun trào phủ lấp là quá trình bào mòn, bồi tụ đã tạo nên một lớp phù sa suối, phù sa sông, quá trình diễn biến niên đại tiếp theo đã tạo ra địa hình Cát Tiên ngày nay

Từ nền địa chất với 3 kiến tạo chính là: Trầm tích, Bazan và Sa phiến thạch

đã phát triển thành 4 loại đất chính của VQG như sau:

Trang 18

- Đất feralit phát triển trên đá bazan (Fk): loại đất này có diện tích lớn nhất chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên của Vườn, phân bố ở khu vực phía Nam, Fk là một loại đất giàu chất dinh dưỡng phân huỷ cho loại đất tốt, sâu, dày, màu đỏ hoặc nâu đỏ và nâu đen có nhiều đá Tufb núi lửa lộ đầu chưa bị phong hoá hết Trên loại đất này rừng phát triển tốt có nhiều loài cây gỗ quý

và khả năng phục hồi của rừng nhanh

- Đất feralit phát triển trên đá cát (sa phiến thạch) (Fq): chiếm diện tích lớn thứ 2 của VQG Cát Tiên, khoảng 20% phân bố chủ yếu ở phía bắc của vườn (khu Cát Lộc), dọc thượng nguồn sông Đồng Nai Độ phì của đất này kém hơn đất phát triển trên đá Bazan Nhưng do rừng chưa bị tàn phá nhiều nên đất vẫn còn tốt

- Đất feralit phát triển trên phù sa cổ (đất xám bạc màu trên phù sa cổ) (Fo):

gồm các loại đất được bồi tụ ven suối, ven sông Đồng Nai chiếm một diện tích khoảng 12% tổng diện tích vườn, chủ yếu phía bắc và phía đông nam của VQG Cát Tiên Các loại đất này thường phân bố trên các vùng địa hình khá bằng phẳng

và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa Loại đất này tuy xấu, nghèo chất dinh dưỡng nhưng thường có mực nước ngầm nông nên khá thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng trong mùa khô

- Đất feralit phát triển trên phiến sét (Fs): có diện tích không lớn chiếm khoảng 8% diện tích của vườn, phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía nam xen

kẽ các vạt đất Bazan Loại này tuy có độ phì khá, nhưng nhược điểm là thành phần cơ giới nặng nên khi mất rừng thì đất dễ bị thoái hoá một cách nhanh chóng

Trang 19

Hình 1.2 Bản đồ hành chính VQG Cát Tiên

Trang 20

1.4.1.4 Chế độ nhiệt

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt

Muà khô từ tháng 11, 12 đến tháng 3, 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 4, 5 đến tháng 10, 11 Theo số liệu thu thập từ 2 trạm thủy văn:

Trạm Cát Tiên (Lâm Đồng): thu thập dữ liệu về lượng mưa và trạm Bảo Lộc (Tỉnh Lâm Đồng) thu thập dữ liệu nhiệt độ và độ ẩm; đại diện cho vùng Cát lộc

Bảng 1.1 Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên

1 Nhiệt độ trung bình năm (oC) 21,7

2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 23,0 (tháng 6)

3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 (tháng 12)

4 Lượng mưa trung bình hàng năm (mm) 2.675

5 Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (mm) 494,8 (tháng 9)

6 Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (mm) 23,8 (tháng 2)

7 Số ngày mưa trung bình hằng năm (ngày) 182

8 Độ ẩm trung bình hằng năm (%) 87

9 Thời gian mưa t.bình trong mùa mưa (tháng) 10 (tháng 3-12)

10 Lượng mưa mùa mưa/L mưa hàng năm (%) 97,4 1.4.1.5 Chế độ thuỷ văn

Khu vực nghiên cứu tiếp giáp với sông Đồng Nai về phía tây trên chiều dài khoảng 16km, nước dồi dào quanh năm Bên trong khu vực nghiên cứu có

3 hệ thống suối lớn là suối Đa Dim Bo (suối Lớn), suối Đa Thai (suối Lạnh)

và suối Đa Xena và một số suối khác có nước chảy quanh năm Ngoài ra có

Trang 21

nhiều suối nhỏ chảy theo mùa và một số sình có nước quanh năm hoặc cạn vào mùa khô Về mùa khô hầu hết các bàu sình đều bị cạn nước, nhưng nước suối thì vẫn cung cấp đủ cho tê giác và các động vật hoang dã khác sinh sống

Sông Đồng Nai chảy qua Vườn Quốc gia Cát Tiên dài khoảng 90 km làm thành ranh giới tự nhiên bao bọc 1/3 chu vi vủa Vườn về phía Bắc, phía Tây và phía Đông Các suối lớn nhỏ trong Vườn đều chảy ra sông Đồng Nai

Đoạn sông Đồng Nai ở Vườn Quốc gia Cát Tiên rộng trung bình khoảng

100 m, lưu lượng nước bình quân khoảng 405m3/giây Mực nước cao nhất 8,03m, mực nước trung bình 5m Mùa kiệt 2 - 3m (Trạm thủy văn Tà Lài, 2004)

Theo Báo cáo kết quả điều tra xây dựng danh lục động, thực vật hoang

dã ở VQG Cát Tiên (2001) của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Sinh học nhiệt đới TP HCM, ở khu vực Cát Lộc thuộc VQG Cát Tiên, thảm

thực vật nguyên sinh vốn là Rừng rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa ẩm

cây lá rộng ở đất thấp Tuy nhiên, kiểu rừng này đã bị tác động mạnh mẽ và

thay đổi bằng các thảm thực vật thứ sinh nhân tác, chú yếu là rừng lồ ô vách

mỏng (Bambusa procera) (Hình1.2) Hiện nay ở khu vực Cát Lộc có mặt

những kiểu thảm thực vật chủ yếu sau:

- Rừng thường xanh cây lá rộng thứ sinh hay ít bị tác động: Diện tích còn khoảng 4.200 ha chiếm 13,5% tổng diện tích của khu vực Cát Lộc (27.530 ha), phân bố thành dạng khảm hoặc thành từng mảng nhỏ chú yếu nằm ở rừng phía bắc và đông bắc khu vực Cát Lộc Kiểu rừng này thường chia 5 tầng rõ rệt: tầng vượt tán gồm các cây gỗ cao trên 25m, tầng sinh thái gồm các cây gỗ lớn cao 18 – 25m, tầng dưới tán gồm các cây gỗ nhỏ, chiều cao từ 8 – 15m, tầng cây bụi gồm các cây gỗ nhỏ hay cây bụi có chiều cao dưới 6m và tầng cỏ

quyết mọc thưa thớt trên mặt đất

- Rừng thường xanh cây lá rộng mọc hỗn giao với tre nứa: Diện tích còn khoảng 7.200ha, xuất hiện bởi nhân tác, là trạng thái cân bằng tạm thời trong loạt

Trang 22

diễn thế phục hồi Chúng là quần xã thứ sinh có nguồn gốc từ quần xã nguyên sinh khác nhau thuộc rừng rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên các bề mặt đỉnh, sườn đồi và ven suối Sau khi bị chặt phá, khai thác trên diện tích này, các loài tre nứa nhanh chống xâm nhập và trở thành rừng tre nứa nhiệt đới thứ sinh, sau đó các loài cây gỗ vốn có tái sinh trở lại và mọc xen kẽ với tre nứa

- Rừng tre nứa nhiệt đới thứ sinh: Đây cũng là kiểu phụ thứ sinh nhân tác, sau khi rừng bị phá làm nương rẫy rồi bỏ hóa, các loài tre nứa xâm nhập

và phát triển Hai loài tre phổ biến là lồ ô (Bambusa procera) và mum (Gigantochloa sp) tạo thành các rừng lớn, với diện tích hơn 12.300ha (khoảng

40,5% tổng diện tích) Thường phân bố thành vệt rộng lớn suốt từ đường đỉnh xuống tận đến ven suối trên đất còn tầng dày, từ các khối Bazan đến phiến sét

- Trảng tre nứa (lồ ô) thấp xen cây bụi: Diện tích khoảng 2.350ha, phân

bố trên diện tích gần khu dân cư (chủ yếu xã Gia Viễn, Phước Cát 2) và rải rác ở những điểm dễ khai thác Loài tre duy nhất vẫn là lồ ô vách mỏng, tuy nhiên do bị chặt đi chặt lại nhiều lần hoặc do hoạt động canh tác thường xuyên nên khả năng tái sinh của lồ ô không mạnh, kích thước cá thể bị giảm bớt, chiều cao trung bình 5 – 7m

- Cây trồng nông nghiệp: Diện tích khoảng 3.000ha, gồm các vườn cây trồng lâu năm (chủ yếu là cây điều) trên các cao nguyên và sườn đồi Bazan (khoảng 1.750ha) và diện tích trồng lúa nước, cây lương thực khác ở các vùng bằng chân đồi núi, thung lũng và dọc sông Đồng Nai Trông vùng nghiên cứu diện tích cây trồng nông nghiệp chiếm khoảng 1.200ha

1.4.1.7 Hệ thực vật Theo Báo cáo kết quả điều tra xây dựng danh lục động, thực vật hoang dã ở VQG Cát Tiên (2001) của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Sinh học nhiệt đới TP HCM, đã xác định 772 loài thực vật bậc cao có mạch và dự đoán hệ thực vật Cát Lộc có khoảng 1.500 loài Các loài chú yếu thuộc họ Sao dầu

Trang 23

(Dipterocarpaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Tường vi (Lythraceae) và họ Đào lộn hột (Anacardiaceae)

Hình 1.3 Bản đồ hiện trạng thảm thực vật khu vực Cát lộc

1.4.1.8 Hệ động vật Theo Báo cáo kết quả điều tra xây dựng danh lục động, thực vật hoang dã ở VQG Cát Tiên (2001) của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Sinh học nhiệt đới TP HCM, đã thống kê được 70 loài thú, 181 loài chim, 100 loài cá, 47 loài bò sát, 20 loài ếch nhái, 406 loài côn trùng

Trang 24

1.4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

1.4.2.1 Dân số, thành phần dân tộc

Khu vực Cát Lộc có nhiều cụm dân cư sống sâu trong rừng, đa số là các hộ đồng bào dân tộc bản địa (Stiêng, Châu Mạ) đã sinh sống lâu đời:

- Xã Phước Cát II: Thôn 3 có 27 hộ, 139 khẩu, trong đó có 4 hộ, 21 khẩu

là người Kinh, 16 hộ dân tộc S’Tiêng Thôn 4 có 18 hộ, 87 khẩu, trong đó có

2 hộ, 6 khẩu là người Kinh, 12 hộ dân tộc Châu Mạ

- Xã Gia Viễn: Buôn K’Lo K’ích có 33 hộ 170 khẩu, trong đó có 13 hộ,

71 khẩu là người Kinh từ nơi khác đến

- Xã Tiên Hoàng: Buôn Thung Cọ có 45 hộ, 217 khẩu, trong đó có 25 hộ,

121 khẩu là người Kinh từ nơi khác đến xâm canh, 29 hộ dân tộc Châu Mạ

- Xã Đồng Nai Thượng: Đây là xã đặc biệt được thành lập năm 2003, diện tích toàn xã nằm trong khu vực vùng lõi VQG Cát Tiên, hiện nay trong

xã có 200 hộ, 961 khẩu, trong đó người Kinh có 8 hộ, 37 khẩu chủ yếu là cán

bộ xã, thầy cô giáo và các y tá, 197 hộ dân tộc Châu Mạ

1.4.2.2 Canh tác

Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của người dân sống trong khu vực, chiếm khoảng 95- 98% Đa số người Kinh có tập quán canh tác lúa nước, trong khi đó, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng có tập quán du canh, du cư, phát rừng làm rẫy, kỹ thuật canh tác lạc hậu Người Kinh và một

số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số như Tày, Nùng có kinh nghiệm làm vườn nhà, trồng các loại cây ăn trái, rau, củ, cây thuốc, kết hợp với chăn nuôi gia súc trong chuồng và nuôi cá Ngoài sản xuất lương thực (lúa, bắp), người dân còn trồng các loại cây công nghiệp như điều, tiêu, dâu tằm

Trang 25

Hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn là chăn nuôi hộ gia đình theo hình thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp (từ trồng trọt) và tận dụng lao động nhàn rỗi Vật nuôi chính là gia súc, gia cầm

1.4.2.3 Thu nhập và đời sống

Thu nhập của người dân địa phương thấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trong đó trồng trọt chiếm từ 60 – 80% tổng thu nhập, năng suất thấp, bình quân từ 150 – 200kg/ha (năm 2001) Ở Phước Cát 2, chỉ đạt khoảng 75.000 – 80.000đ/tháng Tại Gia Viễn là 127.000đ/tháng Tỷ lệ hộ thuộc diện đói nghèo trong vùng cao, chiếm khoảng 30%

1.4.2.4 Y tế và giáo dục Các phương tiện giáo dục và y tế ở hầu hết các thôn và cộng đồng sống trong khu vực đều thiếu thốn Mỗi xã có một trạm xá, thường là nhà cấp 4, thiết bị, phương tiện nghèo nàn, lực lượng cán bộ y tế địa phương còn yếu và thiếu Những bệnh thông thường là sốt rét, bệnh phổi, bướu cổ, tiêu hóa kém, các bệnh ngoài da và mắt đỏ

Một số thôn có 1 đến 3 lớp tiểu học, nhưng các thiết bị, phương tiện giáo dục còn thiếu Cả xã và thôn trong khu vực đã cố gắng xóa mù chữ nhưng có thôn đến 80 – 90% người dân vẫn không biết chữ

1.4.2.5 Giao thông

Nhìn chung, cơ sở hạ tầng giao thông và mạng lưới đường xá trong vùng kém phát triển, nhiều đoạn đường chỉ đi lại được vào mùa khô Tuy nhiên đến các thôn đi bằng xe máy đều được Có những đường mòn đến các thôn rất sâu trong rừng như thôn 4, thung Cọ Việc sử dụng các đường mòn trong rừng có tác động rất lớn đến sinh cảnh của các loài động vật hoang dã như tiếng nổ của động cơ xe máy, người đi qua lại và gây phân cách về mặt sinh thái (PRA, 2002)

Trang 26

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định hiện trạng quần thể tê giác một sừng java và quần thể bò tót

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3.1 Đánh giá hiện trạng quần thể và đặc điểm sinh thái của tê giác một sừng ở Cát Lộc

- Vùng cư trú của quần thể

- Số lượng cá thể ước tính

Trang 27

- Cấu trúc quần thể: tỷ lệ đực, cái, non

- Tập tính hoạt động: sự di cư theo mùa

- Thành phần thức ăn và tập tính hoạt động kiếm ăn

- Đặc điểm sinh cảnh: nơi trú ẩn, nơi kiếm ăn, nơi uống khoáng,

- Đặc điểm sinh sản (mùa sinh sản, số lứa đẻ trong năm, số con mỗi lứa, )

2.3.2 Hiện trạng quần thể và đặc điểm sinh thái của bò tót ở Cát Lộc

- Vùng cư trú của quần thể

- Số lượng cá thể ước tính

- Cấu trúc quần thể: tỷ lệ đực, cái, non

- Tập tính hoạt động: cấu trúc đàn, sự di cư theo mùa

- Thành phần thức ăn và hoạt động kiếm ăn

- Đặc điểm sinh cảnh: nơi trú ẩn, nơi kiếm ăn, nơi uống khoáng,

- Các mối đe dọa trực tiếp;

- Các mối đe dọa gián tiếp

2.3.5 Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn trên cơ sở các kết quả nghiên cứu

Trang 28

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.4.1 Thu thập và kế thừa các thông tin và tài liệu liên quan

Các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu được thu thập để tham khảo

Tất cả các thông tin và kết quả nghiên cứu về thú, đặc biệt là bò tót và tê giác ở Cát Tiên sẽ được thu thập và đánh giá để sử dụng trong luận văn Các thông tin thứ cấp cũng cung cấp các thông tin quan trọng bước đầu về đối tượng nghiên cứu

và giúp cho việc định hướng, lên kế hoạch nghiên cứu thực địa chi tiết

2.4.2 Phương pháp phỏng vấn dân địa phương

Thợ săn, nhân dân địa phương và lực lượng kiểm lâm là những người sống gần rừng, có đời sống gắn bó với rừng và hiểu biết nhiều về rừng Đây là bước đầu tiên, tuy kết quả có thể bị hạn chế, song phương pháp này cung cấp một số thông tin cơ bản về tình trạng của quần thể tê giác và bò tót trong vùng nghiên cứu và một số đặc điểm sinh học của chúng (vùng hoạt động, thời gian hoạt động, thức ăn, )

2.4.3 Điều tra quan sát thú theo tuyến và các điểm quan trọng

Nghiên cứu thực địa về cơ bản sẽ tuân theo các phương pháp nghiên cứu thú truyền thống hiện đang được các nhà khoa học trong nước và quốc tế sử dụng rộng rãi Các phương pháp như lập các tuyến điều tra, khảo sát ven sông, quan sát tại các hố nước, các điểm khoáng và các điểm quan sát tại các vùng có các loài thú lớn sinh sống để ghi nhận sự có mặt cũng như quan sát các tập tính hoạt động và đánh giá hiện trạng của các quần thể thú

Khảo sát thực địa được tiến hành trong các mùa khác nhau của năm, trong các thời điểm ban ngày và trên các dạng sinh cảnh Các tuyến điều tra được thiết lập ở khắp các vùng điều tra và càng đi qua nhiều dạng sinh cảnh càng tốt

Đặc biệt chú ý các vũng nước, điểm có muối khoáng, ven sông, suối, đầm, …

Trang 29

Một số đường mòn nhỏ được sử dụng bởi thợ săn hoặc những người thợ rừng trước đây được sử dụng làm tuyến điều tra

2.4.5 Điều tra quan sát các dấu vết hoạt động

Rất khó nhìn thấy trực tiếp Bò tót hay Tê giác trong tự nhiên vì số lượng của chúng còn ít và chúng lại rất nhút nhát do thường xuyên bị đe dọa bởi nhiều hoạt động của con người Vì vậy, việc ghi nhận sự có mặt của loài

Bò tót hay Tê giác qua dấu vết là phương pháp dễ tiến hành và dễ áp dụng hiện nay Khi phát hiện dấu vết của bò tót thì tiến hành mô tả chi tiết như sau:

- Dấu chân: Đặt trên dấu chân một tấm kính và trên tấm kính để tờ giấy bóng mờ Dùng bút dạ quang không xóa vẽ theo hình dạng của dấu chân Mô

tả chi tiết thêm những thông tin cần thiết khác như: thời gian, tọa độ, sinh cảnh, số lượng dấu chân, cách sắp xếp các ngón chân, nền đất mềm hay cứng,

độ dốc, và lấy các số đo cơ bản:

- Đối với dấu chân tê giác lấy các số đo sau: chiều rộng bàn chân, chiều rộng mống giữa chân trước

- Đối với dấu chân bò tót lấy các số đo sau: chiều dài, chiều rộng chân sau

(Hình 2.1)

Hình 2.1 Cách đo dấu chân tê giác và dấu chân bò tót

Trang 30

- Các bãi phân: Khi phát hiện các bãi phân của tê giác hoặc bò tót tiến hành ghi nhận các thông tin như: thời gian (phân đã bao nhiêu ngày), tọa độ, sinh cảnh, độ cao so với mặt nước biển, Mẩu phân được cho vào ống tuýp chứa dung dịch cồn tuyệt đối 950 và được lưu giữ trong tủ lạnh

- Các dấu vết khác: như vết nằm, vết húc sừng, vết ăn cây, Dự đoán mức độ và thời gian xuất hiện của dấu vết theo các trường hợp sau: dấu rất mới (trong ngày), dấu mới (dưới 1 tuần), dấu cũ (hơn một tuần) Xác định tọa

độ và độ cao nơi phát hiện dấu vết

2.4.6 Thu thập mẫu phân tê giác bằng chó nghiệp vụ

Với sự hỗ trợ của tổ chức WWF, 2 chó nghiệp vụ có khả năng phát hiện phân tê giác được chuyến đến VQG Cát Tiên từ 10/2009 đến 4/2010 để giúp phát hiện các mẫu phân tê giác Tổng cộng 22 mẫu phân tê giác được bắt gặp lấy mẫu trong thời gian này, những mẫu này đã được gửi tới trường Đại học Queen, Canada để phân tích DNA Dự kiến kết quả phân tích sẽ cho biết cụ thể về số cá thể và cấu trúc giới tính của quần thể của tê giác ở Cát Lộc

2.5.7 Điều tra thành phần các loài cây thức ăn

Điều tra cây thức ăn của Bò tót và Tê giác theo phương pháp phổ biến là

đi theo các tuyến đường đi của Bò tót hay Tê giác có sẵn ở trong rừng và một

số nơi chúng thường kiếm ăn như các hố nước, trảng cỏ, vùng đầm lầy, ven sông, suối,…Các cây có dấu vết ăn được thu thập mẫu để nhờ các chuyên gia thực vật giám định tên khoa học

Các cây được xác định là tê giác ăn dựa vào yếu tố sau Khác với các

loài thú móng guốc lớn khác có mặt trong vùng như bò tót (Bos gaurus), nai (Cervus unicolor), hoẵng (Muntiacus muntjak), dấu vết ăn của tê giác có

những nét đặc trưng riêng có thể nhận biết được Tê giác thường bứt gọn cả cụm lớn lá và cành non hoặc bứt ngang ngọn các cây bụi thấp, trong khi đó

Trang 31

các loài móng guốc nói trên thường bứt cụm lá nhỏ hơn và phần non hơn Tê giác thường dùng thân đè ngả nhiều cây cao xuống để ăn lá và ngọn nên nơi

tê giác ăn thường thấy các cây cao bị đè gãy hoặc đổ nghiêng Quanh cây có dấu vết tê giác ăn thường có các dấu chân của tê giác, các vết do tê giác cọ mình vào thân cây, đôi khi còn gặp cả phân của tê giác Ngoài ra, hỗ trợ cho việc xác định cây mà tê giác ăn còn có kinh nghiệm quan sát lâu năm của một

số người dân địa phương thuộc dân tộc thiểu số S’tiêng được mời tham gia đoàn điều tra Các cây sau khi xác định có dấu vết tê giác ăn được sơ bộ định loại trên hiện trường, chụp ảnh và thu mẫu làm tiêu bản để phân tích giám định lại tại phòng thí nghiệm

Phân của tê giác rất dễ nhận biết do có kích thước và khối lượng lớn hơn nhiều so với phân của các loài thú móng guốc khác sống cùng sinh cảnh

Ngoài ra, do cấu trúc đặc thù của hàm nên khi nhai thường cắt các cành non thành từng đoạn đều nhau dài khoảng 2 cm, các đoạn cành này được thải ra cùng với phân

Khi gặp các bải phân của tê giác còn mới, dùng gậy đập tơi phân để thu thập các bộ phận của cây chứa trong phân như vụn lá, đoạn cành, gai, hạt, vỏ, quả, Đồng thời thu lượm khoảng 0.3 - 0.5 kg phân mang về lán trại, dùng rá

lỗ nhỏ và nước lọc rửa để tiếp tục thu thập các bộ phận nhỏ hơn của cây chứa trong phân Các bộ phận của cây thu được đem rửa sạch và dùng kính lúp để xác định loài cây mà tê giác đã ăn Phương pháp này cho kết quả hạn chế do rất khó xác định đến loài thông qua các mẫu nhỏ các bộ phận của cây chứa trong phân, trừ một số loài cây phổ biến trong vùng

Việc xác định mức độ sử dụng hay mức độ ưa thích của tê giác đối với từng loài cây thức ăn có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn các biện pháp tác động thích hợp điều tiết nguồn thức ăn cho tê giác trong vùng Tuy nhiên, đây là việc làm khó, đòi hỏi có những nghiên cứu chuyên sâu với những bước

Trang 32

thử nghiệm phức tạp Do vậy, bước đầu chúng tôi tạm xác định mức độ sử dụng từng loại cây thức ăn theo ba cấp sau:

- Rất thích ăn: gồm những loài cây có tần suất gặp dấu vết tê giác ăn nhiều, ăn với khối lượng lớn (vặt trụi lá, cành non; cây cao bị đè xuống và ăn nhiều)

- Thích ăn: gồm những loài có tần suất gặp dấu vết tê giác ăn khá cao, nhưng ăn với khối lượng không nhiều

- Ít ăn: gồm những loài khá phổ biến trong vùng hoạt động của tê giác, nhưng tần suất gặp dấu vết ăn thấp

2.5.8 Thu thập mẫu phân bò tót cho phân tích ADN

Việc nghiên cứu về số lượng cá thể và giới tính của bò tót ở thực địa có nhiều khó khăn do bò tót thường lẩn tránh con người Chúng tôi kế thừa các kết quả nghiên cứu về số lượng cá thể và giới tính của bò tót bằng cách tách các ADN từ các mẫu phân sinh học đã được Viện Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã thực hiện thành công Đây cũng là thành quả của Dự án bảo tồn các loài trâu bò hoang dã do Chính Phủ Pháp tài trợ cho Viện Chăn nuôi (Hợp phần quốc gia) và VQG Cát Tiên (Hợp phần địa phương) Viện Chăn nuôi áp dụng các công nghệ sinh học phân tử, tách các ADN từ các mẫu phân sinh học của loài bò tót từ VQG Cát Tiên để xác định cơ cấu di truyền,

số lượng cá thể, giới tính bằng phương pháp nghiên cứu hiện tượng đa hình của các microsatellite ở bò tót và bò rừng Điểm hạn chế của phương pháp này do chất lượng ADN chưa cho phép xác định đặc điểm từng cá thể qua microsatellite, nhưng các phân tích về hiện tượng đa hình của microsatellite vẫn đang được tiếp tục Mặt khác các ADN trong các mẫu phân thu được ở môi trường nhiệt đới bị hỏng rất nhanh, cũng ảnh hưởng đến việc phân tích ADN trong mẫu phân [25], [26]

Trang 33

2.5.9 Điều tra tác động của của con người

Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), công cụ SWOT, các báo cáo tổng kết năm về phát triển kinh tế xã hội, số liệu về các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp, thu nhập kinh tế bình quân của người dân trong khu vực nghiên cứu,… để có một bức tranh tổng thể về thực trạng bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học nói chung và các loài thú móng guốc nói riêng trong khu vực

2.5.10 Tổng hợp và phân tích số liệu

Các thông tin thu thập được chọn lọc, xử lý tỉ mỉ và được tổng kết nhằm cung cấp các thông khoa học về sinh thái, phân bố và các giải pháp và kiến nghị thực tế cho công tác bảo tồn lâu dài các loài thú nói chung và tê giác và

bò tót nói riêng ở khu vực nghiên cứu

Các thông tin được trình bầy cụ thể bằng các biểu đồ, bản đồ phân bố, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để phân tích những tác động tích cực và tiêu cực đến 2 quần thể tê giác và bò tót tại khu vực nghiên cứu,… để đưa ra được một bức tranh toàn cảnh về thực tế và các biện pháp cần thực hiện để bảo vệ và phát triển các loài thú lớn có trong VQG, đặc biệt là đối với những loài qúy hiếm, có giá trị bảo tồn

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA TÊ GIÁC MỘT SỪNG JAVA Ở CÁT LỘC

3.1.1 Vùng hoạt động của tê giác ở Cát Lộc

Vùng hoạt động của tê giác ở Cát Lộc được xác định dựa trên sự phân bố các địa điểm ghi nhận các dấu vết hoạt động (dấu chân, bải phân, dấu vết ăn) của tê giác Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng hoạt động tập trung của tê giác

là khu vực phía Nam của Cát Lộc với diện tích khoảng 4.200 hecta Khu vực này có địa hình đồi núi thấp, thung lũng nhỏ, nhiều bàu sình, khe suối phù hợp với tập tính hoạt động của tê giác Tuy nhiên, thảm thực vật ở đây là rừng thứ sinh đã bị thoái do ảnh hưởng của chất độc hoá học trong thời gian chiến tranh và khai thác nhiều lần làm nương rẫy Tê giác cũng sử dụng một số khu vực có độ dốc thấp khác những rất hiếm khi (Hình 3.1)

Hình 3.1 Vùng hoạt động tập trung của tê giác ở Cát Lộc

Trang 35

Bản đồ các địa điểm ghi nhận dấu vết của Tê giác được thể hiện trên Hình 3.2 và Hình 3.3

Hình 3.2 Các địa điểm ghi nhận dấu chân của tê giác ở Cát Lộc

Trang 36

Hình 3.3 Bản đồ ghi nhận phân của tê giác

Từ các bản đồ này cho thấy: vùng hoạt động của Tê giác ở Cát Lộc được chia làm hai khu vực rõ rệt, gồm khu vực từ Suối Sình - Đình Vũ - Đình Đe lên đến vùng đồi nhỏ nằm khoảng giữa Thôn 3 và Thôn 4; và khu vực từ Bàu Chim lên Suối Tre, qua Đắc Lớ - Bàu Trâu và hướng về gần Thôn K'Lo Có

sự phân chia thành hai vùng như vậy là do con suối Đắc Lớ nằm giữa hai

Trang 37

vùng Đây là con suối lớn và độ dốc hai bên sườn lớn nên Tê giác không đi ngang qua được Tê giác chỉ vượt qua suối này ở hai điểm chính tê giác là khu vực gần đắc Lớ - Bàu Trâu và khu vực gần K'Lo ( Hình 3.2 và 3.3)

3.1.2 Số lượng cá thể tê giác ở Cát Lộc

Trước nghiên cứu này, số lượng cá thể tê giác ở Cát Lộc đã được ước tính bằng các phương pháp sau: 1) So sánh kích thước và các bản đúc thạch cao các dấu chân của tê giác; 2) So sánh các bức ảnh do bẫy ảnh tự động chụp

tê giác và 3) phân tích DNA từ các mẫu phân tươi của tê giác

Việc tính số lượng tê giác bằng phương pháp so sánh kích thước dấu chân và các bản đúc thạch cao dấu chân tê giác tiến hành vào các năm 1998

và 1999 đã ước tính có khoảng 7-8 tê giác còn sinh sống trong khu vực Cát Lộc [1], [2], [5] Kết quả phân tích ADN các mẫu phân tê giác thu thập được của Đại Học Colombia (Mỹ) năm 2001 cũng xác định có khoảng 7-8 cá thể tê giác sinh sống ở Cát Lộc Tuy nhiên, phân tích 11 tấm ảnh chụp tê giác bằng bẫy ảnh trong các năm 1999-2000 chỉ xác định được 2-3 cá thể tê giác và đều

là tê giác cái Năm 2002, Nico van Strien – chuyên gia tê giác của Hội Bảo tồn Tê giác Thế giới (IRF), sau khi xem xét lại tất cả các bản đúc thạch cao thu được lưu trữ tại Ban quản lý VQG Cát Tiên và 11 tấm ảnh chụp tê giác cho rằng số lượng tê giác ở Cát Lộc chỉ là 3-5 cá thể Như vậy, chưa có sự thống nhất về số lượng tê giác ở Cát Lộc, sự khác nhau về các kết quả tính số lượng tê giác nêu trên có thể là do số lượng mẫu nghiên cứu (bản đúc dấu chân, ảnh chụp tê giác và mẫu phân tê giác) còn ít và chất lượng của một số mẫu không đáp ứng yêu cầu Vì vậy, việc xác định số lượng tê giác cũng như xác định tỷ lệ đực cái của chúng được chúng tôi tiếp tục tiến hành trong các năm từ 2004 đến nay thông qua việc đo kích thước và đúc thạnh cao các dấu chân mới và thu thập các mẫu phân tươi cho phân tích DNA

Trang 38

Tống số chúng tôi đã đo được 176 dấu chân tê giác Phân tích các số đo dấu chân tê giác cho thấy chiều rộng dấu chân tê giác rất biến động tuỳ theo

độ dốc mà tê giác di chuyển Khi di chuyển lên dốc, tê giác có xu hướng co rút các móng chân lại nhằm bấu vào nền đất chắc hơn nên chiều rộng dấu chân rất nhỏ, trong khi đó khi di chuyển xuống dốc tê giác có xu hướng xoè rộng các ngón chân ra để chịu được trọng lượng của cơ thể (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Chiều rộng trung bình của dấu chân tê giác ở các khu vực

mẫu đo

Chiều rộng TB dấu chân(mm)

1 Khu vực bàu Trâu 27 208.93

2 Khu vực suối Đạ Tơi 29 203.54

3 Khu vực bàu Đắc Lớ 11 184.94

4 KV suối Đình Vũ – Hang Dơi 44 183.23

5 Khu vực suối Tre 17 180.94

6 Khu vực suối Sìn (Đạ Lớ) 15 177.89

7 Khu vực Bàu chim – bàu Đá 33 176.32

Trang 39

Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện biến động chiều rộng dấu chân

Tuy nhiên, kích thước của móng chân giữa không có biến động nhiều theo địa hình (Bảng 3.2; Hình 3.5)

Bảng 3.2 Chiều rộng trung bình của móng giữa ở các khu vực

mẫu đo

Chiều rộng TB móng giữa(mm)

1 Đỉnh đồi bên phải bàu Chim 14 105.79

2 Đường đi phía trên hang Dơi 11 103.09

3 KV suối Đình vũ hướng về bản K’lo 7 102.86

4 Khu vực bàu Trâu 55 102.51

5 Khu vực Hang Dơi 7 99.00

6 Khu vực suối Đạ tơi lên đồi (1) 18 98.78

7 Khu vực bản K’lo – Đạ tơi 11 98.27

8 Khu vực suối Đạ tơi lên đồi (2) 9 97.22

9 Từ Yên ngựa xuống bàu Chim 1 19 90.80

10 Từ Yên ngựa xuống bàu chim 2 10 90.22

11 Khu vực suối Sìn 29 86.03

Kích thước (cm)

Số lượng

Trang 40

Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện biến động móng chân giữa

Số lượng cá thể tê giác được xác định dựa trên việc phân tích dấu chân

và phân tích hình dạng dấu chân, đặc biệt là hình dạng và chiều rộng của móng giữa Vì hình dạng và kích thước bàn chân Tê giác khi di chuyển biến động lớn như vậy nên không thể căn cứ trên các số đo này để xác định số lượng tê giác Trong số các số đo kích thước bàn chân tê giác ngoài thực địa,

số liệu duy nhất có tính chất khá ổn định là chiều rộng và hình dạng của móng giữa

Phân tích số đo chiều rộng móng giữa của tê giác cho thấy có hai nhóm kích thước rõ rệt ghi nhận được ở 2 khu vực khác nhau (Bảng 3.2) Nhóm thứ nhất có kích thước tương đối nhỏ, chủ yếu tập trung tại khu vực Bàu Chim và Bàu Sình (Suối Sình) Nhóm dấu chân thứ hai có kích thước lớn hơn, chủ yếu tập trung quanh khu vực Đắc Lớ - Bàu Trâu - K'Lo Việc sai số do đo dấu

Kích thước (cm)

Số lượng

Ngày đăng: 20/12/2022, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam (2007), Sách ĐỏViệt Nam, phần I - Động vật, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách ĐỏViệt Nam, phần I - Động vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2007
2. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2001), Tự điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững, NXB Khoa học và kỹ thuật, 509 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2001
4. Lê Xuân Cảnh, Phạm Trọng Ảnh, J.W. Ducworth, Vũ Ngọc Thanh, Lic Vuthy (1997), Báo cáo về nghiên cứu các loài thú lớn ở tỉnh Đắc Lắc, Việt Nam, Bảo tồn thú lớn Việt Nam, dự án hợp tác giữa WWF và IUCN, Hà Nội, 115 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về nghiên cứu các loài thú lớn ở tỉnh Đắc Lắc, Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Phạm Trọng Ảnh, J.W. Ducworth, Vũ Ngọc Thanh, Lic Vuthy
Năm: 1997
6. Lê Xuân Cảnh, Phạm Trọng Ảnh, J.W. Ducworth, Vũ Ngọc Thanh, Lic Vuthy (1997), Báo cáo về nghiên cứu các loài thú lớn ở tỉnh Đắc Lắc, Việt Nam, Bảo tồn thú lớn Việt Nam, dự án hợp tác giữa WWF và IUCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về nghiên cứu các loài thú lớn ở tỉnh Đắc Lắc, Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Phạm Trọng Ảnh, J.W. Ducworth, Vũ Ngọc Thanh, Lic Vuthy
Năm: 1997
7. Nguyễn Xuân Đặng (2004), Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án cải tạo sinh cảnh khu vực C3, VQG Cát Tiên đối với hoạt động của một số loài thú móng guốc, WWF-CTNPCP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án cải tạo sinh cảnh khu vực C3, VQG Cát Tiên đối với hoạt động của một số loài thú móng guốc
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng
Năm: 2004
8. Nguyễn Xuân Đặng , Hà Văn Tuế, Đỗ Văn Đạt (1999), Kết quả điều tra cây thức ăn tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus annamitucus) ở Vườn Quốc gia Cát Tiên, WWF-CTNPCP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra cây thức ăn tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus annamitucus) ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng , Hà Văn Tuế, Đỗ Văn Đạt
Năm: 1999
9. Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh (2009), Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2009
10. Nguyễn Xuân Đặng, Phạm Hữu Khánh (1999), Kết quả điều tra tê giác (Rhinoceros sondaicus annamiticus) ở VQG Cát Tiên, WWF- CTNPCP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tê giác (Rhinoceros sondaicus annamiticus) ở VQG Cát Tiên
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng, Phạm Hữu Khánh
Năm: 1999
13. Đặng Ngọc Cần, Hideki Endo, Nguyễn Trường Sơn, Tatsuo Oshida, Lê Xuân Cảnh, Đặng Huy Phương, Darrin Peter Lunde, Shin-Ichiro Kawada, Akiko Hayashida, Motoki Sasaki (2008), Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam, NXB Shoukadoh Book Sellers, Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Cần, Hideki Endo, Nguyễn Trường Sơn, Tatsuo Oshida, Lê Xuân Cảnh, Đặng Huy Phương, Darrin Peter Lunde, Shin-Ichiro Kawada, Akiko Hayashida, Motoki Sasaki
Nhà XB: NXB Shoukadoh Book Sellers
Năm: 2008
14. Lê Hiền Hào (1973), Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Hiền Hào
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1973
15. Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính, Đặng Ngọc Cần (1981), Khu hệ thú ở Tây Nguyên, Tuyển tập nghiên cứu sinh học 1981, Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ thú ở Tây Nguyên, Tuyển tập nghiên cứu sinh học 1981
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính, Đặng Ngọc Cần
Năm: 1981
16. Đặng Huy Huỳnh (1986), Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1986
18. Nguyễn Mạnh Hà (2008), Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn loài bò tót (Bos gaurus H.Smith, 1827) ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ động vật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn loài bò tót (Bos gaurus H.Smith, 1827) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà
Năm: 2008
19. Nguyễn Hải Hà, Jamse Hardcastle (2005), Điều tra và giám sát bò tót, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra và giám sát bò tót
Tác giả: Nguyễn Hải Hà, Jamse Hardcastle
Năm: 2005
20. Phạm Hữu Khánh, Nguyễn Văn Thanh, Frédéric Vallejo, Miguel Pedrono (2007), “Kết quả điều tra bước đầu về các loài bò hoang dã ở VQG Cát Tiên và khu Bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu (Đồng Nai)”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, số 12,13/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra bước đầu về các loài bò hoang dã ở VQG Cát Tiên và khu Bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu (Đồng Nai)”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Phạm Hữu Khánh, Nguyễn Văn Thanh, Frédéric Vallejo, Miguel Pedrono
Năm: 2007
21. Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn (2001), Địa lý sinh vật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 171 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý sinh vật
Tác giả: Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
22. Richard B. Primack (1999), Cơ sở sinh học bảo tồn, NXB Sinaeur Associates Inc. Massachusetts, Mỹ và NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học bảo tồn
Tác giả: Richard B. Primack
Nhà XB: NXB Sinaeur Associates Inc. Massachusetts
Năm: 1999
23. Nguyễn Văn Thanh (2009), Nghiên cứu hiện trạng quần thể, một số đặc điểm sinh thái, tập tính của bò tót (Bos gaurus) ở Vườn quốc gia Cát Tiên và đề xuất biện pháp bảo tồn, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng quần thể, một số đặc điểm sinh thái, tập tính của bò tót (Bos gaurus) ở Vườn quốc gia Cát Tiên và đề xuất biện pháp bảo tồn
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2009
24. Đào Văn Tiến (1985), Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1985
26. Vườn quốc gia Cát Tiên (2002), Báo cáo kết quả điều tra tê giác (Rhinocerros sondaicus annamiticus) tháng 6 và 7 năm 2002, WWF-CTNPCP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra tê giác (Rhinocerros sondaicus annamiticus) tháng 6 và 7 năm 2002
Tác giả: Vườn quốc gia Cát Tiên
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w