Mối liên quan giữa tổn thương động mạch cảnh trên siêu âm doppler với các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu .... Về mối liên quan giữa tổn thương động mạch cảnh trên
TỔNG QUAN
Bệnh thận mạn
1.1.1 Chẩn đoán bệnh thận mạn Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về suy thận mạn (STM), trong đó STM là hậu quả cuối cùng của các bệnh thận, tiết niệu mạn tính, làm chức năng thận giảm xút dần dần tương ứng với số lượng nephron của thận bị tổn thương dẫn đến xơ hóa và mất chức năng không hồi phục [5] Biểu hiện lâm sàng là mức lọc cầu thận giảm dần không hồi phục, tăng nitơ phi protein máu, rối loạn cân bằng nội môi, rối loạn các chức năng nội tiết của thận [5] Các triệu chứng trên nặng dần tương ứng với giảm mức lọc cầu thận, cuối cùng dẫn đến suy thận giai đoạn cuối, lúc này hai thận mất chức năng hoàn toàn, đòi hỏi phải điều trị thay thế thận [5]
Năm 2002, Hội thận học Hoa Kỳ (National Kidney Foundation - NKF) đưa ra định nghĩa BTM bao gồm cả bệnh STM, định nghĩa này được cập nhật nhiều lần trong các năm sau đó Tiếp đến năm 2012 KDIGO và sau đó là sự đồng thuận của Hội thảo quốc tế đã đưa ra tiêu chí xác định BTM dựa trên định nghĩa năm 2002 như sau: Bệnh thận mạn là tình trạng tổn thương thận về mặt cấu trúc hoặc chức năng, biểu hiện bằng sự có mặt của albumin niệu hoặc suy giảm chức năng thận xác định qua mức lọc cầu thận ( 1g/24 giờ, có thể có hồng cầu niệu, trụ hạt
- Trên siêu âm kích thước hai thận nhỏ đều hai bên
- Tăng creatinin máu, MLCT < 60 ml/phút
2.7.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn do tăng huyết áp [3]
- Có tiền sử tăng huyết áp chẩn đoán theo khuyến cáo chẩn đoán và điều trị THA ở người lớn của Hội Tim Mạch Việt Nam 2018 [3]
- Triệu chứng lâm sàng: Tăng huyết áp, thiếu máu, hội chứng urê máu cao
- Nước tiểu có protein niệu hoặc không, có thể có hồng cầu niệu, trụ hạt
- Kích thước hai thận đều trên siêu âm
- Tăng creatinin máu, MLCT < 60 ml/phút
2.7.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn do đái tháo đường type 2 [2]
- Có tiền sử mắc bệnh ĐTĐ type 2 theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Bộ Y
Tế năm 2009 [2] và được quản lý điều trị ĐTĐ ngoại trú
- Triệu chứng lâm sàng: mệt lả, vã mồ hôi, cảm giác đói, ăn nhiều, uống nhiều, gầy nhiều, có thể béo phì, béo bụng
- Đảm bảo các tiêu chuẩn BTM theo KDIGO 2012
2.7.5 Tiêu chuẩn đánh giá rối loạn lipid máu:
Chẩn đoán rối loạn lipid máu được thực hiện bằng xét nghiệm các thành phần lipid máu sau ăn 9–12 giờ, cho thấy tăng nồng độ cholesterol toàn phần, triglyceride và LDL-Cholesterol (LDL-C), đồng thời giảm nồng độ HDL-Cholesterol (HDL-C), từ đó cung cấp cơ sở chẩn đoán và định hướng can thiệp điều trị phù hợp.
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn chuyển hóa Lipid máu theo
Quyết định của Bộ Y tế năm 2014 [1]
Thành phần Lipid máu (mmol/l) Giá trị chẩn đoán
2.7.6 Bảng phân mức độ chỉ số khối cơ thể (BMI) cho người Châu Á [14] :
BIM= Cân nặng (kg)/Chiều cao 2 (m)
Bảng 2.3: Chỉ số khối cơ thể (BMI) cho người Châu Á
BMI > 30 Béo phì độ II
BMI từ 25 – 29,9 Béo phì độ I
BMI từ 16 – 17,9 Gầy độ II
2.7.7 Phân độ tăng huyết áp theo ESH/ESC năm 2018 Bảng 2.4: Phân loại tăng huyết áp theo ESH/ESC năm 2018 [50]
Phân loại HA tâm thu
Bình thường cao 130-139 và/hoặc 85-89 Độ I 140-159 và/hoặc 90-99 Độ II 160-179 và/hoặc 100-109 Độ III ≥180 và/hoặc ≥110
Tâm thu đơn độc ≥180 Và 0,7 được coi là tăng [9]
Các chỉ số này chúng tôi sử dụng để biểu diễn giá trị trung bình của đối tượng nghiên cứu
Dày NTM ĐMC được xác định khi NTM từ 0,9–1,5 mm, trong khi NTM bình thường < 0,9 mm, theo đánh giá độ NTM ĐMCC theo hướng dẫn của Hội Tăng huyết áp và Hội Tim mạch Châu Âu năm 2003 NTMTB ĐMC được tính bằng trung bình cộng của NTMTB bên phải và NTMTB bên trái, kết quả được phân tích bằng phần mềm SPSS trên máy tính.
* Tình trạng MXV ĐMC chúng tôi phân chia thành 2 nhóm: Không và có MXV
* Số lượng MXV gồm 3 nhóm: 1 MXV; 2 MXV; >2 MXV
* Vị trí MXV gồm 3 nhóm: Bên phải, bên trái, cả hai bên
Đánh giá hẹp ĐMC được phân thành hai nhóm, không hẹp và có hẹp lòng ĐMC Mức độ hẹp được xác định theo tỷ lệ hẹp, chia thành