KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN PHÍA NAM AASCs Ngành: KẾ T
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Lý do chọn đề tài
Hoạt động kiểm toán có lịch sử hơn 100 năm trên thế giới, còn tại Việt Nam mới xuất hiện từ đầu thập kỉ 1990; ban đầu là sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập (1991), sau đó là kiểm toán nhà nước (1994) và năm 1997 là kiểm toán nội bộ Từ khi xuất hiện đến nay, hoạt động kiểm toán ở Việt Nam phát triển nhanh chóng, đặc biệt ở loại hình kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán Việt Nam đang từng bước nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng để đáp ứng kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Để doanh nghiệp phát triển bền vững, tăng cường chất lượng quản trị cần xuất phát từ công tác hạch toán kế toán, đóng vai trò then chốt và quyết định Kiểm toán luôn đi liền và là sự tiếp nối tự nhiên của hoạt động kế toán Khi kế toán chịu trách nhiệm thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin, kiểm toán sẽ xác nhận tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện các quy trình quản lý và phục vụ hiệu quả cho nhu cầu của người dùng thông tin kế toán.
Bằng chứng kiểm toán là yếu tố then chốt quyết định tính đúng đắn của kết quả kiểm toán, làm cơ sở để kiểm toán viên đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, đồng thời làm căn cứ để kết luận kiểm toán Khi số lượng và chất lượng bằng chứng không đủ, kết luận kiểm toán có thể bị ảnh hưởng, làm tăng rủi ro bỏ qua sai sót hoặc gian lận và gây tác động tiêu cực đến hoạt động của công ty khách hàng cũng như các bên liên quan đến báo cáo tài chính Để thu thập bằng chứng có độ tin cậy cao, kiểm toán viên dựa trên năng lực và kinh nghiệm cá nhân, đồng thời áp dụng các phương pháp thu thập chứng cứ phù hợp với quá trình kiểm toán Các phương pháp này dựa trên tổng hợp kinh nghiệm kiểm toán, kết hợp với các phương pháp biện chứng, khoa học, giải tích về quy hoạch, xác suất và thống kê Vì vậy, việc nâng cao và hoàn thiện các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán là cần thiết để đáp ứng sự đa dạng của thông tin và mức độ tinh vi ngày càng cao của các hành vi gian lận.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trong lĩnh vực kiểm toán, em – một sinh viên chuyên ngành kiểm toán – đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía Nam (AASCs)” Quá trình nghiên cứu đã giúp em hệ thống hóa các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán, làm sáng tỏ vai trò của bằng chứng trong việc đảm bảo tính đầy đủ, khách quan và tin cậy của báo cáo kiểm toán, đồng thời gợi ý các giải pháp cải tiến thực tiễn tại AASCs để nâng cao chất lượng kiểm toán.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tìm hiểu cơ sở lý luận về BCKiT và các phương pháp thu thập bằng chứng, nhằm xây dựng khung lý thuyết vững chắc và nâng cao năng lực áp dụng thực tiễn Đồng thời, nghiên cứu thực trạng thu thập BCKiT và đánh giá hiệu quả của các phương pháp hiện có tại các cơ sở liên quan, từ đó đề xuất các giải pháp thu thập bằng chứng tối ưu, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu.
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía Nam (AASCs) là môi trường thực tập giúp sinh viên trải nghiệm và nâng cao kỹ năng kiểm toán Qua đó, sinh viên sẽ tìm hiểu, so sánh và đưa ra nhận xét cùng giải pháp để hoàn thiện các phương pháp thu thập BCKiT tại công ty, từ đó hỗ trợ KTV đưa ra ý kiến phù hợp và giúp bản thân bổ sung thêm kiến thức về kiểm toán.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được xác định tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía Nam (AASCs) Tuy nhiên, do thời gian có giới hạn và tính bảo mật thông tin khách hàng, đề tài chủ yếu tập trung phân tích quy trình kiểm toán và BCKiT của một số khách hàng tiêu biểu, từ đó tổng hợp và nhận xét cách thu thập BCKiT nhằm đưa ra ý kiến trong kiểm toán BCTC tại AASCs.
Các tài liệu nghiên cứu dựa trên hồ sơ lưu hành nội bộ của AASCs gồm: BCKT năm trước của khách hàng như BCTC đã kiểm toán và các giấy tờ làm việc của KTV
Về thời gian: Tài liệu sử dụng để thực hiện đề tài của một số khách hàng cho năm tài chính từ 01/01/201X đến 31/12/201X Đặc biệt đối với DN kiểm toán thì việc bảo mật thông tin cho khách hàng là đạo đức nghề nghiệp quan trọng cần lưu ý Do đó, trong khóa luận các số liệu chứng từ, bằng chứng sử dụng đã đƣợc sửa đổi theo yêu cầu của công ty và chỉ mang tính chất tham khảo.
Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu về các quy định, chuẩn mực về chế độ kế toán và kiểm toán Việt Nam hiện hành Cũng như các tài liệu chuyên ngành về các phương pháp thu thập BCKiT trong kiểm toán BCTC Kết hợp tìm hiểu hồ sơ kiểm toán các khách hàng tại AASCs
Đồng thời quan sát quá trình các KTV thu thập BCKiT và tham gia trực tiếp vào cuộc kiểm toán với vai trò Trợ lý kiểm toán để có cái nhìn thực tế, khách quan và rõ ràng về quy trình, từ đó hiểu rõ vấn đề và so sánh thực tế với lý thuyết.
Ngoài ra, em còn phỏng vấn các KTV trong công ty về phương pháp thu thập BCKiT.
Kết cấu đề tài
Đề tài khóa luận tốt nghiệp được trình bày qua năm chương, với kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thu thập bằng chứng kiểm toán và các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán
Chương 3: Tổng quan về Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía Nam (AASCs)
Chương 4: Thực trạng về phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía Nam (AASCs)
Chương 5: Nhận xét, kiến nghị và giải pháp thu thập bằng chứng kiểm toán tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía Nam (AASCs)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN 2.1 Tổng quát về bằng chứng kiểm toán
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500, bằng chứng kiểm toán là toàn bộ tài liệu và thông tin mà kiểm toán viên thu thập được có liên quan đến cuộc kiểm toán; từ những thông tin này, kiểm toán viên hình thành ý kiến kiểm toán của mình.
BCKiT là tập hợp đầy đủ các tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán và BCTC, cùng với các tài liệu, thông tin từ các nguồn khác Do đó, BCKiT có thể là dữ liệu ở dạng văn bản hoặc lời nói, và bao gồm cả chứng từ sổ sách, biên bản kiểm kê, giấy xác nhận của khách hàng và các tài liệu liên quan từ nhiều nguồn khác.
Mỗi loại bằng chứng kiểm toán đều có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình hình thành ý kiến của kiểm toán viên (KTV) Vì vậy, KTV cần nhận thức rõ đặc điểm của từng loại bằng chứng kiểm toán để đánh giá một cách hiệu quả trong toàn bộ quy trình kiểm toán Nhờ đó, phương pháp thu thập bằng chứng và mức độ tin cậy mà KTV gắn với từng loại bằng chứng kiểm toán sẽ quyết định mức độ thành công của cuộc kiểm toán.
2.1.2 Vai trò của bằng chứng kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán (BCKiT) đóng vai trò quan trọng làm cơ sở để KTV hình thành quyết định và kết luận về kết quả kiểm toán Thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và đánh giá BCKiT của KTV một cách đầy đủ và thích hợp Nếu KTV không thu thập đủ BCKiT và không đánh giá đúng đắn các bằng chứng, sẽ khó đưa ra nhận định chính xác về đối tượng kiểm toán.
BCKiT là cơ sở quan trọng để các trưởng nhóm, trưởng phòng kiểm toán và Ban giám đốc cơ quan kiểm toán nhà nước, cũng như các cơ quan pháp lý, theo dõi quá trình thực hiện, phát hành BCKT và đánh giá hiệu suất làm việc của KTV trong cuộc kiểm toán Việc giám sát này có thể do nhà quản lý của công ty kiểm toán trực tiếp giám sát hoạt động của nhân viên hoặc do cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán khi có tranh chấp pháp lý giữa công ty kiểm toán và người sử dụng thông tin trên BCTC Do đó, BCKiT là cơ sở để KTV bảo vệ ý kiến của mình.
BCKiT được xem là nguồn dữ liệu tin cậy cho các kỳ kiểm toán kế tiếp; trong các kỳ kiểm toán tiếp theo của khách hàng, kiểm toán viên (KTV) có thể tham khảo BCKiT từ các năm trước để nắm bắt tình hình tài chính và hoạt động của công ty khách hàng, từ đó đánh giá rủi ro và đưa ra nhận định chính xác hơn Việc tham chiếu BCKiT giúp tăng tính nhất quán giữa các kỳ kiểm toán, tiết kiệm thời gian và nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán.
2.1.3 Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500, sự đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán luôn đi liền với nhau và được áp dụng cho các bằng chứng thu thập từ các thủ tục kiểm soát và các thử nghiệm cơ bản; sự đầy đủ mô tả mức độ về số lượng bằng chứng kiểm toán cần có để đảm bảo tính thuyết phục, trong khi sự thích hợp thể hiện chất lượng và tính phù hợp của bằng chứng với mục tiêu và phạm vi kiểm toán.
“Thích hợp” là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng, độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán…” a/ Thích hợp: mức độ thích hợp phụ thuộc vào:
- Nguồn gốc của BCKiT, đƣợc xếp theo mức độ giảm dần nhƣ sau:
+ Bằng chứng do bên ngoài cung cấp trực tiếp cho KTV (văn bản xác nhận nợ, xác nhận số dƣ tiền gửi)
+ Bằng chứng do bên ngoài lập nhưng được lưu trữ tại đơn vị (hóa đơn nhà cung cấp, sổ phụ ngân hàng…)
+ Bằng chứng do đơn vị phát hành và luân chuyển ra ngoài, rồi trở về đơn vị (ủy nhiệm chi đã thanh toán…)
+ Bằng chứng do đơn vị phát hành và sử dụng trong nội bộ
Độ tin cậy của BCKiT phụ thuộc vào dạng BCKiT; mỗi loại BCKiT khác nhau sẽ có mức độ tin cậy riêng biệt Bằng chứng tài liệu thường có độ tin cậy thấp hơn bằng chứng vật chất, nên việc đánh giá độ tin cậy của BCKiT cần cân nhắc nguồn gốc và loại chứng cứ liên quan.
+ Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn có độ tin cậy thấp hơn bằng chứng tài liệu
Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) hiệu quả sẽ nâng cao độ tin cậy của các BCKiT liên quan đến tài liệu kế toán và quy chế kiểm soát của bộ phận đó Khi HTKSNB được thiết kế và vận hành tốt, các BCKiT liên quan tới tài liệu kế toán sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn, từ đó tăng tính chính xác và minh bạch của thông tin kế toán, giảm thiểu sai sót và rủi ro, đồng thời tăng cường hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ và hiệu quả hoạt động của bộ phận.
- Sự kết hợp các loại bằng chứng: Cùng lúc có nhiều thông tin giải thích cho một vấn đề thì sẽ tạo đƣợc mức độ tin cậy cao hơn
Ví dụ: Số dư cuối kỳ TK 131 trùng khớp với Thư xác nhận công nợ từ khách hàng sẽ tăng độ tin cậy so với chỉ dựa vào số liệu trên sổ sách kế toán Tương tự, khi TK 112 có số dư cuối kỳ trùng khớp với số dư trên sổ phụ ngân hàng và cả Thư xác nhận ngân hàng, sự thuyết phục của bằng chứng kiểm toán sẽ được nâng lên Ngược lại, nếu hai bằng chứng không khớp nhau, kiểm toán viên (KTV) phải xem xét thận trọng và xác minh sự mâu thuẫn bằng các phương pháp bổ sung cần thiết Về tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán, số lượng bằng chứng thu thập quyết định tính đầy đủ của BCKiT; đây là vấn đề không có thước đo chung, đòi hỏi sự suy đoán nghề nghiệp của KTV, căn cứ vào giá trị của BCKiT, mức trọng yếu và mức độ rủi ro của thông tin tài chính để xác định quy mô mẫu thông tin cần có.
- Những nhân tố ảnh hưởng đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán bao gồm:
+ Tính hiệu lực của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy càng thấp, số lƣợng bằng chứng cần thu thập càng nhiều và ngƣợc lại
Thông tin được coi là trọng yếu theo VSA 200 khi thiếu thông tin đó hay thông tin đó thiếu chính xác sẽ ảnh hưởng đến quyết định sử dụng BCTC Đối với những khoản mục có tính trọng yếu cao, tức là có ảnh hưởng đáng kể đến BCTC, KTV phải thu thập bằng chứng liên quan đến khoản mục đó nhiều hơn khoản mục khác Mục tiêu là bảo đảm BCTC được trình bày trung thực trên mọi khía cạnh trọng yếu.
Ví dụ đối với DN sản xuất, thương mại, HTK, TSCĐ và Công nợ có giá trị lớn và ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và BCKQKD, do đó kiểm toán viên cần thu thập nhiều bằng chứng về các khoản mục này của đơn vị Mức độ rủi ro cao ở những khoản mục này đồng nghĩa với yêu cầu về số lượng bằng chứng thu thập nhiều hơn, ngược lại với các khoản mục có rủi ro thấp.
Trong điều kiện HTKSNB hoạt động không hiệu quả, vốn bằng tiền là khoản mục chứa đựng rủi ro cao nhất do dễ biển thủ và khó kiểm soát, dẫn tới nguy cơ sai phạm lớn; ngược lại, khi HTKSNB hoạt động tốt, khoản mục dễ có sai phạm là hàng tồn kho (HTK) vì việc kiểm kê hàng tồn kho rất tốn kém và phức tạp Do đó, kiểm toán viên (KTV) cần xem xét kỹ lưỡng hai yếu tố này để đánh giá rủi ro và phân bổ nguồn lực kiểm toán phù hợp.
Thông thường trong kiểm toán thường xét đến các loại rủi ro sau: Rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR), rủi ro phát hiện (DR)