1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cho xí nghiệp lâm nghiệp kỳ sơn thuộc công ty lâm nghiệp hòa bình​

101 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cho xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn thuộc công ty lâm nghiệp Hòa Bình
Tác giả Vũ Thanh Hà
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bảo Lâm
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki: Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định

Trang 1

-

VŨ THANH HÀ

LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ RỪNG THEO NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ RỪNG THẾ GIỚI (FSC) CHO XÍ NGHIỆP LÂM NGHIỆP KỲ SƠN THUỘC CÔNG TY

LÂM NGHIỆP HÒA BÌNH

Chuyên ngành: LÂM HỌC

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ BẢO LÂM

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS Nguyễn Thị Bảo Lâm đã hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn khoa Lâm học, khoa Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp, Ban lãnh đạo và cán bộ Xí nghiệp lâm nghiệp

Kỳ Sơn cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn

Do còn hạn chế về nhiều mặt nên luận văn sẽ có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và thảo luận

Tôi xin cam đoan số liệu tôi thu thập được trong luận văn là trung thực

Tôi xin chân thành cám ơn !

Hà nội, tháng… năm 2011

Tác giả

Vũ Thanh Hà

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các biểu đồ vii

Đặt vấn đề 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.Trên thế giới ………3

1.1.1 Kế hoạch quản lý rừng 3

1.1.2 Quản lý rừng bền vững 4

1.2 Tại Việt Nam 15

1.2.1 Quản lý rừng bền vững 15

1.2.2 Đánh giá việc xây dựng kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam………23

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Mục tiêu 25

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 25

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 25

2.2 Đối tượng nghiên cứu 25

2.3 Phạm vi nghiên cứu 25

2.4 Nội dung nghiên cứu 25

2.4.1 Đánh giá tình hình quản lý rừng của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn theo nguyên tắc QLRBV của hội đồng quản trị Thế giới (FSC) 25

2.4.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Thế giới 25

Trang 4

2.4.3 Đánh giá điều kiê ̣n cơ bản và lập kế hoạch quản lý rừng cho Xí nghiệp

lâm nghiệp Kỳ Sơn 26

2.5 Phương pháp nghiên cứu 27

2.5.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu 27

2.5.2 Ca ́ c phương pháp nghiên cứu cụ thể 27

Chương 3: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỦA XÍ NGHIỆP LÂM NGHIỆP KỲ SƠN 39 3.1 Điều kiện tự nhiên 39

3.1.1 Ranh giới và vị trí địa lý 39

3.1.2 Địa hình địa thế 39

3.1.3 Đất đai - Thổ nhưỡng: 39

3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 40

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

3.3 Tình hình quản lý, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp 41

3.3.1 Tình hình quản lý, điều kiện cơ sở hạ tầng của Xí nghiệp 41

3.3.2 Hiện trạng tài nguyên rừng 43

3.3.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp 43

3.4 Đánh giá chung 44

3.4.1 Công tác quản lý rừng và tổ chức quản lý trong 5 năm qua 44

3.4.2 Những thuận lợi và khó khăn của Xí nghiệp 44

3.4.4 Tác động xã hội 46

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

4.1 Đánh giá nguyên tắc, tiêu chí và các chỉ số quản lý rừng bền vững (FSC) 47

4.1.1 Đánh giá theo tài liệu quản lý (đánh giá trong phòng) 47

4.1.2 Khảo sát hiện trường 47

4.1.3 Ý kiến tham vấn 48

4.1.4 Đánh giá quản lý rừng tại Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn 48

4.1.5 Xác định các khiếm khuyết và cách khắc phục 54

Trang 5

4.2 Đánh giá Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 55

4.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 60

4.3.1 Những căn cứ lập KHQLR 60

4.3.2 Mục tiêu 60

4.3.3 Bố trí sử dụng đất đai 62

4.3.4 Kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn chu kỳ (2012– 2018) cung cấp gỗ nguyên liệu cho sản xuất ván dăm……… …… 64

4.3.5 Kế hoạch giám sát 83

4.3.6 Phân tích hiệu quả 88

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ………90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FSC Hội đồng quản trị rừng QLRBV Quản lý rừng bền vững

KHQLR Kế hoạch quản lý rừng ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới WTO Thương mại thế giới CoC Chuỗi hành trình sản phẩm WWF Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên NWG Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt nam KTXH Kinh tế xã hội

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Phân bố diện tích đất đai của Xí nghiệp ở các xã 41 3.2 Phân chia các loại rừng Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn quản lý 44

4.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 của Xí nghiệp 64 4.4 Điều chỉnh diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi thông

qua khai thác rừng

71

4.6 Trữ lượng và sản lượng khai thác rừng trồng Keo tai tượng

4.12 Hiệu quả kinh tế kinh doanh cho 1ha rừng trồng Keo 89

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Biểu đồ hiện trạng rừng trồng Keo năm 2011 43

4.2 Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng Keo tai

tượng giai đoạn 2012 -2018

69

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tự nhiên, rừng là hệ sinh thái bền vững, có giá trị nhiều mặt cả về kinh tế, xã hội và môi trường Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, diện tích rừng đã bị suy giảm nhanh chóng Cùng với sự mất diện tích rừng tự nhiên, môi trường sống của các loài động vật, thực vật rừng cũng biến mất hoặc bị thoái hóa nghiêm trọng Đây là nguyên nhân chính làm cho nhiều loài sinh vật rừng

có nguy cơ bị tuyệt chủng, đa dạng sinh học bị suy giảm

Thực tế cho thấy, nếu chỉ có các biện pháp truyền thống như tăng cường luật pháp, tham gia các công ước… thì không thể bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên hiện còn của nhân loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cả cộng đồng quốc

tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan tâm, kết hợp với các giải pháp truyền thống nêu trên là cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng

QLRBV phải đạt được sự bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, môi trường và xã hội Đối với mỗi quốc gia, đó là nhận thức về các giải pháp bảo vệ mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng Đối với chủ rừng đó còn là nhận thức về quyền xuất khẩu lâm sản của mình vào mọi thị trường quốc tế với giá bán cao CCR chính là sự xác nhận bằng văn bản cho chủ rừng đáp ứng được các nguyên tắc và tiêu chí QLRBV Chứng chỉ do Hội đồng quản trị rừng Thế giới (FSC) cấp là một trong những CCR rất được quan tâm hiện nay

Tài liệu cơ bản để FSC chứng nhận quản lý rừng cho chủ rừng là Bộ nguyên tắc QLRBV gồm 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí QLRBV đòi hỏi chủ rừng phải lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) chi tiết, rõ ràng và giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp Tất cả các hoạt động từ xây dựng, phát triển rừng đều tuân theo kế hoạch được lập, trong đó kế hoạch khai thác giữ vai trò quan trọng nhất

Nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu về nhu cầu kinh tế và thảo mãn được lợi ích về môi trường và xã hội Vì vậy, muốn đạt được nguyên tắc quản lý sử dụng bền vững tài nguyên rừng thì chúng ta cần phải nắm được thực trạng quản lý rừng một cách chính

Trang 10

xác Qua đó đưa ra những biện pháp tác động, quản lý sử dụng một cách hợp lý

Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn thuộc Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình là đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc tỉnh Hòa Bình Nhận thức được cần quản lý rừng theo hướng tiên tiến, Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn mong muốn lập được kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc QLRBV của hội đồng quản trị Thế giới (FSC) Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn cũng cần được tư vấn, hỗ trợ phương pháp đánh giá để xác định được những nguyên tắc chưa đạt, điều chỉnh hoạt động lâm nghiệp đáp ứng nguyên tắc và tiêu chí QLRBV Để hỗ trợ cho Xí nghiệp lâm nghiệp

Kỳ Sơn lập được kế hoạch theo nguyên tắc QLRBV của hội đồng quản trị Thế giới

(FSC) tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc

quản lý rừng bền vững của hội đồng quản trị rừng Thế giới (FSC) cho Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn thuộc Công ty lâm nghiệp Hòa Bình”

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

+ Khoanh vùng rừng thành khu vực sản xuất và khu bảo vệ

+ Điều tra quản lý rừng và tính khối lượng được phép khai thác hàng năm + Viết kế hoạch điều chế rừng trung hạn

+ Lập kế hoạch triển khai + Thực hiện và giám sát kế hoạch từng lô

+ Đánh giá nội bộ các hoạt động lâm nghiệp và tiến độ thực hiện giữa kỳ

+ Đánh giá độc lập về tính bền vững

+ Kế hoạch quản lý rừng sẽ được định kỳ điều chỉnh nhằm kết hợp các kết quả giám sát hoặc các thông tin khoa học kỹ thuật mới, cũng như đáp ứng những thay đổi về môi trường và kinh tế – xã hội

+ Cơ sở của việc định mức khai thác rừng hàng năm và việc chọn loài

Trang 12

1.1.2 Quản lý rừng bền vững

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững

Vấn đề phát triển bền vững là một nhu cầu tất yếu nếu con người muốn tồn tại lâu dài, hài hoà với tự nhiên và duy trì các hệ sinh thái phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế bền vững của mình cho các thế hệ sau này

- Khái niệm “Phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường của những năm thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987 trong báo cáo “tương lai của chúng ta” của hội đồng thế giới về phát triển bền vững họp tại Brundland

(WCED 1987) “phát triển bền vững” được định nghĩa như sau: “Là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau”

- Phát triển bền vững là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng việc mở rộng sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá Phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển

có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: Phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi

trường, phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này hiện đang là mục tiêu mà nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình

Trang 13

sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật

Do đó phát triển bền vững cần phải hiểu theo nghĩa là đáp ứng những mong mỏi, nguyện vọng của con người ở thế hệ hiện tại về vật chất và tinh thần để tồn tại

và phát triển tốt, đồng thời cũng không làm ảnh hưởng đến những mong muốn, nguyện vọng của những con người ở thế hệ tương lai Tức là sự phát triển này cần

là sự phát triển xoáy chôn ốc, tiến theo hướng mở rộng và ổn định

Trải qua các giai đoạn lịch sử tiến hoá dài, nhận thức của con người về rừng ngày càng tốt hơn, đúng hơn Đặc biệt từ hội nghị thượng đỉnh toàn cầu 1992 tại Rio deJaneiro (Brazil) thì rừng cần được quản lý tốt để cung cấp ổn định lâu dài cho con người các lợi ích kinh tế, các lợi ích môi trường và các lợi ích xã hội Vấn đề

mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự quan tâm đặc biệt là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững mà trong đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người là không thể thay thế được Có nhiều định nghĩa về QLRBV

mà ta có thể sử dụng được Tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki:

Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”

Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia

và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”

Nói ngắn gọn, mục tiêu của QLRBV là phải đạt được sự bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội ở những khu rừng được quản lý Bằng giải pháp QLRBV rừng sẽ vừa đảm bảo đáp ứng các nhu cầu kinh tế vừa thoả mãn các lợi ích về môi

Trang 14

trường và xã hội QLRBV có thể được thiết lập và thực hiện ở những phạm vi khác nhau như: chủ rừng (lâm trường, doanh nghiệp hay công ty lâm nghiệp, hộ lâm nghiệp v.v ), huyện, tỉnh, quốc gia, vùng hoặc toàn cầu, tuy nhiên những quan điểm

và nguyên tắc chủ yếu nói chung không có thay đổi lớn, cho dù là ở vùng rừng ôn đới hay nhiệt đới Trên thế giới hiện đã có một số bộ nguyên tắc QLRBV cấp quốc gia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia v.v ) và cấp quốc tế như của: Tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal, hội đồng quản trị rừng (FSC), và của tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO), gồm một bộ cho rừng tự nhiên và một bộ cho rừng trồng được vận dụng rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước

Điều quan trọng nhất cần giải thích là vì sao QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước nông nghiệp tiên tiến và hàng loạt các quốc gia đang phát triển có rừng cần quản lý bền vững, tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc

Đây là vấn đề nhận thức của quốc gia là làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều Chương trình, hiệp ước, Công ước quốc tế (CITES-1973, RAMSA-1998, UNCED-1992, CBD-1994, UNFCCC-1994, UNCCD-1995)

1.1.2.2 Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và các nguyên tắc QLRBV

Vào những năm cuối thập niên 80 trước tình hình chặt phá và khai thác rừng bừa bãi Các Viện Nghiên cứu Môi trường của nhiều quốc gia đã dần nhìn thấy được những tác hại nghiêm trọng của việc này đối với đời sống con người như thế nào

Nhưng mãi đến năm 1992 lần đầu tiên Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) mới đề ra những tiêu chí cơ bản cho việc quản lý bền vững cho rừng nhiệt đới và kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia Hưởng ứng mạnh mẽ các vấn đề quản lý rừng bền vững ngay sau đó các hiệp hội về rừng đã ra đời

+ Hội tiêu chuẩn Canada (CSA) Năm 1993 + Hội đồng quản trị rừng (FSC) Năm 1994 + Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) năm 1994

Trang 15

+ Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI) năm 1998 + Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCC) năm 1998 + Chứng chỉ rừng Chi lê (CertforChile) năm 1999 + Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) năm 1999

Bên cạnh đó nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được quản lý bền vững, từ

đó một loạt tổ chức quản lý rừng bền vững đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới, và đề xuất nguyên tắc QLRBV với các tiêu chí như sau:

+ MONTREAL cho rừng tự nhiên (RTN) ôn đới: 7 tiêu chí + ITTO cho rừng tự nhiên: 7 tiêu chí

+ PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki): 6 tiêu chí

+ AFRICAL TIMBER ORGANIZATION INITIATIVE cho rừng khô châu Phi

+ CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung: 8 tiêu chí + FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới: 10 nguyên tắc v,v

Trong số này, FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới Đây là một tổ chức phi chính phủ có uy tín nhất trong lĩnh vực quản lý rừng và buôn bán rừng với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế liên quan đến lĩnh vực quản lý rừng và buôn bán lâm sản Mục tiêu của FSC là khuyến khích quản lý rừng bền vững để tài nguyên rừng và đất rừng đáp ứng được nhu cầu khác nhau về xã hội, kinh tế, sinh thái, văn hoá và tinh thần của xã hội đồng thời việc sản xuất ra những sản phẩm lâm nghiệp mà không làm suy thoái rừng mà phải giúp đảm bảo tài nguyên rừng cho các thế hệ tương lai

Đặc biệt, FSC có những nguyên tắc và tiêu chí áp dụng cả cho rừng tự nhiên (RTN) và rừng trồng (RT), cả cho rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác

Chứng chỉ quản lý rừng bền vững của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu đều chấp nhận Do đó các tiêu chí quản lý rừng bền vững của FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được nhiều nước, từ nước đang phát triển đến nước công nghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và trở thành mục tiêu Quản lý

rừng bền vững trong hội nhập quốc tế

Trang 16

FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto – Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Năm 1994 các thành viên sáng lập đã thông qua các nguyên tắc FSC, cùng với Quy chế FSC (ngày nay gọi là By-Laws) áp dụng đánh giá cho rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn – Đức Cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng

FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm

xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC

FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh,

Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ Tại Châu Á – Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp CCR

Hiện nay “ Những Nguyên tắc và Những Tiêu chí Quản Lý Rừng” (viết tắt là P&C) của FSC quốc tế đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

Nhiều tổ chức được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ rừng và nhiều quốc gia đã và đang dùng bộ nguyên tắc này để xây dựng nguyên tắc cấp vùng hay cấp quốc gia cho việc đánh giá quản lý và cấp chứng chỉ rừng

Các lợi ích FSC tạo ra:

- Lợi ích về môi trường: Đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia vào

thương mại lâm sản rằng các đóng góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động

1 Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất…

2 Duy trì các chức năng sinh thái và thể thống nhất của rừng

3 Bảo vệ các loại động, thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng

Trang 17

- Lợi ích về xã hội: Đảm bảo quyền con người được tôn trọng Nhiệm vụ

chính là yêu cầu có sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây dựng

bộ nguyên tắc quốc gia hay khu vực

- Lợi ích về kinh tế: Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách sử

dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến

FSC xây dựng 10 nguyên tắc cho QLRBV Từ các nguyên tắc đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ nguyên tắc quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các bộ nguyên tắc này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó

1.1.2.3 Chứng chỉ rừng

Ngày nay toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chất lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năng cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như nhu cầu hàng ngày của người dân Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân cư sống trong rừng, vừa không gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng bền vững Mà chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận QLRBV của chủ rừng, cũng như chứng chỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản xuất công nghiệp

Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định Nói cách khác, chứng chỉ rừng

là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững

Như vậy chứng chỉ rừng là công cụ hỗ trợ cho việc thực hiện chính sách xây dựng QLRBV, giúp cho các cơ quan Nhà nước kiểm tra việc thực thi các chính sách

và pháp luật lâm nghiệp ngay ở cấp hiện trường Các chủ rừng càng tích cực phấn đấu đạt được chứng chỉ rừng thì Nhà nước càng nhanh đạt được mục tiêu QLRBV

Trang 18

CCR được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân Đây là một quá trình hoàn toàn tự nguyện của các chủ rừng Tuy nhiên, đánh giá cấp CCR chỉ được áp dụng cho các đơn vị đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh Để được cấp CCR của FSC, chủ rừng phải chứng minh họ đã đáp ứng tất cả các quy tắc, nguyên tắc trên Thực chất CCR chính là chứng chỉ chất lượng ISO, là hiệu quả

cuối cùng của QLRBV, được FSC đề cập như là một “công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện quản lý rừng của thế giới” và “là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong

quản lý rừng Khi được cấp CCR, chủ rừng sẽ được:

- Xuất khẩu lâm sản vào mọi thị trường khắt khe trên thế giới kể cả Tây Âu

và Bắc Mỹ với giá bán cao hơn

- Rừng cùng với môi trường sinh thái và xã hội có liên quan đến rừng sẽ được giữ gìn, bảo vệ và phát triển tốt hơn

Bên cạnh đó, các đánh giá định kỳ của cơ quan cấp chứng chỉ sẽ giúp chủ rừng tìm ra các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của mình

- CCR của FSC giúp bảo vệ thương hiệu và uy tín của chủ rừng với đối tác kinh doanh, các tổ chức tài chính và các tổ chức cơ quan giám sát Các nguyên tắc FSC hợp lệ trên toàn thế giới, là nguyên tắc duy nhất không có rào cản đối với tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

FSC có hệ thống chứng nhận duy nhất được hỗ trợ bởi tất cả các nhóm môi trường Các nước Mỹ, Úc chỉ chấp nhận CCR của FSC bởi chỉ có FSC quy định:

* Cấm chuyển đổi rừng tự nhiên hoặc môi trường sống khác

* Nghiêm cấm việc sử dụng thuốc trừ sâu rất độc hại trên toàn thế giới

* Nghiêm cấm việc trồng cây biến đổi gen

* Tôn trọng quyền của người dân bản địa trên khắp thế giới

* Kiểm soát từng hoạt động chứng nhận ít nhất một năm một lần và nếu bị phát hiện là không phù hợp thì giấy chứng nhận bị thu hồi

Hiện nay trên thế giới có một số quy trình cấp chứng chỉ rừng đang hoạt động như Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC), Chương trình phê duyệt các quy

Trang 19

trình chứng chỉ rừng (PEFC) của Châu Âu, Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) của Bắc Mỹ, Hội tiêu chuẩn Canada (CSA), Quy trình chứng chỉ quốc gia CertforChile của Chile, Viện nhãn sinh thái Indonesia (LEI), và Hội đồng chứng chỉ

gỗ Mã Lai (MTCC) Quy trình đang hoạt động ở cấp toàn cầu là FSC, trong khi đó các quy trình khác chỉ hoạt động ở cấp vùng hoặc quốc gia Sau đây là tình hình cấp chứng chỉ rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) ở các châu lục:

1) Châu Âu: Đến tháng 11 năm 2005 diện tích rừng do FSC cấp chứng chỉ ở Châu

Âu đã lên đến 34.150.976 ha với 327 giấy chứng chỉ, chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên, trong đó Đức, Lít-va, Thụy sỹ, Anh, Thụy điển là những nước đứng đầu về số diện tích được cấp chứng chỉ Về chứng chỉ CoC do FSC cấp: hiện có 2.566 giấy chứng chỉ, trong đó Đức, Anh, Ba lan và Hà lan là những nước có số

chứng chỉ cao nhất trong các quốc gia Châu Âu

2) Bắc Mỹ: Châu Mỹ đến thời điểm tháng 12 năm 2005, diện tích rừng được FSC cấp

chứng chỉ là 29.252.921 ha với 332 chứng chỉ, trong số này Canada dẫn đầu với 15.231.115 ha và 26 giấy chứng chỉ, tiếp theo là Mỹ với 5.671.251 ha và 97 chứng chỉ

và Braxin với 3.455.582 ha và 60 chứng chỉ Các diện tích được cấp chứng chỉ cũng chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Về chứng chỉ CoC, hiện Châu Mỹ có 941

giấy chứng nhận trong đó Mỹ dẫn đầu với 475 giấy, tiếp sau đó là Chi Lê và Braxin

3) Nam Mỹ: Có tổng số hơn 7 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó

Bolivia, Braixin là 2 quốc gia có diện tích rừng được cấp CCR lớn nhất, chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Hiện nay Braxin, Bolivia, Costa Rica, Uruguay, Guatêmala là các quốc gia xuất khẩu một khối lượng lớn nhất thế giới gỗ có chứng

chỉ FSC, mà Việt Nam là một trong những thị trường nhập khẩu lớn nhất

4) Châu Á - Thái Bình Dương: Châu Á - Thái Bình Dương hiện có 2.577.151 ha rừng

với 63 giấy chứng chỉ FSC, trong số đó Úc, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản Australia và New Zealand là những quốc gia dẫn đầu về diện tích và số chứng chỉ được cấp Số giấy chứng chỉ CoC do FSC cấp tại Châu Á – Thái Bình Dương là 702, trong

đó dẫn đầu là Nhật bản với 289 CoC và Việt Nam là 86 giấy chứng chỉ CoC, tiếp đó là Malaysia với 58 chứng chỉ Một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia cũng

Trang 20

đã xây dựng các quy trình CCR quốc gia, đồng thời họ cũng đã có một số khu rừng tự

nhiên được FSC cấp chứng chỉ

Ngoài ra các nước khác như Papua Niu- Ghi nê, Quần đảo Solomon cũng đã

có nhiều khu rừng được cấp chứng chỉ, mà hiện cung cấp khá nhiều gỗ có CCR FSC cho các doanh nghiệp sản xuất đồ mộc xuất khẩu của Việt Nam Các nước khác như Thái Lan cũng có một vài diện tích rừng nhỏ được FSC cấp chứng chỉ gần đây

Cho đến nay chưa có một khu rừng nào tại Việt Nam có chứng chỉ rừng của FSC Tuy nhiên, có một số lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên, các doanh nghiệp, công ty trồng rừng tư nhân, liên doanh đang trong quá trình tiến tới đánh giá chính để cấp chứng chỉ rừng FSC thông qua các dự án của một số tổ chức như WWF Việt Nam, TFT, GTZ, Nhật Bản Hiện Việt Nam đã có 86 chứng chỉ CoC tại các doanh nghiệp chế biến hàng mộc xuất khẩu, đại lý nhập khẩu gỗ do các TCCC cấp như SGS Việt Nam, SmartWood

5) Châu Phi: Ở Châu Phi tính đến tháng 11 năm 2005 mới có 1.690.281 ha được cấp

chứng chỉ FSC, với 33 giấy chứng chỉ , chiếm 2% tổng số diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ trên thế giới, trong đó Nam Phi đứng đầu có 1.426.362 ha với 23 chứng chỉ, sau đó là Zim-Ba –Uê với 127 ngàn ha Về chứng chỉ CoC, ở Châu Phi hiện tại có 120 chứng chỉ, trong đó Nam Phi dẫn đầu với 107 chứng chỉ CoC Châu

Phi cho đến nay không có rừng được chương trình PEFC cấp chứng chỉ

1.1.2.4 Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC

Với bất kỳ một chương trình cấp CCR nào việc xem xét mối liên hệ của một sản phẩm gỗ từ một khu rừng được cấp chứng chỉ đến khi được chế biến thành sản phẩm cuối cùng và được đem tiêu thụ tại thị trường là một việc rất cần thiết vì nó

cung cấp các cơ sở cho việc dán nhãn sản phẩm Khái niệm này được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody) - CoC

CoC (Chain of Costudy) là nguyên tắc về chuỗi hành trình sản phẩm do Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC - Forest Stewardship Council) ban hành lần đầu vào năm 1993 và được soát xét, sửa đổi lần thứ nhất vào năm 1999, đến tháng 10 năm 2004 Hiệp Hội quản lý rừng quốc tế (FSC) tại Đức đã công bố nguyên tắc mới

Trang 21

có phạm vi áp dụng trên toàn cầu mà đối tượng là các tổ chức, doanh nghiệp khai thác, chế biến, kinh doanh, sản xuất đồ gỗ…

Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) kết hợp việc cấp giấy chứng nhận được dùng để cung cấp thông tin về hành trình của gỗ từ rừng, qua lưu kho và vận chuyển tới người sử dụng cuối cùng và để chứng thực rằng nguyên liệu gỗ thô có nguồn gốc tài nguyên hợp pháp, quản lý bền vững hoặc nếu không thì nguồn gốc có thể chấp nhận được Chuỗi hành trình sản phẩm được coi là công cụ chủ yếu đấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu

Chỉ có các doanh nghiệp được chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm FSC (CoC) mới được phép dán nhãn sản phẩm với thương hiệu FSC Vì vậy, nhãn hiệu FSC đem lại sự kết nối giữa việc sản xuất có trách nhiệm và tiêu thụ Vì thế, nó tạo điều kiện cho người tiêu dùng đưa ra các quyết định mua sắm có trách nhiệm với của bạn tiếp cận vào thị trường được cải thiện trong một khu vực ngày càng nhận thức hơn về môi trường Hơn nữa, chứng nhận (CoC) có thể được sử dụng để chứng minh

sự phù hợp với các chính sách mua sắm công hoặc tư nhân với các tiêu chí kỹ thuật như đề án dán nhãn sinh thái của Liên minh Châu Âu EU cho đồ nội thất hoặc hệ thống đánh giá lãnh đạo trong thiết kế năng lượng và môi trường của hội đồng xây dựng xanh U.S (LEED)

Theo quy định của đánh giá CoC thì việc kiểm soát nguồn gốc gỗ phải thông suốt liên kết nhau thành một chuỗi thành các công đoạn cơ bản: từ rừng, đến vận chuyển gỗ về nhà máy, cưa xẻ, sấy, lắp ráp, lưu kho và phân phối Hệ thống CoC sẽ

hỗ trợ đơn vị kinh doanh lâm nghiệp:

- Bảo đảm về các sản phẩm gỗ bán ra và nguồn gốc của gỗ

- Cải thiện các hệ thống tài liệu nội bộ của đơn vị và giúp đơn vị chuẩn bị để đạt được chứng chỉ ISO hoặc chứng nhận khác

- Nếu là công ty chế biến gỗ, hệ thống CoC có thể giúp cải thiện hiệu quả sản xuất của nhà máy và giúp cho việc sử dụng số vốn đầu tư vào gỗ nguyên liệu hiệu quả hơn

- Đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về hệ thống CoC

Trang 22

- Hệ thống CoC đã hoặc sẽ là yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Châu Âu, Anh và các quốc gia khác

- Hệ thống CoC là yêu cầu cần thiết đối với việc dán nhãn và bán sản phẩm làm từ gỗ được chứng chỉ

Các nguyên tắc FSC áp dụng chứng nhận FSC-CoC hiện đang áp dụng:

 Nguyên tắc: FSC-STD-40-004 (Ver 02) - Nguyên tắc chuỗi hành trình sản phẩm đối với các công ty cung cấp và chế biến sản phẩm có chứng nhận FSC

 Nguyên tắc: FSC-STD-40-005 (Ver 02) - Nguyên tắc FSC dành cho các công ty đánh giá nguồn gỗ có kiểm soát FSC

Nguyên tắc : FSC-STD-30-010 (Ver 02) - Nguyên tắc gỗ có kiểm soát FSC dành cho các tổ chức quản lý rừng

Nguyên tắc : FSC-STD-40-201(Ver 02) - Các yêu cầu dán nhãn FSC trên

sản phẩm

Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép là một phần của công tác tăng cường hiệu lực luật rừng Dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho và chế biến được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU Còn với các nước nhiệt đới, hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phầm gỗ, gần đây các hệ thống thuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dây chuyền cung cấp

Một hệ thống CoC được cấp chứng chỉ của FSC phải đáp ứng 5 yêu cầu:

1) Yêu cầu về hệ thống chất lượng 2) Yêu cầu về nguồn cung cấp nguyên liệu 3) Yêu cầu về kiểm tra sản xuất nội bộ và ghi chép tư liệu 4) Yêu cầu về sản phẩm và dán nhãn sản phẩm

5) Yêu cầu về lưu trữ tài liệu thông tin

Ở Brazil: Hệ thống kiểm tra của Chính phủ sử dụng để thẩm tra tính hợp pháp

và nguồn gốc gỗ, sản phẩm gỗ dựa 2 văn bản chính thức và bắt buộc sau:

Trang 23

+ Giấy phép của cơ quan khai thác (AUTEX): Văn bản này xác định thể tích

gỗ tròn, theo loại cây mà một doanh nghiệp khai thác gỗ được phép lấy ra từ 1 đơn

vị sản xuất

+ Giấy phép của cơ quan vận chuyển lâm sản (ATPF): ATPF được phát hành từng kỳ có đánh số để cấp cho việc vận chuyển gỗ và sản phẩm gỗ Mỗi chuyến hàng phải được kèm theo 1 ATPF, được áp dụng cho gỗ sơ chế được vận chuyển tới nơi tinh chế hoặc tới người tiêu thụ cuối cùng

Ở Cameroon: Việc kiểm tra trước khi khai thác là nền tảng thành lập hệ

thống chuỗi hành trình của Chính phủ Công ty khai thác hoàn thành bản đăng ký khai thác DF10 nêu tên Công ty, đơn vị quản lý rừng và dữ liệu về gỗ riêng lẻ như loại cây, đường kính (ngọn, gốc, trung bình), chiều dài, thể tích và giá trị

Ở Malaysia: Tất cả các rừng bảo tồn ở Peninsular Malaysia và một vài khu

rừng trồng ở Sabah và Sarawak đã được cấp chứng chỉ, chủ yếu bởi Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia Với các khu vực được chứng chỉ, rất dễ theo dõi gỗ tròn tới tận gốc đốn, ở các rừng khác, gỗ tròn có thể được theo dõi tới vùng được chứng chỉ, tại đó gỗ đã được khai thác

Các vùng được cấp chứng chỉ để khai thác đều được phân ranh giới rõ ràng trên mặt đất (để tránh khai thác vượt phạm vi) và đã tiến hành kiểm tra để xác định trữ lượng và sự phân bố loài cây Cây bị đổ và để lại được đánh dấu và gắn thẻ để cung cấp các phương thức khác kiểm tra đầu ra Ở vùng được cấp chứng chỉ, gốc cây được đánh số vì vậy gỗ tròn có thể theo dõi đến tận gốc

Hiện nay, ITTO đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp cải tiến phù hợp luật pháp Các công ty gỗ được khuyến khích giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát

1.2 Tại Việt Nam

1.2.1 Quản lý rừng bền vững

Việt Nam là nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyến đổi, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng rất lớn Do vậy, tài nguyên rừng đã và đang bị suy

Trang 24

giảm nhiều Là một nước có diện tích rừng tự nhiên tương đối lớn trong vùng Đông Nam Á Năm 1943, diện tích rừng khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43%

Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích rừng của cả nước hiện nay là 13.258.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, rừng trồng chiếm 2.919.538 ha, độ che phủ 39,1%

Tuy diện tích rừng có tăng lên trong những năm gần đây do thực hiện các chương trình trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm do việc khai thác rừng tự nhiên không đúng quy trình, khai thác bất hợp pháp Do vậy, vấn đề quản lý, phát triển bảo vệ rừng để đảm bảo sản xuất, ổn định đời sống người dân, bảo vệ môi trường đã và đang đặt ra rất cấp thiết Quản lý rừng bền vững được hiểu là tài nguyên rừng và đất liên quan phải được quản lý để đáp ứng nhu cầu về các mặt xã hội, kinh tế, sinh thái, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại và tương lai

Trong quá trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm “Quản lý rừng bền vững” ở Việt nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 Từ đó đến nay, vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Mặt khác, việc chuyển đổi

từ quản lý rừng truyền thống sang quản lý rừng bền vững hiện nay đang được thúc đẩy bởi một công cụ thị trường là “Chứng chỉ rừng” Tại một vài địa phương đang được thí điểm cấp chứng chỉ cho một số chủ rừng Kết quả thực hiện quản lý rừng bền vững ở Việt nam được mô tả một cách có hệ thống, trong đó phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của các chính sách những khó khăn trở ngại và bài học được rút ra trong quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững Theo đó là những kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững

Tại Việt Nam, từ năm 1998, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature – WWF) đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cục Phát triển Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm và một số cơ quan trong ngành lâm nghiệp trong việc tổ chức các hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững Từ đó đến nay, WWF Đông dương là tổ chức giúp đỡ chủ yếu về tài chính và kỹ thuật cho

Trang 25

Tổ công tác quốc gia Việt Nam trong việc xây dựng bộ nguyên tắc quốc gia về quản

lý rừng bền vững dựa theo các nguyên tắc của FSC

1.2.1.1 Tổ công tác quốc gia quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam (NWG)

Ngay khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN từ 1995 nhu cầu hợp tác về QLRBV trong khối trở thành một trong các nội dung chính của các cuộc họp hàng năm của các chuyên gia cao cấp về lâm nghiệp (ASOF) Qua nhiều cuộc thảo luận

về việc làm sao xây dựng được một bộ nguyên tắc QLRBV cho ASEAN và đẩy mạnh việc QLRBV trong mỗi nước thành viên thì nhu cầu hình thành một tổ chức

để xúc tiến quá trình này ở Việt Nam trở nên bức xúc Đặc biệt là giai đoạn

1990-1995, đất nước vừa trải qua một thời gian dài 40-50 năm vừa chiến tranh, vừa quản

lý rừng còn ở trình độ rất thấp, khiến cho diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng (từ 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ 43% năm 1945, xuống còn 9,2 triệu ha, độ che phủ chỉ còn 28% giai đoạn 1990-1995)

Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 12/1998 một hội thảo quốc gia về QLRBV

do Bộ NN & PTNT, WWF Đông Dương, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan tại Hà Nội và Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đồng tài trợ và tổ chức tại TP.HCM

Tham gia hội thảo gồm đại diện các cơ quan như Văn phòng Chính phủ, các bộ ngành, các cục, vụ, viện trưởng, sở, chi cục, công ty, lâm trường, xí nghiệp, đại diện Hội lâm nghiệp, Hội nông dân, Hội phụ nữ và nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực lâm nghiệp, kinh tế, xã hội, dân tộc miền núi, môi trường, các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam

Trong hội thảo đã có nhiều báo cáo, thảo luận về khái niệm QLRBV, đánh giá hiện trạng về rừng và quản lý sản xuất lâm nghiệp tại Việt Nam Hội thảo đã thành lập một Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG) và đề xuất một chương trình hoạt động trong 5 năm đầu tiên Các đại biểu đã đi tham quan tình hình sản xuất và quản lý của Lâm trường Tân Phú, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên và khu rừng phòng hộ Cần Giờ

Trang 26

NWG ban đầu do Cục Phát triển lâm nghiệp quản lý, nhưng từ năm 2001 do Hội Khoa học kinh tế lâm nghiệp quản lý NWG liên tục mở rộng và củng cố về tổ chức phù hợp với hướng dẫn của FSC, gồm 3 ban: kinh tế, môi trường và xã hội, với

sự tham gia rất rộng rãi của các thành viên từ các cơ quan, đoàn thể và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý ở Trung ương và địa phương đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu

NWG là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, tập hợp những người tự nguyện hoạt động thường xuyên là 20-22 người, có ưu tiên tuyển thành viên là người dân tộc thiểu số, nữ và người địa phương Từ năm 2002, 10 người trong 3 ban của NWG đã trở thành thành viên của FSC quốc tế FSC cũng đã cử 1 thành viên làm Đại diện cho FSC quốc tế ở Việt Nam, gọi là đầu mối quốc gia (Contact Person)

Kinh phí hoạt động của NWG thu hút từ các nguồn tài trợ không cố định như

hỗ trợ ban đầu của Đại sứ quán Hà Lan, FSC quốc tế, dự án cải cách hành chính lâm nghiệp (REFAS), WWF Đông Dương, và 1 dự án nhỏ thực hiện trong 2 năm 2002 –

2003 do Quỹ Ford (The Ford Foundation Representative Office for Vietnam and Thailand)) tài trợ Giai đoạn 5 năm vừa qua các hoạt động của NWG tập trung vào các nội dung sau đây:

a) Tuyên truyền, phổ cập, giới thiệu về QLRBV

b) Xây dựng Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam về QLRBV và CCR

c) Khảo sát tình hình quản lý rừng tại các đơn vị và đánh giá tính khả thi của các chỉ

số của Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam do NWG dự thảo trên cơ sở 10 nguyên tắc và

56 tiêu chí của hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC)

d) Củng cố tổ chức của tổ công tác, tăng cường năng lực hoạt động và hợp tác với các đơn vị hữu quan trong nước và quốc tế

Ở Việt Nam giai đoạn 1998 – 2003 hoạt động thúc đẩy QLRBV chủ yếu là do NWG cùng với sự phối hợp của các tổ chức khác như TFT, dự án REFAS, WWF Đông Dương đã góp phần đẩy mạnh quá trình cải thiện quản lý rừng thông qua các

dự án hỗ trợ kỹ thuật cho một số chủ rừng xây dựng mô hình CCR Từ năm 2004, các

tổ chức này đã đẩy mạnh các hoạt động theo từng chương trình riêng trong việc hỗ trợ các đơn vị quản lý rừng (thường là đơn vị lâm trường) tiếp cận các nguyên tắc

Trang 27

QLRBV của FSC, trong khi NWG gặp khó khăn về nguồn tài trợ nên phải giảm thiểu hoạt động để tổ chức lại NWG đã liên tục tổ chức một loạt hoạt động tuyên truyền phổ cập về QLRBV như:

- Các hội nghị, hội thảo về nhận thức và lập kế hoạch quản lý rừng: Vùng miền Trung, Huế 12-1999, tỉnh Nghệ An -Vinh 2000, Quản lý rừng và chế biến gỗ Miền Nam Trung bộ - Quy Nhơn 2001, Tây Nguyên - Buôn Mê Thuột 2001, Tây Nguyên, Gia Lai 2002, Hội thảo quốc gia chỉnh sửa nguyên tắc lần 7- Hà nội 2003

và lần 8 - Hà nội 2005

- Tuyên truyền phổ cập QLRBV và CCR trên các phương tiện truyền thông như báo chí, Radio, TV, và trong nhiều hội nghị hội thảo về nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, dân tộc, miền núi v.v…

- Nói chuyện ngoại khoá và phổ cập kiến thức quản lý rừng cho các lớp cao học của Đại học lâm nghiệp Xuân Mai, Đại học Tây Nguyên, và cùng chuyên gia GFA Terra phổ cập kiến thức cho các dự án trồng rừng do KfW tài trợ

Trong bối cảnh lâm nghiệp Việt Nam hiện nay, quản lý rừng bền vững là định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy tối đa tiềm năng của ngành góp phần đóng góp vào nền kinh tế quốc dân, cải thiện đời sống người dân vùng rừng núi, bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng Nhận thức rõ điều này, Nhà nước đã và đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ thể chế chính sách và thúc đẩy các hoạt động thực tiễn để quản lý rừng được bền vững

1.2.1.2 Một số hoạt động QLRBV

* Ở cấp trung ương

-Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ trợ

Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh

- Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010

- Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010

Trang 28

- Xây dựng các điều kiện QLRBV và CCR với các hoạt động trong giai đoạn 2006-2010 gồm: tiếp tục dự án 661 rà soát và quy hoạch lại 3 loại rừng, quy hoạch

sử dụng đất vĩ mô

Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của

bộ nguyên tắc quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn

vị Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện:

+ Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum) 2000- 2002 do JICA tài trợ

+ Dự án hỗ trợ lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông Dương tài trợ

+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5 lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma-Drak và Nam Nung (Đắc Lắk) đã mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái từ 2007 - 2009

+ Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản lý rừng như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 Vườn quốc gia Kông Ka Kinh và Kông Cha Răng

+ Tổ chức QLRBV và CCR theo nhóm hộ gia đình thuộc dự án trồng rừng WB3 tại 4 tỉnh miền Trung từ năm 2008

Đặc biệt đối với vùng trọng điểm 4 tỉnh Tây Nguyên, nơi còn khai thác nhiều

gỗ nhất từ rừng tự nhiên, cũng là nơi diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm nhiều nhất ở Việt nam, NWG, Cục Lâm nghiệp cùng WWF và Vụ chính sách đã có các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các lâm trường theo

các tiêu chí của bộ nguyên tắc QLRBV (Buôn Ma Thuột 2001), và hội thảo xây

dựng chương trình cải cách tổ chức quản lý lâm trường theo Quyết định 187/TTg của Thủ Tướng Chính phủ (Pleiku 2002) và chọn ra 4 Công ty lâm nghiệp quản lý

Trang 29

tốt từ mỗi tỉnh đưa vào mạng lưới mô hình QLRBV là CTLN Kong Plong, Lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Dak N’tao, Lâm trường Bảo Lâm

CCR đang là cơ hội và thách thức cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ Gần đây, hàng loạt đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang có nhu cầu tự thân tham gia quá trình QLRBV cần hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song mới chỉ nhận được 1 chứng chỉ FSC về QLR Đó là Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn (QPFT) với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định Hiện tại Công ty QPFL khai thác gỗ từ rừng trồng mỗi năm 60.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo

lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai và Bạch đàn trắng Trong tương lai, dự kiến khối lượng gỗ khai thác ổn định vào khoảng 120.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lai QPFL đồng sở hữu Nhà máy dăm gỗ quy mô trung bình (Tập đoàn dăm gỗ Bình Định - BDC) đặt tại thành phố Quy Nhơn Sản lượng khai thác gỗ hàng năm như trên được cung cấp cho BDC để chế biến thành dăm gỗ và xuất khẩu dựa trên kế hoạch quản

lý rừng được lập Bên cạnh việc bán gỗ với giá cao doanh nghiệp cũng đã thay đổi thái độ với rừng và môi trường

Năm 2008, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cũng thực hiện

đánh giá rừng độc lập về quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp

chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR

Qua đánh giá, kết quả cho thấy: Các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam ở các mức độ khác nhau Các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch

Để lấy được chứng chỉ FSC cần một quá trình lâu dài Việc kiểm soát gỗ của FSC được coi là một giải pháp để hỗ trợ các chủ rừng, đặc biệt là Công ty lâm nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh nhỏ đạt được một phần kết quả của quá trình

Trang 30

cấp chứng chỉ trong thời gian ngắn Đối chiếu với tình hình thực tiễn của Việt Nam, chủ rừng cần thực hiện 9 yêu cầu để được xem xét cấp chứng chỉ CoC:

1) Các quy định về duy trì riêng rẽ gỗ tròn có chứng chỉ FSC 2) Quy định về ghi chép, theo dõi khối lượng gỗ có FSC và bán hàng 3) Quy định về viết hóa đơn xuất gỗ FSC

4) Các thông tin trên hóa đơn 5) Nhân viên phụ trách quản lý và bán gỗ FSC 6) Biểu mẫu sử dụng theo dõi và bán gỗ FSC 7) Các quy định về duy trì chứng từ liên quan đến CCR 8) Các tài liệu cần lưu trữ

9) Tập huấn Tính đến ngày 14/5/2010, số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ rừng theo các mức độ khác nhau tăng dần, cả nước đã có 205 doanh nghiệp, đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của chứng chỉ rừng và đang chủ động thích ứng với những đạo luật mới về xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ và EU

1.2.2 Đánh giá việc xây dựng kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam

Kế hoạch quản lý rừng thuộc nguyên tắc 7 trong 10 nguyên tắc QLRBV của FSC Để QLRBV yêu cầu chủ rừng phải xây dựng KHQLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính sau:

- Xác định được những mục tiêu của quản lý rừng của chủ rừng, trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các điều kiện cơ bản, đánh giá tình hình quản lý rừng trong 5 năm trước đây, đánh giá được những tác động về môi trường, xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học và dự báo được nhu cầu lâm sản, nhu cầu cải thiện môi trường, tạo công ăn việc làm trong tương lai

- Căn cứ vào mục tiêu quản lý đã xác định, tiến hành quy hoạch sử dụng đất phân bổ đất đai cho phát triển các loại rừng trong địa bàn quản lý của chủ rừng,

- Tiến hành lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm:

+ Kế hoạch khai thác rừng ổn định

Trang 31

+ Kế hoạch trồng rừng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng + Kế hoạch sản xuất cây con

+ Kế hoạch bảo vệ rừng + Kế hoạch sản xuất kinh doanh kết hợp + Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường + Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hôi + Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng + Kế hoạch nhân lực và tổ chức nhân lực + Kế hoạch vốn và huy động vốn

+ Cuối cùng cần dự tính được hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội sau khi thực hiện kế hoạch

Ngoài ra cần xây dựng được bản đồ hiện trạng rừng và bản đồ quản lý rừng diễn đạt được cả 2 mặt: Không gian và thời gian các hoạt động quản lý rừng

Bản kế hoạch được xây dựng cho một chu kỳ quản lý rừng (Từ thời điểm trồng đến khai thác rừng đối với rừng trồng sản xuất) Đối với rừng tự nhiên sản

xuất kế hoạch quản lý rừng cần xây dựng tổng quát cho cả năm hồi quy và lập kế hoạch cụ thể cho một thời gian dãn cách giữa 2 lần khai thác trên cùng một địa điểm (năm hồi quy bao gồm nhiều thời gian dãn cách giữa 2 lần khai thác)

Tuy nhiên vẫn tồn tại những khiếm khuyết trong việc lập và thực hiện kế hoạch khai thác như: mới chú trọng nhiều đến QLRBV về mặt kinh tế, còn bền vững

về mặt xã hội và môi trường chưa được quan tâm đầy đủ Về mặt kỹ thuật, các chỉ tiêu kỹ thuật khai thác mới chỉ được xác định dựa vào kinh nghiệm trong và ngoài nước, chưa được nghiên cứu để có một cơ sở khoa học chắc chắn, chưa xác định chính xác lượng tăng trưởng rừng và không đủ điều kiện để xác định chính xác trữ lượng rừng, dẫn đến không xác định được chính xác lượng khai thác (yếu tố quan

trọng bảo đảm khai thác rừng bền vững)

Đặc biệt trong lập kế hoạch chưa chú ý đến xác định các khu vực loại trừ, chưa xác định hệ thống đường cho toàn bộ các khu khai thác, mặc dù đã được quy

Trang 32

định trong hướng dẫn xây dựng phương án điều chế Các phương án bảo vệ hệ sinh thái đặc thù, bảo vệ đa dạng sinh học…chưa được xác định rõ ràng

Tiến trình QLRBV tại Việt nam đang trong giai đoạn sôi nổi, doanh nghiệp lâm nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang tự nguyện và hào hứng tham gia tiến trình QLRBV mặc dù biết rằng còn phải phấn đấu nhiều mới đạt được nguyên tắc, khó khăn chủ yếu của doanh nghiệp lâm nghiệp không chỉ là ở chỗ tự nâng cao năng lực quản lý rừng mà còn phải chuyển đổi mạnh mẽ từ hệ thống chức năng dịch vụ công ích sang doanh nghiệp kinh doanh Ngoài ra, giai đoạn hạn chế khai thác gỗ rừng tự nhiên để phục hồi rừng nghèo kiệt (1997 – 2010) cũng ảnh hưởng tới khả năng khai thác gỗ một cách khách quan của từng doanh nghiệp Song Việt Nam sẽ không chậm chễ trong sự hợp tác với các nước ASEAN để đẩy mạnh tiến trình QLRBV, tăng sức cạnh tranh hàng hoá lâm sản vào các thị trường AFTA, APEC, WTO, và trước hết là các thị trường truyền thống là Tây Âu và Bắc Mỹ

Ở Việt Nam, quản lý rừng bền vững có tiềm năng rất lớn cùng với sự nỗ lực của Chính phủ trong cải cách nền kinh tế, nó có thể dự kiến rằng ngành lâm nghiệp có thể phát triển hơn nữa Một mặt sự phát triển quản lý rừng bền vững ở Việt Nam dựa vào sự ổn định chính sách, chiến lược của Chính phủ Mặt khác lâm nghiệp Việt nam được cộng đồng các đối tác quốc tế quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ thông qua các cam kết song phương, đa phương và Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp

Trang 33

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Lập được kế hoạch quản lý rừ ng bền vững trong giai đoạn chu kỳ kinh doanh (7 năm)

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu rừng trồng Keo tai tượng từ tuổi 1 đến tuổi 7

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu rừng trồng Keo tai tượng thuộc phạm vi quản lý của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn thuộc công ty Lâm nghiệp Hòa Bình

2.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Đánh giá tình hình quản lý rừng của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn theo nguyên tắc QLRBV của hội đồng quản trị Thế giới (FSC)

- Đánh giá quản lý rừng theo 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí của FSC

- Xác đi ̣nh được các khiếm khuyết trong quản lý rừng của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết

2.4.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Thế giới

- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo yêu cầu, các chỉ số và nguồn kiểm chứng của Thế giới

Trang 34

- Xác đi ̣nh các khiếm khuyết trong chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết

2.4.3 Đa ́ nh giá điều kiê ̣n cơ bản và lập kế hoa ̣ch quản lý rừng cho Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

2.4.3.1 Đánh giá các điều kiện cơ bản quản lý rừng của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

+ Điều kiện tự nhiên + Điều kiện kinh tế xã hội + Kết quả quản lý rừng của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn + Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản tới việc quản lý rừng

2.4.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm:

1) Căn cứ lập kế hoạch:

- Chức năng, nhiệm vụ của công ty Lâm nghiệp Hoà Bình giao cho Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm

- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Kỳ Sơn

- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

* Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học

* Kế hoa ̣ch giảm thiểu tác đô ̣ng môi trường

* Kế hoa ̣ch giảm thiểu tác đô ̣ng xã hô ̣i

* Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng

* Kế hoạch nguồn nhân lực

* Kế hoạch đánh giá, giám sát

Trang 35

* Kế hoạch huy động nguồn vốn

5) Hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng

2.5 Phương pháp nghiên cứu

- QLRBV là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mu ̣c tiêu chính, CCR là

kết quả của QLRBV

- Đánh giá quản lý rừng căn cứ vào nguyên tắc QLRBV, nhưng có vâ ̣n du ̣ng

vào điều kiê ̣n thực tế

- Xí nghiệp tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá

của chuyên gia

- Xí nghiệp phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR

- Lập KHQLR có tham gia (tư vấn và chủ rừng)

+ Đánh giá nội bộ được thực hiện bằng cách lập một tổ chuyên gia nội bộ lớn

nhỏ tuỳ theo tầm cỡ (quy mô) của đơn vị để thực hiện việc xác định những khiếm

khuyết, trong chứng chỉ rừng, còn gọi là lỗi không tuân thủ (LKTT) nguyên tắc

+ Đánh giá nội bộ có ưu điểm là ít tốn kém, chủ động về nhân sự và thời gian, ít phải hội họp tham khảo ý kiến, nhưng nhược điểm là dễ bỏ xót khiếm khuyết hoặc nặng về nhận xét chủ quan, nhất là khi các kiểm tra viên chưa hoàn toàn hiểu bộ nguyên tắc

* Thành lập tổ đánh giá

- Tổ đánh giá cần có Tổ trưởng chịu trách nhiệm chung và có ít nhất 6 ngưởi, trong đó phải có ít nhất 1 lâm sinh, 1 môi trường - bảo tồn và 1 kinh tế -xã hội Tổ

Trang 36

sẽ chia làm 3 nhóm để đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc liên quan của mỗi nhóm như sau:

2) Lập kế hoạch đánh giá

- Bản kế hoạch đánh giá bao gồm:

+ Những hoạt động cụ thể của tổ đánh giá

+ Thời gian thực hiện

+ Người chịu trách nhiệm thực hiện

+ Danh mục những tài liệu hay văn bản cần kiểm tra

+ Những hiện trường cần đến khảo sát đánh giá

+ Dự kiến sẽ làm việc hoặc phỏng vấn với ai, ở đâu?

+ Phương tiện và kinh phí cần thiết trong đợt đánh giá

Để thực hiện được nguyên tắc thì trước hết và rất quan trọng là phải hiểu chính xác nguyên tắc Nhưng nhiều khi đây là công việc không phải dễ, vì vậy chủ rừng nên dành một khoảng thời gian nhất định để tìm hiểu nguyên tắc Dưới đây là một số cách để hiểu nguyên tắc :

- Cùng đọc và thảo luận giải thích cho nhau có thể giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề

- Hỏi các chủ rừng lân cận đã được chứng chỉ hoặc đang thực hiện nguyên tắc

để được chứng chỉ theo quy trình FSC Cách này nhanh gọn dễ hiểu và rất hiệu quả

Ở Việt Nam có các Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng, Xuân Đài, Sông Thao, Thanh

Trang 37

Hòa, Yên Lập thuộc Tổng Công ty Giấy, Lâm trường Sơ Pai, Hà Nừng (Gia Lai),

Hương Sơn (Hà Tĩnh), Long Đại (Quảng Bình) đang thực hiện nguyên tắc FSC

- Đề nghị Viện QLRBV và CCR (ISFMC) giải thích Đây là cách tốt nhất, nhưng có thể mất nhiều thời gian nếu không có liên lạc bằng thư điện tử (email),

- Hỏi các chuyên gia của các tổ chức đang thực hiện các chương trình hay dự án

về thực hiện tiêu chuẩn chứng chỉ rừng FSC ở địa phương (như WWF, TFT, ISFMI)

- Tra cứu tài liệu, sách chuyên môn

b, Thực hiện đánh giá

Thực hiện đánh giá quản lý rừng bao gồm :

- Đánh giá trong phòng

- Đánh giá ngoài hiện trường

- Tham vấn các cơ quan hữu quan Các chỉ số của mỗi tiêu chí cần được phân làm 4 loại theo phương pháp đánh giá:

-Loại 1: Những chỉ số chỉ có thể đánh giá trong phòng

Ví dụ chỉ số 5.1.2 – Có tài liệu lưu trữ về đầu tư và tái đầu tư cho các hoạt động về kinh tế, xã hội, và môi trường;

-Loại 2: Những chỉ số chỉ có thể đánh giá ngoài hiện trường

Ví dụ chỉ số 3.1.2 – Chủ rừng không thực hiện bất kỳ hoạt động gì trên đất rừng do người dân sở tại quản lý hợp pháp hoặc theo phong tục nếu không được họ

tự nguyện đồng ý

-Loại 3: Những chỉ số cần kết hợp đánh giá trong phòng và ngoài hiện trường

Ví dụ chỉ số 3.3.1 - Những địa danh có ý nghĩa văn hoá, lịch sử, sinh thái…

được xác định rõ ràng trên bản đồ và trên thực địa, có biển hiệu và quy ước bảo vệ những địa danh đó và có sự nhất trí của người dân sở tại

-Loại 4: Những chỉ số cần tham khảo ý kiến các quan quản lý để đánh giá

Ví dụ chỉ số: 1.5.2 - Không có những vi phạm nghiêm trọng như khai thác và vận chuyển gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép xảy ra trong 3 năm vừa qua mà ở cấp

ủy ban nhân dân xã hoặc cấp cao hơn xử lý theo luật quốc gia hiện hành

Trang 38

Ngoài ra, tổ đánh giá cũng cần chọn ra những tiêu chí hoặc chỉ số không áp dụng (hay không liên quan) đối với đơn vị Những tiêu chí hoặc chỉ số này sẽ không

được xem xét trong quá trình khảo sát đánh giá

+ Khi thực hiện đánh giá trong phòng làm việc, tổ đánh giá mời những người

có liên quan đến quản lý rừng cung cấp thêm thông tin và trả lời những câu hỏi liên

quan đến công việc do họ phụ trách hay thực hiện

+ Nhiệm vụ của đánh giá trong phòng làm việc là khảo sát các văn bản, tài liệu, sổ sách liên quan đến quản lý rừng như kế hoạch sản xuất kinh doanh, các bản hướng dẫn, quy trình, các bản báo cáo định kỳ và hàng năm, các báo cáo về kết quả giám sát đánh giá, các hợp đồng khai thác v.v.,

So sánh nội dung các văn bản tài liệu đó với yêu cầu của bộ nguyên tắc của Thế giới để có thể thấy những văn bản nào phù hợp hoặc chưa phù hợp, những nguyên tắc, tiêu chí nào đã được thực hiện tốt hoặc chưa tốt và ở mức độ nào

Cách làm tốt nhất là đối chiếu từng nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số với các tài liệu liên quan và phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách việc thực hiện các nguyên tắc, tiêu chí đó

- Đánh giá ngoài hiện trường

Hoạt động này là để đoàn đánh giá kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch, quy trình, hướng dẫn và các báo cáo v.v…đã công bố hay không

+ Thường thì tổ đánh giá sẽ chọn ngẫu nhiên một số địa điểm để khảo sát sao cho có thể nắm được đầy đủ nhất về các hoạt động quản lý rừng ngoài hiện trường như bãi cây khai thác, làm đường vận chuyển gỗ, chăm sóc rừng sau khai thác, cắm mốc các khu bảo tồn, các biện pháp phòng chống tác động xấu đối với môi trường

+ Cần có cán bộ chuyên môn phụ trách công việc được đánh giá đi theo để giải thích hoặc trả lời các câu hỏi của tổ đánh giá

+ Một phần quan trọng của đánh giá ngoài hiện trường là phỏng vấn những người có liên quan đến quản lý rừng như cán bộ công nhân của chủ rừng làm việc

Trang 39

tại hiện trường, chính quyền địa phương, các tổ chức có các hoạt động trong vùng,

và người dân sở tại Nhiều khi những người được hỏi có thể cảm thấy khó nói ra sự thật hay suy nghĩ của mình trước mặt cán bộ quản lý của chủ rừng, vì vậy tổ đánh giá có thể đề nghị cán bộ đó lánh ra chỗ khác để cuộc phỏng vấn được hoàn toàn tự nhiên thoải mái

+ Để đạt được kết quả tốt tổ đánh giá thường phải có phương pháp khuyến khích người được phỏng vấn trả lời một cách cởi mở chân thành

Mỗi nhóm đánh giá cử một người ghi phiếu đánh giá Phiếu chỉ được ghi sau khi đã thống nhất trong cả nhóm

* Đánh giá sự tuân thủ các nguyên tắc quản lý rừng bền vững

- Xác định sơ bộ cho mỗi nguyên tắc, từ các bằng chứng với những phát hiện trong quá trình tìm hiểu, phỏng vấn xem chỉ số nào có thực hiện, chỉ số nào không thực hiện và chỉ số nào vừa không có và vừa có thể có thì tích vào cột tuân thủ các chỉ số

Mẫu phiếu 1: Phiếu đánh giá nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số quản lý rừng bền vững tại Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

Họ tên người đánh giá:

và của địa phương

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng;

- Luật Đất đai;

- Luật Lao động

- Luật Phòng cháy, chữa cháy

- Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia;

Trang 40

bàn

1.1.2 Tất cả cỏc nhõn viờn, cụng nhõn và người lao động tham gia vào quản lý rừng phải được biết về cỏc tài liệu hợp phỏp liờn quan đến trỏch

nhiệm và nhiệm vụ của họ

Tài liệu tập huấn bao gồm danh sách học viên, nội dung tập huấn, thời gian, kết quả đánh giá tập

huấn

1.1.3 Cty QLR phải chứng minh sự nhận thức và sự tuõn thủ liờn quan đến nguyờn tắc hành nghề, hướng dẫn hoạt động và những định mức hoặc thỏa thuận được cụng nhận khỏc

- í kiến của các cơ

quan hành chính và cơ

quan chuyên môn tại

địa phương về việc chấp hành của chủ rừng đối với pháp luật

* Xỏc định cỏc lỗi khụng tuõn thủ và khuyến nghị khắc phục

- Sau khi đó thực hiện đỏnh giỏ trong phũng và đỏnh giỏ ngoài hiện trường

Tổ đỏnh giỏ sẽ họp để cỏc nhúm trỡnh bày kết quả đỏnh giỏ những nguyờn tắc được phõn cụng, thảo luận chung và đi đến kết luận cú những nội dung nào của nguyờn tắc chưa được chủ rừng thực hiện, tức là những lỗi khụng tuõn thủ, và đưa ra cỏc khuyến nghị khắc phục những lỗi đú

Ngày đăng: 20/12/2022, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w