1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện, tỉnh lào cai​

135 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện, tỉnh Lào Cai
Tác giả Nguyễn Tiến Tuân
Người hướng dẫn TS. Đinh Hồng Linh
Trường học Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế trong những năm qua công tác tuyển dụng công chức của các địa phương trong cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng, bên cạnh những yếu tố tích cực, qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN TIẾN TUÂN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CHO CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND TỈNH, UBND CẤP HUYỆN,

TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN TIẾN TUÂN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CHO CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN

THUỘC UBND TỈNH, UBND CẤP HUYỆN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Tuân

Trang 4

Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS ĐINH HỒNG LINH người đã định hướng, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình học tập và nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đang công tác tại các cơ quan của tỉnh Lào Cai đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học để tôi hoàn thiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 06 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Tuân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

5 Ý nghĩa khoa học của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC 8

1.1 Cơ sở lý luận về tuyển dụng công chức 8

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 8

1.1.2 Tuyển dụng công chức 17

1.1.3 Nội dung của quy trình tuyển dụng công chức 31

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng công chức 34

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác tuyển dụng công chức 38

1.2.1 Kinh nghiệm về tuyển dụng công chức của thành phố Hải Phòng 38

1.2.2 Kinh nghiệm về tuyển dụng công chức của thành phố Đà Nẵng 38

1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Lào Cai trong tuyển dụng công chức 39

Trang 6

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 42

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 44

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 44

2.3 Hệ thống các chi tiêu nghiên cứu 46

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu về thực trạng công tác tuyển dụng công chức: 46

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng công chức 46

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CHO CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND TỈNH, UBND CẤP HUYỆN, TỈNH LÀO CAI 48

3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu tỉnh Lào Cai 48

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai 48

3.1.2 Khái quát về hệ thống cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND huyện của tỉnh Lào Cai 51

3.2 Thực trạng tuyển dụng công chức tại tỉnh Lào Cai 53

3.2.1 Về số lượng, chất lượng công chức trong CQCM thuộc UBND tỉnh, CQCM thuộc UBND cấp huyện 53

3.2.2 Về cơ cấu công chức 57

3.3 Thực trạng về quy trình tuyển dụng công chức tại tỉnh Lào Cai 60

3.3.1 Lập kế hoạch tuyển dụng công chức 61

3.3.2 Thông báo tuyển dụng 62

3.3.3 Tiếp nhận, xét duyệt hồ sơ 63

3.3.4 Thực hiện tuyển dụng công chức 64

3.3.5 Ra quyết định tuyển dụng công chức 68

3.3.6 Thực hiện tập sự công chức 69

3.3.7 Bổ nhiệm vào ngạch công chức 70

Trang 7

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tuyển dụng công chức các cơ quan

chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện tỉnh Lào Cai 71

3.4.1 Yếu tố khách quan 71

3.4.2 Yếu tố chủ quan 74

3.5 Đánh giá những kết quả, tồn tại, hạn chế công tác tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện tỉnh Lào Cai 78

3.5.1 Những kết quả đạt được 78

3.4.2 Những tồn tại, hạn chế 85

3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 90

Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CHO CÁC CQCM THUỘC UBND TỈNH, UBND CẤP HUYỆN, TỈNH LÀO CAI TRONG NHỮNG NĂM TIẾP THEO 96

4.1 Quan điểm trong hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức tỉnh Lào Cai 96

4.1.1 Đổi mới công tác tuyển dụng công chức 97

4.1.2 Đổi mới công tác đánh giá công chức 99

4.1.3 Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài 100

4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện tỉnh Lào Cai 102

4.2.1 Hoàn thành việc xác định vị trí việc làm và phân loại vị trí việc làm, xác định biên chế để thực hiện quy trình tuyển dụng phù hợp 102

4.2.2 Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, gắn với tỉnh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức 103

4.2.3 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác tuyển dụng 105

4.2.4 Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào tất cả các khâu của quá trình tuyển dụng 106

Trang 8

4.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với hoạt

động tuyển dụng 106

4.2.6 Về xây dựng bộ đề thi phù hợp đảm bảo đánh giá đúng năng lực của người được tuyển dụng theo vị trí việc làm 108

4.2.7 Tăng cường công tác đánh giá xếp loại CB,CC và trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ 110

4.3 Kiến nghị, đề xuất 111

4.3.1 Đối với Chính phủ, Bộ Nội vụ 111

4.3.2 Đối với UBND tỉnh Lào Cai 113

4.3.3 Đối với Sở Nội vụ 113

4.3.4 Các CQCM cấp tỉnh, cấp huyện 114

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 120

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Số liệu thi tuyển công chức thành phố Đà Năng 39

Bảng 2.1 Quy mô mẫu khảo sát 43

Bảng 2.2 Mức đánh giá và mức ý nghĩa của thang đo Likert 45

Bảng 3.1 Số lượng và trình độ chuyên môn của công chức trong các CQCM thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện tỉnh Lào Cai 53

Bảng 3.2 Số lượng công chức hành chính trong các CQCM thuộc UBND tỉnh 55

Bảng 3.3 Số lượng công chức trong các CQCM thuộc UBND các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Lào Cai 56

Bảng 3.4 Về trình độ lý luận chính trị 57

Bảng 3.5 Về trình độ quản lý Nhà nước 57

Bảng 3.6 Về tỷ lệ công chức theo độ tuổi 58

Bảng 3.7 Về trình độ tin học của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện tỉnh Lào Cai 59

Bảng 3.8 Về trình độ ngoại ngữ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lào Cai 59

Bảng 3.9 Kế hoạch tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện, tỉnh Lào Cai 61

Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả tuyển dụng công chức cấp tỉnh, cấp huyện từ năm 2015 đến năm 2019 68

Bảng 3.11 Kết quả đánh giá, xếp loại công chức tập sự để bổ nhiệm vào CQCM cấp tỉnh, cấp huyện tỉnh Lào Cai 70

Bảng 3.12: Đánh giá của cán bộ công chức CQCM tỉnh Lào Cai về yếu tố hệ thống ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng 72

Bảng 3.13: Đánh giá của cán bộ công chức CQCM tỉnh Lào Cai về quy định pháp lý ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng 73

Trang 11

Bảng 3.14: Đánh giá của cán bộ công chức CQCM tỉnh Lào Cai về sự

thay đổi số lượng vị trí việc làm ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng 74Bảng 3.15: Đánh giá của cán bộ công chức CQCM tỉnh Lào Cai về hệ

thống công nghệ thông tin ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng 75Bảng 3.16: Đánh giá của cán bộ công chức CQCM tỉnh Lào Cai về

năng lực của những người tham gia công tác tuyển dụng công chức ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng 76Bảng 3.17: Biểu tổng hợp Chỉ số PCI năng lực cạnh tranh cấp tỉnh;

ICT Index chỉ số ứng dụng CNTT; PAPI Chỉ số Quản trị

và Hành chính công tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2019 78

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Quy trình tuyển dụng công chức được mô tả 61Hộp 3.1 Ông/bà đánh giá như thế nào về tổ chức thi tuyển công chức

vào các CQCM theo vị trí việc làm? 86Hộp 3.2 Ông/bà đánh giá như thế nào về công tác giám sát việc

tuyển dụng công chức trong các CQCM thuộc UBND tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2019? 88

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Cán bộ, công chức ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010 đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc xây dựng chế định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để tập trung xây dựng, hoàn thiện và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Ngày 19/5/2018, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (Nghị quyết số 26-NQ/TW), tại phần đánh giá tình hình Nghị quyết đã nhấn mạnh một trong những nguyên nhân là do:

“Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”

Trong hoạt động của nền hành chính, đội ngũ công chức chính là những người trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội, đảm bảo thực thi pháp luật và là nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính làm cho pháp luật đi vào cuộc sống Vì vậy, phải tuyển chọn những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên để làm cho đất nước ngày càng phát triển và tiến bộ

Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về sắp xếp tỉnh gọn tổ chức bộ máy cơ quan hành chính, để cơ cấu lại đội ngũ CB,CC đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả, góp phần quyết định thắng lợi chương trình cải cách hành chính Trong bối cảnh nêu trên cả hệ thống chính trị đang tập trung thực hiện tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, hơn bao giờ hết, công tác tuyển dụng lại càng phải được quan tâm chú trọng nâng cao chất lượng Bởi bộ máy nhà nước vẫn cần phải được tuyển dụng bổ sung nguồn nhân lực

Trang 14

Tuy nhiên, thực tế trong những năm qua công tác tuyển dụng công chức của các địa phương trong cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng, bên cạnh những yếu tố tích cực, qua công tác thanh tra, kiểm tra vẫn còn có những hạn chế bất cập, như: việc tuyển dụng công chức chưa sát với yêu cầu của vị trí việc làm, quy trình tuyển dụng, các bước tuyển dụng chưa khoa học, nên dẫn tới chất lượng công chức được tuyển dụng chưa cao,

do đó vấn đề này cần được nghiên cứu để bổ sung về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm hoàn thiện các chính sách và quy định của pháp luật để khắc phục những hạn chế, bất cập của công tác tuyển dụng công chức

Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, tỉnh Lào Cai” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về đề tài tuyển dụng nói chung đã được nhiều tác giả thực hiện, tuy nhiên các đề tài nghiên cứu, luận án, luận văn, bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả hầu hết tập trung vào công tác tuyển dụng nhân sự tại các doanh nghiệp Đối với nội dung tuyển dụng CCVC các đề tài mang tính lý luận dựa trên việc phân tích các quy phạm pháp luật của Pháp lệnh CB,CC năm 1998, và Luật CB,CC năm 2010, với các bài viết, đề tài cụ thể như sau:

- Một số vấn đề về đổi mới tuyển dụng công chức ở Việt Nam,

Nguyễn Thị Hồng Hải Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 6/2016 Bài viết là kết quả nghiên cứu, đánh giá, so sánh công tác tuyển dụng công chức ở Việt Nam từ trước năm 1986, giai đoạn thi hành Pháp lệnh CB,CC và giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng công chức Tuy nhiên, bài viết cũng mới dừng lại ở việc đánh giá kết quả tuyển dụng công chức, đề ra giải pháp nâng cao công tác tuyển dụng công chức

Trang 15

- Công tác tuyển dụng, đào tạo cán bộ, CCVC hiện nay, Đinh Ngọc

Giang - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Tạp chí Lý luận chính trị

số 8/2016 Đây là bài viết đánh giá khá chi tiết về thực trạng công tác tuyển dụng, đào tạo cán bộ, CCVC hiện nay, cũng như đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao cao hiệu quả công tác tuyển dụng Bài viết mang tầm vĩ mô, các giải pháp nhằm vào việc nâng cáo chất lượng cán bộ, CCVC thông qua việc đào tạo cán bộ là chủ yếu

- Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng (2011) trong bài viết “Cải

cách chế độ tuyển dụng công chức trong bối cảnh CCHC ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 8, đã tổng kết, đánh giá thực trạng hoạt động công vụ, công chức ở nước ta trong đó nêu bật “việc tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng và quản lý công chức còn nặng về văn bằng, chứng chỉ, chưa chú trọng nhiều đến năng lực thực thi công vụ của công chức” Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của thực trạng trên, tác giả đề xuất việc cải cách chế

độ tuyển dụng công chức là đòi hỏi khách quan và hết sức cần thiết nhằm tiếp tục cải cách nền công vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

- Đào Thị Thanh Thủy (2017), Các mô hình tuyển dụng công chức trên

thế giới và định hướng ứng dụng cho Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Tác giả đã tổng quan về tuyển dụng công chức và các mô hình tuyển dụng công chức điển hình trên thế giới; phân tích mô hình tuyển dụng theo hệ thống chức nghiệp, vị trí việc làm và tuyển dụng hỗn hợp Tuy vậy, những giải pháp ứng dụng này là chung cho nền công vụ, chưa đưa ra điểm đặc thù tuyển dụng công chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh với công chức nói chung

- Trần Anh Tuấn (2012), Pháp luật về công vụ, công chức của Việt

Nam và một số nước trên thế giới Cuốn sách giới thiệu những vấn đề nổi bật đang được quan tâm hiện nay như: vị trí việc làm và phương pháp xác định vị trí việc làm, đổi mới cơ chế quản lý công chức…là cơ sở cho tuyển dụng và

Trang 16

đổi mới hoạt động tuyển dụng công chức ở Việt Nam nói chung và UBND tỉnh Lào Cai nói riêng

- Tác giả Thạch Thọ Mộc, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước, trong bài

viết “Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay” đăng trên trang web http://isos.gov.vn, đã đề cập đến hai nội dung cơ bản của công tác quản lý công chức, đó là đổi mới công tác tuyển dụng công chức và đổi mới công tác đánh giá công chức, đây là hai nội dung được đánh giá là khó và yếu nhất tồn tại nhiều năm qua Xuất phát từ quan điểm “Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý công chức, có tính quyết định cho sự phát triển một cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước”, tác giả cho rằng, “việc tuyển dụng công chức trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới phải thực sự xuất phát từ nhu cầu công việc,

vì việc tìm người thay vì người để sắp xếp, bố trí việc” Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới hoạt động này, như: ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chính sách nhân tài, bổ sung hình thức thi phỏng vấn sau thi viết và thi thực hành trên máy tính

Trong bài viết “Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động tuyển dụng đáp ứng yêu cầu CCHC” đăng trên trang web http://hrmo.hcmute.edu.vn, ThS Lê Thị Trâm Oanh, Học viện Hành chính cũng đã nêu lên những bất cấp trong lĩnh vực tuyển dụng công chức và điều đó đã gây ra nhiều hệ quả bất lợi cho tổ chức, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, cản trở hoạt động CCHC, kéo theo các vấn đề như: hiện tượng bỏ việc bất ngờ, gia tăng các chi phí đào tạo, ảnh hưởng tiêu cực tới bầu không khí làm việc của tổ chức, gia tăng các hoạt động như xử lý kỷ luật lao động, buộc thôi việc hay giải quyết khiếu nại

Một số luận văn của học viên tại Trường Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái Nguyên: (i) Nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC, viên chức của

thành phố Lai Châu tỉnh Lai Châu- Học viên Hoàng Thị Thanh - QLKT K11;

(ii) Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức ở thành phố Thái Nguyên

- Học viên Nguyễn Hoàng Mác - QLKT K10; (iii) Nâng cao chất lượng đội

Trang 17

ngũ công chức hành chính thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Phan Thị Thanh Việt - QLKT K11; (iv) Nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC viên chức tại UBND tỉnh Quảng Ninh - Học viên Vũ Kiên Quyết - QLKT K11 Trường Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái Nguyên

Nhìn chung, các công trình khoa học, các đề tài nêu trên đã đề cập tới vấn đề tuyển dụng CCVC dưới nhiều góc độ, từ những vấn đề mang tính lý luận cho đến thực tiễn tuyển dụng CCVC ở Việt Nam cũng như đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức, đáp ứng yêu cầu CCHC Đó thực sự là những tài liệu nghiên cứu và tham khảo có giá trị, rất có ích cho đề tài này Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu chỉ mới đi sâu vào một số mặt của hoạt động tuyển dụng, quản lý công chức như: giải pháp nâng cao chất lượng CCVC; cơ chế tuyển dụng hoặc chỉ nêu một số giải pháp đổi mới tuyển dụng CCVC mà chưa có sự phân tích, đánh giá và đề xuất vấn

đề một cách có hệ thống về sắp xếp tổ chức bộ máy hoạt động tinh gọn, gắn với việc tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm, nâng cao hiệu quả hoạt động của công chức đáp ứng yêu cầu trong hoạt động công vụ của công chức

Hầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên về tuyển dụng, quản lý công chức đều đề cập tới đối tượng CB,CC, viên chức nói chung chứ chưa đề cập cụ thể nội dung tuyển dụng công chức hành chính theo vị trí việc làm Nếu có thì điều đó cũng chưa đầy đủ và toàn diện về công tác tuyển dụng công chức Do

đó, đề tài nghiên cứu mà tác giả lựa chọn là có tính cấp thiết, không trùng lắp

và cần thiết để đầu tư nghiên cứu tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, tỉnh Lào Cai phục vụ cho hoạt động công tác chuyên môn lĩnh vực được giao của tác giả tại địa phương

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Việc nghiên cứu đề tài nhằm phân tích đánh giá thực trạng về cơ sở lý luận và thực tiễn công tác tuyển dụng công chức tại tỉnh Lào Cai, đề ra giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho các

Trang 18

CQCM thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai Sau khi Luận văn được thông qua là cơ sở để áp dụng đưa vào thực tiễn về tuyển dụng công chức tại địa phương, để góp phần nâng cao hoạt động công vụ trong thực thi nhiệm vụ của công chức đáp ứng yêu cầu về CCHC của tỉnh Lào Cai

3.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tuyển dụng công

chức cho các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện;

- Thứ hai, nghiên cứu thực trạng tuyển dụng công chức các CQCM

thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai, đánh giá ưu điểm, hạn chế và phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tuyển dụng;

- Thứ ba, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng công chức

các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai

- Thứ tư, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng công

chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai là đối tượng nghiên cứu của luận văn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu công tác tuyển dụng mới công chức vào các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai (không bao gồm xét tuyển công chức và tiếp nhận không qua thi tuyển tuyển công chức)

- Phạm vi không gian: Các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh (20 cơ quan

sở, ban, ngành), UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai (108 Phòng chuyên môn thuộc 09 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Lào Cai)

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015 - 2019

Trang 19

5 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Luận văn đề xuất một số giải pháp có tính khả thi có thể áp dụng để hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu vấn đề tuyển dụng công chức cho CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, CQCM thuộc UBND cấp huyện thuộc tỉnh

6 Bố cục của luận văn

Luận văn được trình bày theo thứ tự: Lời nói đầu, nội dung chính của

đề tài được cụ thể hóa thành các chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo cần thiết cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đề tài

Nội dung chính gồm có bốn chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tuyển dụng công chức

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc

UBND tỉnh, CQCM thuộc UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức cho

các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thuộc tỉnh Lào Cai

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TUYỂN DỤNG

CÔNG CHỨC

1.1 Cơ sở lý luận về tuyển dụng công chức

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Cơ quan hành chính

Theo quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm

2013 quy định cơ quan HCNN nhà nước gồm: Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất; Tại Điều 114, Hiến pháp năm 2013 quy định:

UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan HCNN ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan HCNN cấp trên Cơ quan HCNN là một bộ phận cấu thành của bộ máy HCNN, được thành lập theo Hiến pháp và pháp luật để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý, điều hành (chức năng hành pháp) đối với mọi mặt của đời sống xã hội Cơ quan HCNN cũng là một loại cơ quan nhà nước, một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước Do vậy, cơ quan HCNN mang đầy đủ các đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước Bao gồm: Một là, cơ quan HCNN hoạt động mang tính quyền lực nhà nước và được tổ chức, hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ cơ quan HCNN

là một bộ phận của bộ máy nhà nước, nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực thi quyền quản lý HCNN Hai là, cơ quan HCNN mang tính chỉnh thể và có tính lịch sử Là hệ thống các cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động Ba là, mỗi cơ quan HCNN đều có một thẩm quyền nhất định do pháp luật quy định

Ngoài những đặc điểm chung nói trên, các cơ quan HCNN còn có những đặc điểm riêng như sau:

Trang 21

- Một là, cơ quan HCNN thực hiện chức năng chấp hành - điều hành

trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là việc tổ chức thực hiện trên thực

tế những nội dung được đề ra trong văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan HCNN cấp trên

- Hai là, các cơ quan HCNN có mối quan hệ chỉ đạo, điều hành rất chặt

chẽ Cơ quan HCNN cấp trên có quyền chỉ đạo, kiểm tra trực tiếp hoạt động của cơ quan HCNN cấp dưới (cơ quan hành chính cấp tỉnh kiểm tra cơ quan cấp huyện, cấp xã)

- Ba là, tổng thể các cơ quan HCNN tạo thành một hệ thống cơ quan

cấp trên, cấp dưới và được giao biên chế hành chính để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật

- Bốn là, cơ quan HCNN có một hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc từ

Trung ương đến địa phương Đây là hệ thống chân rết của cơ quan HCNN, giúp cho việc triển khai các quyết định của cơ quan HCNN cấp trên đối với

cơ quan HCNN cấp dưới có hiệu quả Như vậy, cơ quan HCNN là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, được nhà nước thành lập để thực hiện chức năng chấp hành và điều hành nhằm mục đích quản lý xã hội

Tại Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định các CQCM thuộc UBND tỉnh (bao gồm sở, ban, ngành và tương đương) không gọi là cơ quan HCNN, tuy nhiên, theo nội dung địa vị pháp lý, nội dung và tính chất thẩm quyền của các CQCM thuộc UBND thì đó là các cơ quan HCNN có thẩm quyền riêng Vì chúng là những cơ quan có thẩm quyền độc lập thực hiện hoạt động hành chính nhà nước theo pháp luật trên các ngành, lĩnh vực Việc tổ chức CQCM thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong QLNN về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn

Trang 22

Tại khoản 2, Điều 20, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định tại Điều 3 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, gồm có các Sở và cơ quan tương đương Sở (gọi chung là Sở) là CQCM thuộc UBND cấp tỉnh thì hiện có 17 sở được tổ chức thống nhất ở các địa phương, gồm các sở: Nội vụ; Tư pháp; Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Công thương; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Giao thông vận tải; Xây dựng;

Tài nguyên và Môi trường; Thông tin và Truyền thông; Lao động - Thương binh và Xã hội; Khoa học và Công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng UBND tỉnh Ngoài ra còn một số sở đặc thù được tổ chức

ở một số địa phương, gồm các sở: Ngoại vụ; Sở Du lịch, Ban Dân tộc; Sở Quy hoạch - Kiến trúc (chỉ thành lập tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh)

tổ chức thống nhất ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo Điều 7, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ, gồm 13 cơ quan: Phòng Nội vụ;

Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Phòng Văn hoá và Thông tin;

Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra; Văn phòng HĐND và UBND; Phòng Dân tộc Các CQCM được tổ chức để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện theo khoản 2, Điều 8 Nghị định số

37/2014, như sau: Đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Phòng Kinh tế; Phòng

Quản lý đô thị Đối với các huyện còn lại: Phòng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn; Phòng Kinh tế và Hạ tầng

Trang 23

Tóm lại, CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, CQCM thuộc UBND cấp huyện là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở

1.1.1.2 Công chức

- Công chức là bộ phận quan trọng của nền hành chính, là nhân tố con

người trong bộ máy nhà nước Trên thế giới, chế độ công chức ra đời hàng trăm năm nay và đang được tiếp tục bổ sung, đổi mới để hoàn chỉnh theo hướng xây dựng nền hành chính hiện đại Theo cách xác định của các quốc gia đã trải qua nhiều năm thực hiện và có kinh nghiệm thì công chức được

hiểu chung "là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công

vụ trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” (Tô Tử Hạ (1998))

Tùy theo đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội và cơ cấu bộ máy Nhà nước của mỗi quốc gia mà phạm vi công chức được xác định khác nhau

Ở nước Cộng hòa Pháp, công vụ truyền thống Pháp xác định công chức khá rộng bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương, nhưng không tính các công chức địa phương do hội đồng địa phương quản lý

Ở Vương quốc Anh, công chức bao gồm những người do nhà Vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự; và những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hợp hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua đều gọi là công chức

Trang 24

Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo Luật hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự

Ở Cộng hòa Liên ban Đức, Luật công chức Liên bang quy định: Những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra trực tiếp của Liên bang là công chức Liên ban, những người phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng vật chất

và tài chính theo luật chung, trực tiếp lệ thuộc Chính phủ Liên bang, là công chức gián tiếp Tất cả các thành phần trên đầy đều gọi là công chức Ngoài các thành phần thuộc phạm vi nói trên, công chức trong Quốc hội Liên bang, Thượng viện Liên bang, Tòa án Liên bang cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật công chức

Ở Trung Quốc pháp luật thừa nhận công chức không chỉ là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (Trung ương) mà còn bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của các địa phương

Ở Nhật Bản, công chức bao gồm những người được nhậm chức trong

bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, đơn vị sự nghiệp quốc doanh; những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương Công chức được phân thành 3 loại: loại I, loại II và loại III Công chức loại II (trung cấp) và III (sơ cấp) hầu hết là những người làm việc chuyên môn; còn công chức loại I (cấp cao) là những người sẽ được đào tạo để trở thành cán bộ lãnh đạo trong tương lai

Trang 25

Đội ngũ công chức Hàn Quốc được chia làm 9 cấp (bậc): cấp 1,2,3 gọi

là công chức cao cấp gồm các chức danh cấp cục, vụ, viện (trưởng, phó), phó thị trưởng; cấp 4 là cấp trưởng, phó phòng; cấp 5 là tổ trưởng; từ cấp 6 đến cấp 9 là chuyên viên, nhân viên thông thường Theo quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức Hàn Quốc, các kỳ thi tuyển công chức mở rộng được phân loại thành ba dạng theo cấp bậc công chức: kỳ thi mở rộng cho bậc 5 (các vị trí quản lý bậc trung), bậc 7 (cấp độ thư ký chính), bậc 9 (cấp thư ký)

Cách thức thi tuyển của Hàn Quốc được xem là cánh cửa mở ra đối với những người trẻ tuổi, tài năng, đặc biệt, những người đã trải qua kỳ thi công chức cao cấp được đảm bảo sự thành công trong sự nghiệp sau này

Qua nền hành chính phát triển trên có thể thấy, mỗi quốc gia xác định một phạm vi những người là công chức riêng Tuy nhiên hầu hết công chức đều mang một số đặc điểm sau: Là công dân nước đó, được tuyển dụng giữ một công việc thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước

Ở nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và hoàn thiện Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/ SL về Quy chế công chức, đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên

có liên quan trực tiếp đến khái niệm này Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó, tại Điều 1 Quy chế quy định những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở

ngoài nước, đều là công chức

Qua 10 năm thực hiện Pháp lệnh CB,CC do chưa phân định được rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách

Trang 26

từng nhóm đối tượng Điều này ảnh hưởng đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ và đội ngũ công chức vốn có những đặc điểm hoạt động và công tác đặc thù riêng

Trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật CB,CC Theo quy định này, "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,

hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước."

Như vậy, Luật CB,CC năm 2008 định nghĩa công chức bằng việc nêu lên những đặc điểm mô tả thế nào là công chức, cụ thể hơn so với những văn bản ban hành trước đó Theo quy định này, công chức phải là người thỏa mãn cả 03 điều kiện sau: (i) Công dân Việt Nam; (ii) Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh; (iii) Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, khái niệm công chức trong các văn bản luật hiện hành ở nước ta vẫn có phạm vi, đối tượng rộng bao gồm cả công chức trong

cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội,

cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Cách quy định này xem ra chưa thật hợp lý vì hoạt động của công chức luôn gắn với quyền lực Nhà nước và pháp luật; còn hoạt động của những người làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội về nguyên tắc chung phải chấp hành pháp luật của Nhà nước nhưng hoạt động của họ lại chủ yếu dựa vào điều lệ, thể chế của các tổ chức đó, dù hoạt động của các tổ chức đó cũng phải tuân thủ pháp luật

Trang 27

Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn này, khái niệm công chức HCNN (gọi tắt là công chức) có thể được hiểu như sau: Công chức

là những người được Nhà nước tuyển dụng để giao giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan HCNN, được bổ nhiệm vào một ngạch chức danh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Đến nay, Luật CB,CC đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số: 52/2019/QH14

ngày 25/11/2019 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển

dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là

sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”

Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại, gồm: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản

lý (công chức chuyên môn)

- Công chức loại A, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;

- Công chức loại B, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;

- Công chức loại C, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;

- Công chức loại D, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên

Như vậy, so sánh các quan niệm về công chức của các nước với nước

ta thì thấy chúng ta tổng hợp hơn, phạm vi công chức rộng hơn với cả công chức làm chuyên môn nghiệp vụ, công chức trung ương, công chức địa

Trang 28

phương và công chức xã Sự khác biệt căn bản trong quan niệm từ đó đi đến khác nhau về phạm vi công chức của các nước so với nước ta còn thể hiện ở chỗ các nước không coi những người làm việc trong các đảng phái và tổ chức phi chính phủ là công chức và theo đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật về công chức

- Công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh, là những người trực tiếp triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của nhà nước vào thực tiễn đời sống, giải quyết những lợi ích hợp pháp của người dân và tổ chức, lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương, trực tiếp thực hiện tham mưu để các CQCM thuộc UBND tỉnh tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước tại địa phương, tham gia thực hiện một số nhiệm vụ quản lý ngành, lĩnh vực theo qui định và thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo sự phân công, phân cấp của UBND tỉnh

Các CQCM thuộc UBND tỉnh chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên Việc tổ chức CQCM thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương;

bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm

vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn

Như vậy, có thể hiểu công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh là công dân Việt Nam; trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; được tuyển dụng theo đúng quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào ngạch, bậc

cụ thể và làm việc trong các CQCM thuộc UBND tỉnh

Công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh là một bộ phận của công chức HCNN và có đủ đặc điểm, vị trí, vai trò của công chức HCNN Những đặc điểm của công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh nói riêng và công chức HCNN nói chung

Trang 29

Ngoài những đặc điểm công chức nói chung, công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể khác với công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện, công chức cấp xã đó là: Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý đối với công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện và chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp xã; thực hiện việc thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; thực hiện hợp tác quốc tế về ngành, lĩnh vực quản lý và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND tỉnh

1.1.2 Tuyển dụng công chức

Ở nước ta từ trước khi có Nghị định số 24-CP ngày 13/3/1963 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ), về ban hành Điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức Nhà nước thì “Chế độ tuyển dụng và chế độ cho thôi việc hiện nay đối với công nhân, viên chức Nhà nước ở khu vực sản xuất và khu vực hành chính, sự nghiệp cũng còn có những điểm khác nhau, do chưa có quy định thống nhất” (Khoản 5 Điều 5 Nghị định số 95/1998/NĐ-CP) Tại văn bản này cho đến cả khi Pháp lệnh CB,CC số 01/1998/PL-UBTVQH10 được thông qua ngày 26/02/1998 vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh thế nào là tuyển dụng

Đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có đổi mới công tác cán bộ được đặt ra ngay từ Đại hội VI (1986) và được tiếp tục khẳng định ở Đại hội IX (2001) Tuy nhiên, việc đổi mới thực sự bước ngoặt khi Chính phủ ban hành Nghị định số 25/NĐ-CP ngày 25/3/1993 quy định chế độ ngạch bậc đối với đội ngũ công chức

Trước yêu cầu đòi hỏi, ngày 17/11/1998, Chỉnh phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Tại Nghị định này, lần đầu tiên khái niệm tuyển dụng được ghi nhận: “là việc tuyển người vào cơ quan Nhà nước sau khi đã đạt kết quả của kỳ thi tuyển”

Trang 30

Đến Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ, quy định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý CB,CC trong các cơ quan nhà nước khẳng định khái niệm tuyển dụng: “là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển”

(Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ)

1.1.2.1 Khái niệm tuyển dụng công chức

Theo quy định của Luật CBCC thì có thể hiểu tuyển dụng công chức

là việc “lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng”, “tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ và vị trí việc làm” (Khoản 1 Điều 37 và Khoản 2 Điều 37 Luật CB,CC

năm 2008) Trên cơ sở nội hàm của khái niệm tuyển dụng, có thể tiếp cận

khái niệm tuyển dụng công chức theo 02 nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa hẹp, tuyển dụng công chức là lựa chọn những người phù hợp ở bên ngoài

để đưa vào bộ máy nhà nước Qua tuyển dụng, một công dân gia nhập vào hàng ngũ công chức và được cơ quan nhà nước giao thực hiện một công vụ nhất định Theo nghĩa rộng, tuyển dụng công chức là tuyển chọn người vào những vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, gồm: (i) Tuyển người mới vào bộ máy nhà nước (tuyển dụng mới); (ii) Đề bạt lên các vị trí cao hơn trong hệ thống thứ bậc (bổ nhiệm, thăng tiến); (iii) Thuyên chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu công chức Phù hợp với phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ xem xét tuyển dụng công chức theo nghĩa là lựa chọn người để đảm nhận các công việc cụ thể trong các cơ quan HCNN Đây là hoạt động nhằm chọn được những công chức có đủ khả năng và điều kiện thực thi công việc trong các cơ quan nhà nước

Khái niệm: Ở Việt Nam, khái niệm tuyển dụng trong quy định Văn bản BQPPL được ghi nhận lần đầu tiên tại Khoản 5, Điều 2, Nghị định số 95/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản

lý công chức, xác định: “Tuyển dụng là việc tuyển người vào cơ quan Nhà

Trang 31

nước sau khi đã đạt kết quả của kỳ thi tuyển” Đến Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng

và quản lý CB,CC trong các cơ quan nhà nước, thì khái niệm tuyển dụng được hiểu “là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan

nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển” (Khoản 5 Điều 3 Nghị định số

117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ)

Từ vị trí khác nhau thì việc tuyển dụng viên chức cũng có khác biệt

so với tuyển dụng công chức Công chức mang trong mình công quyền, hoạt động để thực thi công vụ Vì vậy, tuyển dụng công chức phải tuân theo những quy định chặt chẽ về điều kiện, phương thức Khi tuyển dụng phải căn cứ vào chỉ tiêu biên chế của cơ quan nhà nước, chủ yếu được thực hiện bằng hình thức thi tuyển

Theo nghĩa hẹp: Tuyển dụng công chức là một hoạt động diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại ảnh hưởng lâu dài tới sự tồn tại và phát triển của một

cơ quan, đơn vị Qua tuyển dụng, một công dân gia nhập vào hàng ngũ công chức và được cơ quan nhà nước giao thực hiện một công vụ nhất định

Theo nghĩa rộng, tuyển dụng công chức là tuyển chọn người vào những

vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, gồm: (i) Tuyển người mới vào bộ máy nhà nước (tuyển dụng mới); (ii) Đề bạt lên các vị trí cao hơn trong hệ thống thứ bậc (bổ nhiệm, thăng tiến); (iii) Thuyên chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu công chức Phù hợp với phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ xem xét tuyển dụng công chức theo nghĩa là thi tuyển để lựa chọn người vào đảm nhận các công việc cụ thể trong các cơ quan HCNN Đây là hoạt động nhằm chọn được những công chức có đủ khả năng và điều kiện thực thi công việc trong các cơ quan nhà nước Tuyển dụng được công chức xứng đáng, có năng lực cũng chính

là việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước đầu tư cho các

cơ quan, đơn vị Việc tuyển dụng, bố trí phân công công tác và thực hiện chế

độ tập sự, hoàn thành tập sự: Công chức được bổ nhiệm ngạch Nguồn lương

Trang 32

Theo quy định của Luật CBCC thì có thể hiểu tuyển dụng công chức là việc “lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng”, “tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị

trí việc làm” (Khoản 1 Điều 37 và Khoản 2 Điều 37 Luật CB,CC năm 2008)

Như vậy, tuyển dụng công chức là việc nhà nước lựa chọn một số người đủ tiêu chuẩn, năng lực và phẩm chất vào những vị trí nhất định của guồng máy hành chính nhà nước Trước khi có Pháp lệnh Cán bộ năm 1998 thì thi tuyển cạnh tranh được xác định là phương thức chủ yếu trong tuyển dụng công chức Chỉ đối với một số trường hợp đặc biệt thì tuyển dụng công chức thực hiện thông qua hình thức xét tuyển Luật CBCC tiếp tục khẳng định công chức được thực hiện chủ yếu thông qua thi tuyển

Nói tuyển dụng công chức nhưng không có nghĩa là mọi công chức trong bộ máy hành chính đều thông qua tuyển dụng với nghĩa là thi tuyển, mà còn cả xét tuyển, bổ nhiệm, phê chuẩn, bầu Như vậy, để có nguồn lực hành chính là đội ngũ công chức hành chính ở các vị trí công vụ khác nhau theo pháp luật của nước ta, có một số cách thức sau: (i)Tuyển dụng đối với công chức ngạch cán sự, chuyên viên và tương đương; (ii) Bổ nhiệm các chức danh như Giám đốc sở, ngành ; (iii) Bầu và phê chuẩn như Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND các cấp Trong nội dung luận văn này chỉ đề cập đến việc tuyển dụng công chức ở loại thứ nhất Tức là thông qua con đường thi tuyển để lấy đội ngũ công chức và làm việc trong nền công vụ hành chính trong các CQCM thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện

Qua các khái niệm cho thấy đặc điểm, đặc thù, tính chất, đối tượng, thời gian lao động và kỹ năng tác nghiệp của công chức hành chính hoàn toàn khác với viên chức sự nghiệp Cụ thể: Lao động của công chức trong các cơ quan hành chính công quyền là lao động thực thi pháp luật, lao động quyền lực Công chức là những người thực thi công vụ Công vụ và công chức luôn gắn liền với nhau, chủ thể của công vụ là công chức; công vụ là một dạng lao

Trang 33

động quyền lực, khác với lao động sản xuất trực tiếp, lao động mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật; công vụ mang tính quyền lực nhà nước, công chức nhân danh Nhà nước thực thi quyền lực nhà nước

- Đối với tiêu chí tuyển dụng: Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế đơn vị được giao sử dụng công chức Với viên chức, phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của ĐVSNCL

- Hình thức tuyển dụng: Đối với công chức được thực hiện chặt chẽ hơn và bắt buộc phải thông qua thi tuyển Trừ trường hợp được xét tuyển theo quy định Nhưng đối với tuyển viên chức, hình thức tuyển dụng được thực hiện có thể thi tuyển hoặc xét tuyển

- Điều kiện tham gia dự tuyển: Đều yêu cầu có Quốc tịch Việt Nam và

cư trú tại Việt Nam, có lý lịch rõ ràng, văn bằng phù hợp với vị trí cần tuyển,

đủ sức khỏe để làm việc Đối với công chức, bắt buộc người tham gia dự tuyển phải từ đủ 18 tuổi trở lên

- Việc tuyển dụng, bố trí phân công công tác và thực hiện chế độ tập sự, hoàn thành tập sự: Công chức được bổ nhiệm ngạch Đối với viên chức, sau khi được tuyển dụng, thực hiện ký hợp đồng làm việc; hết thời gian tập sự, viên chức được bổ nhiệm vào chức đanh nghề nghiệp và được ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn Đến nay thực hiện theo Luật CB,CC sửa đổi, bổ sung năm

2020 viên chức phải thực hiện ký hợp đồng lao động theo quy định

- Nguồn lương đối với công chức được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước Đối với viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước cấp hoặc từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp tự chủ

- Hình thức kỷ luật: Khi xem xét kỷ luật cùng có hình thức khiển trách, cảnh cáo Cán bộ có 05 hình thức kỷ luật; Công chức, còn có các hình thức kỷ luật: Hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc; đối với viên chức, có hình thức: Cách chức, buộc thôi việc Ngoài ra họ còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp

Trang 34

1.1.2.2 Nguyên tắc của tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là hoạt động quản lý hành chính nhà nước Bởi

vì, không tuyển dụng thì không thể lựa chọn được người phù hợp khả năng, tiêu chuẩn và điều kiện để đảm đương công vụ Tuyển dụng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền cần phải tuân thủ pháp luật hành chính điều chỉnh chế độ tuyển dụng và chế độ phục vụ

Tuyển dụng công chức có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, CCVC có đủ phẩm chất, năng lực, đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ để đảm nhiệm những vị trí, công việc nhất định trong hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Như vậy, xuất phát từ mục tiêu chính của việc tuyển dụng là lựa chọn những người có trình độ, năng lực phù hợp với yêu cầu công việc, vị trí việc làm, tích cực, có khả năng đóng góp đúng vai trò trong cơ quan, đơn vị khi đảm nhận công việc, đã sắp xếp phù hợp với tương lai cơ quan, đơn vị vào một thời điểm và ở một nơi phù hợp với một chi phí có thể chấp nhận được Trong quá trình thực hiện tuyển dụng nhân lực nói chung, tuyển dụng công chức nói riêng thì việc thực hiện đúng nguyên tắc tuyển dụng sẽ đảm bảo cho chất lượng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và tạo động lực phát triển chung Theo quy định của Luật CB,CC,

để đạt được những yêu cầu trên, đòi hỏi công tác tuyển dụng phải tuân thủ các nguyên tắc như sau:

- Nguyên tắc bình đẳng: Đây là nguyên tắc xuất phát từ Hiến pháp quy định những quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Dựa trên nguyên tắc bình đẳng, Chính phủ ban hành những điều kiện pháp lý cụ thể, đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trong việc tham gia và các hoạt động tuyển dụng dựa trên căn bản bảo đảm về giới,

về giai cấp, tôn giáo và dân tộc, mức độ thu nhập…

Trang 35

- Nguyên tắc công khai: Xuất phát từ các thiết chế dân chủ quy định trong Hiến pháp và pháp luật Nguyên tắc công khai nhằm kiểm soát hành vi của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm làm công tác tuyển dụng Nội dung công khai có nhiều, như: Điều kiện tuyển dụng, chỉ tiêu cần tuyển, hồ sơ dự tuyển, thời gian thực hiện, kết quả thi, kết quả trúng tuyển, chế độ ưu tiên trong tuyển dụng… đảm bảo minh bạch, bình đẳng

- Nguyên tắc khách quan: Xuất phát từ nhu cầu, vị trí công việc, cơ cấu

vị trí việc làm của công chức, tiêu chuẩn nghiệp vụ cũng như tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cần tuyển Nguyên tắc này nhằm loại trừ yếu tố chủ quan, lấy tiêu chí định trước làm căn cứ để tuyển dụng Do đó, nguyên tắc này chính

là nhằm đảm bảo sự công bằng, vô tư trong tuyển dụng

- Nguyên tắc tuyển dụng phải xuất phát từ nhu cầu thực tế: Hiện nay, việc xây dựng tiêu chuẩn vị trí việc làm đối với công chức đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Do đó, nguyên tắc này đòi hỏi việc mô tả công việc phải dựa trên thực tế, thiếu vị trí nào thì tuyển công chức đó để đảm bảo liên tục công việc không bị gián đoạn, ảnh hưởng đến công việc chung

Việc đảm bảo nguyên tắc này cũng chính là sử dụng đúng người được đào tạo đúng trình độ, đảm bảo chuyên môn, kỹ thuật, nhằm khắc phục tình trạng

“vừa thừa, vừa thiếu” như hiện nay

- Nguyên tắc chất lượng: Việc tuyển dụng công chức phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu là lựa chọn người có năng lực tốt nhất, phù hợp với

vị trí dự tuyển, đảm bảo lựa chọn người giỏi vào làm việc trong các cơ quan nhà nước

- Nguyên tắc ưu tiên: Trong điều kiện phát triển chung của xã hội, vấn

đề quan tâm là những đối tượng chính sách, đối tượng đặc biệt khó khăn cần

có sự quan tâm, động viên khích lệ kịp thời Do vậy việc ưu tiên là điều kiện thuận lợi đối với một số đối tượng nhất định phù hợp với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

Trang 36

1.1.2.3 Về hình thức tuyển dụng công chức

Việc tuyển dụng công chức cho các CQCM thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2015 -2019 trên địa bàn tỉnh Lào Cai được thực hiện thông qua hình thức thi tuyển mới công chức theo Luật CB,CC năm 2008 (tỉnh Lào Cai không thực hiện hình thức xét tuyển công chức), cụ thể:

Thi tuyển công chức được tổ chức thi tuyển quy định tại Nghị định

số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của

Bộ Nội vụ, các môn thi và hình thức thi được tổ chức thi 01 lần, cụ thể:

- Môn kiến thức chung: thi viết 01 bài về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quản lý hành chính nhà nước; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về ngành, lĩnh vực tuyển dụng;

- Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết 01 bài và thi trắc nghiệm 01 bài

về nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của vị trí việc làm

- Môn ngoại ngữ: Thi viết hoặc thi vấn đáp 01 bài một trong năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định Đối với vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số, việc thi môn ngoại ngữ được thay thế bằng thi tiếng dân tộc thiểu số

Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc thiểu số

- Môn tin học văn phòng: Thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm

01 bài trên giấy theo yêu cầu của vị trí việc làm do Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng công chức quyết định

Trang 37

Cách tính điểm: Bài thi được chấm theo thang điểm 100, điểm các môn thi được tính như sau: Môn kiến thức chung: tính hệ số 1; Môn nghiệp vụ chuyên ngành: bài thi viết tính hệ số 2; bài thi trắc nghiệm tính hệ số 1; Môn ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số, môn tin học văn phòng: không tính vào tổng

số điểm thi Kết quả thi tuyển là tổng số điểm của các bài thi môn kiến thức chung và môn nghiệp vụ chuyên ngành tính từ cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi tuyển bằng nhau ở vị trí cần tuyển dụng, người có điểm thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu điểm bài thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người có điểm bài thi trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu cả điểm thi viết và điểm thi trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành đều bằng nhau thì người có điểm trung bình cộng kết quả các môn học trong toàn bộ quá trình học tập cao hơn

là người trúng tuyển; nếu vẫn không xác định được người trúng tuyển thì Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng công chức quyết định người trúng tuyển Người không trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức không được bảo lưu kết quả thi tuyển cho các kỳ thi tuyển lần sau

Yêu cầu, tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển: Các yêu cầu, tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển công chức các cơ quan HCNN cấp tỉnh ở Lào Cai được thực hiện theo Điều 35, Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Điều 3, Điều 4, Nghị định 24/2010/NĐ-CP; Điều 1, Điều 10 Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, yêu cầu tuyển dụng: Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ

vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế cơ quan sử dụng công chức, phù hợp với cơ cấu công chức và được thực hiện theo quy định hiện hành Việc tuyển dụng công chức phải đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, bảo đảm tính cạnh tranh

Trang 38

Thứ hai, điều kiện, tiêu chuẩn dự tuyển công chức: Người có đủ các

điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức, gồm: (i) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; (ii) Đủ 18 tuổi trở lên; (iii) Có đơn dự tuyển (theo mẫu); có lý lịch rõ ràng; (iv) Có văn bằng tốt nghiệp, chứng chỉ phù hợp với vị trí cần tuyển; (v) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; (vi) Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ; (vii) Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí tuyển dụng Tuy nhiên, những người sau không được đăng ký dự tuyển công chức: (i) Không cư trú tại Việt Nam; (ii) Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự; (iii) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hoặc

đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục

Riêng về tiêu chuẩn trình độ chuyên môn: tỉnh Lào Cai quy định thí sinh dự tuyển phải có trình độ đại học trở lên, đúng ngành, chuyên ngành cần tuyển; có chứng chỉ tin học văn phòng (hoặc tương đương) trở lên; có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh từ trình độ B trở lên

Thi tuyển công chức năm 2019 được thực hiện theo 2 vòng thi theo Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, như sau:

Vòng 1: Thi trắc nghiệm trên giấy, nội dung thi trắc nghiệm gồm 3 phần: (i) Kiến thức chung 60 câu hỏi về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quản lý hành chính nhà nước; công chức, công vụ; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ngành, lĩnh vực tuyển dụng; chức trách, nhiệm vụ của công chức theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển Thời gian thi 60 phút; (ii)

Trang 39

Ngoại ngữ 30 câu hỏi là một trong năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu

cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định Thời gian thi 30 phút Đối với vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn là ngoại ngữ thì người dự tuyển không phải thi ngoại ngữ tại vòng 1 quy định tại Điều này (iii) Tin học

30 câu hỏi theo yêu cầu của vị trí việc làm Thời gian thi 30 phút Kết quả thi vòng 1 được xác định theo số câu trả lời đúng cho từng phần thi quy định, nếu trả lời đúng từ 50% số câu hỏi trở lên cho từng phần thi thì người dự tuyển được thi tiếp vòng 2

Vòng 2: Thi môn nghiệp vụ chuyên ngành, nội dung thi: Kiến thức, năng lực, kỹ năng thực thi công vụ của người dự tuyển công chức theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng Cụ thể do Hội đồng thi tuyển hướng dẫn Hình thức thi: Thi viết Thang điểm: 100 điểm Thời gian thi viết: 180 phút (thi phỏng vấn là 30 phút)

- Cách tính điểm bài thi: Bài thi được chấm theo thang điểm 100 Điểm các môn thi được tính như sau: Môn kiến thức chung: tính hệ số 1; Môn nghiệp vụ chuyên ngành: bài thi viết tính hệ số 2; bài thi trắc nghiệm tính hệ

số 1; Môn ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số, môn tin học văn phòng: tính hệ

số 1 và không tính vào tổng số điểm thi

- Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức phải có đủ các điều

kiện sau: (i) Có đủ bài thi của các môn; (ii) Có điểm của mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên; (iii) Có số điểm vòng 2 cộng với điểm ưu tiên (nếu có) cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu được tuyển dụng của từng vị trí việc làm Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả điểm thi vòng 2 cộng với điểm ưu tiên (nếu có) bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có kết quả điểm thi vòng 2 cao hơn là người trúng tuyển

Người không trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức không được bảo lưu kết quả thi tuyển cho các kỳ thi tuyển lần sau

Trang 40

Tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức: Điều kiện, tiêu chuẩn để xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển:

- Người được tuyển dụng không qua thi tuyển phải đáp ứng yêu cầu của

vị trí việc làm cần tuyển dụng

- Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; Người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài, bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức

- Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng, bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức

- Quy trình xem xét tiếp nhận công chức: Khi tiếp nhận vào công chức thì người đứng đầu cơ quan quản lý công chức phải thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch Hội đồng kiểm tra, sát hạch có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:

Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan quản lý công chức; Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu bộ phận tham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan quản lý công chức; Một Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là công chức của bộ phận tham mưu về công tác

tổ chức cán bộ của cơ quan quản lý công chức; Các Ủy viên khác là đại diện một số bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan đến vị trí tuyển dụng do người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng kiểm tra, sát hạch: Kiểm tra về các điều kiện, tiêu chuẩn, văn bằng, chứng chỉ của người được đề nghị tiếp nhận theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển; Sát hạch về trình độ hiểu biết chung và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người được đề nghị tiếp nhận

Hình thức và nội dung sát hạch do Hội đồng kiểm tra, sát hạch căn cứ vào yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, báo cáo người đứng đầu cơ quan quản lý công chức xem xét, quyết định trước khi tổ chức sát hạch; Hội đồng kiểm tra,

Ngày đăng: 20/12/2022, 09:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w