Bên cạnh yếu tố tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo, tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định - Lạng Sơn, còn là nơi tập trung đậm nét nghệ thuật nguyên hợp với sự tham gia của nhiều thành tố
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
HỨA THỊ LIỄU
HỆ THỐNG CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY
Ở HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
HỨA THỊ LIỄU
HỆ THỐNG CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cửu cùa tôi Các số liệụ, kết quả trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ trình nào khác Thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thiện luận văn này đều đã được cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 6 năm 2020.
Tác giả luận văn
Hứa Thị Liễu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam với đề tài:
“Hệ thống các bài khóc than trong tang ma người Tày ở huyện Tràng Đỉnh, tỉnh Lạng Sơn” tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu, hiệu quả của nhiều cơ
quan, tập thể và cá nhân Đặc biệt, để hoàn thành tốt luận văn này tôi đã thường xuyên nhận được sự khích lệ, động viên, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn là PGS.TS Dương Thu Hằng Nhân dịp này, cho phép tôi được gửi tới các thầy cô giáo lòng biết ơn sâu sắc nhất
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu trường THPT Tràng Định; Tổ Ngữ Văn trường THPT Tràng Định - nơi tôi công tác, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi được học tập các chương trình thạc sĩ khóa 2018 - 2020, cũng như giúp đỡ tôi các thủ tục cần thiết trong quá trình học tập và bảo vệ luận văn
Cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã luôn động viên, khuyến khích tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Do thời gian có hạn và với năng lực còn nhiều hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Hứa Thị Liễu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU vi
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp mới của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, đời sống văn hóa xã hội huyện Tràng Định 11
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 11
1.1.2 Một số đặc điểm về đời sống văn hoá xã hội 13
1.2 Nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 18
1.2.1 Một số khái niệm thuật ngữ 18
1.2.2 Đặc điểm nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 20
1.3 Khái quát chung về hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 23
1.3.1 Thực trạng mai một các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 23
1.3.2 Văn bản các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 27
Trang 6Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÀNG ĐỊNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 31
2.1 Văn hóa tâm linh của người Tày trong các bài khóc than 31
2.1.1 Quan niệm về cõi sống, cõi chết 31
2.1.2 Quan niệm về cái chết 35
2.2 Văn hóa ứng xử với người chết của các thành viên trong gia đình 38
2.2.1 Tình cảm thủy chung sâu nặng giữa vợ chồng 38
2.2.2 Tình cảm, lòng biết ơn của con trai, con dâu với cha mẹ 43
2.2.3 Tình cảm, sự biết ơn của con rể đối với cha mẹ vợ 45
2.2.4 Tình cảm, sự biết ơn của con gái dành cho cha mẹ 48
2.2.5 Ngợi ca tình cảm gắn bó, khăng khít của hai bên thông gia 55
2.3 Văn hóa ứng xử với cộng đồng của người Tày qua các bài khóc than trong tang ma 59
2.3.1 Ứng xử với thầy cúng 59
2.3.2 Ứng xử với bạn bè, hàng xóm láng giềng 61
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3: CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÀNG ĐỊNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 66
3.1 Kết cấu 66
3.1.1 Mở - kết bằng lời than khóc 66
3.1.2 Kết cấu trùng điệp 70
3.2 Hệ thống các từ vựng đặc trưng 77
3.2.1 Các từ ngữ chỉ quan hệ trong gia đình 77
3.2.2 Các từ, ngữ chỉ cái chết trong các bài khóc than 79
3.2.3 Các từ ngữ chỉ thời gian, không gian 80
Trang 73.3 Giọng điệu 84
3.3.1 Giọng điệu xót xa, ngậm ngùi 84
3.3.2 Giọng điệu ân cần, yêu thương 87
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1
Bảng 3.1 Thống kê cách Mở - kết trong hệ thống các bài khóc
2 Bảng 3.2.1 Các từ ngữ chỉ quan hệ trong gia đình 87
3 Bảng 3.2.2 Các từ ngữ chỉ cái chết trong các khóc than 88
4 Bảng 3.2.3a Các từ ngữ chỉ thời gian trong các bài khóc than 90
5 Bảng 3.2.3b Các từ ngữ chỉ không gian trong các bài khóc than 92
Trang 9MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài
Theo tổng điều tra dân số năm 2009, người Tày ở Việt Nam có 1.626.392 người2 Trong đó, người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn hiện là 26.257 người chiếm 44,9% tổng số dân toàn huyện3
Nhiều cứ liệu lịch sử cho thấy, người Tày ở đây đã cư trú và sinh sống từ lâu đời Với dân số đông, trải qua thời gian giao lưu và cộng cư, văn hóa của người Tày có sức ảnh hưởng lớn đối với các tộc người khác trong huyện như Kinh, Nùng, Dao nơi đây
Là dân tộc tại chỗ, người Tày ở huyện Tràng Định có nhiều nét sắc thái văn hóa về văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo, khá riêng biệt Tang ma của người Tày biểu hiện sâu sắc đạo hiếu, đạo nghĩa của người sống dành cho người chết, người sống với người sống Thông qua tang ma, các quy tắc ứng xử gia đình, cộng đồng được biểu hiện rõ nét, chi phối đời sống xã hội tộc người Tày một cách lâu dài, bền bỉ, tạo nên sức cố kết bền chặt của cộng đồng
Bên cạnh yếu tố tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo, tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định - Lạng Sơn, còn là nơi tập trung đậm nét nghệ thuật nguyên hợp với sự tham gia của nhiều thành tố nghệ thuật, như nghệ thuật biểu diễn với các hình thức ca nhạc, múa; nghệ thuật trang trí qua tranh thờ, các câu đối, đại tự của thầy cúng treo trên dàn cúng, các loại đồ mã với những gam màu rực rỡ,…Trong đó, những bài văn cúng của thầy Tào, những bài khóc than của người thân trong gia đình là một phần nghi lễ quan trọng không thể thiếu
Các bài khóc than và bài tế trong tang ma từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân tộc Tày ở huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn Đó vừa là một hình thức sinh hoạt nghi lễ vừa mang nét văn hóa tâm linh, vừa có ý nghĩa ngợi ca giáo huấn con cháu mọi thế hệ biết giữ đạo hiếu làm người, nhất là văn hóa ứng
xử khi trong gia đình, làng bản có người mất Tất cả những điều đó có giá trị hết sức quan trọng cần thiết được nghiên cứu bằng các công trình nghiên cứu
Trang 10Hơn hai thập kỉ qua, Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa và hội nhập quốc tế, văn hóa cổ truyền của người Tày nói chung và phong tục tang ma nói riêng cũng đã có nhiều thay đổi Là người dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên ở xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, hơn nữa lại là một nhà giáo, tôi rất băn khoăn trước tình trạng nhiều giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc mình đang bị mai một, pha tạp, không được coi trọng đúng mức; thế hệ tr ngày càng
ít người biết đến những giá trị văn hóa truyền thống - trong đó có các bài khóc than trong nghi lễ tang ma
Với mong muốn thể hiện tình yêu với dân tộc, với tiếng mẹ đ và nguyện vọng tha thiết góp một phần sức lực trong việc tìm hiểu nhằm bảo tồn và phát
triển vốn văn hóa của dân tộc Tày, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Hệ thống các
bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn làm luận văn tốt nghiệp cho mình.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các nghiên cứu về tang ma của người Tày
Nghi lễ tang ma là một phần quan trọng trong văn hóa của dân tộc Tày
Vì vậy, nó đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà văn hóa trong quá trình tìm hiểu về phong tục tập quán, văn hóa của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và của dân tộc Tày nói riêng Trong các công trình nghiên cứu
đó, phải kể đến các công trình sau:
Trước hết phải kể đến cuốn sách Sơ lược giới thiệu các nhóm Tày, Nùng,
Thái ở Việt Nam của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn [31] Các tác giả đã nghiên
cứu khá sâu về đời sống văn hóa của hai dân tộc Tày - Nùng, trong đó có trình bày về tôn giáo, tín ngưỡng, ý niệm về hồn, khoăn và cái chết, về sự tồn tại của thế giới bên kia, những nghi lễ liên quan đến sản xuất,… nhưng các tác giả cũng không có chuyên mục riêng về tang ma của dân tộc Tày
Nghiên cứu của các tác giả Lã Văn Lô, Hà Văn Thư Văn hóa Tày – Nùng
(1984), Nhà xuất bản Văn hóa - Hà Nội [32] Đây thực sự là một công trình
Trang 11nghiên cứu khá đầy đủ về xã hội, con người và văn hoá của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam nói chung Các vấn đề trong đời sống xã hội được đề cập khá
đa dạng, điểm đáng chú ý nhất của công trình này là nguồn tư liệu thực địa khá phong phú, trong đó các tác giả đã khảo tả tương đối tỉ mỉ về tang ma với một tiểu mục riêng biệt, miêu tả về 9 nghi lễ chính và 13 lễ nhỏ rất công phu Tuy nhiên nhiều đặc trưng văn hoá trong tang ma của từng dân tộc chưa được các tác giả phân biệt rõ theo từng nhóm địa phương khác nhau
Năm 1994, Hoàng Quyết và Tuấn Dũng đã sưu tầm và biên soạn cuốn
Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc (1994), Nhà xuất bản Văn hóa Dân
tộc [45] Công trình này đã tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Tày ở khu Việt Bắc, với những phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tang ma, cưới hỏi từ xa xưa của người Tày
Song công trình cũng chỉ đề cập đến vấn đề một cách chung chung của vùng Việt Bắc, trong khi nghi lễ tang của người Tày ở mỗi địa phương lại có nhiều điểm khác biệt Vì vậy, những nghiên cứu mang tính chất khái quát như Hoàng Quyết và Tuấn Dũng cần thiết phải bổ sung các nguồn tư liệu thu thập từ điền
dã ở từng địa phương cụ thể
Tiếp đến phải kể đến cuốn sách Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam do
tác giả Bế Viết Đẳng chủ biên (1984), Nhà xuất bản Khoa học xã hội[14].Các tác giả đã dành một phần riêng 14 trang (từ trang 213 - trang 226) cho việc trình bày những nghi lễ liên quan đến làm ma ở trong nhà cũng như cách thức mai táng và hình thức để tang của các dân tộc Tày - Nùng (chủ yếu vùng Việt Bắc) Trong công trình này mặc dù các tác giả đã dành một phần riêng để nghiên cứu, song chỉ được tiếp cận dưới dạng các thông báo, từ việc điểm qua
về người chết, cách ứng xử với người chết, các lễ thức sau khi chết,… mà chưa
có phân tích nghiên cứu chuyên sâu theo từng dân tộc cụ thể Do đó, công trình này cũng chỉ mang tính sơ lược cần được bổ sung
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Tang ma của Người Nùng Phàn Slình ở Thái
Nguyên của Nguyễn Thị Ngân (2011) trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
Trang 12văn Hà Nội Tác giả đã phân tích khá cặn kẽ các nghi lễ tang ma của từng đối tượng Tang ma của người chết bình thường là quá trình thực hành của 34 nghi lễ; tang ma của thầy cúng gồm 42 nghi lễ và của người chết không bình thường
có thêm một số nghi lễ để hóa giải sự rủi ro, cùng những ứng xử của gia đình, dòng họ, cộng đồng trước, trong và sau khi đưa ma đến khi mãn tang Dù làm
ma cho đối tượng nào cùng đều nhờ thầy Tào cầu cúng, dẫn độ linh hồn người chết về với tổ tiên ở trên trời Trên cơ sở những hiểu biết như vậy, tác giả cũng
đã tập trung đánh giá hiện trạng các nghi lễ tang ma trong đời sống tinh thần của người Nùng, để từ đó đưa ra những kiến nghị đề xuất phát huy những yếu
tố tích cực trong giai đoạn hiện nay Về cơ bản nghi lễ tang ma của người Nùng cũng gần giống với nghi lễ tang ma của người Tày, do đó chúng tôi có thể tiếp cận các phương pháp nghiên cứu của công trình này [40]
Bài viết Việc tang lễ cổ truyền của người Tày của Hoàng Tuấn Nam
[39], đây thực sự là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tang ma và các vấn đề liên quan đến tang ma của người Tày ở Việt Nam Các vấn đề trong tang
ma được đề cập khá đa dạng với các tiểu mục Việc thờ cúng tổ tiên, Việc chăm sóc mồ mả, Các nghi lễ chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, Khi người già ốm, Quan niệm về cái chết, Hội làng - tổ chức quần chúng phụ trách việc tang, Tiến trình một đám tang,…Có thể nói đây là công trình đầu tiên cung cấp được cái nhìn khá toàn diện về tang ma của người Tày ở Việt Nam từ lúc cha mẹ già yếu - ốm đau - qua đời - đến các nghi lễ tiễn đưa cha mẹ về trời với tổ tiên Công trình là tập hợp những tư liệu mà tác giả đã tích lũy được trong nhiều chuyến nghiên cứu, điều tra điền dã trong các làng bản của người Tày Hơn nữa bản thân tác giả cũng là một thành viên quan trọng của cộng đồng ấy Do đó, những khảo cứu mà tác giả cung cấp càng khẳng định giá trị khoa học của công trình Tuy nhiên trong công trình này tác giả chỉ giới thiệu một cách chung chung những nghi lễ tang ma đối với người chết bình thường, còn tang ma của các đối tượng như thầy cúng, chết thai sản, chết chém, tr con,… nghi thức tiến hành đám tang như thế nào, có gì khác biệt so với đám tang bình thường không, thì chưa được tác giả quan tâm nghiên cứu
Trang 13Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu tham khảo rất quý giá, giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về tang ma trong bối cảnh văn hóa chung
Tuy nhiên, các cuốn sách, công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến tang ma của người Tày nói chung mà đặc biệt là người Tày ở Việt Bắc, tang ma của người Tày ở Tràng Định chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào, chỉ có
cuốn Địa chí huyện Tràng Định [7] có đề cập đến dưới dạng liệt kê, giới thiệu qua các nghi lễ Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu Hệ thống các bài khóc than
trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định góp phần bổ sung và
phát triển nguồn tư liệu trên là rất cần thiết
2.2 Một số nghiên cứu về khóc than trong tang ma của các tộc người thiểu số
Việc tang lễ là một nét sinh hoạt tâm linh văn hóa trong tập tục truyền thống của cộng đồng, do đó nghiên cứu vấn đề về tang lễ của dân tộc Tày nói chung và các bài khóc tang nói riêng đã thực sự thu hút được nhiều một số nhà nghiên cứu, có thể kể đến các tác giả như:
Cuốn Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên, phần dân
ca có giới thiệu khái quát về nhóm các bài ca tang lễ Theo tác giả thì bên cạnh việc bày tỏ tình cảm thương tiếc người đã khuất, các bài ca tang lễ còn thể hiện quan niệm về sự hình thành thế giới, hay về sự ra đời của con người…những bài hát đó không làm chức năng cầu khẩn như những bài nghi lễ nông nghiệp mà thực sự thuộc về tôn giáo và tín ngưỡng dân gian có chức năng tiễn đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia [26, tr.312]
Năm 1999, trong cuốn Việc tang lễ cổ truyền của người Tày tác giả Hoàng
Tuấn Nam [39] có bài nghiên cứu khá chi tiết về việc tang lễ cổ truyền của người
Tày nhưng mới chỉ dừng lại ở phạm vi huyện Hòa An Cao Bằng.Trong cuốn Tín
ngưỡng dân gian Tày Nùng (2009) của Nguyễn Thị Yên có giới thiệu khá chi tiết
về tang lễ cũng như trình tự các thủ tục tiến hành tang lễ, thành phần tham gia vào tang lễ cổ truyền của người Tày ở Cao Bằng Đặc biệt, tác giả còn nhắc đến lối hát thợ và giới thiệu sơ lược về hình thức diễn xướng của nhóm thợ trong
Trang 14đám tang của người Tày.Thông thường thì nhóm thợ sẽ sử dụng 3 quyển sách chính vào nội dung hát trong tang lễ xoay quanh vấn đề đạo hiếu Tuy vậy tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát chung chứ chưa đi sâu vào phân tích, lý giải nội dung của hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh này [70, tr.567]
Năm 2002 trong cuốn Văn hóa dân gian Tày của các tác giả Hoàng Ngọc
La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn đã khái quát, giới thiệu chung về những bài ca tang lễ Trong đó các tác giả có đề cập tới loại hình “văn tế, văn than dùng để ngâm kể trước vong linh người đã khuất Thể văn dùng thất ngôn, vần lưng Nội dung có thể dựa vào những khúc ngâm có sẵn trong sách vở đã ghi chép lại hoặc tang chủ nhờ người có học soạn lại, có ý nghĩa nhiều mặt: lẽ tử sinh, đạo hiếu nghĩa, niềm thương tiếc, sự nguyện cầu phù trợ cho người mai hậu….mà ở mặt nào cũng xúc động, bi thương.” [28, tr.213]
Ngoài ra còn có một số công trình sưu tầm, giới thiệu và dịch của một số
tác giả cũng đề cập tới bài ca tang lễ của người Tày như bài báo “Lễ báo hiếu
của người Tày ở Cao Bằng” của tác giả Vũ Diệu Trung in trong tạp chí Văn
hóa nghệ thuật, số 11- 2005 Nhưng tác giả mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thủ tục tiến hành nghi thức tang lễ ở Cao Bằng chưa đề cập gì đến các bài ca trong tang lễ của dân tộc Tày nói chung
Như vậy cho đến nay, với những tư liệu hiện có và sự hiểu biết của mình, chúng tôi chưa thấy có bất kì một công trình hoặc bài viết nào nghiên cứu về giá trị nội dung và nghệ thuật của các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày nói chung và của người Tày ở một địa phương cụ thể nói riêng.Vì vậy, việc chúng tôi sưu tầm, nghiên cứu về hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang
ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn nhằm tìm hiểu về quan niệm về cõi sống và cõi chết, cách ứng xử trong tang ma, văn hoá của Tày ở một địa phương cụ thể là việc làm cần thiết, góp phần gìn giữ và bảo tồn những nét văn hóa truyền thống
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài có mục đích hướng tới cái nhìn tổng quát , toàn diện và chân thực nhất về hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Tìm hiểu các yếu tố về nội dung và nghệ thuật trong khóc than tang ma của người Tày, tìm ra được nét độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày
ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học bảo tồn và phát huy một hình thức diễn xướng nghệ thuật dân gian độc đáo, nhân văn của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến
đề tài
- Thu thập tư liệu, khảo sát, tổng hợp tư liệu, văn bản hóa, phiên âm, đối dịch (dịch từ, dịch nghĩa, dịch văn học), hệ thống hóa các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Khảo sát, thống kê, đánh giá về thực trạng sử dụng các bài khóc than trong đời sống của người dân ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Chỉ ra giá trị nội dung và nghệ thuật của các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu các phương diện nội
dung và nghệ thuật trong hệ thống các bài khóc than tang ma truyền thống của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Phạm vi nghiên cứu:
- Tư liệu nghiên cứu chính là hệ thống bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn do chúng tôi tự sưu tầm và văn
Trang 16bản hóa Ngoài ra, chúng tôi tham khảo thêm một số văn bản chép tay (chưa dịch Kinh) của các nghệ nhân khóc ma và các thầy Tào, thầy mo… ở địa phương.
- Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến khóc than trong tang ma của người Tày, bao gồm: hệ thống các bài khóc than, các yếu tố nội dung và nghệ thuật của các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở các xã: Đại Đồng, Chi Lăng, Tri Phương, Hùng Sơn, Tân Tiến thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Đây là những khu vực mà người Tày cư trú tập trung
5 Phương phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã văn học
Phương pháp này được sử dụng để sưu tầm, thu thập tư liệu về thực trạng các bài khóc than trong tang ma cuả người Tày ở huyện Tràng Định Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành công tác khảo sát chủ yếu tại 4 xã: Đại Đồng, Chi Lăng, Tân Tiến, Hùng Sơn- nơi người Tày tập trung cư trú, phỏng vấn 04 nghệ nhân khóc than, 02 Slấy Tào, trực tiếp đến quan sát, tham dự 05 đám tang trên địa bàn để thấy rõ thực trạng sử dụng các bài khóc than trong tang
lễ cũng như tiến trình, mối liên hệ không thể tách rời của khóc than trong các nghi thức tang ma Trên cơ sở công tác điền dã, luận văn sẽ kết hợp với việc nghiên cứu và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn được lưu giữ qua hệ thống các bài khóc than trong tang ma của đồng bào nơi đây
Việc quan sát được thực hiện trong suốt quá trình điền dã tại thực địa với các đối tượng chủ yếu là sinh hoạt văn hóa, hoạt động kinh tế, các nghi lễ trong đám ma của người Tày, các bài khóc than trong tang ma của người Tày (văn bản truyền miệng, văn bản chép tay) Bản thân là người dân tộc Tày bản địa, thường xuyên được tham dự, chứng kiến nhiều đám tang tại nơi cư trú (xã Đại Đồng) và các xã lân cận, điều này giúp cho chúng tôi có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn
về tang ma của người Tày nói chung và hệ thống các bài khóc than trong tang
ma của người Tày nói riêng
Trang 17- Phương pháp phân tích văn bản
Đây là phương pháp nhằm phân tích, lí giải những đặc điểm về phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Đề tài cũng chú trọng đến việc
sử dụng các thủ pháp thống kê, phân loại, phiên âm, đối dịch, phân tích ngữ nghĩa nhằm xử lí các bài hát khóc than về mặt tư liệu Bằng các thủ pháp phân tích kết hợp giải thích, chứng minh…, đề tài sẽ làm rõ đặc điểm của các bài khóc than trên hai phương diện chính là nội dung và hình thức
- Phương pháp liên ngành
Đây là cách thức tổ chức, tiến hành nghiên cứu có sử dụng quan điểm, tri thức và phương pháp nghiên cứu của một nhóm chuyên gia thuộc nhiều ngành khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo, sử dụng tri thức của nhiều ngành khác nhau như: Lịch sử, Địa Lý, Văn học, Văn hóa, Triết học, Tôn giáo học
- Phương pháp tổng hợp, so sánh cũng được chúng tôi sử dụng để có thể chọn
lọc, đối chiếu nguồn tài liệu nhằm rút ra các nhận định, các điểm riêng và chung
về phương diện nội dung và nghệ thuật góp phần hoàn thành mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra
- Ngoài ra chúng tôi cũng đã tiến hành thu thập hệ thống hóa và xử lý các nguồn
tư liệu đã có từ các sách, báo, tạp chí, kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án nghiên cứu ở trong nước, các báo cáo của cơ quan trung ương và địa phương có liên quan đến đề tài
6 Đóng góp mới của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn là công trình sưu tầm và nghiên cứu tổng thể, có hệ thống đầu tiên về hệ thống các bài khóc than trong tang ma của cộng đồng người Tày tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Trang 18Luận văn bước đầu cung cấp tư liệu điền dã mới, qua đó phản ánh đầy đủ
và chân thực về hệ thống nghi lễ trong tang ma, hệ thống các bài khóc than trong tang ma của người Tày Đồng thời luận văn này cũng chỉ ra các giá trị về nội dung và nghệ thuật của các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định Ngoài ra, luận văn sẽ cung cấp thêm tài liệu cho nghiên cứu về văn hóa, văn học dân tộc của dân tộc Tày theo định hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn học và giúp các nhà văn hóa học có thêm hướng tiếp cận với bản sắc văn hóa của người Tày thông qua các văn bản văn học truyền miệng của địa phương
- Ý nghĩa thực tiễn:
Góp thêm nguồn tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương trong việc tìm hiểu phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục phù hợp với cộng đồng người Tày tại địa phương
Trong cuộc sống hiện đại ngay nay, một bộ phận không nhỏ giới tr đã thờ ơ với văn hóa truyền thống, thiếu hiểu biết về nghi lễ, phong tục tập quán của dân tộc Kết quả nghiên cứu của đề tài mang tính nhân văn, giáo dục thế hệ
đi sau về lòng hiếu thảo, đạo con cháu và bài học ứng xử trong mối quan hệ cộng đồng và gia đình Nghiên cứu về tang ma sẽ đóng góp cho việc kế thừa những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực trong tập quán tang ma của người Tày huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới trong tiến trình xây dựng làng bản văn hóa mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
Nội dung luận văn được bố cục thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 19NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, đời sống văn hóa xã hội huyện Tràng Định
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Bắc của tỉnh Lạng Sơn, ở 22012’33’’ đến 22018’30’’ vĩ tuyến Bắc và 106027’33’’ đến 106030’00’’ kinh độ Đông; có tổng diện tích tự nhiên là 999,62 km; trong đó diện tích đất rừng có 91,145 ha chiếm 94% tổng diện tích tự nhiên Thị trấn Thất Khê cách thị xã Lạng Sơn 70 km theo quốc lộ 4A Phía Bắc giáp huyện Thạch An - Cao Bằng, phía Tây giáp Na Rì - Bắc Kạn, phía Nam và Tây Nam giáp hai huyện Bình Gia và Văn Lãng - Lạng Sơn, phía Đông và Đông Bắc giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, gồm 4 xã biên giới với tổng chiều dài đường biên giới là 53 km Vị trí địa lí đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tràng Định giao lưu kinh tế, văn hoá- xã hội với các vùng khác, tỉnh khác đặc biệt là với cả quốc gia láng giềng Trung Quốc Do vậy, từ xưa thị trấn Thất Khê - Tràng Định đã nổi tiếng là một châu, huyện phát triển sầm uất
Địa hình huyện Tràng Định chia làm hai khu vực tương đối phức tạp, gồm vùng đồi núi có độ cao trung bình 450 - 500 m, độ dốc lớn trên 25% chiếm tới 96% tổng diện tích đất rừng và vùng cánh đồng Thất Khê Tuy địa hình phức tạp nhưng Tràng Định có một phong cảnh thiên nhiên hữu tình tươi đẹp
Những ngọn núi nối tiếp nhau chạy vòng quanh ôm lấy cánh đồng Thất Khê giống như một lòng chảo lớn V đẹp của mảnh đất này đã trở thành huyền thoại, truyền thuyết đối với mỗi người dân nơi đây Người dân còn lưu giữ mãi một câu chuyện xa xưa kể rằng: Cảnh thiên nhiên Tràng Định xưa đẹp và thơ mộng lắm, có đồi núi, có cánh đồng và có ba dòng sông trong mát hiền hoà uốn lượn qua những vùng đồi núi, chảy ra cánh đồng…Cảnh đẹp đó đã thu hút sự chú ý của bảy nàng tiên con của Ngọc Hoàng Ngày ngày bảy tiên nữ đó đều
Trang 20bay từ trên trời xuống tắm mát và vui đùa trên sông Một hôm, các nàng mải chơi vui quá nên quên mất giờ về, đến khi thiên đình sắp đóng cửa mới sực nhớ
và vội bay về trời, bỏ quên bảy dải lụa mềm mại, tươi đẹp Bảy dải lụa của bảy nàng tiên nữ đã hoá thành bảy dòng suối chảy quanh cánh đồng và tên của cánh đồng, của thị trấn Thất Khê cũng bắt nguồn từ câu chuyện đó
Mạng lưới sông suối của Tràng Định phân bố khá đồng đều gồm 3 sông,
7 suối Các con sông đều chảy qua cánh đồng Thất Khê nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu đồng áng, vận chuyển hàng hoá, phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ
Những dòng sông, con suối còn đem phù sa đến bồi đắp cho cánh đồng Thất Khê nên cánh đồng này đã trở thành một mảnh đất trù phú, phì nhiêu, trồng cấy đạt năng suất cao Trong nhân dân còn có câu ca rằng:
“Thất Khê gạo trắng nước trong
Ai lên đến đó thời không muốn về”
Không chỉ có đất đai vùng cánh đồng trù phú mà đất đai của huyện Tràng Định nói chung được hình thành trên một số loại đá mẹ, chủ yếu là sa thạch và phiến thạch tạo thành nhiều vùng rộng lớn Do ảnh hưởng của nhiệt
độ, ánh sáng, độ ẩm, thực vật rừng sự phát triển tầng đất rất mạnh Tầng đất dày, cấu tượng tơi xốp, nhiều mùn, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp: hồi, trẩu, sở, quế và các loại cây ăn quả như: mơ, mận, cam, lê
Nơi đây đã từng nổi tiếng với những đặc sản Mận Thất Khê, Lê Tràng Định
Khí hậu Tràng Định là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi Mùa đông thịnh hành gió mùa Đông Bắc lạnh và ít mưa, nhiều năm có sương muối; mùa
hạ thịnh hành gió Đông Nam, Nam và Tây Nam, nhiều giông và nhiều mưa, có năm chịu ảnh hưởng của bão
Nhìn chung, Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới có nhiều tiềm năng: đất đai, tài nguyên rừng, động thực vật phong phú, tiềm năng du lịch và dịch vụ… Đồng thời, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội
Tự nhiên chính là tiền đề vật chất để con người sinh sống, là môi trường để con
Trang 21người hoạt động đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên Những đặc điểm tự nhiên là yếu tố quan trọng quy định tính chất của nền văn hoá và sinh hoạt văn hoá - xã hội của người dân nơi đây
1.1.2 Một số đặc điểm về đời sống văn hoá xã hội
1.1.2.1 Đặc điểm đời sống văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Văn hoá Lạng Sơn hay còn gọi là văn hoá xứ Lạng là một tiểu vùng của văn hoá lớn, đó là “vùng văn hoá Việt Bắc” nước ta Đặc điểm lớn nhất của
“vùng văn hoá Việt Bắc” là văn hoá lòng chảo, thung lũng, làm ruộng lúa nước
là chủ yếu Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, có ảnh hưởng lớn đến các dân tộc thiểu số trong vùng, là dân tộc Tày, Nùng
Văn hoá Tràng Định là một bộ phận hữu cơ của tiểu vùng văn hoá xứ Lạng Văn hoá các dân tộc ở đây rất phong phú, thể hiện đa dạng văn hoá cấp
độ dưới tiểu vùng (cảnh quan, lãnh thổ) trong văn hoá nhóm ngôn ngữ và tiếng dân tộc riêng biệt, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
Tràng Định là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó có 6 dân tộc có
số dân đông nhất là Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông, Hoa và một số dân tộc khác số dân ít ỏi đến làm ăn sinh sống Vì vậy sắc thái các nhóm văn hoá ngôn ngữ ở Tràng Định phong phú, đa dạng như nhóm ngôn ngữ Tày- Thái (Tày và Nùng), Dao - Mông, Hán (Hoa) và Việt - Mường (Kinh); chỉ vắng mặt nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, Tạng - Mianma, Ka đai
Do địa hình phức tạp nên sự phân bố dân cư của các dân tộc theo từng nhóm, từng vùng: văn hoá cư dân Tày, Nùng làm ruộng nước định cư ở vùng lòng chảo, tiêu biểu là cánh đồng Thất Khê; văn hoá r o cao của các cư dân Dao, Mông trồng trọt nương rẫy, du canh du cư; cư dân thị trấn buôn bán như người Kinh, Hoa…Cư dân các dân tộc sống chan hoà với thiên nhiên nên có nhiều sinh hoạt tín ngưỡng dân gian độc đáo như Mo, Tào, Pựt, Then…
Trang 22Là nơi quần tụ của nhiều dân tộc nên ở đây tỉ lệ dân số giữa các dân tộc
có sự chênh lệch, phong tục tập quán khác nhau, ngôn ngữ khác nhau…Tạo nên một Tràng Định có nhiều nét văn hoá đặc sắc, tiêu biểu Những nét văn hoá truyền thống tốt đẹp ấy được thể hiện trong tinh thần tương thân tương ái giữa các cộng đồng dân tộc cùng chung sống Các dân tộc ở đây qua bao thế hệ đã chung sống hoà thuận, tôn trọng và giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau để tạo ra sức mạnh chống thiên tai, giặc giã, để tồn tại và phát triển cùng với cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bản sắc văn hoá tốt đẹp ấy thể hiện qua thuần phong mĩ tục, qua việc cố kết tình làng nghĩa xóm Từ lâu nhân dân đã lập phe, phường để trợ giúp nhau về vật chất công sức trong việc hiếu, việc hỷ…
Một trong những sinh hoạt văn hoá mang đậm nét bản sắc dân tộc của nhân dân Tràng Định là tập tục tổ chức lễ hội và chợ phiên Hàng năm, vào dịp
lễ tết cổ truyền đặc biệt là trong tháng giêng, xã nào cũng có lễ hội, tiêu biểu như: Hội Lồng Tồng - xã Đại Đồng, hội Nàng Hai - xã Chí Minh, hội Đền Gốc Sung - Thị trấn Thất Khê, hội đua thuyền - xã Quốc Việt, hội Quốc Khánh…
Mỗi lễ hội đều gắn với một câu chuyện, một truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian Qua lễ hội người dân thể hiện những mong muốn giản dị: thăm thú danh lam, cầu may, mùa màng tươi tốt, làm ăn suôn s …Vì vậy, khi đến ngày hội, người dân từ già, tr , gái, trai đều kéo nhau đi xem hội rất đông vui, tham gia nhiệt tình vào các trò chơi của lễ hội như văn nghệ, đánh cờ, hát si, lượn, múa sư tử… Đây cũng là dịp để các dân tộc giao lưu văn hoá
Chợ phiên cũng là một hình thức sinh hoạt văn hoá thường xuyên của các dân tộc nơi đây Chợ chính là nơi để mọi người buôn bán, giao lưu, trao đổi hàng hoá và là nơi các dân tộc, các vùng giao lưu về văn hoá, kinh nghiệm sản xuất… Ở các xã vùng cao đều có chợ phiên riêng phục vụ nhu cầu của người dân, song chợ Thất Khê (trước kia gọi là Cẩu Pung) vẫn là nơi nhộn nhịp nhất,
là trung tâm diễn ra các hoạt động giao lưu giữa các dân tộc trong huyện
Trang 23Nói đến Tràng Định không thể không nói đến truyền thống yêu nước và cách mạng Từ xa xưa, Tràng Định là lãnh thổ không tách rời của Việt Nam
Từ khi có Đảng và Bác Hồ, truyền thống cách mạng được hun đúc, tôi luyện trở thành ngọn lửa thử vàng Tràng Định có vinh dự lớn được nằm trong cái nôi của cách mạng Việt Nam, nằm trong chiến khu Cao - Bắc - Lạng, nơi đóng vai trò quý báu trong nền khởi nghĩa và cách mạng tháng Tám, trong các cuộc kháng chiến chống Pháp - Mĩ và là mảnh đất vinh dự được Bác Hồ 2 lần đến thăm hỏi, động viên Hiện nay, các sinh hoạt văn hoá - xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Tràng Định vẫn luôn gắn liền với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
1.1.1.2 Đặc điểm đời sống văn hoá xã hội của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Tộc người Tày là cư dân bản địa của Tràng Định Dân tộc Tày là dân tộc
có số dân đông nhất trong huyện, tổng số dân là: 26.257 người chiếm 44,9 %
Đa số người Tày là dân bản địa và một số ít là người dân di cư khai hoang đến sinh sống từ lâu đời đã Tày hóa Người Tày có những họ chính: Nguyễn, Bế, Hoàng, Nông, Vy, Đinh, Hà, Chu, Ma, Đoàn, Đường, Tô,…vv…
Nhà ở của người Tày ở vùng Tràng Định có hai loại là nhà sàn và nhà đất, nhà sàn thường 3 gian, cột kê trên đá tảng, vách thưng gỗ, chát bùn rơm hoặc vách nứa, mái nhà lập bằng ngói âm dương; sàn bằng gỗ ván hoặc giát cây mai, gầm sàn là nơi nhốt trâu, bò, lợn, gà Hiện nay nhiều nhà làm cột vuông,
kê đá tảng, sàn và vách thưng đều bằng gỗ ván ghép, chuồng trâu bò được đưa
ra ngoài gầm sàn
Cũng giống như người Nùng, bộ y phục truyền thống của người Tày được cắt may từ vải chàm đen, nhưng điểm khác biệt với người Nùng trong y phục là người Tày thường cắt may quần áo rộng hơn, dài hơn (ống tay áo, thân
áo, ống quần ngắn hơn, rộng hơn so với ống tay áo, thân áo, ống quần của người Nùng trong vùng) Phụ nữ Tày mặc áo 5 thân cài cúc sang nách, thân áo
Trang 24dài gần đến đầu gối, ở mép ống tay áo được can thêm miếng vải mầu xanh khác với mầu chàm của áo, chỗ cài khuy ở vạt áo phía trước cũng được viền một băng vải mầu xanh, cổ áo phụ nữ là kiểu cổ đứng, áo luôn đi kèm với thắt lưng được làm từ một dải vải nhuộm chàm đen Khi thắt hai đầu dây lựng được buông thõng phía sau lưng Nhìn chung áo phụ nữ Tày không thêu hoa văn gì thêm Nếu nhìn từ xa, nó cũng gần giống với áo phụ nữ Nùng trong vùng Phụ
nữ Tày không mặc váy mà chỉ mặc quần mầu đen chàm do họ tự cắt may Đó là kiểu quần chân què đũng rộng, ống rộng, cạp rộng, thắt bằng một sợi dây vải, ống quần thường dài tới trên mắt cá chân Cũng có người, phần cạp quần được can nối bằng vải trắng loại vải khác với mầu của quần Nam giới người Tày mặc áo chàm đen, cổ đứng, x ngực, khuy cài bằng dây vải, áo thường có 4 túi (2 túi trên và 2 túi dưới gần sát tà áo), áo dài quá mông Quần nam giới được cắt may từ vải đen nhuộm chàm Phần cạp thường làm bằng vải khác mầu Dây lưng thường làm bằng sợi vải bện hoặc sợi dù luôn buộc sẵn ở eo Ngày nay, người Tày mặc quần áo giản tiện hơn như áo bà ba, áo sơ mi các kiểu, quần âu, những bộ quần áo chàm của các bà, các chị chỉ còn ở những bản h o lánh xa xôi và được mặc nhiều trong các dịp hội lễ
Dân tộc Tày sinh sống thành các làng bản Bản của người Tày mang tính cộng mệnh về sở hữu đất đai và tôn thờ những biểu tượng về tâm linh và sự che chở của thần bản mệnh chung của thôn bản: Thổ công, thành hoàng, thần sông núi, thần nông…nên người Tày hay thực hiện những nghi lễ thờ cúng rất phổ biến và đa dạng Bản làng của người Tày còn là nơi cộng cảm văn hoá trên cơ
sở cộng cư, cộng đồng sở hữu Đó là nơi nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất thể hiện ở tục lệ “vần công” (đổi công) hoặc biểu hiện
ở các dịp lễ tết, hội hè đình đám, cúng bái, của làng bản hoặc gia đình, toàn bản gọi người tham gia đông đảo Đặc biệt người Tày rất hiếu khách, khách đến luôn được thiết đãi cơm, rượu, thịt tươm tất, chu đáo
Trang 25Nghi lễ và phong tục của người Tày hết sức phong phú và đa dạng Điều này xuất phát từ tín ngưỡng dân gian của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Tày nói riêng Các nghi lễ được thực hiện theo chu kỳ canh tác nông nghiệp, từ xuân tới hạ và đầu thu, chịu ảnh hưởng phần nào quan niệm lễ tết của người Trung Quốc, tuy vậy nó vẫn thể hiện rõ sắc thái văn hoá bản địa
Sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của người Tày cũng hết sức độc đáo, với các thể loại ca hát giống với người Nùng như: Phong Slư, Sli, Lượn,…những làn điệu này đã trở thành đặc trưng mang hồn điệu của dân tộc Lời ca, tiếng hát của bài Phong Slư, Sli, Lượn…không chỉ là cầu nối của những đôi trai gái, thanh niên nam nữ mà còn là món ăn tinh thần không thể thiếu của người Tày
Họ cất lời ca trong lao động, trong những buổi hội lễ, chợ phiên để ca lên tiếng nói của chính tâm hồn mình Ngoài ra, người Tày còn có bài hát “quan làng”
trong đám cưới, những bài ca nghi lễ đám ma…
Cư dân người Tày luôn sống đoàn kết, yêu thương, gắn bó với nhau trong cuộc sống và sống hoà đồng cùng với các dân tộc khác trong huyện Hiện nay, dân tộc Tày cũng như các dân tộc khác trong huyện Tràng Định đang cùng chung sức xây dựng một cuộc sống mới văn minh dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước, một nền văn hoá mới lành mạnh và đang được hình thành, phát triển song song với những nét văn hoá cổ truyền của dân tộc
Những đặc điểm tự nhiên và đời sống văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Tràng Định nói chung, đặc biệt là đời sống văn hoá xã hội của người Tày ở Tràng Định nói riêng là cơ sở để sản sinh, hình thành một nền văn hoá độc đáo mang bản sắc văn hoá dân tộc riêng Nhưng môi trường tự nhiên, văn hoá xã hội luôn biến đổi cùng nhịp sống của nhân loại Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, môi trường tự nhiên và văn hoá xã hội của cư dân Tày trên mảnh đất Tràng Định cũng đã có nhiều sự thay đổi lớn Do vậy yêu cầu bảo tồn, phát huy, phát triển các nghi lễ, tập tục cổ truyền của huyện Tràng Định nói chung và nghi lễ tang ma của người Tày nói riêng đã và đang là một vấn đề quan trọng được đặt ra trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 261.2 Nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
1.2.1 Một số khái niệm thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm “Nghi lễ”
Trong Từ điển tiếng Việt, “nghi lễ” là “nghi thức và trình tự tiến hành
của một cuộc lễ” [44, tr.866] Nghi lễ tôn giáo được thực hành thường gắn liền với một thực thể siêu linh hay một thế giới vô hình nào đó liên quan đến niềm tin tôn giáo hoặc do tôn giáo quy định và thường biểu hiện chức năng tâm lý trong đời sống của tín đồ Nghi lễ có thể dùng để giải tỏa những nỗi bất an của con người ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn với thế lực siêu nhiên mà họ tin tưởng
Theo Từ điển Tín ngưỡng - Tôn giáo Thế giới và Việt Nam của tác giả
Mai Thanh Hải (2006), Nhà xuất bản Văn hóa thông tin – Hà Nội lại cho rằng:
Nghi lễ là hành vi (hoặc hệ thống hành vi) của cá nhân hoặc của tập thể, tuân theo một quy tắc nhất định, lặp đi lặp lại thuộc một sơ đồ có sẵn (về sau có thể từng thời gian được điều chỉnh cho thích hợp hơn với tâm lý lớp người sau), nhằm đạt tới một mục đích tín ngưỡng tôn thờ một thế lực siêu nhiên nào đó
Nghi thức tôn giáo nguyên thủy thường gắn liền với huyền thoại, mang nhiều dấu ấn về hoạt động sinh hoạt của người thời xưa như chèo đò, leo cây, săn bắt bằng cung nỏ, hú gọi, đốt lửa,… Nhiều nghi thức gắn liền với việc thay đổi trạng thái của cá nhân hay tập thể như cưới xin, sinh đ , ma chay, trốn tránh lũ lụt, chuyển chỗ ở,… Sau này, nghi thức tôn giáo ngày càng sử dụng nhiều hình thức văn hóa nghệ thuật như múa hát, ca nhạc, sắc phục, nhịp điệu, ánh sáng đèn nến, trang trí nội thất, kiến trúc,… để hỗ trợ hiệu quả hoặc tăng sức cuốn hút Nghi thức còn được đổi tên thành nghi lễ, tăng thêm tính huyền bí [17]
1.2.1.2 Khái niệm “khóc than”, “bài khóc than” và “nghi lễ khóc than” trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể nào nêu rõ nội hàm của “khóc
than” hay “khóc than trong tang ma” Theo chúng tôi: “Khóc than trong tang
Trang 27ma” của người Tày ở huyện Tràng Định dùng để chỉ hành động vừa khóc vừa
kể lể sự đau lòng, sự tiếc thương trước sự ra đi đột ngột của người thân và những công ơn như trời bể của người đã mất với người còn sống
“Bài khóc than” là văn bản (văn bản truyền miệng, văn bản viết) tái hiện
lại, ghi lại nội dung trong hành động “khóc than” của người thân trong gia đình hoặc là lời khóc của các thầy Tào (thay mặt gia chủ trong một số nghi lễ cơ bản) được diễn ra trong tang lễ
Trong quan niệm của người dân Việt Nam đặc biệt là dân tộc Tày, khi nói đến sinh hoạt lễ nghi là nói tới một biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với các thế lực siêu nhiên do chính con người tạo ra, mà ở đó thì mỗi loại hình sinh hoạt nghi lễ lại luôn song hành với các hoạt động là các bài nghi lễ
Tang lễ từ lâu đã được coi là một phần nằm trong bộ phận nghi lễ phong tục của dân tộc Đây là bộ phận cổ xưa trong kho tàng văn hóa Việt Nam, dưới
sự chi phối của vạn vật hữu linh và thông qua các biện pháp tín ngưỡng ma thuật con người tin rằng thần linh có thể giúp con người ta vượt qua khó khăn
và đạt được nhiểu ước mơ cao đẹp trong cuộc sống Vì vậy để đáp ứng nhu cầu này đã có nhiều bài ca xuất hiện, trong đó bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm bài ca Nông lễ: phục vụ các tiết lễ trong sản xuất nông nghiệp
- Nhóm bài ca hôn lễ: hát quan làng trong đám cưới, trong những ngày hội, ngày lễ, ngày tết,
- Nhóm các bài ca tang lễ : là những bài ca do các thầy mo, thầy lễ thực hiện khi hành lễ trong tang ma
Trong nhóm bài ca trong tang lễ, thì các bài khóc than và tế được thực hiện trong đám tang khi hành lễ bao gồm có cả phần lời và phần nhạc khi diễn xướng do một nhóm thợ đảm nhiệm Các bài khóc than và tế trong tang lễ thường có nguồn gốc từ thời công xã nguyên thủy được thực hiện trong lúc đưa linh cữu người chất từ nhà đến huyệt hay trong khi tế linh hồn người chết
Trang 28Trong dòng họ hay trong gia đình người Tày, việc tang lễ là một biểu hiện của mối quan hệ giữa những người đang sống với người đã khuất Xét về hình thức thì tang lễ hay tang ma, ma chay là một hoạt động nghi lễ, tín ngưỡng được tồn tại lâu đời trong tiềm thức, trong quan niệm của họ, song xét về nội dung thì đó lại là công việc đề cao đạo lý làm người ở đời: “ăn quả nhớ k trồng cây’; “uống nước nhớ nguồn” hay nói cách khác thì đó là việc đề cao chữ hiếu, đề cao tình cảm gia đình, tình vợ chồng, cha mẹ con cái và anh chị em -
đề cao tình và nghĩa giữa ngưới sống với người đã khuất
Ngoài ra, khi đề cập đến việc tang lễ thì các nhà nghiên cứu đều gắn nó với tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến người chết Nói đến tôn giáo có nghĩa là chúng ta đã có sự tư duy về hai thế giới: thế giới hiện thực và thế giới phi hiện thực - một thế giới chứa đựng nhiều bí ẩn nhưng lại tồn tại trong tâm thức của đồng bào các dân tộc thiểu số
1.2.2 Đặc điểm nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
1.2.2.1 Nghi lễ tang ma trong đời sống người Tày ở huyện Tràng Định
Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Tày ở Tràng Định cũng có những nghi lễ về việc hiếu rất riêng Việc tổ chức nghi lễ tang ma của người Tày Tràng Định bắt nguồn từ quan niệm, cái nhìn với thế giới quan xung quanh Họ quan niệm trên thế gian này tồn tại ba cõi khác nhau: cõi Trời, cõi Trần, cõi
Âm Cõi Trời là nơi sinh sống của các vị thần, thánh nắm trong tay nhiều quyền lực siêu nhiên và cai quản thế gian, chi phối đến cuộc sống của con người Cõi Trần là nơi ở của con người phàm tục Khi chết đi, linh hồn của con người sẽ rời khỏi thể xác, đi về cõi Âm Cõi Âm là nơi tồn tại, cư trú của các linh hồn và
ma quỷ Người Tày quan niệm thế giới cõi Âm cũng sinh động như ở cõi Trần nên sau khi chết, linh hồn của con người vẫn sẽ có cuộc sống riêng Quan niệm
này chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo về kiếp luân hồi “sống gửi thác về”
của con người
Trang 29Với thế giới quan như vậy cho nên khi trong gia đình có người chết, người Tày tổ chức tang lễ rất cẩn thận Việc tổ chức tang lễ vừa thể hiện tấm lòng hiếu kính của con cháu đối với người đã khuất, vừa thể hiện tín ngưỡng tâm linh của người dân tộc Tang lễ được tổ chức cẩn thận, đủ đầy thì linh hồn của người chết mới siêu thoát, vượt qua được các cửa ải để về cõi âm đoàn tụ với tổ tiên, phù hộ cho con cháu ở trần gian Ngược lại, nếu tổ chức tang lễ sơ sài thì linh hồn người chết sẽ không được siêu thoát, hoặc đi nhầm đường, lạc lối vào những nơi khó khăn, khổ ải…nên sẽ thường xuyên quay về quấy quả con cháu, khiến gia đình ở cõi Trần không yên, có thể thường xuyên ốm đau, hoạn nạn hoặc nghèo khó, làm ăn không thuận lợi…
Để tổ chức được một đám tang chu đáo, đầy đủ, người Tày sẽ mời các thầy Mo, thầy Tào đến để tiến hành các nghi lễ Trong quan niệm của họ, những thầy Mo, thầy Tào chính là những người có khả năng giao tiếp với thần linh, ma quỷ giúp cho linh hồn siêu thoát về thế giới bên kia Những nghi lễ mà thầy Mo, Tào thực hiện mang đầy màu sắc tâm linh, có những yêu cầu, đòi hỏi riêng về mặt cúng lễ ở các giai đoạn khác nhau Gia đình sẽ phải chuẩn bị đủ đầy các điều kiện vật chất, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của các thầy cúng ở mỗi nghi lễ
Tuy nhiên, khi một người thân trong gia đình chết đi, những người khác trong gia đình thường bối rối và đau buồn nên việc chuẩn bị, lo liệu về vật chất
sẽ gặp hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là thời trước do điều kiện kinh tế khó khăn, mọi thứ đều không có sẵn như bây giờ Vì vậy, từ xưa các cư dân Tày đã lập ra các phường, phe để giúp nhau lo việc tang lễ (hội hiếu) Các hộ gia đình ở cùng thôn bản hoặc ở các thôn bản gần nhau sẽ tổ chức thành một phường, bầu ra một người đứng đầu để điều hành công việc Khi có người chết, gia đình sẽ báo đến trưởng phường và trưởng phường sẽ báo đến các thành viên khác để cùng đến giúp tổ chức tang lễ Gia đình sẽ nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của phường về cả vật chất lẫn tinh thần Mỗi thành viên trong phường khi đến nhà
Trang 30đám sẽ mang theo củi, gạo, tiền để đóng góp, đỡ đần kinh tế cho gia đình trong lúc khó khăn, tang gia bối rối, chưa thể lo liệu đầy đủ Ngoài ra, họ sẽ giúp gia đình lo liệu công việc như đi đón thầy cúng, thông báo cho họ hàng, anh em ở
xa, làm nhà táng, khiêng linh cữu đến huyệt…cho đến khi chôn cất xong xuôi lại trở về giúp gia đình chuẩn bị cơm nước để đón tiếp họ hàng, làng xóm đến
ăn cơm phúng viếng, chia s nỗi buồn với gia đình
Đám tang của người Tày bao gồm các nghi lễ chính sau:
- Lễ khâm liệm (ben phợn) và phát tang (khay thiên mòn)
Như vậy, việc tổ chức nghi lễ tang ma là một trong những nghi lễ lớn, quan trọng của người Tày ở huyện Tràng Định Nghi lễ tang ma là một hoạt động tâm linh nhưng cũng là một nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Tày ở huyện Tràng Định cần được giữ gìn và phát huy
1.2.2.2 Khóc than trong tang lễ của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Trong đời sống văn hóa của người Tày ở Tràng Định, khóc than là một hình thức tín ngưỡng độc đáo của dân tộc Đó là lối hát cổ truyền trong đám tang của người Tày từ lâu đã in sâu trong tâm hồn, tình cảm của biết bao người
và được lưu truyền cho con cháu các thế hệ, các dòng họ
Nội dung của những bài khóc than và tế được thể hiện thông qua lời ca
và nhịp trống đã thực sự làm xúc động lòng người Có thể nói toàn bộ nội dung
Trang 31của những bài khóc than đã nói lên được khá rõ mối quan hệ và các cung bậc tình cảm của người sống dành cho người mất, cách ứng xử của các thành viên trong gia đình và xã hội Trước tiên đó thường là tình cảm máu mủ ruột già
Trong một tang lễ, các bài khóc than do các thầy Tào thực hiện chủ yếu là bộc lộ tình cảm tiếc thương của những người đang sống với người đã khuất như tình vợ với chồng, con cái với cha mẹ, cháu với ông bà, anh chị em, tình làng nghĩa xóm…Trong khi hành lễ, con cháu, người thân sẽ có cơ hội để bộc lộ tâm tư tình cảm của mình thông qua lời ca của thầy thực hiện để đưa tiễn người đã khuất
Trong phạm vi đề tài, Chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình ở việc nghiên cứu hệ thống các bài khóc than trong tang ma của người Tày trưởng thành, có đầy đủ gia đình, con cái; không kể đến các đám tang của người chết tr , chết bệnh, chết mất xác, tang ma của các thầy cúng…trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật Từ đó cố gắng khám phá tâm thức của người Tày trong loại hình văn hóa tín ngưỡng này và hi vọng sẽ góp phần vào việc bảo tồn thuần phong mĩ tục, những giá trị văn hóa tín ngưỡng của dân tộc
1.3 Khái quát chung về hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
1.3.1 Thực trạng mai một các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Hiện nay, số lượng các bài khóc than không còn được lưu giữ nhiều, không có văn bản được in hay được ghi chép lại mà chủ yếu qua truyền miệng
và tự học hỏi Mặt khác, trong quá trình giao thoa văn hóa và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa người Kinh nên việc đơn giản hóa hay hiện đại hóa trong tang ma cũng phổ biến (trong nghi lễ, trong lời cúng, trong các lễ vật hay sự giảm thiểu các nghi lễ so với truyền thống…)
Theo thống kê của chúng tôi, tính đến thời điểm tháng 12 năm 2019, ở Tràng Định hiện nay chỉ còn 06 người biết được tương đối đầy đủ nội dung và thực hành khóc than trong tang ma Đó là:
Trang 32- Nghệ nhân Hoàng Thị Hạnh (1952), thôn Bản A, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Nghệ nhân Bế Thị Thủy (1940), Xã Tân Tiến, Huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Nghệ nhân Lương Thị Yêm (1946), thôn Cốc Cưởm, xã Chi Lăng, Huyện Tràng Định, Tỉnh Lạng Sơn
- Nghệ nhân Vy Thị Nhân (1955), thôn Slộc Mạ, xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Nghệ nhân Đinh Thị Hồng (1958), thôn bản Bon, xã Kháng Chiến, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Nghệ nhân Hà Thị Vân (1941), thôn Nà Nghiều, Xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Một số người khác biết song ít thực hành hoặc có sự giảm thiểu/đơn giản hóa trong nghi lễ tang ma, song cũng không nhiều, tập trung chủ yếu vào đối tượng trung và cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) Giới tr hiện nay chỉ nghe hiểu, việc thực hành hầu như không có và còn không đúng [phụ lục 3]
Bà Hoàng Thị Nguyên (Bí thư chi bộ thôn Nà Nghiều, xã Đại Đồng) cho
biết: “khóc than trong đám ma ở đây giờ có còn mấy người biết nữa đâu, trẻ
giờ này càng không biết.”
Ông (Slấy Tào) Lê Văn Giáp (1976), Cho biết: “Rất ít đám tang còn con
cháu biết khóc than theo kiểu truyền thống, một số gia đình phải mời tới nghệ nhân, thậm chí nhiều nhà đã thuê băng khóc sẵn như người Kinh hết rồi”.
Việc tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập các tài liệu liên quan đến các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định đã được nung nấu từ năm 2016 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, hầu
hết những thủ tục trong các nghi lễ tang ma đều đã bị mai một, “hiện đại hóa”
theo thời gian, một trong số đấy là việc khóc ma đã được thay thế bởi hệ thống băng đĩa, phường xướng âm Khi được phỏng vấn, rất ít người (dưới độ tuổi
Trang 3350) trả lời họ còn biết và có khả năng thực hành các bài khóc than một cách bài bản, trôi chảy Đứng trước thực trạng ấy, là một người con của dân tộc Tày, lại
là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THPT, bản thân thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu, sưu tầm, nghiên cứu, văn bản hóa và nếu có thể phải tìm cách thức để đưa vào truyền dạy cho thế hệ tr
Việc nghiên cứu hệ thống các bài khóc than trong tang ma của người Tày
là việc cần thiết, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, song không ít những gian nan
Nếu như việc sinh đ có kì, có cữ, chuyện cưới xin cấp sắc phải tính kĩ ngày tháng cụ thể, rõ ràng thì sự chết chóc là việc do ông trời sắp đặt Có những đám tang chúng tôi may mắn được chứng kiến từ đầu đến cuối, nhưng cũng có những lần chỉ được quan sát từ xa hoặc tham dự một vài nghi lễ cuối của đám tang Hơn nữa khác với việc quan sát, nghiên cứu về các nghi thức, thủ tục tiến hành trong tang lễ, việc nghiên cứu về các bài khóc than đòi hỏi người nghiên cứu phải tiếp cận, tiếp xúc với người khóc than ở cự li đủ gần để có thể nghe,
ghi chép, ghi âm lại Việc “phục kích” để quan sát các phong tục tang ma đã vất vả, thì việc “nằm vùng” để có thể ghi chép, ghi âm các bài khóc than ứng
với từng nghi lễ càng khó khăn gấp bội bởi có những nghi lễ diễn ra lúc rạng sáng, có nghi lễ lại diễn ra vào nửa đêm
Hơn nữa các bài khóc than chỉ được thực hành, diễn xướng trong nghi lễ tang ma, gắn liền trực tiếp với các nghi lễ chính trong tang ma, là một nội dung khá “tế nhị” nên điều kiện để tiếp cận một cách bài bản, hệ thống tương đối hạn
chế Mặt khác hầu hết các nghệ nhân đều đã ở tuổi “thất thập cổ lai hi”, khả
năng ghi nhớ, khả năng nói tiếng Kinh (tiếng Việt) bị hạn chế, cá biệt có nghệ nhân Bế Thị Thủy (1940) chỉ có thể nói được tiếng Tày, không còn khả năng nói năng, trò chuyện bằng tiếng Kinh Trong quá trình tiếp xúc, trò chuyện với các nghệ nhân, các bà các mẹ, họ tỏ ra khá hợp tác và thoải mái khi kể, thống
kê, miêu tả các nghi thức trong tang ma, nhưng khi đề cập đến việc đọc để chép
hoặc ghi âm lại các bài khóc than thì họ đều từ chối Lí do họ đưa ra đó là “đột
Trang 34nhiên đọc lên, nói lên” không thể nhớ ra ngay được, một số cụ nói thẳng lí do:
“các bài khóc than không phải thích đọc lúc nào thì đọc, khóc lúc nào thì khóc,
chúng chỉ được cất lên khi có tang ma mà thôi” Chỉ khi được đặt trong môi
trường tang lễ thì cảm xúc, nỗi lòng mới có thể trào dâng, mới ra được “chất riêng” trong khóc than tang ma của người Tày nơi đây
Chính vì những yếu tố kể trên mà quá trình sưu tầm, văn bản hóa hệ thống các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định của chúng tôi gặp khá nhiều khó khăn Đặc biệt là công việc dịch thuật ra tiếng Kinh bởi người hiểu và có khả năng thực hành thì lại không sõi tiếng Kinh
Những người nói thành thạo tiếng Kinh lại không biết, không hiểu rõ, thậm chí
là không biết đến hệ thống các bài khóc than trong tang ma Việc dịch thuật chủ yếu dựa vào vốn hiểu biết và kinh nghiệm ít ỏi của cá nhân người viết
Qúa trình sưu tầm, văn bản hóa và dịch ra tiếng Kinh (tiếng Việt) chủ yếu được tiến hành bởi hai con đường chính: trực tiếp đến các đám tang nghe, ghi chép, ghi âm và viết lại; chắt lọc, góp nhặt từ những cuốn sổ tay của các bà, các mẹ (theo nghệ nhân Vy Thị Nhân, cuốn sổ tay đã được bà ghi chép, cất giữ
từ năm bà 17 tuổi (năm 1972) - [Phụ lục 4]) Sau khi có được bản ghi âm, một
số bản chép tay của các nghệ nhân và bản ghi chép (từ việc “nằm vùng”), chúng tôi tiến hành văn bản hóa Công việc này gặp phải không ít khó khăn bởi nhiều từ, tiếng trong tiếng Tày không có trong hệ thống chữ cái tiếng Việt,
nhiều từ “đọc một đằng nhưng lại phải viết một nẻo”, hệ thống thanh điệu
trong tiếng Tày cũng không đồng nhất với tiếng Kinh nên việc văn bản hóa (nhất là đánh máy) gặp rất nhiều khó khăn
Việc dịch thuật lại là cả một sự gian nan, bởi dịch các văn bản thông thường bằng tiếng Tày ra tiếng Kinh đã khó, nay lại là dịch các bài khóc trong đám ma, nhiều lớp từ vựng đặc trưng bản thân chưa được nghe tới bao giờ, không tìm thấy trong từ điển Nhiều ngày, chúng tôi phải cầm sổ ghi chép đi
khắp làng để hỏi thăm các bà các cụ, phải “ở lì” nhà của các thầy Tào, các
Trang 35nghệ nhân để nhờ họ cùng dịch Rất nhiều từ, nhiều câu, nhiều bài dịch đi dịch lại 3 đến 4 lần vẫn chưa chính xác, chưa ưng ý Còn nhiều câu, nhiều lời vẫn ở
trong tình trạng “vừa Kinh vừa Tày”, chưa thật sự sát nghĩa, trôi chảy
Vượt qua khá nhiều khó khăn, chúng tôi đã sưu tầm, văn bản hóa và dịch nghĩa được 14 bài khóc than trong vai trò thực hiện là người thân trong gia đình, 04 bài khóc than trong vai trò thực hiện là thầy Tào và đã sắp xếp chúng theo hệ thống
1.3.2 Văn bản các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn [Phụ lục 4]
Tổng hợp từ quá trình ghi chép trực tiếp và hỏi han, phỏng vấn các nghệ nhân, các slấy Tào, các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn có thể sắp xếp thành một hệ thống (theo thứ tự trước sau), gắn với 09 nghi lễ chính trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, lần lượt là:
- Bài 1: Khóc than trong lễ nhập quan gọi là “hảy lượm hòm” Bài khóc được con cháu cất lên trong lúc làm lễ nhập áo quan Trước đó là nghi lễ “khâm liệm” song người Tày kiêng không được khóc bởi quan niệm nếu để nước mắt rơi xuống quần áo người chết thì linh hồn họ sẽ không thể siêu thoát, mãi quanh quẩn trong nhà, cho nên “hảy lượm hòm” là bài khóc chính thức, có bài bản đầu tiên của con của cháu trong tang lễ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa
và đã dịch nghĩa được là 02 lượt lời
- Bài số 2: Khóc than trong nghi lễ dâng cơm cho người chết gọi là “hảy chậư
pjầu ngài” Nghi lễ này diễn ra vào 3 buổi sáng - trưa - tối, liên tục trong tất cả
các diễn ra tang lễ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được là
02 lượt lời
- Bài số 3: Khóc than trong lễ xem đất đặt phần mộ gọi là “ngòi thì phằn” Nghi lễ
diễn ra ở ngoài khu mộ của gia đình hoặc mảnh đất đã được định sẵn để đặt phần
mộ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được là 03 lượt lời
Trang 36- Bài số 4: Khóc than trong lễ dâng hoa đèn của gia đình gọi là “hất tâng” Nghi
lễ diễn ra vào buổi tối đầu tiên của tang lễ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và
đã dịch nghĩa được là 01 lượt lời
Bài số 5: Khóc than trong lễ thành phục gọi là “hảy thành phục” Nghi lễ diễn
ra vào buổi trưa ngày hôm sau của tang lễ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và
đã dịch nghĩa được là 02 lượt lời
- Bài số 6: Khóc than trong lễ tế gọi là “tể họ” Nghi lễ diễn ra vào buổi chiều
hôm sau của tang lễ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được là
04 lượt lời
- Bài số 7: Khóc than trong lễ trao nhà cửa gọi là “mại phàng” Nghi lễ diễn ra
vào buối tối cuối cùng của tang lễ Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được là 04 lượt lời
- Bài số 8: Khóc than trong nghi lễ gọi người chết dậy gọi là “pốc slang/ dục
slang” Nghi lễ diễn ra sáng sớm tinh mơ, trước thời điểm diễn ra nghi lễ xuất
tang Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được là 01 lượt lời
- Bài số 9: Khóc than trong nghi lễ xuất tang gọi là “xít tang/ oóc phi” Đây là bài khóc than cuối cùng trong hệ thống các bài khóc than gắn với các nghi lễ chính trong đám tang Bởi ngay sau đó là nghi lễ hạ huyệt, ở nghi lễ này, người Tày kiêng không khóc Số lượt lời sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được
là 02 lượt lời
Ngoài 9 bài khóc than gắn với 9 nghi lễ chính trong đám tang, còn có bài khóc than tái hiện lại quá trình người con trai đi lấy nước về đun với nước lá
thơm để rửa mặt cho người chết, lau áo quan trước khi tiến hành nghi lễ “lượm
hòm” gọi là “Pây au nặm” Bài khóc than trong lúc mặc áo trắng, thủ tục trước
khi diễn ra nghi lễ thành phục gọi là “nủng slửa khao” Các bài khóc than đáp
lễ bạn bè thân hữu, hai bên thông gia đến phúng viếng gọi là “tóp bạn”, “thông
gia mà viểng” Bài khóc than cảm ơn thầy Tào, hàng xóm láng giềng đã tận tâm
giúp đỡ đưa vong linh của cha mẹ “về nơi an nghỉ cuối cùng” gọi là “Pía công
nghĩa slấy Tào”, “pía công bản khòn” [Phụ lục 2].
Trang 37Trong một số nghi lễ cơ bản, ngoài lời khóc than trong vai trò thực hiện
là con cháu, còn có các bài khóc than trong vai trò thực hiện của thầy Tào
“khóc thay”, “khóc thêm” , góp phần tô đậm ơn nghĩa của người ở lại dành
cho người đã khuất Số bài sưu tầm, văn bản hóa và đã dịch nghĩa được là 04
bài: “Phua mìa” (nghĩa vợ chồng), “chậư ngài” (mời cơm), “cháy pò mè” (khóc
than bố mẹ), “săn cha mà viểng” (thông gia đến viếng) [phụ lục 2]
Qua thống kê, thấy được hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang
ma của người Tày khá phong phú, đa dạng Mỗi một nghi lễ, thủ tục trong tang
lễ đều có bài khóc đi kèm và trở thành một phần không thể thiếu trong mỗi đám tang Đây là điều làm nên nét riêng biệt và độc đáo của tang ma người Tày so với các dân tộc khác trên địa bàn
Điểm khác biệt lớn nhất về nội dung của các bài khóc than trong tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn so với các dân tộc khác trên địa bàn đó là các bài khóc than gắn liền trực tiếp với các nghi lễ chính trong tang ma, được sắp xếp bài bản thành một hệ thống trước sau không thể tách rời
Với người Kinh, tiếng khóc được thay cho việc phúng điếu, thể hiện tấm lòng thành, là một hình thức “báo danh” với người mất của con cháu và người thân khi đến viếng; là hành động đáp lễ của các con cháu trong nhà khi có người đến viếng chứ dường như không có bài bản, không có hệ thống văn bản và tách rời với các nghi lễ chính trong tang lễ Trong tang ma của người Dao Đỏ hầu như không có các bài khóc than, con cháu chủ yếu thể hiện tình cảm dành cho cha
mẹ bằng hành động quỳ, lạy
Tiểu kết chương 1
Qua nghiên cứu, mảnh đất vùng cao biên giới Tràng Định là nơi hội tụ của đa dân tộc và đa màu sắc văn hóa Trong đó nghi lễ tang ma của người Tày huyện Tràng Định sẽ là một nét văn hóa độc đáo góp phần làm phong phú và đẹp thêm những màu sắc đó Nghi lễ tang ma được tổ chức chu đáo gắn với
Trang 38những đặc trưng riêng của dân tộc Tày nơi đây Đó là sự tổng hợp các quy tắc ứng xử mang tính nhân văn của người sống với người chết, của cá nhân với cộng đồng Nghi lễ tang ma tồn tại trong đời sống văn hóa - xã hội và đời sống tâm linh của người Tày như một tín ngưỡng không thể thiếu Việc tổ chức nghi
lễ tang ma đã vượt qua khuôn khổ của việc cúng bái theo nghi lễ trở thành một tín ngưỡng, một nét bản sắc văn hóa của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Cùng với những nét đắc sắc về nghi lễ, những hình thức diễn xướng đầy sinh động, hấp dẫn thì một yếu tố không thể không nhắc tới đó là các bài khóc than được người Tày sử dụng trong tang lễ Chúng gắn liền trực tiếp và trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu trong các nghi lễ chính của đám tang
Qua quá trình sưu tầm, nghiên cứu, văn bản hóa và dịch nghĩa, chúng tôi
đã sắp xếp chúng thành một hệ thống gồm 9 bài khóc than gắn liền với 9 nghi
lễ chính trong lễ tang của người Tày ở huyện Tràng Định Ngoài ra còn một số
các bài khóc than “đáp lễ” của gia chủ khi có anh em bạn bè, hàng xóm láng
giềng, các cơ quan đoàn thể đến phúng viếng Đây sẽ là những cứ liệu quan trọng để chúng tôi nghiên cứu ở các chương tiếp theo
Trang 39Chương 2 CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÀNG ĐỊNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Văn hóa tâm linh của người Tày trong các bài khóc than
2.1.1 Quan niệm về cõi sống, cõi chết
Trong hệ thống chu kỳ đời người, tang ma được coi là nghi lễ cuối cùng dành cho một con người với nhiều nghi lễ được tổ chức cẩn trọng và tỉ mỉ, thể hiện được nhiều giá trị đặc trưng văn hóa của tộc người
Thông qua các bài cúng của thầy Tào và hệ thống các bài khóc than
trong nghi lễ tang có thể thấy: Người Tày quan niệm “thế giới gồm có hai cõi:
cõi Trời, cõi Trần” Ở cả hai cõi đều có sông, suối, núi, đồi, cây, cỏ, làng bản,
con người và có cuộc sống riêng của từng cõi
Cõi trời là thế giới của người đã khuất Với người Tày, việc người thân mất
đi đồng nghĩa với việc rời xa cõi trần để lên cõi trời cùng với ông bà tổ tiên:
Mè quy tiên mừa tàng phạ
Mè quy tiên mừa tàng bân
Dú đuối mé chựa, mé chòi
Mẹ quy tiên về đường trời
Mẹ quy tiên về đường âm
Về ở với ông bà, tổ tiên
( )
Ở thế giới bên kia, họ sinh sống trong những ngôi nhà làm bằng hoa,
bằng bạc (slườn va, slườn bjóoc), ăn hương ăn hoa thay bữa; mặc áo bạc, áo
giấy (slửa va, slửa chỉa), dùng bát bạc, đũa hoa (thủi va, thú bjóoc) Trong hầu hết các bài khóc than đều khẳng định cõi trần và cõi trời được liên kết bởi con
đường hoa, con đường gió (mè tê phjải lò bjoóc sin nền, phjải lò lồm siêu hí)
Mè tê căm chúp bây mừa tàng phạ
Mè cẳm nả bây mừa bân
Mè tê phjải lò bjoóc sin nền, phjải lò lồm siêu hí
Mè tê kin nặm bjoóc, nặm dương tang ngài
Mè tê mừa đuổi phò oóc mè mì
Mè liền cầm nón đi về đường trời
Mẹ cúi mặt đi về đường âm
Mẹ đi theo đường hoa, đường gió suốt đời
Mẹ ăn hương, ăn hoa thay bữa
Mẹ về với ông bà tổ tiên
( )
Trang 40Lời khóc than cho thấy quan niệm về “cõi chết” của người Tày khá đặc biệt, nơi đây hoàn toàn không phải không gian đáng sợ, ghê rợn như quan niệm
của người Kinh về cõi chết với “gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương,
những con quỷ Dạ Xoa mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác, những ngục Cửu
U tối tăm…” [11, tr 58] mà là một không gian thơ mộng với “con đường hoa”,
“con đường gió”, là nơi an lành, thanh tịnh với những bữa cơm mà thức ăn là
hương là hoa và đồ dùng là bát bạc, đũa hoa
Trong tâm thức của người Tày thì “trần sao thì âm vậy” Khi lìa xa cõi
trần đến với cõi trời, về với ông bà tổ tiên thì các linh hồn vẫn có một cuộc sống sinh hoạt riêng, vẫn hàng ngày làm lụng, ăn uống và duy trì các mối quan
hệ trong gia đình, ngoài xã hội vì thế họ sẽ cố hết sức để dâng lên người chết những mâm lễ tươm tất nhất, mong sao khi về thế giới bên kia các linh hồn
được bằng bạn bằng bè “sle mè quy tiên mừa tàng phạ đảy tồng hâư, sle mè quy
tiên mừa tàng phạ tồng pậu”:
Cúa cái lục au hử mè tọn đo Bâm bàn lục au hử mè tọn thuổn Tọn háp bố lám slắc ăn
Tọn bâm bố lắm sl ắc nghé Cúa cái mè tọn đo
Bâm bàn mè tọn thuẩn Hâu dự mè bố khai
Au đai mè mí hử
Au mừa kin lai vằn lai tón
Của cải con dâng lên mẹ hãy lấy đủ Mâm lễ con kính mẹ hãy lấy hết Dọn quang gánh không thừa cái nào Dọn mâm lễ không thừa cái nào
Đồ đạc mẹ hãy dọn (lấy) đầy đủ Mâm lễ mẹ hãy dọn lấy hết Người ta mua mẹ không bán Lấy không mẹ không cho Lấy về ăn nhiều ngày nhiều bữa
Với người Tày, “cõi âm” cũng có đời sống tinh thần, đời sống vật chất giống với cõi trần, chính vì vậy trong quá trình tiến hành các nghi lễ, họ sẽ sắm sửa và dâng lên người chết thật nhiều đồ cúng mong họ sẽ nhận được hết, lấy
hết “không thừa cái nào” để về thế giới bên kia đủ “ăn nhiều ngày nhiều bữa”
và có một cuộc sống thật no đủ, yên ấm, an lành