LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Hình tượng nhân vật phụ nữ trong hai tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh” là công trìn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
HOÀNG THỊ HẠNH
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG HAI TIỂU THUYẾT
MẪU THƯỢNG NGÀN CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ KIM LĂNG THẬP TAM THOA CỦA NGHIÊM CA LINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
HOÀNG THỊ HẠNH
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG HAI TIỂU THUYẾT
MẪU THƯỢNG NGÀN CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ KIM LĂNG THẬP TAM THOA CỦA NGHIÊM CA LINH
Ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hình tượng nhân vật phụ nữ trong hai tiểu thuyết
Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm
Ca Linh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự giúp đỡ khoa học của TS
Hoàng Thị Thập
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được công
bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc tới TS Hoàng Thị Thập, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè những người
đã luôn ở bên động viên, khích lệ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC SO SÁNH, HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA HAI NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ NGHIÊM CA LINH 9
1.1 Khái niệm văn học so sánh và khái niệm hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học 10
1.1.1 Khái niệm văn học so sánh 10
1.1.2 Khái niệm hình tượng nhân vật 12
1.2 Hai nhà văn: Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh 14
1.2.1 Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm Mẫu thượng ngàn 14
1.2.2 Nhà văn Nghiêm Ca Linhvà tác phẩm Kim Lăng thập tam thoa 20
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 29
2.1 Nhân vật phụ nữ - hiện thân của bất hạnh 29
2.2 Nhân vật phụ nữ - hiện thân của khát khao hạnh phúc 41
2.3 Nhân vật phụ nữ và nữ quyền 45
Tiểu kết chương 2 55
Trang 6Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG
ĐỐI SÁNH 56
3.1 Nhân vật phụ nữ qua ngoại diện 57
3.2 Nhân vật phụ nữ qua hành động 64
3.3 Nhân vật phụ nữ qua lời văn nghệ thuật 72
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1.1 Nguyễn Xuân Khánh là một trong những nhà văn được coi là “cây đại thụ”
của nền văn học Việt Nam đương đại Trên văn đàn Việt Nam hiện nay, ông không chỉ
là một nhà văn mà còn là một dịch giả nổi tiếng Ông cũng được đánh giá cao về ý thức
tự học Năm 2018, ông nhận được giải thưởng Thành tựu văn học trọn đời Hiện tại,
Nguyễn Xuân Khánh là nhà văn thu hút sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu
Nghiêm Ca Linh là một trong những nhà tiểu thuyết nổi tiếng của nền văn học đương đại Trung Quốc Tên tuổi của bà gắn với những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng được viết bằng tiếng Anh, tiếng Trung Quốc Bên cạnh đó, bà còn sáng tác truyện ngắn, kịch, tiểu luận Với sự nỗ lực và sáng tạo không ngừng, cho đến nay, bà đã giành được khoảng 30 giải thưởng văn học và kịch bản điện ảnh Các sáng tác của Nghiêm Ca Linh
đã được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Hà Lan, Anh, Pháp, Đức, Nhật,
Bồ Đào Nha Hiện nay, bà là cây bút nữ có tầm ảnh hưởng lớn trên văn đàn với nhiều tác phẩm có giá trị
1.2 Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh thường được nhắc đến với bộ ba tiểu thuyết
Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa Trong đó, Mẫu thượng ngàn là cuốn tiểu thuyết tiêu biểu, đem lại tiếng vang lớn cho nhà văn Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn được viết lần đầu năm 1958 với tên tiền thân Làng nghèo Làng nghèo ra đời đánh
dấu bước ngoặt lớn trong sự thay đổi cách nhìn nhận của Nguyễn Xuân Khánh về xã
hội bấy giờ Vì lẽ đó, cuốn tiểu thuyết Làng nghèo không được xuất bản, chỉ còn được
giữ lại bằng bản thảo Sau này, vào năm 2005, ông mới có cơ hội viết lại, với những vấn đề được mở rộng hơn, mang tầm khái quát cao hơn Đây là tác phẩm khá quan trọng của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
Cũng như Nguyễn Xuân Khánh, Nghiêm Ca Linh thành công ở thể loại tiểu thuyết Bà có năm tiểu thuyết nổi tiếng, trong đó có hai tiểu thuyết đã được dịch ở Việt
Nam đó là Chuyện của Tuệ Tử và Kim Lăng thập tam thoa Kim Lăng thập tam thoa là
cuốn tiểu thuyết duy nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nghiêm Ca Linh viết về đề tài chiến tranh Tác phẩm đã được chuyển thể sang điện ảnh và rất thành công Ngay khi
ra đời bộ phim lập tức được đón chào nồng nhiệt tại thị trường Bắc Mĩ Kim Lăng thập
Trang 8tam thoa được độc giả và giới nghiên cứu đánh giá cao ở cả nội dung và nghệ thuật Chỉ
riêng tác phẩm này cũng làm nên tên tuổi của nhà văn Nghiêm Ca Linh
1.3 Đề tài người phụ nữ không phải là đề tài mới mẻ Trong lịch sử văn học, từ
văn học dân gian cho đến văn học hiện đại đề tài người phụ nữ là một trong những đề tài được quan tâm nhất Trong các tác phẩm viết về chiến tranh, nhân vật người phụ nữ luôn là tâm điểm gánh chịu những nỗi đau, mất mát không chỉ về vật chất mà cả tinh thần Các nhà văn phản ánh số phận của họ đồng thời cũng nói lên khát vọng về quyền
sống, quyền bình đẳng Trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh
và tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh, cả hai nhà văn đã góp
thêm tiếng nói ấy trong việc thể hiện hình tượng người phụ nữ có thêm nghị lực để đấu tranh cho “quyền” của mình Cả hai nhà văn đã kế thừa đề tài người phụ nữ Trong hai
cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn và Kim Lăng thập tam thoa, điểm gặp gỡ giữa
Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh đó là cùng quan tâm tới những vấn đề của người phụ nữ Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh đều có cái nhìn sắc sảo và tinh
tế về những xung đột tinh thần, những trăn trở, khao khát của người phụ nữ Tuy nhiên,
có thể từ nền tảng văn hóa, xã hội, cá tính sáng tạo khác nhau nên trong cái nhìn của
họ vẫn có điểm nhìn riêng khác biệt
1.4 Văn học so sánh là một hệ thống lý thuyết có ý nghĩa quan trọng Nó cho
phép các nhà nghiên cứu văn học khám phá tìm ra sự ảnh hưởng hoặc tương đồng để tìm
ra giá trị thẩm mĩ của các tác phẩm văn học Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh sinh trưởng ở hai quốc gia có nền văn hóa khác nhau, nhưng hai nhà văn lại gặp gỡ ở sự
cảm nhận khi viết về hình tượng nhân vật phụ nữ trong Mẫu thượng ngàn và Kim Lăng thập tam thoa So sánh tác phẩm của hai nhà văn sẽ giúp người đọc có thêm một cách đọc
mới trong sự đối sánh
Tuy tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh chưa được đưa vào chương trình dạy học ở Việt Nam nhưng tìm hiểu văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc hiện đại không thể không tìm hiểu về hai nhà văn này Lựa chọn nghiên cứu hình
tượng nhân vật phụ nữ trong hai tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh
và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh, chúng tôi hướng đến khám phá giá
trị thẩm mĩ của hai tác phẩm trên trong sự so sánh
2 Lịch sử vấn đề
Trang 92.1 Tình hình nghiên cứu hình tượng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh xuất hiện trên văn đàn vào khoảng những năm 50 của thế kỉ XX Đây là chặng đường mới của nền văn học Việt Nam Kể từ khi tác phẩm
Mẫu thượng ngàn ra đời năm 2005, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thân thế,
sự nghiệp, tác phẩm của nhà văn Các công trình đó đều khẳng định những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh vào công cuộc hiện đại hóa nền văn học Chúng tôi đã thu thập được mười hai công trình nghiên cứu Chúng tôi sẽ điểm qua một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài
Trước hết là bài viết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, nhìn từ lí thuyết đám đông (2012, Khoa KHXH & NV, Trường Đại học Hùng Vương) của Nguyễn Văn
Ba Trong bài viết này, tác giả bài viết đã chỉ ra, trong Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân
Khánh không xây dựng nhân vật mang tính cách điển hình mà là sự hội tụ để làm nên một nét khái quát của một nhóm, nhân vật đám đông Về cơ bản Nguyễn Văn Ba đề cập đến vấn đề phụ nữ, Nguyễn Văn Ba có một số phân tích đánh giá về người phụ nữ Theo Nguyễn Văn Ba dù các nhân vật có tính cách riêng nhưng đều được đặt trong không khí chung của cộng đồng Tất cả nhân vật nam ở làng Kẻ Đình đều có sự phụ thuộc ngẫu nhiên, thậm chí như một sự lệ thuộc vào hệ thống nhân vật nữ - những con người đã hình tượng hóa trở thành biểu tượng Mẫu Hay nói cách khác nhân vật nữ trở thành trung tâm của làng Cổ Đình
Ngày 10 tháng 8 năm 2006, trên trang VTCnews, Nguyễn Lan Anh có cuộc phỏng
vấn nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Tiêu đề cuộc phỏng vấn: Nguyễn Xuân Khánh gác bút sau Mẫu thượng ngàn Cuộc phỏng vấn đó có nhiều câu hỏi xoay quanh quá trình
ra đời của tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn Trong các câu trả lời của Nguyễn Xuân Khánh
ông đã giải thích rõ về quá trình ra đời của tác phẩm Ông cho biết ban đầu tiểu thuyết
có tên Làng nghèo được ông viết năm 1958 nhưng chưa được xuất bản Về sau cái tên Làng nghèo không còn hợp thời nên ông đã sửa lại, đẩy không gian thời gian trong tác
phẩm khác đi từ cuốn tiểu thuyết viết về kháng chiến thành cuốn tiểu thuyết về văn hóa
Việt Nam, với tên Mẫu thượng ngàn Căn cứ vào những thông tin trong cuộc phỏng
vấn, chúng tôi thấy rằng nhà văn cũng đã đề cập đến nhân vật người phụ nữ Trong đó, những nhân vật phụ nữ được xây dựng trên nguyên mẫu những người có thật Và hình
Trang 10tượng nhân vật phụ nữ ở Mẫu thượng ngàn chính là hiện thân của những con người có
thực bắt nguồn từ những người đàn bà ở làng ông thuở xưa - làng Kẻ Noi, Cổ Nhuế
Ngày 18 tháng 3 năm 2007, trên Báo Tiền Phong có đăng nội dung cuộc phỏng vấn của nhà văn Văn Chinh với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Cuộc phỏng vấn có tựa
đề: Nơi bắt đầu Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Nội dung cuộc phỏng vấn
này khá giống với cuộc phỏng vấn của Nguyễn Lan Anh đã đưa ra trên kia Trong cuộc
phỏng vấn này, Nguyễn Xuân Khánh cũng giải thích nguồn gốc và sự ra đời tác phẩm
Tuy nhiên cuộc phỏng vấn đi sâu khai thác những vấn đề cảm hứng sáng tác, sự đánh giá của chính Nguyễn Xuân Khánh về tác phẩm của mình Nhà văn Nguyễn Xuân
Khánh đã lý giải chất hiện thực trong tác phẩm, đó chính là một phần cuộc sống lam lũ
của chính ông được ông đưa vào trong tác phẩm Khi nhà văn Văn Chinh hỏi về những
cái được và chưa được của Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh trả lời: Cái được của Mẫu thượng ngàn là dù trải qua bao gian nan thì vẫn được tái sinh trên nền của bản thảo cũ - Làng nghèo Qua cuộc phỏng vấn này chúng tôi thấy, nhà văn đã hé mở về bút pháp của mình Trong Mẫu thượng ngàn, ông đã viết bằng thi pháp hiện đại Vì
vậy qua tác phẩm, độc giả thấy được cái hồn Việt được đựng trong các mô tip dân gian
Nhà văn cũng nói về điều mà ông chưa thật sự hài lòng Ông cho rằng tác phẩm Mẫu thượng ngàn của ông còn nhiều chỗ dài dòng đến quê mùa
Ngày 18 tháng 12 năm 2012, trên trang Viện Văn học đăng tải bài viết: Những miền mơ tưởng mẫu tính và nữ tính vĩnh hằng trong Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (một tiếp cận từ lí thuyết cổ Mẫu) do Nguyễn Quang Huy viết Trong bài
viết này, Nguyễn Quang Huy đã tập trung nghiên cứu viết về những biểu tượng của Mẫu Nguyễn Quang Huy đã khái quát về biểu tượng Mẫu theo hướng tiếp cận lí thuyết
cổ Mẫu Theo Nguyễn Quang Huy trong tác phẩm này Mẫu hóa thân vào trăng, hang
đá, nước, rừng; Mẫu mang những phẩm tính huyền diệu của người mẹ; trong Mẫu thượng ngàn, các nhân vật trải qua những trải nghiệm tất cả đều quy hướng về phía
Mẫu
Năm 2013, xuất hiện luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Hương (Trường Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội) đã nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết Mẫu thượng ngàn và tiểu thuyết Đội gạo lên chùa Luận văn có tên: Nghệ thuật
tự sự trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh
Trang 11Tác giả luận văn đã tập trung nghiên cứu về các phương diện nghệ thuật tự sự trong hai tác phẩm: nhân vật, kết cấu, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu Từ đó khẳng định thành công của nhà văn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Theo Nguyễn Thu Hương, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong hai tiểu thuyết được ông xây dựng với nhiều thủ pháp mới mẻ, nhưng nhìn chung vẫn là theo lối truyền thống Theo tác giả luận văn, cái mới quan trọng nhất của Nguyễn Xuân Khánh là mới về tư tưởng, phần tư tưởng phóng khoáng và có ý nghĩa thời cuộc Qua luận văn của Nguyễn Thu Hương giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh, đồng thời cũng thấy được những nét văn hóa Việt đang được lưu giữ và phát huy
Năm 2013, khóa luận tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thị Phương Lan (Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2) đã nghiên cứu về nhân vật nữ trong Mẫu thượng ngàn
Khóa luận có tên: Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Tác giả khóa luận đã tập trung nghiên cứu về nhân vật nữ trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn Từ đó tác giả chỉ ra đặc điểm của nhân vật nữ trong tác phẩm Theo Nguyễn Thị Phương Lan, nhân vật nữ trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn là những nhân vật xinh
đẹp, mang sức sống, sự tái sinh Dù họ có số phận bất hạnh nhưng luôn có tâm hồn thánh thiện, tình yêu thương Theo tác giả luận văn, các nhân vật nữ giống như một biểu tượng để nhân vật thể hiện thái độ trân trọng đối với văn hóa dân tộc Tác giả khóa luận
đã đánh giá cao Nguyễn Xuân Khánh bởi nhà văn đã góp phần hoàn thiện thêm về bức tranh người phụ nữ trong văn học Việt Nam
Năm 2016, khóa luận tốt nghiệp đại học của Vũ Thị Thảo (Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2) đã nghiên cứu về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn
Khóa luận có tên: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Tác giả khóa luận đã tập trung nghiên cứu về nhân vật và nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tiểu thuyết Theo tác giả luận văn, các kiểu nhân vật trong Mẫu thượng ngàn gồm: nhân vật nữ, nhân vật xâm lược và nhân vật tâm linh Các kiểu nhân vật đó được nhà văn Nguyễn Xuân Khánh tập trung xây dựng qua miêu tả ngoại hình, biểu hiện tâm lí và tâm linh Qua đó, tác giả luận văn khẳng định tài năng của Nguyễn
Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Mẫu thượng ngàn
Trang 122.2 Tình hình nghiên cứu về hình tượng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa
Đánh từ khóa Nghiêm Ca Linh trên google, trong ba giây xuất hiện 24.900 kết quả liên quan đến Nghiêm Ca Linh Điều đó chứng tỏ Nghiêm Ca Linh và tác phẩm của bà được bạn đọc, giới nghiên cứu quan tâm Nhưng vì trình độ ngoại ngữ có hạn, chúng tôi chưa thể bao quát được toàn bộ các tài liệu Tại Việt Nam, Nghiêm Ca Linh
là nhà văn còn khá xa lạ với độc giả Năm 2012, qua bản dịch của Lê Thanh Dũng
người đọc mới có cơ hội tiếp cận với tác phẩm Kim Lăng thập tam thoa Từ đó đến
nay, mới chỉ có một số ít bài viết mang tính giới thiệu về tác giả Nghiêm Ca Linh và tác phẩm của bà Chúng tôi xin điểm qua những tài liệu mà chúng tôi thu thập được
Ngày 1 tháng 3 năm 2012, trên tạp chí điện tử VnExpress có đăng tải bài viết của
Thành Lê với tiêu đề: Xuất bản Kim Lăng thập tam thoa tại Việt Nam Trong bài viết này Thành Lê giới thiệu khái quát nội dung cuốn tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa
và tác giả Nghiêm Ca Linh Theo đánh giá của Thành Lê, tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa là cuốn tiểu thuyết duy nhất của Nghiêm Ca Linh viết về chiến tranh Mặc dù
viết về chiến tranh, nhưng bà không đi khoét sâu nỗi đau lịch sử mà tập trung thể hiện
sự chiến thắng cái thiện với cái ác bên trong của người phụ nữ Các cô gái điếm họ bị coi là cặn bã của xã hội nhưng họ đã tự vượt qua ranh giới đàn bà thường ích kỉ nhỏ nhen, họ biết trả nhưng gì không thuộc về mình: nơi ở, lương thực Hơn hết, họ dám
hy sinh bản thân mình để cứu các em nữ sinh khỏi sự tàn bạo của lính Nhật Về nhà văn Nghiêm Ca Linh, bà là nhà văn Trung Quốc, sinh sống tại Mĩ Bà sáng tác trên nhiều thể loại: tiểu thuyết, tiểu luận và kịch bản Cho đến nay bà đã giành được khoảng
ba mươi giải thưởng trên cả lĩnh vực văn học lẫn điện ảnh Các tác phẩm của bà luôn thu hút sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu
Năm 2018, xuất hiện khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Ngữ văn của
Lục Thị Đoài trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Khóa luận có tên là Quan niệm nghệ thuật về người phụ nữ trong tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh Trong khóa luận của mình, Lục Thị Đoài đã tập trung tìm hiểu, phân tích Kim Lăng thập tam thoa ở một phương diện cơ bản nhất của một tác phẩm văn học, đó là
vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Lục Thị Đoài đã chỉ ra đặc điểm người phụ
Trang 13nữ để thấy được quan niệm của nhà văn: dù xuất thân ở địa vị sang - hèn, sống trong
xã hội bất công, người phụ nữ luôn bị chà đạp thì người phụ nữ càng khao khát sống với một sức sống mãnh liệt Theo Lục Thị Đoài, Nghiêm Ca Linh đã có quan niệm rất xác đáng về con người: con người bất khả chiến bại
Nghiên cứu lịch sử vấn đề Hình tượng nhân vật phụ nữ trong hai tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh, chúng tôi nhận thấy:
1/ Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh trong đó có công trình viết về nhân vật người phụ nữ nhưng
chưa đặt nhân vật phụ nữ ở tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn trong sự so sánh với nhân vật phụ nữ ở tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa
2/ Về tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh, ở Việt Nam, đã
có công trình nghiên cứu về nhân vật phụ nữ, song mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật Chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh về hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm kể trên
Dù các tài liệu chúng tôi thu thập được còn khá hạn chế, nhưng kết quả của các công trình đó đều là cơ sở cho chúng tôi định hướng triển khai đề tài Những phát hiện khoa học của các nhà nghiên cứu sẽ được chúng tôi kế thừa, đồng thời mở rộng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Với đề tài này, chúng tôi hướng đến:
1/ Khám phá giá trị thẩm mĩ của hai tác phẩm Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) và Kim Lăng thập tam thoa (Nghiêm Ca Linh) từ lý thuyết văn học so sánh
2/ Từ đó khẳng định thêm những đóng góp của hai nhà văn ở thể loại tiểu thuyết, khẳng định đóng góp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 141/ Làm rõ những vấn đề lý thuyết về văn học so sánh, hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học; tìm hiểu về thời đại, cuộc đời, con người, sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh
2/ Khảo cứu, so sánh hình tượng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh từ
phương diện nội dung
3/ Khảo cứu, so sánh hình tượng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh từ
phương diện nghệ thuật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Với đề tài Hình tượng nhân vật phụ nữ trong hai tiểu thuyết Mẫu thượng
ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm Ca Linh, đối
tượng nghiên cứu của chúng tôi là hình tượng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh trong sự so sánh tương đồng và khác biệt
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Văn học so sánh có hai hướng nghiên cứu là so sánh ảnh hưởng và so sánh tương đồng Chúng tôi tập trung theo hướng nghiên cứu so sánh tương đồng; cụ thể là so sánh chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của hình tượng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết
Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của Nghiêm
Ca Linh cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
- Phạm vi khảo sát:
Thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung khảo cứu trên các văn bản:
+ Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Nxb Phụ nữ, xuất bản năm 2006
+ Kim Lăng thập tam thoa (Nghiêm Ca Linh), bản dịch của Lê Thanh Dũng, Nxb
Văn học, xuất bản năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp:
Trang 15- Lý thuyết văn học so sánh: Hệ thống lý thuyết này giúp chúng tôi khám phá giá trị của tác phẩm trong sự tương đồng
- Phương pháp xã hội học: để thấy được những ảnh hưởng của xã hội chi phối sự tương đồng và khác biệt trong cái nhìn về nhân vật phụ nữ của hai nhà văn trong sáng tác của mình
- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: giúp chúng tôi tìm hiểu cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư của nhà văn Dùng yếu tố tiểu sử của nhà văn để lý giải tác phẩm văn học của nhà văn
- Phương pháp liên ngành: phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu giá trị của các tác phẩm văn học trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác văn hóa, lịch sử
để đánh giá tác phẩm một cách khách quan toàn diện hơn
Trong đề tài, chúng tôi đồng thời sử dụng các thao tác cơ bản trong nghiên cứu:
thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, so sánh…
6 Đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên ở Việt Nam tiếp cận hình tượng nhân vật phụ nữ trong
tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa của
Nghiêm Ca Linh bằng phương pháp luận văn học so sánh Luận văn góp thêm tiếng nói vào việc tìm hiểu vấn đề hình tượng nhân vật phụ nữ qua hai tác phẩm văn học của Việt Nam và Trung Quốc; đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học ngành Ngữ văn nói riêng, khoa học xã hội nhân văn nói chung và giáo viên trường phổ thông quan tâm đến lĩnh vực văn học so sánh
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, gồm ba chương:
Chương 1: Khái lược về văn học so sánh, hình tượng nhân vật và sự hiện diện của hai nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh
Chương 2: Hình tượng nhân vật phụ nữ nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ trong Kim Lăng thập tam thoa
và Mẫu thượng ngàn trong sự đối sánh
Trang 16Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC SO SÁNH, HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA HAI NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ
NGHIÊM CA LINH
1.1 Khái niệm văn học so sánh và khái niệm hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học
1.1.1 Khái niệm văn học so sánh
Trên thế giới hiện nay, văn học so sánh đã trở thành một bộ môn trong các trường đại học ở hầu hết các nước phương Tây Đây là bộ môn đã tồn tại hơn một trăm năm
Năm 1886, nhà nghiên cứu văn học người Anh - Macauly Ponestt đã cho ra mắt công
trình tổng hợp đầu tiên về lịch sử văn học thế giới mang tên Văn học so sánh
(Comparative Literature) đánh dấu sự hình thành chính thức của bộ môn văn học so sánh với tư cách là một bộ môn độc lập Sau đó lan rộng và trở nên sôi động hơn ở các nước: Pháp, Đức, Anh, Mĩ, Thụy Sĩ, Italia
Cho đến nay, văn học so sánh đã có hàng trăm quan niệm, định nghĩa khác nhau
Dường như mỗi trường phái, mỗi nhà nghiên cứu liên quan đến ngành khoa học mới này đều định nghĩa về nó Bên cạnh những nét tương đồng, những định nghĩa về văn học so sánh cũng có nét khác biệt khi tìm hiểu cắt nghĩa khái niệm Định nghĩa đầu
tiên: Văn học so sánh - một cái nhãn hiệu ước lệ và không được minh xác cho lắm - thường được hiểu là một xu hướng hay một ngành nhất định nghiên cứu về văn học bao gồm sự nghiên cứu có hệ thống về những tập hợp (văn học) có tính chất siêu dân tộc [15, tr 10] Định nghĩa ban đầu về văn học so sánh chưa được phổ biến rộng rãi,
mới chỉ là một ngành hay một xu hướng nghiên cứu trong văn học mang tính chất dân tộc Khái niệm này đã bó hẹp phạm vi của văn học so sánh
Tại Việt Nam, văn học so sánh bước đầu đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhưng vẫn chưa có chỗ đứng xứng đáng Ở nước ta, bộ môn văn học so sánh vẫn chưa được thành lập tại các trường đại học Cho đến nay, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn chưa phân biệt rõ ràng văn học so sánh với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập với so sánh văn học với tư cách là một phương pháp
Trang 17Năm 1974, trường Đại học Sư phạm Vinh đã xuất bản cuốn Thuật ngữ nghiên cứu văn học, coi văn học so sánh là “một trường phái nghiên cứu văn học theo quan
điểm tư sản chuyên nghiên cứu những mối liên hệ văn học quốc tế, xuất hiện vào nửa đầu thế kỉ XIX, phát triển vào nửa sau thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX, ngày nay đang ngày càng đi vào con đường hình thức chủ nghĩa, duy tâm và phản động” [27, tr
369] Trong khái niệm trên, văn học so sánh được coi là một trường phái văn học chuyên nghiên cứu mối liên hệ văn học quốc tế theo quan điểm tư sản Đây là trường phái xuất hiện từ nửa đầu thế kỉ XIX nhưng chỉ phát triển trong thời gian ngắn Đến nay khái niệm chưa thực sự thuyết phục giới nghiên cứu
Trong bài báo Văn học dịch và những vấn đề lý luận của văn học so sánh (Tạp chí văn học, năm 1979) tác giả Trương Đăng Dung đã khẳng định: “Văn học so sánh
là một ngành khoa học của văn học, có nhiệm vụ nghiên cứu những mối quan hệ qua lại cũng như những điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học Cái đích lớn nhất của văn học so sánh là tiếp cận tiến trình của văn học thế giới” [28]
Trong cuốn Lý luận văn học so sánh (2011), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
Nguyễn Văn Dân căn cứ vào quá trình thực tiễn hình thành đối tượng của văn học so sánh đã đưa ra định nghĩa như sau: “Văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc [hay các nền văn học quốc gia]” [6, tr 21] Mối quan hệ đó không chỉ là mối quan hệ tiếp xúc trực tiếp, mà còn
để chỉ các mối quan hệ đồng đẳng giữa các hiện tượng tương đồng, còn để chỉ cả những mối tương quan độc lập giữa các hiện tượng khác biệt đặc thù của các nền văn học dân tộc khi chúng được đem ra so sánh để giải quyết một vấn đề của văn học hay của lịch
sử - xã hội Văn học so sánh được hiểu với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập chứ không phải là một phương pháp so sánh văn học Văn học so sánh không chỉ là các mối quan hệ trực tiếp, các điểm tương đồng ngoài quan hệ trực tiếp mà nó còn chỉ ra các điểm khác biệt độc lập để tìm ra giá trị thẩm mĩ
Như vậy, định nghĩa về văn học so sánh của các nhà lí luận có những chỗ không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, các nhà lí luận đều chỉ ra văn học so sánh là bộ môn nghiên cứu văn học, một ngành khoa học độc lập, có đối tượng, mục đích, phương pháp luận riêng Từ những định nghĩa văn học so sánh trên, chúng tôi lựa chọn quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân: Văn học so sánh là tên gọi của một hệ phương
Trang 18pháp luận, không chỉ cho phép người nghiên cứu so sánh các hiện tượng văn học ở các quốc gia khác nhau theo quan hệ giao lưu ảnh hưởng hay so sánh văn học theo quan hệ tương đồng, mà còn cho phép người nghiên cứu so sánh giữa các điểm khác biệt để giải quyết một vấn đề chung của văn học hay lịch sử - xã hội
Như vậy hướng nghiên cứu của chúng tôi không phải là so sánh ảnh hưởng mà là
so sánh tương đồng Những căn cứ trên là cơ sở lý thuyết để chúng tôi nghiên cứu, so sánh tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh ở phương diện hình tượng nhân vật phụ nữ Trên thực tế, có thể có nhiều công trình nghiên cứu độc lập về
hai tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Kim Lăng thập tam thoa
của Nghiêm Ca Linh, nhưng chúng tôi đặt hai nhà văn này trong thế đối sánh để có thêm cách nhìn nhận mới mẻ hơn
1.1.2 Khái niệm hình tượng nhân vật
Nhân vật văn học đóng vai trò rất quan trọng trong một tác phẩm văn học Nhân vật vừa là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong tác phẩm, vừa thể hiện sự sống động trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Qua đó đánh giá được cá tính sáng tạo của nhà văn Nhân vật văn học truyền tải được quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, cũng là cái sâu sắc nhất còn đọng lại trong cảm xúc, trong tâm hồn của người đọc
Nhân vật văn học quyết định sự thành công hay thất bại của tác phẩm văn học
Trong Thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân viết: “Nhân vật văn học là một thuật
ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [3, tr 24]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Trần Đình Sử: “Nhân vật văn học là những
con người cụ thể được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thúc Sinh, Kim Trọng… đó là những nhân vật không có tên như: thằng bán tơ, một mụ nào ở trong Truyện Kiều… đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang đặc điểm và tính cách con người” [10, tr 115]
Trang 19Các nhà nghiên cứu khi đưa ra định nghĩa về nhân vật văn học đều gặp nhau ở ý nghĩa nội hàm cơ bản: Đều coi nhân vật văn học là đối tượng văn học lựa chọn để miêu
tả bằng phương tiện văn học Nhân vật văn học có thể là người, là vật, sự vật, có tên, không có tên… mang đặc điểm, tính cách giống con người Là những đối tượng ở hiện thực, nhưng được nhìn qua lăng kính của tác giả
Trong nghiên cứu văn học, nhân vật được xem là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng và qua nhân vật tác giả thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của mình về con người Thông qua thế giới nhân vật, nhà văn bộc lộ những quan niệm của mình về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập trong tác phẩm
Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải là những bản sao có sẵn mà nó luôn được khắc họa, xây dựng phù hợp với ý đồ tư tưởng của nhà văn
Trong tác phẩm văn học, nhân vật văn học giữ vai trò vô cùng quan trọng Qua cái nhìn của nhà văn, tính cách của nhân vật được nhào nặn theo mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng Hình tượng được hiểu là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật
Hình tượng nghệ thuật chính là những vấn đề của đời sống được nhà văn tưởng tượng sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật của mình Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng nó không phải sao chép y nguyên, hay làm theo bản mẫu nào đó, mà ở đó nhà văn có sự chọn lọc và sáng tạo mang đậm dấu ấn tư tưởng nhà văn Nó vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc
lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nhà văn Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của nhà văn với thực tại Người đọc không chỉ nhìn nhận thực tại qua bề nổi, mà qua hình tượng nghệ thuật hiểu được nội dung ẩn sau mà tác giả muốn nói đến
Không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng văn học, không phải nhân vật nào trong tác phẩm cũng trở thành hình tượng nhân vật văn học Để trở thành hình tượng nhân vật thì nhân vật ấy phải có tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Nghĩa là nhân vật ấy phải được sự tập trung, khái quát cao, phải mang đậm nét khái quát của một tầng lớp, giai cấp nào đó… mà nhân vật ấy là người đại diện Và bối cảnh
Trang 20xã hội của nhân vật ấy xuất hiện phải là bối cảnh điển hình của một vùng, một nơi nào
đó trong thời điểm nhất định
Trên cơ sở những khái niệm về hình tượng nhân vật nêu trên, chúng tôi tiến hành
so sánh hình tượng nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) và Kim Lăng thập tam thoa (Nghiêm Ca Linh)
1.2 Hai nhà văn: Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh
1.2.1 Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm Mẫu thượng ngàn
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 Đây là một giai đoạn xã hội đầy biến động, lịch sử - xã hội Việt Nam có rất nhiều sự kiện dẫn đến những thay đổi lớn
Những sự kiện và sự thay đổi đó chắc chắn có tác động và ảnh hưởng đến con người nói chung và nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói riêng
Những năm đầu thế kỉ XX, Việt Nam chịu sự đô hộ của thực dân Pháp Đó là chế
độ thực dân nửa phong kiến Chế độ thực dân nửa phong kiến khiến cho đời sống xã hội của người dân Việt Nam như tăm tối Tuy nhiên cũng dẫn đến một hệ quả ngoài mong muốn của thực dân Pháp đó là sự ảnh hưởng giao lưu của văn hóa phương Tây đến văn hóa Việt Nam Sự giao lưu ảnh hưởng diễn ra trên mọi mặt của đời sống: tôn giáo, ngôn ngữ, giáo dục, văn chương Sinh vào đầu thế kỉ XX, nên nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng như các nhà văn cùng thời chịu ảnh hưởng lớn từ văn học Pháp
Những sáng tác của ông ít nhiều mang nét hiện đại của phương Tây ở nội dung và nghệ thuật
Khi Pháp vào xâm lược nước ta đã khiến cho nhân dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, cho đến năm 1945 - Cách mạng tháng Tám thành công - đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam Từ năm 1946 đến 1954 là giai đoạn toàn quốc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp lần hai Sau chín năm trường kì chống Pháp, miền Bắc đã giành được độc lập Ngay khi giành chiến thắng năm 1954, miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương vững chắc cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ Văn học có bước chuyển mình để phục vụ hai nhiệm vụ lớn của dân tộc: xây dựng đất nước và chiến đấu giải phóng miền Nam Các văn nghệ sĩ bước vào cuộc chiến mới với rất nhiều đề tài, cảm hứng mới phù hợp thời
đại Cũng như các văn nghệ sĩ giai đoạn này, Nguyễn Xuân Khánh hồ hởi tham gia viết văn và làm công tác phục vụ kháng chiến
Trang 21Sau ba mươi năm chiến tranh, bên cạnh niềm vui chiến thắng thì chiến tranh đã
để lại hậu quả tổn thất về người và của, khiến kinh tế xã hội trở nên nghèo nàn Từ sau năm 1975, cả dân tộc Việt Nam cùng chung tay ra sức giải quyết những vấn đề cấp thiết đó Đặc biệt, từ năm 1986, chính sách mở cửa kinh tế đã có những bước ngoặt đem lại những thay đổi cho kinh tế, xã hội Công cuộc đổi mới đó cũng đem lại không khí mới cho văn học nghệ thuật nói chung
Cũng như hầu hết các nhà văn Việt Nam thế kỉ XX, Nguyễn Xuân Khánh là nhà văn mang trong mình dấu ấn thời đại rất sâu đậm - đó là những sự kiện, những biến chuyển của xã hội Việt Nam thế kỉ XX Phần lớn các sáng tác của ông đều phản ánh những sự kiện của giai đoạn này Những năm kháng chiến, các sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh tái hiện bối cảnh xã hội, con người Việt Nam với tinh thần đấu tranh bảo vệ dân tộc, cổ vũ tinh thần chiến đấu Sau chiến tranh, sáng tác của ông luôn phản ánh những vấn
đề chân thực về những sự kiện, những vấn đề xã hội đang diễn ra Mỗi áng văn của ông mang đậm dấu ấn bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam những năm của thế kỉ XX Nhưng Nguyễn Xuân Khánh lại có cái tài đặc biệt Ông đã thành công khi tái hiện những sự kiện lịch sử đó qua áng văn chương của mình không hề khô khan, trái lại làm nó phong phú hơn để độc giả tiếp nhận nó một cách nhân văn hơn, hiện đại hơn
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh tại Hà Nội Ông có bút danh là Đào Nguyễn
Là nhà văn có cuộc đời truân chuyên, cơ cực, vất vả Năm lên sáu lên bảy tuổi, cha ông chết trong một trận dịch tả Khi ấy mẹ của ông mới 30 tuổi, thương con nên bà ở vậy nuôi con suốt cả đời Vốn gắn bó sâu nặng với mẹ ngay từ khi còn nhỏ, tình cảm gắn
bó ăn sâu vào tâm thức của nhà văn Vì thế trong các sáng tác của ông sau này, ông luôn viết nhiều về người phụ nữ, về Mẫu, luôn đề cao đạo Mẫu
Do cha mất sớm, Nguyễn Xuân Khánh theo mẹ về bên ngoại Quê ngoại ở làng Thanh Nhàn - nay chính là con phố Trần Khát Chân (Hà Nội) - nơi ông đang sinh sống
đã có những thay đổi khác xóm nghèo ngày trước Trong ký ức của ông, làng quê ngoại đẹp như một bức tranh yên ả: “Làng Thanh Nhàn ngày xửa, ngày xưa không theo nông nghiệp truyền thống, làng có ao thả cá, trồng sen, trồng rau muống, trồng ổi… Sự thực cái làng này là một làng của thành phố, phía bên kia đường đã là phố Lò Đúc, nội thành
Hà Nội Làng là nơi sinh sống của những thợ tiện, thợ nguội, một số viên chức nghèo,
Trang 22mấy ông tham, ông phán có những cái nhà vườn ở đây” [7] Nhà văn được lớn lên trong một “gia đình viên chức”, nơi mà: “Đàn ông đi làm thợ ở nhà máy đèn, phụ nữ thì buôn bán ở chợ Hôm Nhà tôi chuyên bán măng vì có mối liên hệ giữa gia đình tôi và gia
đình ở Thái Nguyên” [7] Mấy chục năm của cuộc đời ông sống và gắn bó với mảnh
đất này, với những người lao động lầm lũi, những căn nhà lá xập xệ, những khóm tre
tả tơi, bờ ao, bờ chuôm, những cống rãnh nước thải đổ về từ thành phố,… Những kí ức
đó đã trở thành dấu ấn trong những trang viết sau này của nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh có cơ hội tiếp xúc với văn chương từ khi còn rất trẻ Năm lên mười tuổi ông đã biết đến và đọc một cách ngấu nghiến tiểu thuyết đầu tiên của
Việt Nam - tiểu thuyết Tố Tâm Niềm ham mê văn chương, say mê tiểu thuyết đã giúp
ông có dịp tiếp xúc với văn học Trung Quốc từ khi còn rất sớm, qua các tiểu thuyết:
Đông Chu liệt quốc, Thuyết Đường, Thủy Hử, Tây Du Kí… Tuy nhiên, Nguyễn Xuân
Khánh lại không theo con đường văn chương từ khi còn trẻ mà ông lại chọn con đường trở thành bác sĩ, trở thành một sinh viên trường Đại học Y Dù vậy nhưng niềm say mê văn chương vẫn âm ỉ cháy trong trái tim của nhà văn, khao khát viết, khao khát cống hiến Ông đã từng kể lại, hồi ấy đang là sinh viên trường Y được hai năm - một trường đại học lớn và có tiếng ở Hà Nội, vào năm 1952, ông quyết định từ bỏ để xin đi bộ đội
Quyết định của ông đã khiến gia đình ngạc nhiên, can ngăn Dù bị gia đình phản đối, nhưng với lòng quyết tâm và nhiệt huyết được viết, được công hiến cho văn chương đã không làm ông nản chí Ông đã xin gia nhập quân ngũ để trở thành người lính cụ Hồ
Cuộc sống quân đội, những cuộc hành quân gian khó vất vả là động lực khơi gợi lại trong con người Nguyễn Xuân Khánh niềm đam mê, thôi thúc viết
Thời còn trẻ, Nguyễn Xuân Khánh viết không nhiều Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX ông mới bắt đầu có những sáng tác đầu tay Khi mới bắt đầu vào nghề ông
đã có những quan niệm về văn chương của riêng mình, nhưng những phát biểu đó không được phát biểu thành quan niệm chính thức Nguyễn Xuân Khánh luôn quan niệm “nhà văn phải là thư kí trung thành của thời đại” Vì thế trong các sáng tác của ông, ông viết chân thực về cuộc sống, xã hội, không đánh bóng, không tô hồng Và ông cũng luôn quan niệm học ở sách vở là một phần, học ở trường đời mới đem lại thành công lớn Quan niệm này đã chi phối suốt quá trình sáng tác của nhà văn Nhờ ý thức
tự học mà ông đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và vốn sống cho bản thân, từ đó
Trang 23những sáng tác của ông luôn có chiều sâu, mang hơi thở của thời đại và nhân loại Vì vậy, ông được xem là một trong những nhà văn thuộc thế hệ những cây đại thụ của làng văn học trong ý thức tự học mà thành tài Những quan niệm này đã chi phối toàn
bộ những sáng tác của nhà văn
Năm 1958, tiểu thuyết Làng nghèo ra đời, đây là tác phẩm đầu tay của nhà văn
Tác phẩm được sáng tác khi ông tham dự trại sáng tác của Văn nghệ quân đội ở Thanh
Liệt Hồi đó, cuốn tiểu thuyết này không được phép xuất bản, vì nội dung cuốn tiểu
thuyết viết quá chân thực, có thể “sát đến mặt đất, chạm đến nhiều thứ”, Làng nghèo
chỉ còn được giữ lại qua những bản thảo Đến đầu năm 1959, khi trong quân ngũ, ông
viết truyện ngắn đầu tay Một đêm gửi về Tạp chí Văn nghệ quân đội, sau đó truyện
ngắn được in, rồi được giải thưởng của tạp chí Tiếp đó, năm 1962 tập truyện ngắn
Rừng sâu của ông được Nhà xuất bản Văn học xuất bản Những thành công ban đầu là
động lực để ông bước vào con đường văn chương đầy cam go và thử thách
Sau khi xuất ngũ, ông trở về làm phóng viên, biên tập ở Tạp chí Văn nghệ quân đội Văn chương thời ấy không phải nghề kiếm tiền đủ sống Như nhiều viên chức thời
đó, ông phải bươn chải làm nhiều nghề kiếm sống để nuôi gia đình Với ông, sáng tác hồi đó như một sự giải thoát, một niềm đam mê lớn lao, như thể trút hết được mọi điều trong cuộc sống Sau khi bị dính “tai nạn nghề nghiệp”, ông xin về nghỉ hưu sớm
Tưởng chừng nghiệp văn chương sẽ không còn theo ông nữa, nhưng đây chính là dấu mốc lớn - đời ông lại bước sang một bước ngoặt mới Những năm tháng đó, kinh tế chung của xã hội Việt Nam rất nghèo khó cuộc sống của Nguyễn Xuân Khánh cũng vậy Sau khi nghỉ hưu, ông phải tiếp tục bươn chải kiếm sống bằng nhiều nghề: thợ mộc, thợ bốc vác, thợ cán bột mì, bảo vệ trông kho lương thực Có một thời gian dài, ông đã từng làm nghề thợ may Ông từng làm Bí thư chi bộ tiểu khu Thanh Nhàn Dù cuộc sống có khốn khó, gánh nặng cơm áo gạo tiền đè nặng trên đôi vai, nhưng khát khao muốn viết và được viết của ông cứ trào dâng, cứ sôi sục mãi Nhà văn vẫn miệt mài viết, miệt mài sáng tạo dù thành công vẫn chưa mỉm cười với ông
Với Nguyễn Xuân Khánh, cuộc đời vốn là những khó khăn, nhưng ở giai đoạn
nào thì ông cũng có những sáng tác để khẳng định bản lĩnh chính mình: Tác phẩm Một đêm (1959), Rừng sâu (1962) là những truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Xuân Khánh
khi chập chững bước vào nghề Những năm khốn khó của cuộc đời, ông cho ra đời tác
Trang 24phẩm Miền hoang tưởng (1990) với bút danh Đào Nguyễn Đặc biệt, Nguyễn Xuân Khánh được độc giả biết đến nhiều nhất là qua bộ ba tiểu thuyết: Hồ Quý Ly (2002), Mẫu thượng ngàn (2006), Đội gạo lên chùa (2011) - chính những tác phẩm này đã đưa
nhà văn lên tầm cao mới, là hiện tượng hiếm có trong văn đàn Cũng trong thời gian
cho ra đời bộ ba tiểu thuyết, ông cũng sáng tác các tác phẩm: Hai đứa trẻ và con chó con mèo xóm núi (2002) và Mưa quê (2003)
Có thể nói, trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh bộ ba tiểu thuyết
đem lại thành công cho nhà văn, nhưng Mẫu thượng ngàn được xem là tiểu thuyết đáng quan tâm hơn cả Mẫu thượng ngàn là cuốn tiểu thuyết dày hơn 700 trang, được Nguyễn Xuân Khánh sáng tác trong khoảng thời gian miệt mài liên tục 5 năm (2000 - 2005) Mẫu thượng ngàn chính là tác phẩm có tên tiền thân là Làng nghèo Tác phẩm được sáng tác
vào năm 1958, nhưng nó không được xuất bản Vì lý do đặc biệt mà ông phải gửi tất cả bản thảo cho bạn bè ông giữ hộ, may mắn còn một bản ông Lê Bầu - bạn của nhà văn còn giữ được Sau này, ông Lê Bầu đã mạnh dạn là người “đỡ đầu” cho cuốn tiểu thuyết này được xuất bản, để nó được xuất hiện trong làng văn học Việt Nam
Nhan đề Mẫu thượng ngàn trùng tên của một trong ba vị Mẫu được thờ cúng tại điện
Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam,tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt Việc đặt tên tác phẩm như vậy hẳn có mục đích của Nguyễn Xuân Khánh Tuy nhiên, trong tác phẩm không có nhân vật nào
phản chiếu hình ảnh Mẫu Tác phẩm Mẫu thượng ngàn kể rất sinh động cuộc sống của
những người dân ở một làng quê vùng bán sơn địa miền Bắc vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX Lấy bối cảnh thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật bị gạt bỏ, đạo Thiên chúa giáo lan rộng, những người dân quê trở về với đạo Mẫu - tín ngưỡng ăn sâu bám rễ tâm thức của họ từ ngàn xưa
Mẫu thượng ngàn là câu chuyện về tình yêu của những người đàn bà Việt trong
khung cảnh một ngôi làng cổ Đó là tình yêu vừa mãnh liệt, vừa cay đắng, mang đậm
chất phồn thực, với những mơ ước và sự hi sinh cao thượng Mẫu thượng ngàn cũng là
cuốn tiểu thuyết tái hiện lịch sử nước ta với sự kiện thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, cuộc giao chiến giữa quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc với người Pháp… Đó là một cuốn tiểu thuyết về văn hóa, phong tục Việt Nam được thể hiện qua cuộc sống của
Trang 25người dân đặc biệt là người phụ nữ ở một vùng quê bán sơn địa miền Bắc Việt Nam
Với hệ thống nhân vật nữ được xây dựng khá đông đúc, là những nhân vật đẹp nhất, hay nhất, đậm nhất, mê nhất Họ hiện lên vừa chân thực, chất phác mang dáng dấp những người phụ nữ thôn quê Đồng thời, ở họ cái khát khao “cho và nhận, nhận và cho” tất cả, tất cả đều “tràn trề sinh lực, đầm đìa phồn thực” Nói như nhà văn Nguyên
Ngọc đã nhận xét về tác phẩm Mẫu thượng ngàn: “…Không phải ngẫu nhiên mà trong
cuốn tiểu thuyết này đông đúc nhất, và cũng đẹp nhất, hay nhất, đậm nhất, mê nhất là những nhân vật nữ, có cảm giác như vô số vậy, từ bà Tổ Cô bí ẩn, bà ba Váy đa tình
cho đến cô đồng Mùi, cô mõ Hoa khốn khổ, cô trinh nữ Nhụ tinh khiết Hàng chục, hàng chục nhân vật nữ hết sức gần gũi, hiện thực, mơn mởn, sần sùi, dào dạt, trễ tràng, trữ tình, thừa mứa, khát khao cho và nhận, nhận và cho và đến cả bà Đà của ông Đùng huyền thoại nữa , tất cả tràn trề sinh lực, đầm đìa phồn thực ” [34]
Mẫu thượng ngàn được sáng tác khi Nguyễn Xuân Khánh đã vào độ tuổi “thất
thập cổ lai hi” Dù vậy, ông đã thể hiện được nội lực văn chương, những tri thức, kiến thức của mình Ông cũng chứng tỏ được sự hiểu biết sâu sắc về một thời lịch sử, một
phần văn hóa của dân tộc Mẫu thượng ngàn thể hiện cách sống từ nhiều góc độ khác nhau Mỗi góc độ là cách nhìn nhận mới mẻ của tác giả Trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn tác giả tái hiện bối cảnh làng quê Bắc Bộ Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX Bối cảnh xưa cũ đó được ông thổi vào một luồng không khí mới, đó là một cái nhìn phóng khoáng, hiện đại, một cách nhìn mới trên biểu tượng Cổ Mẫu Từ bối cảnh lịch sử cụ thể đó, những hình tượng nhân vật phụ nữ không chỉ là nhân vật truyền tải
về vấn đề của một thời đại mà có ý nghĩa nhân loại
Nhờ ý thức tự học, tự tìm tòi, ông còn là dịch giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng:
Những quả vàng của Nathalie Sarraute; Lời nguyền cho kẻ vắng mặt của Taha Ben Jelloun;
Nhận dạng nam của Elizabeth; Người đàn bà trên đảo Saint Dominique của Bona Dominique; Bảy ngày trên kinh khí cầu của Jelus Verne; Hoàng hậu Sicile của Pamela Schoenewaldt…
Những sáng tác từ sau năm 1986 đến nay của nhà văn đã trở thành sự kiện thu hút sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu, giành được nhiều giải thưởng danh giá Ông đã nhận được nhiều giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (năm 2001 với tiểu
Trang 26thuyết Hồ Quý Ly, năm 2006 với tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn) Mới đây, năm 2018, Hội Nhà văn Văn học Hà Nội đã trao giải Thành tựu văn học trọn đời cho nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh Để có những thành công này, ngoài những may mắn như cái duyên thì ông luôn chủ động trong việc sáng tác Ông luôn quan niệm, chỉ sáng tác khi thấy nó còn đủ sức dồi dào, đến ngày nào đó “cùn đi” thì cũng không nên cố Nguyễn Xuân Khánh sáng tác văn chương luôn bằng sự nhiệt huyết và bằng trải nghiệm Vì thế, để viết được một cuốn tiểu thuyết, ông phải đọc, tích lũy, miệt mài sáng tạo, thể hiện được cá tính riêng của mình như thế mới là thành công
Nhìn chung, Nguyễn Xuân Khánh là nhà văn hoạt động trên nhiều lĩnh vực văn học: sáng tác cả truyện ngắn, tiểu thuyết và còn là nhà dịch thuật Với số lượng tác phẩm không nhiều, nhưng mỗi tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh đều đem đến một diện mạo mới
“chưa từng có” trên văn đàn Chính điều đó góp phần làm nên tên tuổi của ông và được coi là “hiện tượng hiếm có” Ông được xem là “hiện tượng hiếm có trên văn đàn” những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, bởi không chỉ sáng tác trên nhiều thể loại, mà cái chính là ông đã tìm hướng đi riêng cho mình trong thể loại tiểu thuyết cả nội dung lẫn hình thức Cùng tái hiện sự kiện lịch sử của dân tộc, nhưng ông không đi theo con đường chính sử mà hướng tới logic lịch sử những điều thường nhật, một cách lý giải
cá nhân về lịch sử dân tộc Đó là những điểm độc đáo gây được tiếng vang trong dư luận và giới nghiên cứu
1.2.2 Nhà văn Nghiêm Ca Linh và tác phẩm Kim Lăng thập tam thoa
Xã hội Trung Quốc thế kỉ XX là một xã hội thống nhất nhưng đầy biến động Đầu thế kỉ, xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội phong kiến, những cuộc cách mạng tư sản vẫn rất yếu ớt, triều đình Mãn Thanh vẫn còn tồn tại Những năm đầu thế kỉ, sau những cuộc đấu tranh gay gắt như Cách mạng Tân Hợi (1911), phong trào Ngũ Tứ mở đầu cho giai đoạn Trung Quốc hiện đại Tuy nhiên, niềm hân hoan đó không duy trì được lâu, xã hội Trung Quốc liên tiếp xảy ra các biến động Đó là những xung đột mâu thuẫn của Quốc dân Đảng, Đảng cộng sản, chiến tranh Trung - Nhật Năm 1937, Nhật chiếm đánh Nam Kinh - thủ đô Trung Hoa dân quốc bấy giờ, đây là một sự kiện lớn trong lịch
sử dân tộc
Trang 27Một trong những sự kiện đen tối nhất trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1937)
là vụ thảm sát Nam Kinh Đây được coi là một trong những vụ thảm sát và hãm hiếp tàn bạo nhất lịch sử khi quân Nhật kiểm soát vùng đất Nam Kinh rộng lớn ở Trung Quốc Quân Nhật khi chiếm được Nam Kinh (Trung Quốc), chúng bắt đầu chiến dịch cướp, giết, hãm hiếp man rợn nhân dân trong vùng Theo số liệu của các nhà lịch sử học Trung Quốc và một số tổ chức tình nguyện, vào thời điểm cuộc chiến đó có ít nhất 250.000 đến 300.000 người Trung Quốc bị giết Phần lớn trong số đó là phụ nữ và trẻ
em Theo số liệu thống kê, số lượng phụ nữ bị hãm hiếp lên đến hai vạn người và nhiều trường hợp dân lành bị chặt xác tới chết Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng với nhân dân Trung Quốc mỗi khi động tới sự kiện đó nó như nỗi đau trong lòng không bao giờ quên
Mặc dù Nghiêm Ca Linh sinh vào những năm 50 của thế kỉ XX, nhưng bà cũng như phần lớn người dân Trung Quốc không bao giờ có thể quên được những đau thương
mà quân đội Nhật đã gây ra đối với dân tộc mình Sự kiện đó mỗi khi được động chạm tới lại gây thổn thức bao trái tim, đã khiến biết bao nhà nghiên cứu, nhà văn, tốn biết bao giấy mực và tốn bao nhiêu thước phim của các đạo diễn… và Nghiêm Ca Linh cũng không ngoại lệ
Sau tám năm ròng chiến đấu, cuối cùng Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã lật
đổ và đánh đuổi được quân đội Nhật khỏi đất nước, kết thúc chiến tranh Đồng thời, chấm dứt được cuộc nội chiến giữa quân Tưởng với Đảng cộng sản Năm 1949, Đảng cộng sản tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Nghiêm Ca Linh sinh ra và lớn lên khi đất nước Trung Quốc đang chuẩn bị công cuộc “Đại Cách mạng văn hóa” với diễn biến đầy nhạy cảm và phức tạp Đặc biệt giai đoạn “Cuộc cách mạng văn hóa” bùng nổ (1966 - 1976) - đây là giai đoạn bạo lực và gây chấn thương tinh thần cho dân chúng nhiều nhất trong lịch sử Trung Quốc Lớn lên và trưởng thành trong một xã hội đầy cam go là nguyên nhân mà hầu hết sáng tác sau này của nhà văn đều mang đậm dấu ấn thời đại, mang hơi thở những sự kiện lịch
Trang 28vụ nhân dân Giai đoạn này cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng sáng tác của Nghiêm
Ca Linh
Cũng như phần lớn các nhà văn Trung Quốc, thế kỉ XX luôn là nguồn cảm hứng
vô tận trong các sáng tác với những sự kiện, những biến chuyển của xã hội và con người
Với Nghiêm Ca Linh, dấu ấn thế kỉ XX là vết hằn không thể xóa mờ Dù viết về sự kiện lịch sử, đất nước con người Trung Hoa, nhưng bà không đi sâu khai thác những nỗi đau
mà dân tộc phải hứng chịu Bà luôn nhìn nhận và viết về nó với một cái nhìn nhân văn hơn Đặc biệt là thời kỳ cải cách, bối cảnh xã hội chỉ còn là cái cớ để bà thể hiện trong các sáng tác của mình là sự trỗi dậy của cá nhân với những khát khao
Nghiêm Ca Linh sinh năm 1958 tại thành phố Thượng Hải, Trung Quốc Bà là nhà văn nữ hải ngoại nổi tiếng của nền văn học Trung Quốc đương đại ngày nay Ngay
từ khi còn nhỏ, bà không được hưởng trọn vẹn, đầy đủ tình yêu thương từ cha mẹ Bởi cha mẹ bà chia tay từ rất sớm, bà được gửi về sống với ông bà ngoại Do hoàn cảnh gia đình nên đã hình thành nên một Nghiêm Ca Linh với tính cách tự lập, trầm lắng, sâu sắc với những khát khao cháy bỏng Năm 12 tuổi, bà thi vào Đoàn văn công Quân khu Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên và từ đó bà trở thành một diễn viên quân đội múa ba - lê
Nghiêm Ca Linh bước vào đời chỉ có ông bà ngoại bên cạnh, trưởng thành trong cuộc
“Cách mạng văn hóa” khi đất nước Trung Hoa đang trong giai đoạn nhạy cảm và phức tạp Quá trình hoạt động trong Đoàn văn công Quân khu Thành Đô đã hình thành trong
bà niềm yêu thích, say mê sáng tác văn chương Năm 20 tuổi, Nghiêm Ca Linh bắt đầu
vào việc sáng tác và cho ra đời “đứa con tinh thần” đầu tiên - vở kịch Tiếng lòng Một năm sau khi ra đời, kịch bản Tiếng lòng đã được Xưởng sản xuất phim Thượng Hải
dựng thành phim và ra mắt khán giả Từ đó bà chính thức bước chân vào văn đàn Trung Quốc
Năm 1983, nhà văn Nghiêm Ca Linh được điều động vào Ban Chính trị lực lượng đường sắt chuyên về sáng tác văn học, chính quãng đời quân nhân đã cung cấp cho bà nhiều nguồn đề tài sáng tác Đây là giai đoạn đánh dấu mốc quan trọng cho sự trưởng thành trong sự nghiệp sáng tác của bà Năm 1986, bà cho xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên, kể từ đó bà đều đặn cho in các tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và kịch bản Nhờ
Trang 29thành công của các sáng tác, hiện nay, Nghiêm Ca Linh được biết đến với tư cách là một trong những nhà tiểu thuyết và biên kịch nổi tiếng viết bằng ngôn ngữ Trung Quốc
Năm 1992, bà lấy chồng người Mỹ là viên chức ngoại giao và theo chồng sang
Mỹ định cư Tuổi thơ vốn thiệt thòi về tình cảm gia đình, nên Nghiêm Ca Linh luôn sống với tất cả tình yêu thương để bù đắp những thiếu sót cho tình cảm trước kia của mình Những năm sau đó bà luôn cùng chồng đi khắp châu Phi Nhiều năm định cư ở nước ngoài, bà đã để lại dấu chân tại nhiều địa danh trên thế giới Những cuộc hành trình đã giúp bà có thêm nhiều kiến thức, tình cảm sâu lắng, tư duy mới mẻ hơn Là người có tình cảm sâu sắc với quê hương, Nghiêm Ca Linh cũng như nhiều người dân Trung Quốc luôn có nỗi đau đáu về những sự kiện của dân tộc Cũng chính nhờ sự trải nghiệm đến nhiều vùng đất khác nhau, tiếp xúc với nhiều nền quốc gia khác nhau, nên khi
có cơ hội quan sát để viết về chính quê hương mình bà luôn có thái độ bình tĩnh hơn, nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc độ mới mẻ Vì thế, mỗi sáng tác của bà đều đạt được những thành công lớn, không chỉ được độc giả đón nhận qua văn bản văn học mà hấp dẫn khán giả qua màn ảnh nhỏ khi các sáng tác được chuyển thể thành kịch bản phim
Cho đến nay, Nghiêm Ca Linh đã sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng trên nhiều
thể loại: Các tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà viết trực tiếp bằng tiếng Anh là Rệp ăn tiệc (The Banquet Bug) và Hạnh phúc của cô gái bị mất (The Lost Daughter of Happiness) được Hyperion xuất bản ở Mỹ và Faber & Faber Vương quốc Anh xuất bản Nhà văn cũng đã xuất bản một bộ tiểu thuyết và truyện ngắn chọn lọc có tên Rắn trắng và các truyện khác [35] Một số sáng tác của Nghiêm Ca Linh có duyên với điện ảnh, có nhiều bộ phim đã được công chiếu ở quốc tế như: Thiên dục (đạo diễn Joan Chen), Thiếu nữ Tiểu Ngư (đạo diễn Sylvia Chang), Kim Lăng thập tam thoa (đạo diễn
Trương Nghệ Mưu) Bên cạnh những thành công về thể loại tiểu thuyết, Nghiêm Ca Linh còn được biết đến với tư cách là một nhà viết kịch bản xuất sắc Bà viết nhiều kịch bản từ chính các tác phẩm của mình và của các tác giả khác, bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc
Khi nhắc đến sự nghiệp sáng tác của Nghiêm Ca Linh, chúng ta không thể không
nhắc tới tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa Đây là cuốn tiểu thuyết thu hút đông đảo
độc giả trong nước và cả trên thị trường quốc tế Cuốn tiểu thuyết được bà viết nhân kỉ
Trang 30niệm 60 năm chiến thắng quân đội Nhật của nhân dân Trung Hoa (năm 2005) Hoà vào không khí chung của cả dân tộc, Nghiêm Ca Linh đã sáng tác cuốn tiểu thuyết này
Đây được xem là cuốn tiểu thuyết duy nhất của bà viết về lịch sử, đất nước, con người
Trung Hoa Cuốn tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa đã tái hiện sự kiện lịch sử chiến
tranh Trung - Nhật năm 1937 Đó là quá trình Nam Kinh bị quân Nhật chiếm đóng, chúng đã gây ra bao đau thương, chấn động không chỉ về vật chất mà cả tinh thần cho người dân Để chiếm được Nam Kinh chúng đã tàn sát vô số lính Trung Quốc Sau khi chiếm được Nam Kinh chúng bắt đầu đi lùng sục, cướp lương thực Và chúng còn đi lùng sục, thay nhau hãm hiếp đàn bà con gái ở Nam Kinh, sau đó giết sạch không tha một ai Nghiêm Ca Linh viết về sự kiện lịch chiến tranh nhưng bà không đi sâu khai thác nỗi đau đó mà chọn hướng đi riêng để đem lại cái nhìn mới cho tác phẩm
Tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa được viết năm 2005 Về nhan đề Kim Lăng thập tam thoa có thể diễn giải một cách cụ thể như sau: “Cố đô Nam Kinh của Trung
Quốc qua ngàn năm lịch sử đã được gọi bằng nhiều cái tên, trong đó người ta cho rằng cái tên Kim Lăng là đẹp nhất Ngày xưa các hoàng đế đều cho xây mộ mình trên núi hoặc đắp cao như núi, hơn nữa Hoàng đế phải tận mắt nhìn thấy trước khi qua đời
Chưa chết mà có mộ, nhìn thấy mộ, nói đến mộ thì sái, cho nên gọi là lăng, vì bấy giờ lăng chỉ có nghĩa là núi, là gò mà thôi Nhưng rồi từ đó chữ lăng có thêm một nghĩa là
mộ, thậm chí là nghĩa chính Trung Quốc xưa lại hay lấy tên núi ở địa phương mình làm tên địa phương, những người đã từng sống ở Nam Kinh đều rất quen thuộc địa danh Tử Kim Sơn, một ngọn núi cao nằm ở phần phía đông thành phố Kim Lăng chính
là Tử Kim Sơn và là tên gọi của thành phố Nam Kinh Hiện nay Tử Kim Sơn là một điểm du lịch nổi tiếng và cũng là nơi đặt Đài Thiên văn
Thoa trong nhan đề là cái trâm cài tóc của phụ nữ Ở Trung Quốc, thoa được dùng
để chỉ người con gái nhất là người con gái nhan sắc Vậy Kim Lăng thập tam thoa có
nghĩa nôm na là “Mười ba cô gái ở thành Nam Kinh” [36]
Kim Lăng thập tam thoa là truyện kể về một câu chuyện được kể lại của một cô gái Nghĩa là một cấu trúc truyện lồng truyện Người kể chuyện là nhân vật tôi - là cháu
của một nhân vật chính trong truyện, vốn là nữ sinh may mắn còn sống sót trong cuộc chiến Trung - Nhật Bắt đầu là mốc thời gian năm 2002, sau đó theo dòng hồi tưởng
Trang 31trở về thời gian của buổi xét xử tội phạm chiến tranh Nhật Bản tại Nam Kinh tháng 8 năm 1946 Rồi lùi sâu hơn về thời điểm tháng 12 năm 1937 - thời điểm diễn ra cuộc tàn sát khủng khiếp nhất, tàn bạo nhất mà quân đội Nhật gây ra cho Nam Kinh, người
ta gọi thời gian đó là “Thảm sát Nam Kinh” Từ đó truyện diễn ra theo dòng hồi tưởng của nhân vật người cháu Câu chuyện đề cập trong tác phẩm xuất phát từ việc thất thủ của thành Nam Kinh trong chiến tranh Trung - Nhật năm 1937 Khi ấy Nam Kinh là thủ đô của Trung Hoa dân quốc Lúc này thủ đô Nam Kinh đang trong tình trạng nguy cấp, quân đội Trung Quốc bị thương vong và tổn thất nặng nề Linh mục Engman cùng
16 nữ sinh chạy đến bên phà Phố Khẩu để đến khu an toàn Mười sáu nữ sinh đều được cha mẹ gửi gắm cho linh mục để được đảm bảo an toàn trong cuộc chiến này Nhưng
vì số binh lính bị thương quá đông nên thầy trò đám nữ sinh đã “nhường” chuyến phà cuối cùng đó cho họ Trời đã tối mịt mù và đầy nguy hiểm, nên linh mục quyết định đưa đám nữ sinh quay lại nhà thờ Wilson, với hy vọng ngày mai trời sáng sẽ đi Ông không thể ngờ, Nam Kinh đã rơi vào tay quân Nhật nhanh đến vậy Với một người dày dạn kinh nghiệm như ông lại có quyết định quay lại nhà thờ thời điểm đó, để sau này ông đã phải trả một cái giá quá đắt
Cả Nam Kinh bây giờ chỉ còn mỗi nhà thờ Wilson là nơi “bất khả xâm phạm”, thuộc chủ quyền của nước Mỹ Linh mục Engman luôn hy vọng quân đội Nhật sẽ đặt
ra ranh giới với chủ quyền của nước Mỹ Cùng lúc đó, 13 người đàn bà là những cô gái điếm trên sông Tần Hoài, trên đường chạy nạn đã cố trèo vào nhà thờ để tránh sự truy lùng của lính Nhật Linh mục đã cố can ngăn, không tiếp nhận vì tình trạng nhà thờ lúc này: nước hết, gạo hết, nếu cho họ vào thì số lương thực sẽ không thể đảm bảo đủ cho các nữ sinh Sau một hồi tranh cãi, chống cự, cuối cùng đám đàn bà đó cũng trèo được vào trong nhà thờ Trong số họ, có một người được xem như “thủ lĩnh” đã quỳ xuống trước linh mục để cầu xin Cô không cầu xin linh mục cứu mạng mà chỉ cầu xin được lánh nạn trong nhà thờ để được chết cho tử tế, chết để không phải đau đớn Cuối cùng, linh mục cũng phải miễn cưỡng cho họ vào nhà thờ ở cùng với đám nữ sinh Bên ngoài, thành Nam Kinh đã bị quân đội Nhật chiếm đóng, tàn sát, hủy diệt tàn khốc Hàng vạn binh lính Trung Quốc, những người dân vô tội… tất cả đều bị binh lính nhật nã súng tiêu diệt bằng sạch, xác người chồng lên nhau, cống rãnh, đường phố đâu đâu cũng
Trang 32nồng nặc mùi tanh của máu người Bên trong nhà thờ có mười ba cô gái đến từ sông Tần Hoài, mười sáu nữ sinh, một vị thiếu tá thuộc quân đội Trung Quốc bị thương nặng, hai anh lính thoát ra từ đám xác chết bên sông, linh mục Engman, phó linh mục Fabbi, A Cố và Geoger Trần Cũng từ đó, mọi mâu thuẫn, xung đột xuất hiện giữa những “vị khách không mời mà đến này”, gay gắt nhất là giữa mười ba cô gái đến từ sông Tần Hoài với mười sáu em nữ sinh Và ở đó cũng nảy sinh những mối tình mới chớm nở giữa những con người không may mắn sinh ra trong thời buổi loạn lạc ấy
Cuối cùng, nhà thờ được coi là nơi “bất khả xâm phạm” cũng bị binh lính Nhật xông vào lục soát Mục đích của chúng ban đầu là tìm kiếm thức ăn, chiếm đoạt phương tiện Nhưng sau đó, chúng đã chuyển mục đích Những lần lục soát nhà thờ, chúng đã phát hiện ra hơi của con gái, chúng tin rằng “gái trinh bổ dưỡng tinh thần” Cho nên chúng đã tìm mọi kế để mời các em nữ sinh đến doanh trại của quân Nhật Trước lời
“mời” đó, linh mục Engman chối từ, ông nói các em đã tị nạn đi nơi khác Binh lính Nhật không tin và yêu cầu sẽ lục soát nhà thờ Không còn cách nào khác, linh mục đành “hoãn binh” để tìm cách giải quyết, để cứu các em nữ sinh khỏi bàn tay nhơ nhuốc của quân xâm lược nhưng chưa biết phải làm thế nào
Trong tình thế nguy kịch đó, mười ba cô gái điếm đến từ sông Tần Hoài đã sẵn sàng hi sinh thân mình để cứu các em nữ sinh Những người trước đây từng bị các nữ sinh khinh bỉ, xa lánh… giờ lại nguyện vì các em, cải trang để đóng thế ban đồng ca trong cuộc chiến “một mất một còn” Các cô đã bị các sĩ quan Nhật chia nhau thân xác của mình Có cô đã chết vì bệnh, có cô bị bắn vì định bỏ trốn, cá biệt có cô chết vì tự sát, duy nhất chỉ còn cô gái tên Triệu Ngọc Mặc còn sống sót Trong phiên tòa xét xử tội phạm năm 1946, cô Mạnh Thư Quyên - một trong mười sáu nữ sinh được các cô cứu đã nhận ra Triệu Ngọc Mặc Nhưng Triệu Ngọc Mặc đã nhất định từ chối Kết thúc câu truyện cũng là sự mở đầu cho những câu chuyện tiếp theo Đó không chỉ là vấn đề riêng của một thời đại nào mà nó là vấn đề của mọi thời đại
Tầm tư tưởng của Kim Lăng thập tam thoa ở chỗ: Cuốn tiểu thuyết ra đời khi đất
nước Trung Quốc đã hòa bình, lịch sử đã lùi xa, những mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Nhật Bản không còn căng thẳng Tác phẩm không đi khoét sâu nỗi đau lịch sử, không
sa đà kể lể sự kiện lịch sử, không gợi mối thù hằn dân tộc, mà rộng hơn là vấn đề nhân phẩm của con người, nhân phẩm của dân tộc Trung Hoa Người Trung Quốc cho đến
Trang 33tận bây giờ vẫn mang nỗi đau về “phẩm giá” dân tộc Điều mà Nghiêm Ca Linh đã đề cập trong tác phẩm này Vì thế ngay từ khi ra đời, tiểu thuyết đã được đông đảo bạn đọc đón nhận Và tác phẩm đã được đạo diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể thành bộ phim cùng tên công chiếu vào ngày 16 tháng 12 năm 2011 Bộ phim đã đứng đầu về doanh thu phòng vé, thu về 150 Nhân dân tệ (50 tỷ đồng) ngay sau khi công chiếu một tuần tại đất nước Trung Quốc Tại Việt Nam, bộ phim đã được công chiếu và nhận được đông đảo khán giả yêu thích
Cái duyên đến với điện ảnh trở thành sợi dây kết nối các tác phẩm của Nghiêm
Ca Linh đến gần với độc giả Khiến cho các tác phẩm của bà không chỉ thu hút độc giả
mà cả giới nghiên cứu trên toàn thế giới Năm 2006, bà được đề cử là nhà tiểu thuyết của năm Từ đó đến nay, bà đã giành được khoảng 30 giải thưởng văn học và phim ảnh Tác phẩm của bà đã được dịch sang các tiếng Hà Lan, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Bồ Đào Nha, Thái Lan, và đang chuẩn bị dịch ra tiếng Hebrew, Hungary, Ý, Rumani và Việt Nam
Với tất cả sự nỗ lực, tài năng và sức sáng tạo Nghiêm Ca Linh được biết đến là nhà văn nổi tiếng của văn học đương đại Trung Quốc Các tác phẩm của bà đã tạo nên một thế giới hình tượng nhân vật không chỉ để truyền tải những vấn đề có tính chất thời
sự mà còn truyền tải được những vấn đề rộng lớn đó là vấn đề con người và quyền sống của con người Chính vì thế, tác phẩm của bà đã có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc và trong lòng độc giả
Trang 34Tiểu kết chương 1
Cho đến nay, vẫn còn không ít người nhầm lẫn giữa văn học so sánh và so sánh văn học Văn học so sánh được xem với tư cách là một bộ môn độc lập, là một phương pháp luận mang tính khoa học Còn so sánh văn học chỉ là một phương pháp so sánh
Văn học so sánh cho phép người nghiên cứu so sánh trong mối quan hệ ảnh hưởng hoặc tương đồng để tìm ra giá trị thẩm mĩ Với đề tài này, chúng tôi nghiên cứu theo hướng tương đồng Từ những nét tương đồng trong cách nhìn nhận về hình tượng nhân
vật phụ nữ trong hai tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) và Kim Lăng thập tam thoa (Nghiêm Ca Linh) qua đó khẳng định sự thành công của hai nhà văn,
hơn hết là vị trí của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh bên cạnh nhà văn nước ngoài
Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh đều sinh ra và lớn lên trong xã hội bão táp đầy biến động Cuộc đời hai nhà văn gắn với những sự kiện lịch sử, những đổi thay lớn lao của dân tộc mình Dù cả hai nhà văn đều có cuộc đời không mấy suôn sẻ, nhưng
đó là động lực lớn để hai nhà văn có được những thành công như ngày nay Cùng viết
về những sự kiện lịch sử của dân tộc mình, nhưng mỗi nhà văn lại có hướng đi mới mẻ, tạo nên cá tính Với Nguyễn Xuân Khánh, ông tái hiện những sự kiện lịch sử nhưng không đi theo con đường chính sử mà ông đã kéo nó lại gần với đời sống thực hơn, gần gũi hơn Nhà văn Nghiêm Ca Linh đề cập đến sự kiện, đất nước, con người Trung Hoa, nhưng cũng không sa đà kể lể hay khoét sâu nỗi thù hằn dân tộc Những sự kiện đó chỉ
là cái cớ để bà khái quát lên vấn đề mang tính nhân loại
Trong hai tiểu thuyết, hình tượng nhân vật phụ nữ là vấn đề nổi bật nhất Qua đó hai nhà văn phản ánh những vấn đề mang tính nhân loại Với hướng đi mới mẻ, cách nhìn nhận vấn đề khác lạ đã đem đến những giải thưởng to lớn cho cả hai nhà văn: Năm 2018, Nguyễn Xuân Khánh được nhận giải thưởng Thành tựu văn học trọn đời Với Nghiêm Ca Linh, năm 2006, bà được đề cử là nhà tiểu thuyết của năm Ngoài ra, với những sáng tác của mình đã tạo nên tên tuổi của họ trên văn đàn văn học dân tộc
Trang 35Chương 2 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Trong hai tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa và Mẫu thượng ngàn, qua khảo sát, chúng tôi thấy: Tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa có tổng số 40 nhân vật, trong đó
có 29 nhân vật nữ (chiếm 72,5%); Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn có tổng số 90 nhân
vật, trong đó có 40 nhân vật nữ (chiếm 44,4%) Như vậy có thể thấy, cả hai tác giả đều rất quan tâm đến một đối tượng đó là người phụ nữ Các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm của hai nhà văn này đều có điểm chung đó là những con người sống trong xã hội
có nhiều biến động, đặc biệt là chiến tranh Phụ nữ vốn là người chịu “thiệt thòi”, trong hoàn cảnh có chiến tranh họ lại càng dễ gặp bất hạnh hơn nam giới Trong sự cảm nhận
và thể hiện của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh các nhân vật nữ trở thành những hình tượng để phản ánh những vấn đề của thời đại, của nhân loại Trong chương này, chúng tôi sẽ đi sâu, khảo cứu ba phương diện nổi bật của hình tượng phụ
nữ trong hai tiểu thuyết Kim Lăng thập tam thoa và Mẫu thượng ngàn Ba phương diện
đó vừa thể hiện những điểm chung nhưng thể hiện những điểm rất riêng của hai nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và Nghiêm Ca Linh Đó là: nhân vật phụ nữ - hiện thân của bất hạnh; nhân vật phụ nữ - hiện thân của khát khao hạnh phúc; nhân vật phụ nữ và nữ quyền
2.1 Nhân vật phụ nữ - hiện thân của bất hạnh
Những năm đầu thế kỉ XX, Trung Quốc và Việt Nam đều chịu sự xâm chiếm của
quân xâm lược Hiện thực trong tác phẩm Kim Lăng thập tam thoa là hiện thực cuộc
sống của người dân Trung Quốc ở Nam Kinh khi bị quân đội Nhật chiếm đóng Hiện
thực trong Mẫu thượng ngàn là hiện thực cuộc sống của người dân Việt Nam ở một
vùng quê bán sơn địa miền Bắc dưới sự cai quản của đồn điền người Pháp Cuộc sống thời chiến nhiều đau khổ, mất mát Thêm vào đó, tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu,
tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại nặng nề ở hai quốc gia Phụ nữ là người chịu
“thiệt thòi” nhất trong xã hội bấy giờ Cả Nghiêm Ca Linh và Nguyễn Xuân Khánh đều quan tâm đến đối tượng dễ bị tổn thương này Trong cảm nhận của hai nhà văn, người phụ nữ trong hai tiểu thuyết là những chân dung mang màu sắc buồn thương, bất hạnh trong cuộc sống
Trang 36Khảo sát Kim Lăng thập tam thoa, chúng tôi thấy có hai chín nhân vật nữ chính,
trong đó có mười ba nhân vật gái điếm và mười sáu em nữ sinh Nhà văn tập trung xây dựng hai loại phụ nữ trong tác phẩm của mình, nhưng cả hai loại đó đều không có được hạnh phúc Mỗi loại nhân vật phụ nữ là hiện thân của bất hạnh và những nỗi bất hạnh
là không giống nhau
Trước hết, chúng tôi muốn nói đến các nhân vật là các cô gái điếm Mười ba cô gái điếm xuất hiện trong tác phẩm trong hoàn cảnh bị quân Nhật săn đuổi phải chạy nương nhờ linh mục trong nhà thờ Ngay từ khi xuất hiện trong tác phẩm các cô đã ở trong hoàn cảnh bước đường cùng: quân Nhật đến xâm lược, truy lùng, các cô phải nương nhờ nhà thờ, dù bị đánh đập xua đuổi nhưng các cô vẫn cố trèo vào Hoàn cảnh cho thấy số phận bất hạnh, các cô luôn bị coi là cặn bã của xã hội, là đối tượng săn lùng của quân Nhật
Thời phong kiến ở Trung Quốc, nghề ca nhi, kĩ nữ là hạng người bất hạnh trong cuộc sống Dù được tạo hóa ban cho nhan sắc, tài năng nhưng lại giáng xuống bản thân
họ hoặc gia đình họ tai họa, để họ buộc phải gánh chịu, đưa đẩy họ vào chốn lầu xanh,
trở thành món hàng, họ mất đi quyền sống, giá trị làm người Trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du, nhà thơ thật tài tình khi đưa vào trong kiệt tác của mình chân dung số phận
tài hoa nhưng bất hạnh của cô ca nhi Đạm Tiên: “Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay thác xuống làm ma không chồng” Đời người một kiếp ca nhi, sống thì trở thành món
hàng qua tay biết bao nhiêu đàn ông, không chốn nương thân, không có được lựa chọn hạnh phúc Đau đớn thay, kiếp ca nhi khi sống thì đâu cũng là chồng mà khi chết đi nơi quạnh quẽo cô đơn không có một ai Cũng viết về số phận của các cô gái điếm trên sông Tần Hoài, Nghiêm Ca Linh đã đặt các cô ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời để thấy được sự bất hạnh, đau đớn ê chề về thể xác lẫn tinh thần
Dõi theo diễn biến tác phẩm, ta dễ dàng nhận thấy, ngay khi không có chiến tranh các cô gái điếm cũng không hề có chút niềm hạnh phúc Với các cô gái điếm, ở thời bình, các cô không có được hạnh phúc Họ không có được tình yêu thương của gia đình Những cô gái ấy bị đẩy vào cuộc sống bất hạnh và phải làm cái nghề ô nhục từ rất sớm - làm nghề gái điếm trên sông Tần Hoài, từ cô gái mười lăm tuổi cho đến cô gái có dáng người quyền quý Họ chỉ là thứ mua vui xác thịt cho kẻ có tiền Mỗi cô gái
Trang 37điếm đến với nghề này là khác nhau như Đậu Hoàn, Ngọc Mặc Với định kiến xã hội, khi nhắc đến nghề đó các cô luôn bị người đời khinh rẻ, không nhận được sự tôn trọng Ngay
cả những em nữ sinh mới trạc mười ba, mười bốn tuổi như Thư Quyên, Từ Tiểu Ngu, Sô
- phi cũng luôn tỏ ra ghê tởm, không coi gái điếm là người
Phần lớn các cô gái điếm đều không có được hạnh phúc trọn vẹn Ngay từ nhỏ,
họ sớm đã phải lưu lạc nay đây mai đó, không có được hạnh phúc gia đình, không nơi nương tựa Đậu Hoàn là một cô gái mồ côi cha mẹ từ sớm, ngay cả tên họ của mình cô cũng chẳng nhớ, hình như họ Thẩm, “một người Hoài Bắc múa trống kiếm ăn đã gánh
cô bán cho nhà chứa” [18, tr 134] Sớm đã phải sống cuộc sống trong nhà chứa, không cha mẹ, không người thân, cô không nhận được bất kì sự chăm sóc, dạy bảo từ gia đình
Khi lớn lên, mới bảy tuổi Đậu Hoàn đã cực kỳ xinh đẹp, nhưng lại thuộc loại “đầu ngu miệng vụng” Cô làm một năm mà khách toàn hạng thấp hèn Và để học được ngón gảy đàn tì bà cô phải mất đến năm năm và chịu những đòn roi từ má mì Thời gian sống
ở nhà chứa Đậu Hoàn luôn nhận phần thiệt về mình: toàn mặc đồ thừa của chị em, toàn quần áo vá víu
Khác với Đậu Hoàn, Ngọc Mặc từ khi sinh ra đã có cuộc sống hằng mơ ước của bao người: được sống bên cha mẹ, được sống trong môi trường tốt, học trường tốt, “Tứ thư ngũ kinh cô đã đọc, cầm kì thi họa cô thông hiểu, dòng dõi cha mẹ cũng không thấp
hèn, họ đều thuộc thế hệ đọc nhiều biết rộng…” [18, tr 138] Dù vậy, nhưng ngay từ
nhỏ cô luôn có dự cảm về cuộc đời sau này sẽ nhiều bất trắc: “Từ nhỏ cô đã biết mình đầu thai nhầm chỗ, lẽ ra phải là châu báu của một gia đình quý phái” [18, tr 138] Cuối cùng, những dự cảm của Ngọc Mặc cũng đến, cha cô là kẻ bại gia chi tử, vì thua cờ bạc nên đã bán cô cho ông chú trùm cờ bạc: “Hơn mười tuổi, cô bị cha cầm cố cho
ông chú họ trùm cờ bạc Chú chết, thím bán cô vào thuyền hoa” [18, tr 139] Cuộc
đời Ngọc Mặc bước sang trang mới đầy rẫy những bất hạnh, những cám dỗ của cuộc sống phong trần Năm mười bốn tuổi, cô đã lãnh đủ sóng gió Tần Hoài Năm hai tư tuổi, cô gái nhảy siêu hạng gặp Trương Thế Khiêu, tưởng rằng sẽ thoát khỏi được cuộc sống nhầy nhụa này, thế nhưng chuyện bị bại lộ dưới tay vợ anh ta
Ở thời bình, các cô gái điếm như Đậu Hoàn, Ngọc Mặc luôn bị người đời rẻ rúng, coi thường Các cô chỉ là thứ mua vui cho cánh đàn ông Năm mười chín tuổi, cô Ngọc Mặc gặp một kẻ phụ tình Hắn ta hứa cưới cô nên cô mới đồng ý “ngã vào lòng” hắn
Trang 38Mấy năm sau người ta cao chạy xa bay, bỏ lại cô một mình Cô tháo nhẫn cưới, ốm một trận liệt giường tưởng chết Năm hai tư tuổi, gặp Trương Thế Khiêu, cô nghĩ rằng
sẽ dựa vào anh ta để thoát khỏi tàng Ngọc Lâu Cuối cùng, chuyện giữa cô và Trương Thế Khiêu đã bị vợ anh ta phát hiện Mọi lời hứa trước đây anh ta quên bẵng, chỉ viết lại cho cô bức thư với lý do không thể đi Trùng Khánh với cô được Cùng với bức thư, anh gửi cho Ngọc Mặc hai lượng vàng và năm mươi đồng đại dương Mối tình coi như kết thúc từ đó Cô gái Ngọc Mặc tài hoa, thông minh xinh đẹp chỉ được vị quan tin vào điều mình đã được dạy rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng bằng hai lượng vàng và năm mươi đồng đại dương
Thời bình, các cô gái điểm phải chịu những đau đớn, bất hạnh về thể xác Trong thời chiến, nỗi đau đớn về tinh thần còn đau gấp bội lần Phụ nữ vốn là những người chịu nhiều thiệt thòi, bất công, trái ngang cuộc đời Vậy mà khi chiến tranh đến, họ lại
là những nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của kẻ đi xâm lược Trong thời chiến, các
cô gái điếm không chỉ bị ghê tởm bởi đồng bào mình mà họ trở thành mục tiêu săn đuổi của quân Nhật, họ là nô lệ tình dục
Mười ba cô gái điếm dù xuất hiện trong hoàn cảnh nào cũng luôn bị coi thường, khinh rẻ vì họ ở vị thế xã hội thấp hèn: đó là nghề ca kĩ, nghề mua hương bán phấn
Nhất là trong chiến tranh: “Thương nữ bất tri vong quốc hận/ Cách giang do xướng hậu đình hoa”, người đời cho rằng đã là con hát thì không bao giờ biết đến cái hận mất
nước, bên kia sông vẫn hát khúc hậu đình hoa Các cô luôn bị người đời nhìn với ánh mắt vô cùng căm hận Trong bối cảnh chiến tranh, qua cái nhìn của các vị linh mục thì
họ là hạng đàn bà không nên sống chung trong nhà thờ với các em nữ sinh: “Loại
đàn bà như các người thì sợ gì hả? Ra phố mà chèo kéo bọn lính Nhật đi” [18, tr
19] Các vị linh mục cho họ vào nhà thờ chỉ là tạm thời còn cuối cùng cũng phải đuổi
họ đi: “Sống chết thế nào cũng phải lôi cổ họ ra! Đã nhìn thấy rõ chưa? Đứa nào cũng làm loạn cả!” [18, tr 23]
Trong cái nhìn của các nữ sinh, đặc biệt qua cái nhìn của Thư Quyên: “Thư Quyên hiểu được tình hình đang xảy ra, mấy người kia đúng là một đám đàn bà không nên để mắt tới” [18, tr 15] Từ khi họ đặt chân vào trong nhà thờ Wilson: “Sàn đá sạch sẽ đến xanh
bóng bị đám đàn bà xanh đỏ kia làm cho nhem nhuốc” [18, tr 20] Đâu chỉ có Thư Quyên
có thái độ khinh bỉ đám đàn bà “Thì ra các cô bé ai cũng vậy, đối với bọn đàn bà
Trang 39hạ đẳng từ thuyền hoa đến, các cô vừa khinh rẻ, vừa háo hức…” [18, tr 43] Với
nữ sinh, đám đàn bà “mua hương bán phấn” là hạng người “mạt hạng” trong xã hội không đáng được tôn trọng Đám đàn bà kia là những kẻ mạt hạng nhìn chỉ thêm bẩn mắt Các nữ sinh luôn tỏ ra căm ghét họ Vì đám gái điếm kia luôn chèo kéo, luôn sống nhờ vào nhược điểm của người đàn ông và kiếm sống bằng bộ phận thầm kín giữa hai đùi Các cô cảm thấy ghê tởm lũ đàn bà mua hương bán phấn, coi đó là “…những sinh
mạng rẻ mạt, không hề cao quý…” [18, tr 226] Dù xuất hiện ở bối cảnh nào các cô
gái điếm luôn là những hạng người rẻ mạt trong xã hội, không đáng được tôn trọng
Cùng là con người, cùng chung dân tộc, vậy mà họ lại bị chính đồng bào mình ghê tởm
Hơn hết, nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời của các cô gái điếm đó là trở thành mục tiêu săn đuổi của bọn lính Nhật Cô gái Đậu Hoàn vì muốn có đủ sợi dây đàn để hát tặng Vương Phố Sinh mà đã bất chấp cả tính mạng Cô đã tự mình quay trở về nhà bên sông Tần Hoài và đã chết dưới tay của lính Nhật: “Cô bé bị lính Nhật thay nhau hãm hiếp rồi đâm mấy nhát” [18, tr 188], đó là cái chết thật đau đớn Trước sự săn lùng của lính Nhật, các cô gái điếm đã sẵn sàng thay thế nữ sinh đóng giả làm các thiếu nữ ban
đồng ca Họ đã hi sinh bản thân mình, trở thành tấm đệm thịt để các sĩ quan cao cấp
của quân đội Nhật chia sẻ nhau thân xác Trong số họ, có cô bị giết vì chống cự bọn lính Nhật Cũng có cô bị bắn chết vì bỏ trốn, có cô bị bệnh mà chết, cá biệt có cô chết
vì tự sát Duy chỉ còn Triệu Ngọc Mặc sống sót, nhưng cô đã phải thay đổi diện mạo trở thành một con người khác
Số phận của các cô kĩ nữ đã vậy rồi, còn các cô nữ sinh thì sao? Không phải tự nhiên mà nhà văn Nghiêm Ca Linh lại đặt các nữ sinh bên cạnh các cô gái điếm Đặt những nữ sinh thánh thiện bên cạnh những nhân vật được xem là nhơ nhớp, nhà văn có dụng ý gì? Dưới ngòi bút của Nghiêm Ca Linh các em nữ sinh thánh thiện nhưng cũng không phải hoàn toàn hạnh phúc Nỗi bất hạnh ở các em không phải nghèo đói về vật chất, không phải thái độ khinh bỉ của xã hội, mà sâu xa hơn là định kiến về vị trí thấp hèn của người phụ nữ
Không chỉ ở thời chiến, mà ngay thời bình, các em được sống đầy đủ vật chất nhưng các em nữ sinh chỉ là phận “nữ nhi thường tình” Các em được giáo dục theo khuôn phép hà khắc của giáo dục phong kiến Với các cô bé, những chuẩn mực xã hội
là điều đặt lên hàng đầu Còn vấn đề tình dục hay đàn ông các cô không được phép để
Trang 40ý tới Vì cách giáo dục khắt khe đó mà khi đến ngày hành kinh - đánh dấu sự trưởng thành của người con gái, Thư Quyên chỉ cảm thấy nhục nhã, ê chề: “Chẳng ai nói với
cô rằng cơn đau khủng khiếp đó sẽ xảy ra Lẽ ra đó là việc của người mẹ nhưng mẹ vắng mặt” [18, tr 33] Cô đau đớn quá, cô thù ghét tất cả mọi thứ, cô ghét chính mình
vì có tấm thân và nội tạng và cả những cơn đau quặn ruột và dòng máu bẩn thỉu y như đám gái điếm dưới hầm kia Từ nay, cô sẽ trở thành tấm thân gây ra bao tội lỗi, để tùy
ý cho kẻ nào đến “trồng cây và hái quả” Chính sự giáo dục thiếu khoa học, thiếu nhân văn, thiếu con người đã làm lu mờ đi hiểu biết về lứa tuổi vị thành niên Đáng lẽ ra đó
là những kiến thức cơ bản cần được giáo dục cho các em nhưng để các em trở nên thánh thiện, trở thành chuẩn mực của xã hội thì các em không được nghĩ tới
Dưới ngòi bút của nhà văn Nghiêm Ca Linh, các em thánh thiện nhưng cũng mang đau khổ mà xã hội không thấy được, đó là “sự phát triển giới tính”, sự phát triển tự nhiên của nữ giới Là những cô nữ sinh thánh thiện, các em không bao giờ được nghĩ tới sự phát triển của những bộ phận sinh dục trên cơ thể Ngay như cô bé Thư Quyên, khi bị hành kinh lần đầu tiên cô chỉ cảm thấy thấy nhục nhã, ê chề Vì các cô được dạy rằng đó là sự đánh dấu cho những điều tội lỗi và xấu xa
Như vậy, Nghiêm Ca Linh đã thấu tận và phản ánh một vấn đề mà xã hội Trung Quốc thấy nhưng không dám nói Đó chính là sự bất hạnh của người phụ nữ dù họ xuất hiện trong hoàn cảnh nào, sống trong một điều kiện nào, tầng lớp bình dân hay quý tộc, nghèo hay giàu phụ nữ đều bất hạnh
Các cô nữ sinh ấy, khi chiến tranh xảy ra các cô bị đẩy đến bước đường cùng của nghèo đói Các nữ sinh lánh nạn trong nhà thờ Wilson trong tình trạng: nước hết, lương thực hết “Trong nhà thờ lúc này chỉ còn một gánh bột, gạo chưa đến một thăng Nước thì chỉ còn tí chút ở bồn rửa tội…” [18, tr 29] Vậy mà các nữ sinh còn phải chia sẻ phần thức ăn của mình với bọn gái điếm Ngay cả không gian sống của các cô cũng không được tự do Nơi lánh nạn của các cô là trên căn gác chật chội của nhà thờ Các
cô phải ở yên trên căn gác theo lời của linh mục Engman để đảm bảo an toàn Thế nhưng, chiến tranh đến không chừa lối thoát cho bất kì ai, ngay cả nhà thờ Wilson được coi là nơi “bất khả xâm phạm” cũng bị lính Nhật vào lùng sục