Nếu như ở cơ quan Công Chứng nhà nước, hoạt động nghiệp vụ chuyên môn là xác nhận tính hợp lệ, hợp pháp của các loại giấy tờ cho mỗi tổ chức, cá nhân có nhu cầu thì ở các đơn vị sự nghiệ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ NHUẤN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN TRUNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên Trân trọng biết ơn các quý thầy cô giáo đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bầy tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy TS Nguyễn Xuân Trung - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á - Người thầy rất tâm huyết tận tình giúp đỡ trong quá trình xây dựng ý tưởng nghiên cứu, hướng dẫn, động viên và hỗ trợ tạo điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành trong tỉnh Hưng Yên, đã cung cấp số liệu và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình viết luận văn
Chân thành cám ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của lãnh đạo Sở Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Hưng Yên, các anh, chị, em và bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Bản thân đã hết sức cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả
Xin trân trọng cảm ơn./
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 4 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Nhuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN Ở CẤP TỈNH 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh 5
1.1.1 Khái niệm, nội dung và đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước 5
1.1.2 Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh 11
1.2 Các yếu tố tác động đến quản lý chi thường xuyên NSNN 30
1.2.1 Các yếu tố khách quan 30
1.2.2 Các yếu tố chủ quan 31
1.3 Kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở một số địa phương 31
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước củ a tỉnh Hà Nam 31
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của tỉnh Hải Dương 32
Trang 61.3.3 Bài học rút ra cho Hưng Yên trong quản lý chi thường xuyên ngân
sách nhà nước 34
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 37
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 37
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 40
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 40
2.2.5 Kỹ thuật và công cụ phân tích 41
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HƯNG YÊN 43
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên 43
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
3.1.2 Kinh tế - Xã hội 45
3.2 Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 - 2015 48
3.2.1 Hoạt động chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 48
3.2.2 Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 69
3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên 77
3.3.1 Các yếu tố khách quan 78
3.3.2 Các yếu tố chủ quan 79
3.2.3 Kết quả đánh giá công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 81
Trang 73.4 Đánh giá công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
tỉnh hưng yên 83
3.4.1 Những kết quả đạt được 83
3.4.2 Những hạn chế 85
3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 88
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN TỈNH HƯNG YÊN 91
4.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và phương hướng hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên 91
4.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên 91
4.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tỉnh Hưng Yên 93
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 94
4.2.1 Nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính quản lý chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 94
4.2.2 Hoàn thiện công tác lập dự toán ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 95
4.2.3 Hoàn thiện công tác chấp hành dự toán ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 97
4.2.4 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập 98
4.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thực hiện công khai tài chính các cấp 99
4.3 Một số kiến nghị 100
4.3.1 Kiến nghi ̣ đối với Chính phủ 100
4.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 101
4.3.3 Kiến nghị với HĐND, UBND tỉnh Hưng Yên 102
Trang 8KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC PHIẾU KHẢO SÁT 110
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng dự toán c hi ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên 49
Bảng 3.2 Bảng số liệu quyết toán chi NSNN Tỉnh Hưng Yên 50
Bảng 3.3 Tỷ lệ % thực hiện so với dự toán chi NSNN Tỉnh Hưng Yên 51
Bảng 3.4 Bảng cơ cấu các khoản chi NSNN Tỉnh Hưng Yên 54
Bảng 3.5 Tỷ lệ các khoản chi NSNN Tỉnh Hưng Yên 56
Bảng 3.6 Bảng c ơ cấu các khoản chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên 57
Bảng 3.7 Tỷ lệ các khoản chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên 58
Bảng 3.8 Quy mô, mạng lưới giáo dục và đào tạo tỉnh Hưng Yên 60
Trang 11
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Chi cân đối ngân sách địa phương giai đoạn 2011-2015 53
Đồ thị 3.2 Cơ cấu các khoản chi NSNN giai đoạn 2011-2015 54
Đồ thị 3.3 Cơ cấu chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo 59
Đồ thị 3.4 Cơ cấu chi quản lý hành chính 61
Đồ thị 3.5 Cơ cấu chi sự nghiệp kinh tế 62
Đồ thị 3.6 Cơ cấu chi sự nghiệp Y tế 64
Đồ thị 3.7 Một số khoản chi khác giai đoạn 2011-2015 66
Trang 12
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính sách thu, chi ngân sách nhà nước là công cụ hữu hiệu để điều tiết kinh tế, khắc phục hạn chê của cơ chế thị trường, quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, động viên nguồn lực để phát triển kinh tế -
xã hội và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.Thông qua công
cụ NSNN, Nhà nước có thể phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp các nền tài chính của quốc gia, định hướng phát triển sản xuất, hình thành nền cơ cấu kinh tế mới, điều chỉnh thu nhập nhằm thực hiện công bằng xã hội
Trong điều kiện của một nền kinh tế đang phát triển, nguồn thu cho NSNN còn gặp nhiều khó khăn trên, thì cần phải tập trung các nguồn lực tài chính để phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước thì việc quản lý chặt chẽ và
sử dụng có hiệu quả các khoản chi của NSNN luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, nhà nước và cấc cấp, các ngành
Trong thời gian qua, công tác quản lý chi ngân sách liên tục được đổi mới và tăng cường theo hướng đơn giản hóa quy trình, tăng hiệu quả, đẩy mạnh tiết kiệm, chống lãng phí Các khoản chi của ngân sách nhà nước đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc Công tác quản
lý và phân cấp ngân sách đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách, thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý, kiểm soát chi NSNN đã được sửa đổi bổ sung theo hướng đơn giản, thuận lợi
Trang 13Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, tính dàn trải trong chi ngân sách nhà nước chưa được khắc phuc, bao cấp chưa được xóa bỏ triệt để; hiệu quả đầu
tư còn thấp; thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản còn cao; chi tiêu hành chính còn nhiều bất hợp lý
Để nhâ ̣n thứ c mô ̣t cách đầy đủ và đúng đắn vai trò của NSNN là điều hết sức cấp thiết nhằm thực hiê ̣n các biê ̣n pháp đổi mới hoa ̣t đô ̣ng của NSNN cho phù hợp với điều kiê ̣n nền kinh tế thi ̣ trường hiê ̣n nay , đảm bảo nguồn vốn đáp ứng cho sự nghiê ̣p xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tăng cường công tác quản lý chi NSNN địa phương là mô ̣t trong những nội dung trọng yếu , mang tính đột phá trong công cuô ̣c cải cách hành chính, là điều kiện đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng NSNN theo đúng pháp Luật Quản lý chi NSNN không tốt sẽ tác động xấu đến duy trì hiệu lực, hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công Vì vậy đổi mới công tác quản lý NSNN, trong đó chi NSNN địa phương là vấn đề cấp thiết hiện nay
Hưng Yên với đặc điểm là một tỉnh thuần nông, không có lợi thế về phát triển du lịch, dịch vụ… khu công nghiệp thì vẫn còn non trẻ Chính vì vậy, nguồn thu NSNN không nhiều, chi thường xuyên, chi đầu tư XDCB và các khoản chi khác trên địa bàn chủ yếu từ nguồn trợ cấp cân đối và bổ sung
có mục tiêu của NS TW Do đó, việc quản lý, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các khoản chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu chi tiêu của các cấp chính quyền địa phương, tăng cường cho nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và các khoản chi đột xuất khác, khắc phục và giảm thiểu tối đa các hạn chế trong quản lý chi NSNN như đã nêu trên là yêu cầu và đòi hỏi tất yếu đối với các cơ quan quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 14Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: " Hoàn thiện công tác quản
lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên" làm đề tài nghiên
cứu luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, làm rõ thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên, đề tài luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
- Làm rõ thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên và đưa ra những đánh giá về kết quả quản lý chi thường xuyên ở tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý chi thường xuyên Ngân sách nhà nước ở tỉnh Hưng Yên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng quản lý chi thường
xuyên NSNN tỉnh Hưng Yên trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2015 Các
đề xuất được thực hiện cho giai đoạn 2016 - 2020
Trang 15- Về không gian: Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh
Hưng Yên Tỉnh Hưng Yên
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
- Ý nghĩa về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và làm phong phú thêm lý luận về quản lý nhà nước đối với quản lý chi thường xuyên từ NSNN, đóng góp nhất định cho công tác nghiên cứu khoa học
về quản lý kinh tế nói chung và quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng
- Về giá trị thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn phục vụ cho công tác quản lý của các cơ quan chức năng, cơ quan chuyên môn, của cán
bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện quản lý chi thường xuyên NSNN, ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy và cán bộ, kiểm tra, kiểm soát đối với quản lý chi thường xuyên NSNN
- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại các trường Đại học trên cả nước
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân
sách nhà nước ở cấp tỉnh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
tỉnh Hưng Yên
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên
ngân sách nhà nước tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN Ở CẤP TỈNH 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh
1.1.1. Khái niệ m, nộ i dung và đ ặ c đ iể m chi thư ờ ng xuyên ngân sách nhà nư ớ c
1.1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên Ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm
vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp, và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng Hay nói cách khác, chi thường xuyên là các khoản gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế xã hội [25; tr 145]
Qua khái niệm trên cho ta thấy:
Thứ nhất, Chi thường xuyên NSNN là quá trình của nhiều hành vi,
hành động khác nhau của Nhà nước và có thế khái quát chúng thành ba nhóm
đó là: Nhà nước đề ra chủ trương, phương hướng, mục tiêu… về chi thường xuyên NSNN cho một khoảng thời gian hay một chu kỳ nào đó; Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ về chi thường xuyên NSNN: ban hành Luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư… về chi thường xuyên NSNN và Nhà nước tổ chức chi cụ thể từng khoản chi từ NSNN
Thứ hai, chi thường xuyên ngân sách dựa trên các quyền lực vốn có của
Nhà nước Nhà nước có rất nhiều quyền lực, như: Quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền lực quân sự… và chúng đều là cơ sở, chỗ dựa cho hoạt động chi thường xuyên NSNN
Thứ ba, Chi thường xuyên NSNN được thực hiện dưới dạng tiền tệ
Trang 171.1.1.2 Nội dung chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh
Các nhiệm vụ chi thường xuyên mà Nhà nước phải đảm nhận ngày càng tăng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy đã làm phong phú thêm nội dung chi thường xuyên của NSNN Trong công tác quản lý chi người ta có thể chia ra hai cách phân loại nội dung chi như sau:
Một là, chi theo các lĩnh vực chi thường xuyên của NSNN:
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn - xã: Hoạt động
sự nghiệp văn - xã như sự nghiệp giáo dục-đào tạo; sự nghiệp Y tế; sự nghiệp Văn hóa - Nghệ thuật; Thể dục - Thể thao; Thông tấn, báo chí; Phát thanh - Truyền hình, Khoa học-Công nghệ, Xã hội Mức cấp kinh phí cho mỗi đơn vị căn cứ vào nhiệm vụ của đơn vị và cơ chế quản lý tài chính mà nhà nước cho phép mỗi đơn vị thuộc hoạt động sự nghiệp văn - xã được phép áp dụng và hiện đang có hiệu lực thi hành Nội dung chi cụ thể:
+ Chi cho hoạt động giáo dục-đào tạo: Là các khoản chi cho hệ thống giáo dục, đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học và sau đại học Nhu cầu giáo dục, đào tạo của xã hội ngày càng cao tăng
về số lượng và chất lượng, nhưng nguồn tài chính thì có hạn, NSNN không thể đáp ứng cho đủ các nha cầu này mà chỉ đáp ứng một phần nhu cầu trong khuôn khổ nhất định, cho một số đốt tượng nhất định Khuôn khổ chi tiêu, đối tượng được thụ hưởng phụ thuộc vào quan điểm của Nhà nước và nguồn lực tài chính của quốc gia
+ Chi cho hoạt động Y tế: Là các khoản chi cho đảm bảo sửa khỏe cộng đồng, khám chữa bệnh cho người dân Trong khuôn khổ nhất định, chi tài chính công phải đảm ứng cho hoạt động khám chữa bệnh của một số đối tượng như trẻ nhỏ, những người thuộc diện chính sách xã hội
+ Chi cho hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao: Là các khoản chi cho hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục,
Trang 18thể thao…khoản chi này không chỉ nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sức khỏe về tinh thần cho người dân mà còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mà góp phần khẳng định và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế
+ Chi cho hoạt động khoa học: Là khoản chi cho nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm hiện đại hóa khoa học, công nghệ từ đó giúp nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường làm việc, tăng năng lực cạnh tranh cho mỗi quốc gia cả về kinh tế và xã hội
+ Chi cho hoạt động xã hội: Là khoản chi cho đảm bảo xã hội và cứ trợ
xã hội Khoản chi này nhằm đảm bảo cuộc sống của dân khi gặp khó khăn do
ốm đau, bệnh tật hoặc những người gia không nơi nương tựa nhằm ổn định
xã hội
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Hoạt động
của đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý Kinh tế - Xã hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi Mục đích hoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy NSNN cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này Chi sự nghiệp kinh tế bao gồm:
+ Chi sự nghiệp nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính và sự nghiệp kinh tế công cộng khác
+ Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp
+ Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính
+ Chi định canh, định cư và kinh tế nhà nước
Trang 19- Chi cho các hoạt động quản lý Nhà nước: Là các khoản chi để đảm
bảo hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương như chi hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan chuyên môn các cấp, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân Trong xu hướng phát triển của xã hội, các khoản chi quản lý hành chính không chỉ ở việc duy trì hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước để cai trị mà còn nhằm mục đích phục vụ xã hội Hoạt động này nhằm bảo vệ và hỗ trợ cho các chủ thể và các hoạt động kinh tế phát triển, chẳng hạn hoạt động cấp phép, công chứng, hộ khẩu…
- Chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấp kinh phí NSNN: Bao gồm: Đảng Cộng sản việt Nam và các tổ
chức Chính trị - Đoàn thể - Xã hội, như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân tập thể, Hội Liên hiệp Phụ nữ
- Chi cho Quốc phòng - An ninh và trật tư, an toàn xã hội: Khoản chi
này nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo ra dự yên bình cho người dân
Chi quốc phòng nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các thế lực thù địch bên ngoài
- Chi khác: Là khoản chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước, chi hỗ
trợ quỹ Bảo hiểm xã hội, phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước…và được gọi chung là “chi hỗ trợ và bổ sung”
và “các khoản chi khác”
Hai là chi theo nội dung kinh tế của các khoản chi thường xuyên
- Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp:
Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo chế độ nhà nước quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước
Trang 20- Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn: Chi nghiệp vụ chuyên môn
của các đơn vị hành chính - sự nghiệp bao gồm nhiều nội dung chi khác nhau
Cụ thể theo 2 tiêu chí với mục đích của các khoản chi:
+ Các khoản chi được tính vào chi nhằm đảm bảo cho hoạt động chung của mỗi đơn vị bao gồm các khoản chi, như: chi tiền điện, tiền nước, tiền vệ sinh phát sinh tại công sở; các khoản chi mà đơn vị phải thanh toán cho bưu chính, viễn thông; chi lễ tân, khánh tiết; chi tiền chè, nước, văn phòng phẩm dùng chung cho toàn đơn vị và các khoản chi phí chung khác Những nội dung chi này đều có phát sinh ở các đơn vị hành chính - sự nghiệp
+ Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù chỉ xuất hiện ở một số đơn vị hành chính - sự nghiệp, do hoạt động nghiệp vụ chuyên môn trong các đơn vị hành chính - sự nghiệp được đảm bảo bằng nguồn kinh phí thường xuyên của NSNN ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực rất khác nhau Nếu như ở cơ quan Công Chứng nhà nước, hoạt động nghiệp vụ chuyên môn là xác nhận tính hợp lệ, hợp pháp của các loại giấy tờ cho mỗi tổ chức, cá nhân có nhu cầu thì ở các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo là hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học; ở các đơn vị sự nghiệp Y tế lại là hoạt động phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh…
- Các khoản chi mua sắm, sửa chữa: Là các khoản chi mua sắm công
cụ, dụng cụ văn phòng, mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn và các khoản chi để thực hiện sửa chữa tài sản cố định, sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng từ kinh phí thường xuyên
* Các khoản chi khác: Là các khoản chi Kỷ niệm các ngày lễ lớn, chi
đãi ngộ đối với những người có công; chi thăm hỏi đồng bào dân tộc; chi trợ cấp; chi cho công tác Đảng
1.1.1.3 Đặc điểm của chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Trang 21Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định
và còn là những khoản chi mang tính liên tục Xuất phát từ tồn tại của Nhà nước, từ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội làm nảy sinh các khoản chi thường xuyên và đòi hỏi phải có tạo lập nguồn lực tài chính thường xuyên để trang trải
Với đặc điểm trên, lựa chọn phương thức cấp phát như cấp dự toán, hay cấp bằng lệnh chi tiền, việc theo dõi các khoản chi đặt ra yêu cầu không để ngân sách bị tồn đọng, phân khúc, gây tình trạng nơi thừa nguồn nơi thiếu nguồn, khiến cho các khoản chi bị gián đoạn ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc đôi khi còn gây những thiệt hại lớn có thể đo đếm được và không thể đo đếm được
Thứ hai, theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng
cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội Chi thường xuyên đáp ứng cho các nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước về quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại
Khi nghiên cứu cơ cấu chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta phân loại các khoản chi thành hai nhóm: Chi tích lũy
và chi tiêu dùng Theo tiêu thức này thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên được xếp vào chi tiêu dùng bởi vì chi thường xuyên chủ yếu trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước; về quốc phòng, an ninh; về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức
Vấn đề đặt ra đối với công tác kiểm soát chi thường xuyên là kiểm soát các khoản chi sao cho vừa đúng luật, tuân thủ các quy định tài chính, các điều kiện chi nhưng không thể chậm trễ cấp phát đối với những khoản chi như lương, phụ cấp, điện, nước, văn phòng phẩm, nghiệp vụ chuyên môn…
Trang 22Thứ ba, phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ
cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công cộng Chi thường xuyên luôn phải hướng vào việc bảo đảm hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước Nếu bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả thì số chi thường xuyên được giảm bớt và ngược lại Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức
độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi
và mức độ chi thường xuyên của NSNN Nếu Nhà nước quyết định cung cấp hàng hoá dịch vụ miễn phí thì phạm vi và mức độ chi NSNN phải rộng và lớn
Ngược lại Nhà nước quyết định cung cấp hàng hoá dịch vụ có thu một phần kinh phí thì mức độ chi NSNN sẽ giảm bớt
1.1.2 Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh
Quản lý chi thường xuyên NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các chính sách của Đảng và Luật pháp của nhà nước trong quản lý kinh tế, đồng thời sử dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tác động đến quá trình sử dụng các nguồn vốn của NSNN để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước đảm nhiệm một cách có hiệu quả nhất
Đối tượng tác động của quản lý chi thường xuyên NSNN là toàn bộ các khoản chi được bố trí trong dự toán NSNN hàng năm nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Quản lý chi thường xuyên NSNN là sự liên kết hữu cơ giữa Nhà nước với các chủ thể quản lý với khách thể quản lý và đối tượng quản lý (các khoản chi NSNN) Tác động của quản lý chi thường xuyên NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống gồm nhiều biện pháp khác nhau được biểu hiện dưới dạng
cơ chế quản lý Cơ sở để quản lý chi thường xuyên NSNN là cơ chế quản lý kinh tế tài chính và hệ thống pháp luật hiện hành Mục tiêu cơ bản của quản lý
là không để nguồn vốn của nhà nước bị thất thoát, lãng phí, hoặc sử dụng sai
Trang 23mục đích; phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là chủ thể
sử dụng vốn NSNN
Quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN được tính từ khi lập dự toán, chấp hành chi cho đến khi quyết toán chi NSNN
Các khoản chi thường xuyên NSNN đều phải thực hiện qua KBNN
Kho bạc Nhà nước là người kiểm soát các khoản chi nhằm đảm bảo chi đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm hiệu quả
Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi thường xuyên cho cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp khi có đủ các điều kiện sau: đã có quyết định giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; quyết định phân loại (đối với đơn vị sự nghiệp); mức NSNN bảo đảm thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; đã có trong dự toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định;
đã được Thủ trưởng đơn vị hoặc người được uỷ quyền quyết định chi; đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, phù hợp với Quy chế chi tiêu nội bộ và Quy chế sử dụng tài sản công trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp; có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo quy định có liên quan đến từng khoản chi
Kho bạc Nhà nước thực hiện công tác kế toán và quyết toán chi thường xuyên NSSN theo quy định của Nhà nước
1.1.2.1 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh
* Xây dựng định mức chi
Để quản lý các khoản chi thường xuyên của NSNN thì nhất thiết cần phải có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể: Cơ quan Tài chính dựa vào đó mới có căn cứ để lập các phương án phân bổ ngân sách, kiểm tra giám sát quá trình chấp hành, thẩm tra phê duyệt quyết toán
Trang 24kinh phí của các đơn vị thụ hưởng Đồng thời dựa vào định mức chi mà các ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc
cụ thể của quá trình quản lý, sử dụng kinh phí thuộc chi thường xuyên của NSNN tại đơn vị của mình theo đúng chế độ
+ Các loại định mức:
Định mức chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước được thể hiện ở các dạng sau:
- Loại định mức chi tiết theo từng mục chi của Mục lục NSNN dựa trên
cơ cấu chi của NSNN cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta sẽ tiến hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó
Định mức sử dụng sẽ là một trong những căn cứ rất quan trọng để các đơn vị dự toán quản lý, điều hành kinh phí trong phạm vi của đơn vị mình
Đồng thời, nó cũng là một trong những căn cứ quan trọng để cơ quan chủ quản cấp trên, cơ quan Tài chính, cơ quan Thanh tra, cơ quan Kiểm toán nhà nước thực hiện các phần việc liên quan đến xét duyệt, thẩm định, hay kiểm tra chấp thuận tính hợp lệ, hợp pháp của số kinh phí mà các đơn vị dự toán đã sử dụng Do đó, các định mức sử dụng phải được thể chế hóa một cách rõ ràng,
cụ thể và xác nhận thời gian có hiệu lực chung Vì thế, các định mức sử dụng thuộc chi thường xuyên của NSNN nhất thiết phải đạt được tính ổn định tương đối theo thời gian
Cùng với tiến trình thực hiện từng bước cải cách tài chính công, các định mức sử dụng thuộc chi thường xuyên của NSNN ta đã có những thay đổi đáng kể, làm phân hóa các định mức sử dụng thành 2 loại: các định mức bắt buộc chung và các định mức không bắt buộc chung
Các định mức bắt buộc chung được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước chưa được giao thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 16/NĐ-CP
Trang 25ngày 14/02/2005 và các khoản kinh phí không được giao quyền tự chủ của tất cả các cơ quan, đơn vị đã được giao quyền tự chủ Các định mức bắt buộc chung nhất thiết phải quản lý và sử dụng theo đúng các qui định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này hiện đang có hiệu lực thi hành
Các định mức không bắt buộc chung được áp dụng đối với các khoản kinh phí đã được giao khoán cho các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập đã được giao quyền tự chủ tài chính Song các định mức sử dụng không bắt buộc chung này nhất thiết phải được qui định trong qui chế chi tiêu nội bộ của mỗi đơn quan đơn vị đó và đã được tập thể công chức, viên chức đơn vị nhất trí thông qua
- Loại định mức chi tổng hợp theo từng đối tượng được tính định mức chi của NSNN (hay còn gọi là định mức phân bổ)
Định mức chi tổng hợp thường được sử dụng nhiều nhất trong quá trình lập dự toán NSNN, nhằm xây dựng được dự toán ngân sách sơ bộ để giao số kiểm tra, ấn định chính thức mức chi mà mỗi đối tượng được phép áp dụng khi xây dựng dự toán ngân sách kỳ kế hoạch Chính vì thế, người ta gọi những định mức này là định mức phân bổ Định mức phân bổ được dùng nhiều nhất trong quan hệ giữa các cấp ngân sách với nhau trong quá trình lập
dự toán chi thường xuyên của NSNN Hiện tại giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương ở nước ta đang sử dụng các định mức phân bổ ngân sách cho nhu cầu chi thường xuyên dựa trên tiêu chí dân số bình quân kỳ kế hoạch Mặc dù đã có tính đến sự chênh lệch về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các vùng khác nhau trên cơ sở đó đưa ra các mức cho các vùng, theo hướng vùng nào khó khăn hơn thì được phân bổ kinh phí cao hơn Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi trong quá trình lập dự toán hàng năm Lựa chọn
Trang 26các tiêu chí phân bổ ngân sách như thế nào cho công bằng hơn vẫn luôn được coi là vấn đề chưa có được lời giải thỏa đáng
Đối với địa phương định mức chi tổng hợp cho mỗi ngành, mỗi lĩnh vực phải dựa vào đặc thù hoạt động của mỗi ngành, mỗi loại hình đơn vị để xác định đối tượng tính định mức chi sao cho vừa phù hợp với hoạt động của các đơn vị, vừa phù hợp với yêu cầu quản lý
Vì bản thân định mức phân bổ ngân sách cũng có những cách lựa chọn tiêu chí rất khác nhau qua mỗi bước của quá trình lập dự toán NSNN Một tiêu chí sẽ chỉ được sử dụng thống nhất khi mối quan hệ giữa chủ thể được quyền phân bổ và chủ thể được nhận phân bổ ngân sách là giống nhau (phân
bổ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trong hệ thống NSNN; hay phân bổ kinh phí cho các trường hợp từ một cấp ngân sách nhất định) Điều quan trọng nhất là lựa chọn tiêu chí như thế nào để vừa đạt được công bằng, lại vừa phát huy được hiệu quả của quá trình phân bổ nguồn tài lực đó từ phía nhà nước
Những định mức phân bổ ngân sách từ một cấp cho các ngành, các lĩnh vực thuộc phạm vi chi thường xuyên mà cấp ngân sách đó phải đảm nhận thường được dựa vào các tiêu chí sau:
- Đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo:
Tiêu chí để phân bổ kinh phí cho các trường dự kiến năm kế hoạch chủ yếu là số học sinh, sinh viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạch
- Đối với sự nghiệp Y tế:
Khi tiến hành phân bổ kinh phí cho các đơn vị thuộc loại hình sự nghiệp này ở các bệnh viện, các trung tâm điều dưỡng người ta thường phải dựa vào chỉ tiêu số giường bệnh bình quân thực sử dụng mỗi cơ sở khám và điều trị được giao phải thực hiện
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
Trang 27Việc phân bổ kinh phí từ NSNN cho các cơ quan này ở mỗi cấp ngân sách thường tính theo số công chức viên chức (CCVC) bình quân dự kiến có mặt trong năm KH của mỗi cơ quan đó Do đó, số CCVC bình quân dự kiến
có mặt trong năm KH đã trở thành đối tượng phân bổ kinh phí cho các cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi cấp
Có thể nói các tiêu chí để xác định định mức chi tổng hợp làm căn cứ phân bổ ngân sách cho mỗi ngành, mỗi lĩnh vực rất đa dạng Các tiêu chí này
có tính ổn định tương đối dài; nhưng mức tiền cấp cho một đối tượng được tính định mức chi tổng hợp sau mỗi năm lại có sự thay đổi cho phù hợp với nhu cầu chi và khả năng đảm bảo từ nguồn vốn của NSNN
+ Các yêu cầu đối với định mức chi thường xuyên của NSNN
Muốn cho định mức chi thường xuyên của NSNN trở thành chuẩn mực
để phân bổ kinh phí hay kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí và quyết toán kinh phí chi thường xuyên thì các định mức chi được xây dựng phải thỏa mãn các yêu cầu sau đây:
- Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học Từ việc
phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học xác đáng, đảm bảo được tính phù hợp với mỗi loại hình, với từng đơn vị
- Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là, nó phải phản ánh
mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động và trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý kinh phí chi thường xuyên
- Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi và với từng đối tượng được thụ hưởng NSNN cùng loại hình; hoặc cùng loại hoạt động
- Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao
+ Phương pháp xây dựng định mức chi:
Trang 28- Phương pháp xây dựng dựa vàocác định mức sử dụng: Phương pháp
này được tiến hành theo các bước sau:
Xác định nhu cầu chi cho mỗi mục: Căn cứ vào định mức của ngành chủ quản về mức tiêu hao các loại vật tư, dụng cụ cho mỗi hoạt động hay chính sách chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực để xác định nhu cầu chi
Tổng hợp nhu cầu chi theo các mục đã được xác định để biết được tổng mức cần chi từ NSNN cho mỗi đơn vị, mỗi ngành làm cơ sở để lên cân đối chung
Xác định khả năng về nguồn tài chính có thể đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyên Tức là phải dự tính trước nguồn thu thường xuyên có thể huy động được trong một khoảng thời gian nhất định (thường từ 3 đến 5 năm) để
có thể lên cân đối chung
Cân đối giữa khả năng và nhu cầu chi thường xuyên để quyết định mức chi cho các mục.Việc xử lý mối quan hệ cân đối này người ta thường giải quyết như sau:
Xem xét quan hệ cân đối giữa tổng mức nhu cầu chi với tổng mức thu thường xuyên Nếu tổng mức chi thường xuyên lớn hơn tổng mức thu thường xuyên thì phải kiên quyết cắt bỏ nhu cầu chi Nếu tổng mức chi thường xuyên nhỏ hơn hoặc bằng tổng mức thu thường xuyên thì mới tiếp tục xem xét quan
hệ cân đối giữa các bộ phận Trước hết đảm bảo đủ nhu cầu chi thanh toán cho cá nhân theo chế độ hiện hành và số có thể tăng thêm nếu Nhà nước có điều chỉnh lại mức lương và phụ cấp; đảm bảo nhu cầu chi về hàng hóa, dịch
vụ thiết yếu sau đó mới tính đến nhu cầu chi khác và cho các hàng hóa, dịch
vụ không thiết yếu Trên cơ sở giải quyết các cân đối bộ phận theo hướng trên, cơ quan Tài chính quyết định định mức chi cho từng mục hoặc nhóm mục cụ thể
Trang 29Ngoài các định mức sử dụng do cơ quan Tài chính xây dựng còn có các định mức sử dụng do các đơn vị đã được trao quyền tự chủ xây dựng theo Qui chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mà Nhà nước đã cho phép Những định mức sử dụng do các đơn vị đã được trao quyền tự chủ xây dựng chỉ có giá trị áp dụng trong quá trình quản lý kinh phí cho từng đơn vị đó mà thôi
- Phương pháp xây dựng dựa vào định mức phân bổ Phương pháp này được tiến hành như sau:
Xác định đối tượng tính định mức: vừa phản ánh đặc trưng của hoạt động thuộc nhiệm vụ chuyên môn của mỗi loại hình đơn vị đó, vừa phải gắn chặt với cách thức quản lý, phương pháp đánh giá, phân tích tình hình sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị thụ hưởng Mỗi loại hình hoạt động khác nhau, người ta xác định đối tượng để tính định mức khác nhau
Tuy nhiên, ngay trong một loại hình hoạt động cũng sẽ có các loại định mức chi cho các đối tượng khác nhau tùy theo những yêu cầu cụ thể thuộc tiến trình thực hiện các khâu công việc thuộc chu trình quản lý chi thường xuyên của NSNN
Đánh giá, phân tích tình hình thực tế chi theo định mức chi nhằm xem xét tính phù hợp của định mức hiện hành
Yêu cầu đối với các định mức phân bổ này là phải đảm bảo được sự công bằng giữa các vùng, các địa phương về khả năng tạo nguồn ngân sách để đáp ứng cho các nhu cầu chi thường xuyên mà mỗi địa phương đó phải đảm bảo
Xác định khả năng nguồn tài chính có thể huy động để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên
Quá trình kiểm tra, đánh giá hay xây dựng lại các định mức phân bổ vẫn luôn phải dựa vào khả năng nguồn tài chính dự kiến có thể huy động dành cho nhu cầu chi thường xuyên này Trên cơ sở đó mà có thể điều chỉnh định mức phân bổ tương ứng với nguồn đảm bảo
Trang 30Thiết lập cân đối tổng quát và quyết định định mức phân bổ theo mỗi đối tượng tính định mức
Dựa trên cơ sở số liệu dự toán: Một là, khả năng huy động nguồn thu thường xuyên và mức dự tính chi cho các đối tượng tính định mức Hai là, số lượng đối tượng được tính định mức, cơ quan Tài chính lên cân đối tổng quát giữa khả năng và nhu cầu chi thường xuyên Nếu rơi vào trường hợp cho phép thì cơ quan Tài chính sẽ quyết định định mức phân bổ cho mỗi đối tượng
Định mức này được lấy làm căn cứ để hướng dẫn cho các ngành, các cấp tiến hành xây dựng dự toán kinh phí; và còn được sử dụng làm căn cứ để kiểm tra giám sát quá trình chấp hành và quyết toán kinh phí ở mỗi đơn vị thụ hưởng
Song, để đảm bảo tính khả thi của định mức phân bổ, hàng năm cơ quan Tài chính cần phải xem xét lại tính hợp lý của các yếu tố cấu thành định mức này
* Lập dự toán chi thường xuyên + Lập dự toán chi thường xuyên dựa vào các căn cứ sau:
- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động
thuộc bộ máy quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động quốc phòng - an ninh và các hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn nhất định
- Dựa vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt
là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên của NSNN kỳ kế hoạch
- Khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyên kỳ kế hoạch Muốn dự đoán được khả năng này, người ta phải dựa vào
cơ cấu thu NSNN kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch Nhờ đó mà thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi thường xuyên của NSNN
- Các chế độ, chính sách chi thường xuyên của NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch
Trang 31- Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi thường xuyên kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự toán chi theo các phương diện:
Tính phù hợp của các định mức chi hay các chính sách, chế độ chi hiện hành; trên cơ sở đó mà hoàn chỉnh bổ sung cho kịp thời
Tính phù hợp của các hình thức cấp phát, phương thức quản lý tài chính đối với mỗi loại hình đơn vị Từ đó đặt ra vấn đề cần cải tiến các hình thức cấp phát kinh phí và phương thức quản lý tài chính sao cho tiên tiến hơn
+ Phương pháp lập dự toán chi thường xuyên
- Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và tổng số thu, chi một số lĩnh vực quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì căn cứ vào quyết định của Thủ tưởng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập
dự toán NSNN; thông báo số kiểm tra dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách Còn các cấp ở địa phương căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính, UBND cấp tỉnh hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách
Bước này còn được gọi là bước “hướng dẫn và giao số kiểm tra” từ cơ quan hành chính ở Trung ương và địa phương cho các cơ quan chủ quản cấp ngành và UBND cấp dưới Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và UBND các cấp đã được phân cấp về quan lý chi thường xuyên của NSNN lại cụ thể hóa các định mức chi cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình, tiếp tục hướng dẫn cho các đơn vị dự toán trực thuộc, để các đơn vị này hướng dẫn theo hệ thống dọc cho xuống đến tận đơn vị dự toán cấp cơ sở
Với hệ thống ngân sách địa phương qui trình giao số kiểm tra còn diễn
ra ở nhiều cấp ngân sách và nhiều đơn vị dự toán thuộc các cấp khác nhau cho
Trang 32đến khi nào đơn vị dự toán cơ sở (đơn vị dự toán cấp III) nhận được số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, thì mới được coi là hoàn tất công việc của bước này
- Dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các đơn vị dự toán cơ sở tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan Tài chính
Căn cứ vào mức độ phân cấp về chi thường xuyên, cơ quan Tài chính các cấp ở địa phương có trách nhiệm xem xét và tổng hợp dự toán kinh phí của các cơ quan, đơn vị dự toán cấp I của ngân sách cấp mình Cụ thể là:
Phòng Tài chính cấp huyện có nhiệm vụ xem xét và tổng hợp dự toán kinh phí của các đơn vị dự toán cấp I của ngân sách cấp huyện và dự toán chi thường xuyên của ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện để lập dự toán chi thường xuyên của ngân sách huyện; đồng thời báo cáo dự toán chi thường xuyên của ngân sách huyện cho Sở Tài chính
Sở Tài chính có nhiệm vụ xem xét và tổng hợp dự toán kinh phí của các đơn vị dự toán cấp I của ngân sách cấp tỉnh và dự toán chi thường xuyên của ngân sách các huyện để lập dự toán chi thường xuyên của ngân sách tỉnh
và báo cáo dự toán chi thường xuyên của ngân sách tỉnh cho Bộ Tài chính
Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, tổng hợp dự toán kinh phí của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương - với tư cách là đơn vị dự toán cấp I của ngân sách trung ương, cùng với
dự toán chi thường xuyên từ ngân sách các tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) thành dự toán chi thường xuyên của NSNN
Trong quá trình tổng hợp, lập dự toán NSNN, cơ quan Tài chính các cấp
có trách nhiệm làm việc với các cơ quan, đơn vị dự toán trực thuộc để điều chỉnh các điểm thấy cần thiết trong dự toán kinh phí mà các đơn vị đã lập Nếu
Trang 33có ý kiến khác nhau về dự toán chi thường xuyên giữa Bộ Tài chính với các cơ quan ở Trung ương hoặc UBND các tỉnh, thì Bộ Tài chính phải trình Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ những ý kiến còn khác nhau để quyết định theo thẩm quyền Ở các địa phương, nếu có ý kiến khác nhau giữa cơ quan Tài chính và đơn vị dự toán cấp I thuộc cấp hành chính nào, thì cơ quan Tài chính cấp đó phải trình UBND hoặc Chủ tịch UBND cấp đó quyết định
Căn cứ vào dự toán chi thường xuyên đã được cơ quan quyền lực nhà nước đồng cấp thông qua và đã được sự chấp thuận của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; cơ quan Tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ đề nghị cơ quan hành chính nhà nước đồng cấp chính thức phân bổ
và giao dự toán chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị Việc lập dự toán chi thường xuyên chỉ được coi là hoàn tất và tuân thủ đúng qui định của Luật NSNN hiện hành khi vào thời điểm trước ngày 31 tháng 12 của năm báo cáo, tất cả các đơn vị dự toán cấp III và ngân sách cấp xã đã chính thức được giao dự toán kinh phí, hoặc dự toán thu - chi ngân sách xã năm kế hoạch
Với trình tự tiến hành như trên, quá trình lập dự toán chi thường xuyên vừa đảm bảo được tính khoa học, vừa đảm bảo được tính thực tiễn Đồng thời
nó thể hiện rõ sự tôn trọng nguyên tắc thống nhất, tập trung và dân chủ trong quản lý chi thường xuyên của NSNN
* Chấp hành dự toán chi thường xuyên
+ Các căn cứ tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên:
- Dựa vào định mức của từng chỉ tiêu (hoặc tổng mức chi nếu đó là kinh phí đã nhận khoán) đã được duyệt trong dự toán
- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi thường xuyên trong mỗi kỳ báo cáo Do chi thường xuyên bị giới hạn ở khả năng huy
Trang 34động các khoản thu thường xuyên; khi số thu không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi mặc dù đã được ghi trong dự toán
- Dựa vào các chính sách, chế độ chi NSNN hiện hành Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức chấp hành dự toán chi NSNN Vì tính hợp lệ, hợp lý của các khoản chi của NSNN sẽ được phán xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực thi hành
+ Các yêu cầu cơ bản trong tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên:
- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung có trọng điểm trên cơ sở sự toán chi đã xác định
- Phải đảm bảo việc cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ tránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn của NSNN
- Trong quá trình sử dụng các khoản vốn, kinh phí do NSNN cấp phát phải hết sức tiết kiện nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗi khoản chi đó
* Các biện pháp nhằm tăng cường quản lý chi thường xuyên của NSNN trong quá trình chấp hành
- Cơ quan chức năng về quản lý NSNN phải hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng cho các ngành, các cấp, các đơn vị thi hành
- Tổ chức các hình thức cấp phát vốn thích hợp với sự thay đổi về cơ chế tài chính do những đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nảy sinh
- Hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị sử dụng NSNN
- Cơ quan Tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho nhu cầu chi thường xuyên từ nguồn quỹ của Nhà nước để có được các biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thiết lập lại thế cân đối mới trong quá trình chấp hành dự toán
Trang 35* Quyết toán và kiểm toán các khoản chi thường xuyên
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã quy định
- Số liệu trong các báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực
Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN đã quy định
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán và của ngân sách các cấp chính quyền trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn phải có xác nhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp
- Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm về quyết toán đã duyệt; lập quyết toán thu, chi thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu
- Cơ quan Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp, cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật
1.1.2.2 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh
Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo dự toán: Lập dự toán là khâu mở đầu
của một chu trình NSNN Những khoản chi thường xuyên đã được ghi vào trong dự toán và được cơ quan quyền lực nhà nước xem xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên góc độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài chính công với các đơn vị thụ hưởng NSNN Quản lý chi thường xuyên theo
dự toán là cơ sở để đảm bảo cân đối NSNN, tạo điều kiện chấp hành NSNN,
Trang 36hạn chế tuỳ tiện của các đơn vị sử dụng NSNN
Thứ hai, nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Đây là nguyên tắc quan trọng
hàng đầu của quản lý tài chính và cần phải thực hiện nội dung sau:
Xây dựng định mức, tiêu chuẩn chi phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao Có như vậy các định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi
Thiết lập hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát phù hợp với mỗi cơ quan, đơn vị hoặc phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi
Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo các nhóm mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao
Khi đánh giá tính hiệu quả của chi thường xuyên NSNN phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi tới các mỗi quan hệ kinh tế, chính trị,
xã hội phải tính đến khoảng thời gian phát huy tác dụng của nó
Thứ ba, nguyên tắc chi trả trực tiếp qua KBNN: Một trong chức năng
quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên Để thực hiện tốt nguyên tắc chi trả trực tiếp qua KBNN cần thực hiện nội dung sau:
Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong
và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN đã được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi
Tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án…sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài
Trang 37chính, Kho bạc Nhà nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán, hạch toán, quyết toán NSNN
Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét ngân sách của các cơ quan, đơn vị cùng cấp; kiểm tra phương án phân bổ và giao dự toán của các đơn vị dự toán cấp trên cho các đơn vị dự toán cấp trên cho đơn vị dự toán cấp dưới Trong trường hợp không đúng dự toán ngân sách được giao, không đúng chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức thì yêu cầu phải điều chỉnh lại
Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo quy định; Tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sự dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị
Lựa chọn phương thức cấp phát đối với từng khoản thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại
Thứ tư, nguyên tắc đảm bảo sự tự chủ về tài chính của các đơn vị sử
Thứ năm, nguyên tắc quyết toán chi thường xuyên NSNN Theo chế độ
quyết toán kinh phí đã quy định các ngành, các cấp, các đơn vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu so sánh Chính vì vậy, dự toán chi đã được xác lập theo chỉ tiêu nào,
Trang 38theo khoản, mục nào thì quyết toán chi cũng phải được lập như vậy Cơ quan Tài chính các cấp sau khi nhận được báo cáo quyết toán của các đơn vị phải
có trách nhiệm thẩm định các báo cáo quyết toán đó để tổng hợp số liệu vào quyết toán chi NSNN
1.1.2.3 Vai trò của quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp tỉnh
Chi thường xuyên NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi NSNN hàng năm, chính vì vậy quản lý chi thường xuyên NSNN có vị trí rất quan trọng, thể hiện qua các giác đô ̣ sau:
Quản lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh góp phần cung ứng kịp thời , đầy đủ tài chính cho hoạt động của Nhà nước và nhu cầu của xã hội Trong
điều kiê ̣n nguồn tài chính công còn ha ̣n he ̣p , viê ̣c cung ứng tài chính đúng đi ̣a chỉ, kịp thời, phù hợp với yêu cầu là điều kiện cơ bản để các hoạt động sử dụng nguồn tài chính đó đạt được mục tiêu đã định Quản lý chi thường xuyên NSNN góp phần để quá trình chi NSNN đáp ứng được các yêu cầu đó Thông qua quản lý chă ̣t chẽ các khoản chi thường xuyên NSNN , quản lý chi NSNN tác động đến đời sống KT - XH, giữ vững ổn định chính tri ̣ - xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng các hoạt động mang tính cộng đồng
Quản lý chi thường xuyên NSNN góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
các khoản chi thường xuyên Bằng công cu ̣ dự toán, quản lý chi thường xuyên
NSNN làm cho quá trình chi mang tính kế hoa ̣ch cao hơn, chủ động hơn và có căn cứ khoa ho ̣c hơn Viê ̣c lâ ̣p dự toán các khoản chi thường xuyên NSNN cũng giúp cơ quan cấp trên kiểm soát tốt hơn quá trình chi tiêu của cấp dưới Dựa vào phân tích dự toán s au khi đối chiếu với thực tế, cơ quan nhà nước có
cơ sở để điều chỉnh hợp lý Ngoài ra, với công cu ̣ chấp hành dự toán và quyết toán NSNN theo dự toán, quản lý chi thường xuyên NSNN đã tạo ra một hành lang pháp lý cho phép cơ quan sử du ̣ng NSNN tự chủ trong hoa ̣t đô ̣ng của
Trang 39mình mà không vượt quá giới hạn được phép Căn cứ vào dự toán , cơ quan phê chuẩn cũng dễ dàng lựa cho ̣n các hoa ̣t đô ̣ng được ưu tiên chi NSNN, cũng như dễ dàng hơn trong chủ đô ̣ng cân đối ngân sách
Quản lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh hiệu quả hỗ trợ ổn định kinh
tế - xã hội trên địa bàn Quản lý có hiê ̣u quả cho phép Nhà nước chủ đô ̣ng chi
tiêu phù hợp với thực tra ̣ng nền kinh tế Trong điều kiê ̣n nền kinh tế suy thoái, quản lý chi có hiệu quả sẽ ưu tiên chi NSNN cho kích cầu Khi nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát cao, quản lý chi hiệu quả cho phép Nhà nước cắt giảm chi tiêu Chính phủ để bình ổn giá cả… Ngoài ra , quản lý chi thường xuyên NSNN hiê ̣u quả góp phần tăng tích lũy của Nhà nước nhằm sử dụng để hỗ trợ phát triển sản xuất, hình thành quỹ dự phòng của Nhà nước để ứng phó với những biến động của thị trường và thiên tai
Quản lý chi NSNN có hiệu quả sẽ tạo điều kiê ̣n để Nhà nước cấp tỉnh hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế , điều tiết thu nhập dân cư, thực hiện công bằng xã hội và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Quản lý chi thường xuyên NSNN hiê ̣u quả , bằng viê ̣c tiết kiê ̣m chi Nhà nước có nguồn lực để tài trợ các dự án đầu tư phát triển Ở cấp địa phương, các khoản chi phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế như giao thông , thuỷ lợi, điện, nước trên địa bàn (chủ yếu do ngân sách địa phương đảm nhận)
có vai trò tạo động lự c cho phát triển kinh tế - xã hội Quản lý tốt các khoản chi ngân sách tại địa phương , đặc biệt là các khoản chi đầu tư phát triển , còn cho phép chính quyền đi ̣a phương hỗ trợ hình thành các ngành then chốt , các công trình thuộc ngành kinh tế mũi nhọn trên đi ̣a bàn , qua đó đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển (thông qua chính sách trợ giá, hỗ trợ vốn, ưu đãi về thuế ), tạo ra môi trường
Trang 40và điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo ổn định về
mă ̣t xã hô ̣i, chính trị…
Thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư từ NSNN , quản lý chi NSNN
sẽ tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị , giữa đồng bằng và miền núi , giữa vùng phát triển và vùng sâu , vùng xa, từ đó giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng , các khu vực , các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả còn là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững
Quản lý chi NSNN cấp tỉnh có hiệu quả sẽ góp phần chống tham ô , tham nhũng, giảm nguy cơ suy thoái đạo đức của công chức , cán bộ quản lý nhà nước
Thông qua viê ̣c xây dựng dự toán có căn cứ thực tiễn và khoa ho ̣c , giám sát chă ̣t chẽ quá trình cấp phát và sử du ̣ng , thực hiê ̣n quyết toán theo đúng chế đô ̣, chính sách, quản lý chi NSNN giảm thiểu cơ hội tham ô , tham nhũng của công chức , cung cấp thông tin , bằng cứ để khen chê đúng người , đúng viê ̣c, xử lý nghiêm khắc các trường hợp chi sai chế đô ̣ , chính sách Kết quả của những tác động quản lý đó là tạo ra được trật tự, kỷ luật nghiêm minh trong chi tiêu NSNN Hơn nữa, với công cu ̣ dự toán , quản lý chi NSNN góp phần làm cho quá trình chi NSNN trở nên minh bạch hơn , dễ kiểm tra , giám sát hơn Viê ̣c đi ̣nh mức hóa , tiêu chuẩn hóa , công khai hóa các khoản chi NSNN cũng ta ̣o điều kiê ̣n để nhân dân giám sát hoa ̣t đô ̣ng chi NSNN , qua đó
tạo áp lực để công chức công tâm trong thực hiê ̣n công vu ̣ sử du ̣ng NSNN
Quản lý chi thường xuyên NSNN có hiệu quả sẽ góp phần tăng uy tín
của cơ quan nhà nước, hỗ trợ thu NSNN ở tỉnh Thông qua quản lý các khoản
chi thường xuyên NSNN , cơ quan sử du ̣ng NSN N buô ̣c phải sử du ̣ng tiết kiê ̣m, đúng mu ̣c đích NSNN Các hành vi vi phạm bị xử lý thích đáng , thông