1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững cho vườn quốc gia ba vì hà nội​

107 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững cho Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội
Tác giả Đinh Thế Dương
Người hướng dẫn TS. Bùi Xuân Dũng
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Các khái niệm (11)
      • 1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái (11)
      • 1.1.2. Những đặc điểm, đặc trưng của du lịch sinh thái (12)
      • 1.1.3. Những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch sinh thái (15)
      • 1.1.4. Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái (17)
      • 1.1.5. Du lịch sinh thái bền vững (18)
    • 1.2. Những nghiên cứu về du lịch sinh thái (20)
      • 1.2.1. Những nghiên cứu du lịch sinh thái trên thế giới (20)
      • 1.2.2. Những nghiên cứu du lịch sinh thái trong nước (27)
  • Chương 2. MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (29)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (29)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (29)
    • 2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (29)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (29)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (29)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (30)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (30)
      • 2.4.1. Nghiên cứu hoạt động phát triển du lịch sinh thái của VQG (30)
      • 2.4.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái của VQG (31)
      • 2.4.3. Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của VQG (40)
      • 2.4.4. Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch sinh thái cho (40)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (41)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (42)
      • 3.1.2. Địa hình - địa thế (42)
      • 3.1.3. Địa chất thổ nhưỡng (43)
      • 3.1.4. Đặc điểm khí hậu thuỷ văn (43)
      • 3.1.5. Các yếu tố khác cần lưu ý (45)
      • 3.1.6. Thuỷ văn (46)
      • 3.1.7. Tài nguyên rừng (46)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (49)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (53)
    • 4.1. Đặc điểm hoạt động du lịch sinh thái của VQG Ba Vì (53)
      • 4.1.1. Cơ chế hoạt động và mô hình quản lý của VQG Ba Vì (53)
      • 4.1.2. Hoạt động khai thác các tuyến du lịch của VQG Ba Vì (57)
    • 4.2. Đánh giá hoạt động du lịch sinh thái của VQG Ba Vì (61)
      • 4.2.1. Hiệu quả kinh tế (61)
      • 4.2.2. Hiệu quả xã hội (74)
      • 4.2.3. Đánh giá tác động môi trường (77)
    • 4.3. Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của VQG (85)
      • 4.3.1. Điểm mạnh (S) (85)
      • 4.3.2. Điểm yếu (W) (85)
      • 4.3.3. Thời cơ (O) (86)
      • 4.3.4. Thách thức (T) (87)
    • 4.4. Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động du lịch sinh thái theo hướng phát triển (88)
      • 4.4.1. Thiết kế những loại hình du lịch mới (89)
      • 4.4.2. Gia tăng phúc lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương (92)
      • 4.4.3. Sự tham gia của cộng đồng địa phương (96)
      • 4.4.4. Bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên (97)
      • 4.4.5. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các bên tham gia du lịch (98)
    • 1. Kết luận (103)
    • 2. Tồn tại (103)
    • 3. Khuyến nghị (104)
      • 3.2. Đối với vườn quốc gia Ba Vì ................................................................................ 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO (104)

Nội dung

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn, nhận thức về khái niệm du lịch sinh thái cũng dần dần được hoàn thiện mà sự thay đổi quan trọng về nội dung của khái niệm này là từ chỗ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

Từ những năm đầu thế kỷ 19, khái niệm du lịch sinh thái đã xuất hiện, đề cập đến các hoạt động du lịch liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ mát và leo núi Đến nay, khái niệm về du lịch sinh thái đã phát triển vượt bậc với hàng chục cách hiểu khác nhau, phản ánh sự đa dạng và tiến bộ của lĩnh vực này trong năm 2023.

Năm 1987, Hector Ceballos-Lascurain đã lần đầu tiên định nghĩa du lịch sinh thái là hình thức du lịch đến những khu vực tự nhiên còn nguyên sơ, nhằm mục đích nghiên cứu và tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và giá trị văn hóa Với sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn, nhận thức về khái niệm này đã được hoàn thiện, chuyển từ việc xem du lịch sinh thái là hoạt động ít gây tác động đến môi trường sang gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường, có tính giáo dục và đóng góp tích cực cho bảo tồn đa dạng sinh học Đồng thời, du lịch sinh thái còn hướng tới đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương, thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ giá trị tự nhiên.

Du lịch sinh thái theo chương trình của IUCN là hình thức du lịch có trách nhiệm, hướng tới bảo vệ môi trường tại các khu vực còn hoang sơ, giúp du khách thưởng thức và hiểu biết về thiên nhiên cùng giá trị văn hóa lịch sử của vùng đất đó Loại hình du lịch này không chỉ góp phần vào công tác bảo tồn thiên nhiên và giảm thiểu tác động tiêu cực từ du khách mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cộng đồng địa phương Tại Việt Nam, cuộc hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái” diễn ra từ ngày 7 đến 9/8/1999 do Tổng cục Du lịch tổ chức đã đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng các chiến lược bền vững cho du lịch sinh thái.

Du lịch sinh thái ở Việt Nam được định nghĩa là hình thức du lịch dựa trên thiên nhiên và văn hóa bản địa, nhằm thúc đẩy giáo dục môi trường và góp phần vào các nỗ lực bảo tồn cùng phát triển bền vững Loại hình du lịch này đặc trưng bởi sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, góp phần bảo vệ các giá trị văn hóa và thiên nhiên, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững Các tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN đã góp phần xây dựng khung lý thuyết về du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Năm 2006, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái

DLST là hình thức du lịch tận dụng các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên nhằm phục vụ khách yêu thiên nhiên, du ngoạn và nghiên cứu về cảnh quan và hệ sinh thái Đây là phương pháp kết hợp hài hòa giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường thông qua giáo dục tuyên truyền, góp phần bảo tồn các giá trị thiên nhiên và phát triển bền vững DLST còn được xem là du lịch có trách nhiệm, giúp bảo vệ môi trường, duy trì đa dạng sinh học và nâng cao phúc lợi cho cộng đồng địa phương.

1.1.2 Những đặc điểm, đặc trưng của du lịch sinh thái 1.1.2.1 Đặc điểm du lịch sinh thái

Theo tổ chức du lịch thế giới, du lịch sinh thái có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, trong đó khách du lịch có mục đích chính là tham quan, tìm hiểu về thiên nhiên và khám phá các giá trị văn hóa truyền thống tại các khu du lịch.

Thứ hai: Du lịch sinh thái bao gồm những hoạt động giáo dục, tuyên truyền về môi trường sinh thái

Thứ ba: Du lịch sinh thái hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến môi trường, văn hoá, xã hội

Du lịch sinh thái góp phần vào hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách tạo ra lợi ích kinh tế, việc làm và thu nhập cho cộng đồng địa phương Đồng thời, loại hình du lịch này nâng cao nhận thức và hiểu biết về bảo tồn đa dạng sinh học cũng như giá trị của các tài nguyên tự nhiên đối với du khách và người dân bản địa.

1.1.2.2 Đặc trưng của du lịch sinh thái Đặc trưng thứ nhất: Du lịch sinh thái mang tính đa ngành Tính đa ngành của du lịch sinh thái thể hiện ở 2 góc độ sau:

Đối tượng khai thác để phục vụ hoạt động du lịch sinh thái rất đa dạng, bao gồm các yếu tố từ cảnh quan tự nhiên, giá trị lịch sử và văn hóa đến các hạ tầng và dịch vụ đi kèm, góp phần thu hút khách du lịch và phát triển ngành du lịch bền vững.

Du lịch sinh thái đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhiều ngành kinh tế thông qua việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ như điện, nước, nông sản và hàng hóa cho khách du lịch Thành phần tham gia du lịch sinh thái rất đa dạng,bao gồm nhiều cá nhân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ và cộng đồng, tạo nên một hoạt động phức tạp đòi hỏi sự phối hợp hài hòa giữa các bên Hoạt động này hướng tới nhiều mục tiêu khác nhau, phản ánh tính đa dạng và rộng lớn của loại hình du lịch này.

Du lịch sinh thái không chỉ nhằm mục đích thu lợi nhuận mà còn góp phần bảo tồn thiên nhiên, các cảnh quan lịch sử và văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của du khách và cộng đồng tham gia hoạt động du lịch Nó thúc đẩy giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao nhận thức và trách nhiệm về đa dạng sinh học và phát triển bền vững Tuy nhiên, du lịch sinh thái mang đặc điểm mùa vụ rõ rệt, hoạt động tập trung mạnh trong những thời điểm nhất định trong năm, không phân bố đều xuyên suốt các tháng.

Các hoạt động du lịch như nghỉ biển, leo núi và quan sát tập tính động vật như chim di cư, bướm và cá heo thể hiện rõ đặc điểm tính mùa vụ theo từng mùa, khí hậu và sự xuất hiện của các loài động vật Du lịch sinh thái còn có đặc trưng liên vùng, khi các hoạt động không chỉ diễn ra ở một địa phương mà còn liên kết giữa nhiều điểm du lịch trong khu vực, các vùng và giữa các quốc gia Ngoài ra, chi phí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng mật thiết đến lựa chọn hoạt động và trải nghiệm của du khách trong du lịch sinh thái.

Du khách tham gia du lịch sinh thái để tận hưởng các trải nghiệm về cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, môi trường hấp dẫn và văn hóa địa phương độc đáo, không nhằm mục đích kiếm tiền Họ sẵn sàng bỏ ra chi phí để khám phá vẻ đẹp tự nhiên và bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đất mới Một đặc trưng quan trọng của du lịch sinh thái là thúc đẩy xã hội hóa các hoạt động du lịch, nhằm tạo ra sự gắn kết cộng đồng và phát triển bền vững.

Du lịch sinh thái thu hút nhiều người và tổ chức kinh tế, xã hội, cộng đồng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Các lợi ích của du lịch sinh thái đã được xã hội hóa rộng rãi, giúp nhiều người và cộng đồng hưởng lợi từ hoạt động này Một trong những đặc trưng quan trọng của du lịch sinh thái là nâng cao nhận thức về môi trường, thúc đẩy việc giáo dục cộng đồng về bảo vệ thiên nhiên và phát triển bền vững.

Du lịch sinh thái giúp con người gần gũi hơn với các khu vực tự nhiên và bảo tồn, nơi có giá trị đa dạng sinh học cao và nhạy cảm về môi trường Qua các hoạt động này, ý thức của khách du lịch và cộng đồng về việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học được nâng cao Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học là mục tiêu chính của du lịch sinh thái nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của môi trường.

Những nghiên cứu về du lịch sinh thái

1.2.1 Những nghiên cứu du lịch sinh thái trên thế giới

Chen (2012) trong “Du lịch sinh thái bản địa và phát triển xã hội ở vườn quốc gia Taroko và cộng đồng người San-Chan, Đài Loan” đã nhấn mạnh rằng hoạt động du lịch mới xây dựng ảnh hưởng đến bảo tồn văn hóa, xã hội và sinh thái, với các nhóm xã hội khác nhau hưởng lợi hoặc chịu tác động khác nhau từ phát triển du lịch sinh thái Phát triển du lịch tại Vườn Quốc gia có thể làm gia tăng bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm cộng đồng; do đó, để xây dựng dự án du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, cần có hiểu biết sâu sắc về mối quan hệ giữa cộng đồng, môi trường, chính trị, kinh tế và văn hóa, cũng như các xung đột tiềm tàng giữa cộng đồng và ban quản lý VQG Yacob et al (2011) nghiên cứu về nhận thức của khách du lịch về phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Redang Island Marine, Malaysia, thông qua phỏng vấn 29 khách du lịch nhằm phân tích ý kiến về quản lý tài nguyên và bảo tồn sinh thái Nghiên cứu kết luận rằng quan điểm của khách du lịch về môi trường có thể được giải quyết hiệu quả thông qua kế hoạch và quản lý, và thành công của các mô hình quản lý sẽ phụ thuộc vào khả năng đối thoại và trao đổi giữa nhà quản lý và các bên liên quan.

Quản lý và phát triển du lịch sinh thái hiệu quả yêu cầu tích hợp hoạt động dựa vào thiên nhiên cùng với giáo dục môi trường để duy trì sự bền vững sinh thái Việc này không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương mà còn nâng cao sự hài lòng của du khách Các nghiên cứu đề xuất các phương án quản lý tài nguyên du lịch sinh thái nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường tự nhiên.

Nghiên cứu về VQG có khả năng hỗ trợ công tác quản lý và phát triển bền vững các vùng quy hoạch quốc gia, đặc biệt trong việc quản lý tài nguyên du lịch sinh thái Bhuiyan và đồng sự (2011) nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò chính phủ trong phát triển du lịch sinh thái, góp phần thúc đẩy kế hoạch phát triển du lịch sinh thái hiệu quả và bền vững Việc nghiên cứu này giúp nâng cao năng lực quản lý tài nguyên tự nhiên và xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với đặc điểm của từng khu vực.

Nghiên cứu “Điểm ở khu vực kinh tế duyên hải” nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự can thiệp của Chính phủ trong việc lập kế hoạch và thúc đẩy hoạt động du lịch sinh thái cho các quốc gia đang phát triển Ở Malaysia, chính phủ chủ yếu tập trung vào phát triển sản phẩm du lịch sinh thái, nâng cao khả năng tiếp cận, đào tạo nhân lực, quảng bá và thúc đẩy du lịch bền vững Chính phủ nên xây dựng kế hoạch hành động rõ ràng, phát triển năng lực thể chế, đầu tư vào các dự án du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng và nâng cao nguồn nhân lực để đảm bảo phát triển bền vững Đặc biệt, bảo đảm lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái của cộng đồng địa phương thông qua sự tham gia tích cực vào hoạt động phát triển du lịch sinh thái là rất cần thiết Hill (2011) trong nghiên cứu về du lịch sinh thái ở khu vực Amazon Peru nhấn mạnh rằng việc kết hợp giữa du lịch, bảo tồn và phát triển cộng đồng là những nguyên tắc cốt lõi để đạt được thành công trong phát triển du lịch sinh thái tại khu vực rừng nhiệt đới.

Các nguyên tắc chính bao gồm nâng cao năng lực cộng đồng bằng cách tạo điều kiện tham gia hoạt động du lịch sinh thái, thúc đẩy trao đổi nhận thức giữa cộng đồng và nhà điều hành tour, cùng hợp tác quản lý tài nguyên rừng Đồng thời, cần kết hợp đào tạo và du lịch để phát triển bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường và hệ sinh thái Nghiên cứu này nhấn mạnh mối quan hệ phức tạp giữa lợi ích và tác động của du lịch sinh thái đối với cộng đồng địa phương.

Phát triển du lịch ở VQG có thể sẽ làm trầm trọng hóa tính bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm trong cộng đồng

Để xây dựng một dự án du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng thành công, cần có hiểu biết sâu sắc về mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và môi trường Đồng thời, việc nắm vững các vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa tồn tại giữa các cộng đồng cũng rất quan trọng Điều này giúp đảm bảo sự hài hòa giữa cộng đồng và ban quản lý VQG, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững cho dự án du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng.

Yacob và đồng sự (2011) nghiên cứu về nhận thức và quan niệm của khách du lịch về phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Redang Island Marine Malaysia Trong nghiên cứu, họ đã phỏng vấn 29 khách du lịch và phân tích các thông tin cơ bản về họ Nghiên cứu tập trung vào quan điểm của khách du lịch về quản lý tài nguyên du lịch, bảo tồn tài nguyên sinh thái và khả năng tăng doanh thu cho vườn quốc gia thông qua hoạt động du lịch Kết quả cho thấy khách du lịch có nhận thức rõ về vai trò của việc bảo vệ tài nguyên và mong muốn đóng góp vào phát triển bền vững của vườn quốc gia.

Nghiên cứu nhấn mạnh rằng quan điểm và nhận thức của khách du lịch về các vấn đề môi trường có thể được nâng cao thông qua công tác lập kế hoạch và quản lý hiệu quả, đặc biệt khi có cơ hội đối thoại giữa nhà quản lý và các bên liên quan Một quá trình quản lý và phát triển du lịch sinh thái thành công cần tích hợp hoạt động dựa vào thiên nhiên, giáo dục môi trường và duy trì sự bền vững sinh thái nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và nâng cao sự hài lòng của du khách Các đề xuất từ nghiên cứu giúp cải thiện công tác quản lý tài nguyên du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia, góp phần phát triển kế hoạch du lịch sinh thái bền vững Bên cạnh đó, Bhuiyan và cộng sự (2011) trong nghiên cứu về vai trò của chính phủ trong phát triển du lịch sinh thái tại các khu vực ven biển khẳng định vai trò quan trọng của chính phủ trong việc lập kế hoạch và xúc tiến hoạt động du lịch sinh thái, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển.

Chính phủ Malaysia tập trung phát triển du lịch sinh thái bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao khả năng tiếp cận và đào tạo nhân lực Đề xuất xây dựng kế hoạch hành động rõ ràng để thúc đẩy ngành nghề này, cùng với việc đầu tư vào các dự án du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng và củng cố năng lực thể chế Chính phủ cũng cần đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái của cộng đồng địa phương thông qua việc tham gia phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Hill (2011) trong nghiên cứu “Du lịch sinh thái ở khu vực Amazon Peru” đề xuất các nguyên tắc quan trọng để đảm bảo thành công trong phát triển du lịch sinh thái tại khu vực rừng nhiệt đới, bao gồm nâng cao năng lực cộng đồng qua việc khuyến khích họ tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái, thúc đẩy trao đổi nhận thức giữa cộng đồng và hướng dẫn viên du lịch, thực hiện mô hình quản lý tài nguyên rừng chung, kết hợp đào tạo và du lịch để phát triển kiến thức, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường và hệ sinh thái.

Nghiên cứu nhấn mạnh mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển cộng đồng địa phương, đồng thời chỉ ra những thiếu sót trong hoạt động của ngành du lịch sinh thái và quản lý các khu rừng đặc dụng Apostu & Gheres (2009) phân tích thực trạng hoạt động du lịch sinh thái ở Romania, phát hiện thiếu chương trình quảng bá và thông tin cho cộng đồng tại các khu vực tiềm năng Ngoài ra, vấn đề chính không nằm ở hình thức du lịch mà ở việc thiếu cơ chế quản lý hợp lý để duy trì cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học trong các khu rừng đặc dụng Ezcan et al (2009) đề xuất xây dựng hạ tầng phù hợp, ngăn chặn tác động tiêu cực và quảng bá tính đặc hữu của các loài chim để khai thác tối đa tiềm năng du lịch sinh thái ở Turkey Tuy nhiên, hoạt động của người dân như nông nghiệp, chăn nuôi và săn bắn gây ảnh hưởng xấu đến phát triển du lịch, đòi hỏi cần loại bỏ những hoạt động này nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên tự nhiên Samdin (2013) cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì bền vững các tài nguyên du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Taman Negara để đảm bảo sự phát triển lâu dài của ngành này.

Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation) đã giúp đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Taman Negara Nghiên cứu đã xây dựng khung mức bằng lòng chi trả cho dịch vụ du lịch sinh thái, cho thấy du khách sẵn lòng trả phí vào cửa cao hơn mức phí hiện tại Kết quả này góp phần nâng cao nhận thức về giá trị thực của tài nguyên thiên nhiên trong ngành du lịch sinh thái tại khu vực.

Năm 1998, nghiên cứu về “Cầu về du lịch sinh thái và nguyên tắc phân biệt giá trong thu phí vào cổng vườn quốc gia ở Costa Rica” đã áp dụng phương pháp tương tự để phân tích và đánh giá nhu cầu du lịch sinh thái Phương pháp này giúp xác định rõ ràng mối quan hệ giữa mức độ sẵn sàng trả phí của khách tham quan và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ Việc áp dụng phương pháp này đã nâng cao hiệu quả trong việc thiết lập chính sách thu phí phù hợp, góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại Costa Rica.

Chase và đồng sự không chỉ đề xuất khung mức bằng lòng chi trả mà còn xây dựng hàm cầu về du lịch sinh thái đối với vườn quốc gia, đồng thời đánh giá độ co giãn của cầu theo thu nhập Nghiên cứu tập trung vào tính toán mức phí tối ưu nhằm tối đa hóa doanh thu từ hoạt động du lịch sinh thái trong vườn quốc gia Bên cạnh đó, họ phân tích ứng dụng của nguyên tắc phân biệt giá để quản lý hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững của ngành du lịch trong khu vực.

Mức phí vào cổng hiện hành không phản ánh chính xác mức bằng lòng chi trả của du khách, cho thấy cần nghiên cứu sâu hơn về du lịch sinh thái (DLST) tại các Vườn quốc gia để tổ chức quản lý thống nhất và khai thác hiệu quả tài nguyên quý giá này Các nghiên cứu quốc tế, như của Apostu & Gheres (2009), chỉ ra rằng hoạt động DLST ở Romania còn nhiều thiếu sót trong quản lý và quảng bá, đặc biệt là thiếu chương trình phổ biến thông tin cho cộng đồng địa phương trong các khu rừng đặc dụng Thực tế cho thấy, các vấn đề phát sinh không xuất phát từ việc không thể thực hiện hình thức du lịch này, mà từ việc thiếu cơ chế quản lý hợp lý, đặc biệt là bảo vệ môi trường tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học, nhằm duy trì cân bằng sinh thái Trong nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ, các giải pháp như xây dựng hạ tầng du lịch thân thiện, ngăn ngừa tác động tiêu cực và quảng bá về tính đặc hữu của các loài chim trong khu bảo tồn là rất cần thiết để phát huy tối đa tiềm năng du lịch sinh thái, đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học và thúc đẩy phát triển cộng đồng địa phương.

MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm cung cấp những giải pháp cho việc quản lý một cách bền vững Vườn Quốc Gia Ba Vì -

+ Xác định được thực trạng phát triển du lịch sinh thái của VQG

+ Đánh giá hiệu quả của hoạt động phát triển du lịch sinh thái của VQG

+ Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của VQG

+ Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch sinh thái cho VQG.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Du lịch và phát triển bền vững du lịch sinh thái cho VQG Ba Vì - Hà Nội

Đề tài tập trung vào việc đánh giá hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái của Vườn Quốc Gia, nhằm xác định các nhân tố thiếu bền vững gây ảnh hưởng Từ đó, đề xuất các giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan, đa dạng sinh học của Vườn Quốc Gia.

+ Về thời gian: nghiên cứu đánh giá hoạt động du lịch sinh thái ở VQG

+ Về không gian: tại VQG Ba Vì - Hà Nội.

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu hoạt động phát triển du lịch sinh thái của VQG

- Đánh giá hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái của VQG bao gồm:

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế

+ Đánh giá hiệu quả xã hội

+ Đánh giá tác động của hoạt động du lịch sinh thái đến đa dạng sinh học, cảnh quan sinh thái

- Đánh giá điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức cho phát triển du lịch sinh thái tại VQG Ba Vì

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát trình du lịch sinh thái bền vững

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu hoạt động phát triển du lịch sinh thái của VQG 2.4.1.1 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu để chọn địa điểm phù hợp, xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số đánh giá chính xác Áp dụng phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả dựa trên các tiêu chí đã đề ra nhằm đưa ra các đề xuất biện pháp phù hợp và khả thi Việc này giúp nâng cao độ tin cậy và chất lượng của nghiên cứu, đồng thời đảm bảo các giải pháp đề xuất phù hợp với thực tiễn.

2.4.1.2 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

Thu thập các tài liệu hiện có về hoạt động quản lý tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội, bao gồm cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất, nhằm phục vụ phát triển du lịch sinh thái bền vững Việc nghiên cứu này giúp xác định các yếu tố hệ thống quản lý hiện tại, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và thúc đẩy du lịch sinh thái tại khu vực Đồng thời, phân tích nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng sẽ góp phần xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái phù hợp với đặc điểm tự nhiên và cộng đồng địa phương Những tài liệu này là cơ sở quan trọng để định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội.

+ Các tài liệu về những loại hình du lịch sinh thái đang diễn ra tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội

+ Lịch sử hình thành vườn, qui mô, tài nguyên rừng của vườn + Kết quả hoạt động du lịch tại vườn

Bảng 2.1 Số lượng khách du lịch đến tham quan VQG Ba Vì

+ Khó khăn và thuận lợi của VQG trong việc quản lý tài nguyên rừng và khai thác tiềm năng du lịch sinh thái

Thu thập số liệu từ các báo cáo nghiên cứu, thống kê về các dự án bảo tồn, phát triển kinh tế xã hội và du lịch tại Vườn Quốc Gia Ba Vì, các viện nghiên cứu, trường đại học và UBND huyện Ba Vì để đảm bảo dữ liệu chính xác, đáng tin cậy và phục vụ cho quá trình phân tích, lập kế hoạch phát triển bền vững khu vực.

+ Quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học + Các hoạt động liên quan đến du lịch trên địa bàn nghiên cứu…

Dựa trên kết quả điều tra nghiên cứu và các báo cáo tổng kết hàng năm của Vườn Quốc gia từ các năm trước đến cuối tháng 12 năm 2014, thông tin thu thập đã được phân tích nhằm làm rõ thực trạng hoạt động phát triển du lịch sinh thái trong khu vực Các dữ liệu này giúp đánh giá hiệu quả và tiềm năng của ngành du lịch sinh thái tại Vườn, góp phần đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững.

2.4.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái của VQG 2.4.2.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Tôi thu thập thông tin về tổng thu nhập hàng năm của vườn, bao gồm doanh thu từ các sản phẩm và dịch vụ Đồng thời, tôi cũng ghi nhận tổng chi phí, bao gồm chi phí xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và tiền lương trả cho nhân công lao động trong vườn Dựa trên các dữ liệu này, tôi tính toán hiệu quả kinh tế của vườn để đánh giá khả năng sinh lời và tiềm năng phát triển bền vững.

Các số liệu về tổng thu thập và tổng chi phí qua các năm được tổng hợp chính xác bằng phần mềm Excel, giúp đánh giá hiệu quả kinh tế một cách rõ ràng Đặc biệt, việc lập biểu đồ minh họa hiệu quả kinh tế từ dữ liệu giúp dễ dàng nhìn thấy xu hướng và mức độ biến đổi qua từng năm Nhờ đó, có thể đưa ra những nhận xét chính xác về sự thay đổi của hiệu quả kinh tế theo thời gian và đưa ra các đề xuất phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Việc xác định lợi ích kinh tế từ du lịch dựa trên tổng thu nhập còn hạn chế và chưa phản ánh rõ rệt các yếu tố ngoại vi cũng như chi phí cơ hội đối với du khách Cần phân tích thêm tác động của lượng khách tăng đến hiệu quả hoạt động vui chơi giải trí, xây dựng công trình công cộng và các chi phí phát sinh, nhằm đánh giá rõ ràng hơn về mối quan hệ giữa số lượng khách và các chi phí cơ hội khác trong du lịch sinh thái.

Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào tính hiệu quả kinh tế dựa trên tổng thu nhập mà còn xem xét ảnh hưởng của lượng du khách đến hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào các dịch vụ của vườn Đồng thời, đề tài đề cập đến việc đầu tư xây dựng thêm cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao trải nghiệm cho du khách và thúc đẩy phát triển kinh tế của vườn Mối quan hệ giữa số lượng du khách, các dịch vụ cung cấp và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được chứng minh là yếu tố then chốt để tăng cường hiệu quả kinh tế của các vườn.

Bảng 2.2 Thống kê khách du lịch với các dịch vụ

Lượng khách du lịch (người) Dịch vụ du lịch ( nghìn đồng)

6 tháng đầu năm 6 tháng cuối năm

2.4.2.2 Đánh giá hiệu quả xã hội

Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các cán bộ cấp xã, huyện, kết hợp với tham vấn các cán bộ của Vườn Quốc Gia Ba Vì và người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch, sẽ tạo ra nguồn thông tin quý báu để nắm bắt thực trạng và nhu cầu phát triển du lịch bền vững tại khu vực.

Tôi đã tập trung phỏng vấn cán bộ cấp xã, huyện để nắm bắt các nội dung quan trọng như số hộ dân và nguồn lao động chính trong khu vực Đồng thời, tôi thu thập thông tin về công việc và việc làm của người dân địa phương để đánh giá tình hình kinh tế xã hội Nội dung cũng bao gồm sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch trong phát triển kinh tế địa phương và các chính sách thu hút đầu tư của huyện, xã nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Bảng 2.3 Các đơn vị thuộc VQG Ba Vì

Trình độ (người) Trên đại học Đại học

2 Phòng tổ chức, hành chính, tổng hợp

3 Phòng tài chính, kế toán

4 Phòng nghiên cứu khoa học

7 Trung tâm phát triển cộng đồng

Bảng 2.4 Trình độ lao động của Vườn quốc gia Trình độ học vấn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Thạc sĩ Đại học Cao đẳng

Sơ cấp Lao động phổ thông

*Phỏng vấn khách du lịch:

Bảng 2.5 Phỏng vấn khách du lịch về du lịch Vườn quốc gia Ba Vì Các nội dung đánh giá

Rất hấp dẫn/Rất tốt (%)

Hấp dẫn/T ốt (%) Ít hấp dẫn/chưa tốt (%)

Phong cảnh khu du lịch Đội ngũ nhân viên Trung tâm DLST&GDMT

Các dịch vụ vui chơi giải trí Chất lượng dịch vụ ở Ba Vì

Bảng 2.6 Mức sẵn lòng trả thêm phí vào cửa VQG Ba Vì

TT Mức sẵn lòng trả thêm (đồng) Số người được phỏng vấn

Tôi đã thực hiện phỏng vấn 110 khách du lịch và 100 hộ dân địa phương để thu thập dữ liệu về các đặc trưng của giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH), cảnh quan thiên nhiên, cơ hội tạo việc làm, thu nhập, văn hóa ẩm thực và các yếu tố liên quan Các số liệu thu thập được được phân tích và tổng hợp nhằm hiểu rõ hơn về các yếu tố quan trọng góp phần phát triển bền vững du lịch địa phương Nghiên cứu này giúp làm rõ các lợi ích của ĐDSH và cảnh quan tự nhiên đối với phát triển kinh tế, du lịch cộng đồng, cũng như việc bảo tồn các giá trị văn hóa ẩm thực đặc sắc của khu vực.

2.4.2.3 Đánh giá tác động của hoạt động du lịch sinh thái đến đa dạng sinh học, cảnh quan sinh thái, môi trường

* Khảo sát tuyến và điều tra theo tuyến

Trong vườn, đã thiết lập tổng cộng 5 tuyến khảo sát tương ứng với 5 tuyến du lịch sinh thái hấp dẫn Mỗi tuyến có độ dài khác nhau, giúp đa dạng hóa trải nghiệm khám phá Dưới cách phân chia hợp lý, tôi chọn 3 điểm nghiên cứu trên mỗi tuyến, với khoảng cách giữa các điểm được tính trung bình dựa trên chiều dài của từng tuyến Các tuyến du lịch sinh thái này góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững và nâng cao trải nghiệm của khách tham quan.

Hình 2.1 Sơ đồ Du lịch Vườn Quốc Gia Ba Vì

* Các tuyến du lịch (Nguồn: Ban Quản lý VQG Ba Vì)

Tuyến 1, kết nối trung tâm cốt 400m, Đỉnh Vua và Đỉnh Tản Viên, là cung đường phù hợp cho du lịch tâm linh Du khách thường lựa chọn ô tô hoặc xe máy để khám phá tuyến này, trong khi các đoàn học sinh, sinh viên thường đi bộ theo con đường chính dài khoảng 7 km từ cốt 400m lên đến đền Thượng, tạo trải nghiệm thiêng liêng và gần gũi với tự nhiên.

- Nơi thờ phụng Thánh Tản Viên, phía trên là đỉnh Mẫu

- Đi theo bậc đá được xây vuông vắn, với độ cao khoảng 120m

- Có 2 điểm dừng chân có ghế ngồi, có thùng rác

Hình 2.2 Đền Thượng – Nơi thờ đức Thánh Tản Viên Tham quan đền thờ Bác Hồ

- Nơi tưởng niệm Bác Hồ

- Đi theo bậc đá được xây vuông vắn với khoảng 800 bậc, độ cao khoảng 200m

- Có 2 sân để cho khách tham qua nghỉ ngơi, tập luyện, với sức chứa khoảng 300 người

- Có bán đồ lưu niệm về Bác Hồ

Hình 2.3 Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tuyến 2 bắt đầu từ trung tâm cốt cách 400m, tiếp tục đến khu nhà thờ và đỉnh Tản Viên, là tuyến du lịch dành cho khám phá và thử thách Du khách có thể lựa chọn đi bộ hoặc leo núi mạo hiểm để thưởng thức cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp Tuy nhiên, tuyến này hầu như không thu hút được nhiều khách du lịch do ít dịch vụ tiện ích và ít phổ biến.

Hình 2.4 Khu phế tích nhà tù chính trị Pháp

Tuyến 3 bao gồm các điểm đến chính như trung tâm cốt 400m, khu di tích cách mạng tại cốt 600m, và khu trồng cây lưu niệm tại cốt 700m Du khách có thể lựa chọn đi bộ hoặc kết hợp sử dụng xe con để tham quan các địa danh này Tuy nhiên, tuyến này hầu như không thu hút được nhiều khách tham quan do ít điểm hấp dẫn và chưa phát huy tiềm năng du lịch.

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Hình 3.1 Bản đồ vườn quốc gia Ba Vì

Vườn quốc gia Ba Vì nằm trong toạ độ địa lý:

Từ 20 0 55’ đến 21 0 07’ độ vĩ Bắc

Từ 105 0 18’ đến 105 0 30’ độ kinh Đông

- Phía Bắc là các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh của huyện Ba Vì - Hà Nội

- Phía Nam là các xã Phúc Tiến, Dân Hoà của huyện Kỳ Sơn - Hoà Bình

Phía Đông giáp các xã Vân Hòa, Yên Bài của huyện Ba Vì, Hà Nội, và các xã Đông Xuân của huyện Quốc Oai, Hà Nội, tạo thành vùng đất phía đông thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp và giao thương Khu vực này còn tiếp giáp các xã Tiến Xuân, Yên Trung, Yên Bình của huyện Thạch Thất, Hà Nội, cũng như xã Yên Quang của huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình, góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh tế và nâng cao đời sống cộng đồng địa phương.

- Phía Tây là các xã Minh Quang, Khánh Thượng của huyện Ba Vì -

Hà Nội; xã Phú Minh của huyện Kỳ Sơn - Hoà Bình

Ba Vì là khu vực núi trung bình và núi thấp tiếp giáp với vùng bán sơn địa, tạo thành dải núi nổi bật giữa các đồng bằng rộng lớn Vùng núi này nằm cách hợp lưu của sông Đà và sông Hồng khoảng 30 km về phía Nam, góp phần làm phong phú cảnh quan tự nhiên của khu vực.

Các đỉnh núi nổi tiếng tại khu vực gồm đỉnh Vua cao nhất với độ cao 1.270 mét, đỉnh Tản Viên cao 1.227 mét, đỉnh Viên Nam đạt 1.028 mét và đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131 mét, mang lại những trải nghiệm chinh phục thú vị Ngoài ra, còn có các đỉnh như Hang Hùm cao 776 mét và đỉnh Gia Dễ cao 714 mét, phù hợp cho những người yêu thích leo núi và khám phá thiên nhiên hoang sơ.

Khối núi Ba Vì gồm 2 dải dông chính:

- Dải dông theo hướng Đông - Tây từ suối Ổi đến Cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm dài 9 km

- Dải dông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11 km Và chạy tiếp sang Viên Nam về dốc kẽm

Ba Vì là khu vực núi có địa hình dốc, đặc biệt là sườn phía Tây đổ xuống sông Đà với độ dốc trung bình khoảng 25°, cao hơn so với các sườn phía Tây Bắc và Đông Nam Khi leo lên độ cao từ 400 mét trở lên, độ dốc tăng lên trung bình đến 35° và xuất hiện vách đá lộ, tạo nên địa hình hiểm trở và phù hợp cho các hoạt động leo núi, du lịch mạo hiểm.

Khu vực này được hình thành từ những vận động tạo sơn Iđoxini cách đây 150 triệu năm

Khu vực Ba Vì có thành phần đá mẹ phong phú và đa dạng, bao gồm các loại đá chính như đá biến chất, đá vôi, đá trầm tích - phun trào, đá trầm tích và đá bở rời.

Về thổ nhưỡng, nền đất chính của dãy núi Ba Vì chủ yếu được hình thành từ hai loại đá mẹ là phiến thạch sét và sa thạch Các loại đất chính gồm đất Feralit màu vàng, màu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét và sa thạch; đất Feralit màu vàng đỏ hình thành trên đá phiến thạch sét, sa thạch, phiến thạch mica và các loại đá trầm tích; cùng với đất phù sa cổ, tạo nên đặc trưng về thổ nhưỡng của khu vực.

3.1.4 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn Đặc điểm khí hậu thuỷ văn của Ba Vì được quyết định bởi các yếu tố vĩ độ, cơ chế gió mùa, địa hình

Khu vực Ba Vì nằm ở vĩ tuyến 21° Bắc, chịu ảnh hưởng của cơ chế gió mùa và tác động phối hợp của vĩ độ, tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm đặc trưng Nơi đây có một mùa đông lạnh và khô, trong khi những vùng có độ cao trên 400 mét vẫn có lượng mưa khá phong phú và phân bố không đều do địa hình nhô cao đón gió hướng đông Chế độ nhiệt của khu vực này phản ánh sự biến đổi rõ rệt giữa các mùa, phù hợp với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa.

Nhiệt độ trung bình năm là 23.30 0 C, tháng lạnh nhất là tháng 1 (16.52 0 C), tháng nóng nhất là tháng 7 (28.69 0 C)

Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 11, nhiệt độ trung bình mùa nóng là 26.1 0 C), ngày nóng nhất trong mùa có thể lên tới 38.2 0 C

Mùa lạnh kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, với nhiệt độ trung bình khoảng 17.9°C và nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 6.5°C, mang lại khí hậu lạnh rõ rệt Điều kiện độ ẩm được xác định bởi sự cân bằng giữa quá trình mưa và bốc hơi, trong đó lượng mưa chiếm ưu thế giúp duy trì độ ẩm cao Tại khu vực Ba Vì, có hai mùa rõ rệt là mùa nóng ẩm từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 11 và mùa lạnh khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Ở độ cao 400m, khu vực này gần như không có mùa khô vì lượng mưa luôn lớn hơn lượng bốc hơi, đảm bảo điều kiện khí hậu ổn định và phù hợp cho các hoạt động nông nghiệp và du lịch.

Căn cứ vào cấp phân loại chế độ ẩm nhiệt (Thái Văn Trừng) Ba Vì được xếp vào loại hơi ẩm đến ẩm c Chế độ mưa

Với lượng mưa hàng năm khá lớn, khí hậu khu vực này có sự phân bố không đều, đặc biệt là ở vùng núi cao và sườn phía đông, nơi nhận lượng mưa trung bình lên tới 2.587,6 mm/năm, cao hơn nhiều so với các khu vực xung quanh chân núi, đạt khoảng 1.731,4 mm/năm Sườn đông của khu vực này thường mưa nhiều hơn sườn tây, góp phần tạo nên một môi trường khí hậu đa dạng và phong phú Ngoài ra, số ngày mưa tại chân núi Ba Vì khá nhiều, tác động đến đời sống và hoạt động của cư dân địa phương.

130 - 150 ngày/năm, tại coste 400 m, số ngày mưa khá lớn từ 169 - 201 ngày/năm bình quân là 189 ngày/năm

Trong năm, lượng mưa phân bố không đều theo mùa, thường xuyên diễn ra sự luân phiên giữa mùa mưa lớn và giai đoạn ít mưa Mùa mưa kéo dài khoảng 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa hàng tháng vượt trên 1.000 mm, thể hiện rõ đặc điểm khí hậu miền nhiệt đới ẩm ướt.

Từ chân núi và độ cao 400 m trở lên, lượng mưa chiếm hơn 90% tổng lượng mưa hàng năm tại chân núi và 89% tại khu vực có độ cao 400 m Các tháng cao điểm mưa lớn nhất rơi vào khoảng từ tháng 6 đến tháng 8, với lượng mưa từ 300-400 mm/tháng, tập trung chủ yếu trong các tháng 6, 7, 8 tại chân núi và từ tháng 6 đến tháng 9 tại độ cao 400 m Thời kỳ ít mưa kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau tại chân núi, và từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau tại khu vực 400 m, mỗi tháng có từ 5 đến 10 ngày mưa Ngoài ra, khả năng bốc hơi của khu vực cũng ảnh hưởng đáng kể đến lượng nước trong mùa khô.

Khả năng bốc thoát hơi tại Ba Vì dao động từ khoảng 861,9 mm/năm đến 759,5 mm/năm, cho thấy sự ít biến động trong phạm vi không gian so với lượng mưa Trong suốt năm, khả năng bốc thoát hơi tăng lên đáng kể vào mùa nóng với mức khoảng 80 mm/tháng, còn vào mùa lạnh giảm xuống còn 57 mm/tháng Tiềm năng ẩm tại khu vực này phản ánh rõ ràng sự biến đổi của quá trình thoát hơi theo mùa, ảnh hưởng đến cân bằng độ ẩm và hệ sinh thái địa phương.

Chỉ số ẩm ướt phản ánh tiềm năng ẩm của khu vực Ba Vì, biến thiên từ 2.0 đến 3.4 lần lượng mưa so với nhu cầu nước của thảm thực vật, cho thấy khả năng cung cấp nước vượt quá nhu cầu từ 2 đến 3 lần Khu vực này có khí hậu nhiệt đới ẩm, nhưng mùa đông khô lạnh khiến khí hậu không hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới điển hình, tạo điều kiện cho sự đa dạng phong phú của hệ thực vật, bao gồm cả các loài thực vật nhiệt đới và á nhiệt đới.

3.1.5 Các yếu tố khác cần lưu ý a Độ ẩm không khí Độ ẩm không khí tăng dần theo độ cao và đặc biệt trên độ cao 1.000 m độ ẩm không khí hầu như ẩm ướt quanh năm 92,0% cao nhất vào đầu mùa hè (tháng 3,4,5) b Gió tây khô và nóng

Điều kiện kinh tế - xã hội

Vườn Quốc gia Ba Vì hiện nằm trong phạm vi hành chính của 16 xã thuộc 5 huyện, với 7 xã của huyện Ba Vì gồm Ba Vì, cùng các xã khác, theo quy hoạch mở rộng Vườn Điều này giúp tăng cường bảo vệ và phát triển bền vững khu vực, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn của bảo tồn thiên nhiên Quy hoạch mở rộng Vườn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, du lịch sinh thái và thúc đẩy phát triển cộng đồng địa phương Việc phân bổ phạm vi hành chính rõ ràng đảm bảo quản lý hiệu quả và góp phần bảo vệ hệ sinh thái đa dạng của Vườn Quốc gia Ba Vì.

Ba Trại, Tản Lĩnh, Khánh Thượng, Minh Quang, Vân Hoà, Yên Bài; huyện

Thạch Thất có 3 xã gồm Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung, tạo thành phần lớn diện tích tự nhiên của huyện Huyện Quốc Oai có 1 xã là Đồng Xuân, trong khi huyện Lương Sơn có 2 xã là Yên Quang và Lâm Sơn Huyện Kỳ Sơn gồm 3 xã là Phú Minh, Phúc Tiến và Dân Hòa Tổng diện tích tự nhiên của 16 xã trong khu vực lên đến 40.697,56 hecta, phản ánh quy mô rộng lớn của các địa phương này.

Trên địa bàn 16 xã, có sự đa dạng về dân tộc với 4 nhóm chính: Mường, Kinh, Dao và Thái Dân số toàn khu vực đạt gần 89.928 người, trong đó dân tộc Mường chiếm tỷ lệ cao nhất với 69.547 người, chiếm 77,3%, phân bổ đều khắp 16 xã Dân tộc Kinh chiếm khoảng 20,4% tổng dân số, tiếp theo là dân tộc Dao với 2,15%, chủ yếu tập trung tại các xã Ba Vì, Dân Hòa và Lâm Sơn Dân tộc Thái chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, chỉ 0,15%, cư trú chủ yếu tại các xã Đồng Xuân, Yên Quang và Phú Minh.

Vùng có tổng số lao động là 51.568 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm đa số với 46.562 người, thể hiện tầm quan trọng của nông nghiệp trong cơ cấu lao động địa phương Các ngành nghề khác chỉ chiếm hơn 1% tổng lao động, với 497 người, cho thấy sự đa dạng ngành nghề ở vùng nông thôn chưa được chú trọng đúng mức.

*Tình hình phát triển kinh tế chung

Theo số liệu thống kê của các xã, nguồn thu ngân sách trên địa bàn vùng Đệm đạt 21,55 tỷ đồng, phản ánh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn Sản lượng lương thực trung bình đạt 308 kg/người/năm, cho thấy năng lực tự cung tự cấp của người dân vẫn còn hạn chế Thu nhập bình quân cao nhất tại xã Yên Trung đạt 6 triệu đồng/người/năm, trong khi xã Vân Hoà có mức thấp nhất là 3,6 triệu đồng/người/năm Trong khu vực có 2.121 hộ nghèo, chiếm 10,31% tổng số hộ, trong đó Khánh Thượng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với 19,6%, còn Đông Xuân có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất chỉ 2,8% Tổng thể, thu ngân sách thấp, kinh tế phát triển chậm, gây ra nhiều khó khăn cho cộng đồng địa phương.

- Sản xuất lương thực: Năng suất lúa 2 vụ của các xã trong vùng đạt trung bình 4,55 tấn/ha/năm Bình quân mỗi năm đạt trên 20 ngàn tấn Năm

2007 đạt 27.680,02 tấn Tuy nhiên, sản lượng lương thực không đủ tiêu dùng tại chỗ mà nhiều địa phương vẫn phải mua từ bên ngoài vào

Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thứ hai sau trồng trọt, không chỉ cung cấp sức kéo mà còn cung cấp phân bón hữu hiệu để tăng năng suất cây trồng Ngoài ra, chăn nuôi còn góp phần cung cấp thực phẩm tại chỗ, thúc đẩy an ninh lương thực địa phương Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp, gây ảnh hưởng đến năng lực phát triển của ngành.

- Công tác bảo vệ, trồng rừng + Trồng rừng: Thực hiện chương trình 327/CP; 661/CP Chỉ riêng năm

Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2010, diện tích rừng trồng đã mở rộng đáng kể với 250 ha vào năm 2009 và thêm 111,6 ha vào năm 2010 tại 5 xã: Dân Hòa, Phúc Tiến, Yên Quang, Yên Trung và Phú Minh Các loại cây trồng chủ yếu bao gồm Lát, Thông, Sa Mộc, Dẻ, cùng với cây phụ trợ là Keo, góp phần thúc đẩy sự phát triển tốt của rừng Đây là minh chứng cho hoạt động trồng rừng bền vững và hiệu quả tại địa phương.

Bà con địa phương đã nhận khoán bảo vệ rừng do Vườn giao, với tổng diện tích là 3.350 ha thuộc quyền quản lý của 97 hộ dân tại các xã Kết quả kiểm tra cuối năm 2010 cho thấy các hộ nhận khoán đã thực hiện bảo vệ rừng hiệu quả, giữ gìn tốt diện tích được giao Giải pháp bảo vệ rừng này đã góp phần đảm bảo an ninh rừng và duy trì đa dạng sinh học tại khu vực.

Công tác xây dựng rừng tại địa phương diễn ra ổn định từ sau khi triển khai theo Quyết định 02/CP của Chính phủ Phần lớn diện tích rừng đã có chủ, góp phần thúc đẩy phát triển các mô hình trang trại của hộ gia đình làm ăn hiệu quả Nhờ đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng nâng cao, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển kinh tế bền vững tại địa phương.

Việc khai thác quá mức và thiếu kiểm soát các nguồn cây thuốc trong rừng tự nhiên tại Núi Ba Vì đã làm giảm mạnh số lượng và chất lượng của nhiều loài cây thuốc quý Những loài cây này, chủ yếu được sử dụng trong điều trị các bệnh xương khớp, gan, thận và các bệnh phụ nữ, đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nếu không có các phương án quy hoạch bảo vệ và trồng trọt hợp lý Các hộ gia đình người Dao tại Yên Sơn và Bản Hợp Nhất phụ thuộc vào nghề thuốc cổ truyền, nhưng việc khai thác quá mức đã gây ra cảnh báo nghiêm trọng về sự mất cân bằng nguồn tài nguyên tự nhiên Nếu chính quyền và cộng đồng không kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác và có phương án bảo vệ, nhiều loại cây thuốc quý có nguy cơ không còn tồn tại trong tương lai gần.

Nhiều nương rẫy tập trung xen kẽ trong phân khu phục hồi sinh thái tại các xã Khánh Thượng, Ba Vì, Ba Trại, nơi bà con đã canh tác lâu đời Chính quyền địa phương chủ yếu trồng cây sắn và thực hiện canh tác luân canh trên diện tích này Tuy nhiên, năng suất cây trồng đang giảm dần do đất bạc màu, ngày càng bị rửa trôi, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người dân.

* Hiện trạng xã hội và cơ sở hạ tầng tại các xã vùng Đệm

Công tác Giáo dục: ở tất các các xã đều đã có trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở Toàn vùng hiện có 1.309 giáo viên với 14.731 học sinh

Hầu hết học sinh trong độ tuổi đến trường đã được đi học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất hiện nay tại các xã vùng sâu, vùng xa là thiếu nhà ở kiên cố cho giáo viên từ nơi khác đến công tác Việc xây dựng nhà ở cho giáo viên không chỉ giúp họ ổn định cuộc sống mà còn tạo điều kiện thuận lợi để họ yên tâm giảng dạy và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục địa phương.

Chất lượng giáo dục tại vùng dự án vẫn còn nhiều hạn chế, mặc dù tỷ lệ học sinh trung học tốt nghiệp đạt từ 94-98% vào năm 2007 Tuy nhiên, số học sinh giỏi cấp huyện vẫn thấp hơn so với mức trung bình chung của huyện, phản ánh cần có nhiều nỗ lực hơn để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Trong khu vực điều tra, mỗi xã đều có một trạm y tế nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, với tổng số 103 cán bộ y tế và 87 giường bệnh Các cơ sở y tế địa phương có nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh, sơ cứu và điều trị các bệnh thông thường cho người dân Tuy nhiên, cơ sở vật chất tại các trạm y tế xã còn thiếu thốn, và trình độ chuyên môn của cán bộ y tế chủ yếu mới ở trình độ y sĩ, chưa có đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao Điều này ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế, đòi hỏi cần đầu tư nhiều hơn vào cơ sở vật chất và đào tạo cán bộ y tế để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ KH-CN&MT (2004), Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Đề tài NCKH cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Bộ KH-CN&MT
Năm: 2004
2. Bộ NN&PTNT (2004), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2004
8. Thế Đạt (2000), Du lịch và du lịch sinh thái, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và du lịch sinh thái
Tác giả: Thế Đạt
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2000
9. Nguyễn Đức Hậu (2006), Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường ĐH Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Đức Hậu
Năm: 2006
10. Nguyễn Đình Hoà (2006), “Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí kinh tế & phát triển, (số 15), tr 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam”, "Tạp chí kinh tế & phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Hoà
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Hợp (2007), Xây dựng chiến lược kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái tại VQG Ba Vì, Luận văn thạc sĩ, trường ĐHKTQD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chiến lược kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái tại VQG Ba Vì
Tác giả: Nguyễn Văn Hợp
Năm: 2007
13. Vũ Đăng Khôi (2004), Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn vườn quốc gia Ba Vì và vùng phụ cận, Luận văn thạc sĩ QTKD, Trường ĐHBK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn vườn quốc gia Ba Vì và vùng phụ cận
Tác giả: Vũ Đăng Khôi
Năm: 2004
14. Phạm Hồng Long, Bùi Thị Hải Yến (2007), Tài nguyên du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch
Tác giả: Phạm Hồng Long, Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
15. Phạm Trung Lương (2001), “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”, Tạp chí du lịch, (số 42), tr 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”, "Tạp chí du lịch
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2001
16. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái - những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái - những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
17. Nguyễn Văn Mạnh, Lê Trung Kiên (2000), “Du lịch sinh thái và kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (số 28), tr 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái và kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh, Lê Trung Kiên
Năm: 2000
18. Lê Văn Minh (2000), “Đa dạng sinh học với phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (số 35), tr 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học với phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Minh
Năm: 2000
19. Thái Lê Nguyên (2006), Du lịch sinh thái = Ecotourism, NXB KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái = Ecotourism
Tác giả: Thái Lê Nguyên
Nhà XB: NXB KH&KT
Năm: 2006
20. Đức Phan (2004), “Phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái”, Tạp chí thương mại,(số 32), tr 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái”, "Tạp chí thương mại
Tác giả: Đức Phan
Năm: 2004
21. Hoàng Hoa Quân (2005), “Hoạt động du lịch sinh thái tại Việt Nam thực trạng và định hướng phát triển”, Tạp chí Du lịch Việt Nam,(số 65), tr 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động du lịch sinh thái tại Việt Nam thực trạng và định hướng phát triển”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hoa Quân
Năm: 2005
22. Nguyến Quyết Thắng (2000), “Giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (số 36), tr 18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyến Quyết Thắng
Năm: 2000
3. Bộ NN&PTNT (2007), Quyết định 104/2007/QĐ-BNN ngày 27/12/2007 về quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu BTTN Khác
4. Bộ NN&PTNT (2011), Thông tư số 78/TT-BNN&PTNT, ngày 11/11/2011 Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24 tháng 12 năm 2010 về tổ chức và quản lý rừng đặc dụng Khác
5. Chính phủ (2002), Nghị định 48/2002/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số18/HĐQB ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định danh mục động thực vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ Khác
6. Chính phủ (2004), Nghị định số 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm