1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên thực vật rừng trên địa bàn huyện quảng ninh tỉnh quảng bình​

142 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên thực vật rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình
Tác giả Lê Ngọc Hoàng
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Xuân Dũng
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1. Trên thế giới (16)
      • 1.1.1. Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng (16)
      • 1.1.2. Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng (18)
      • 1.1.3. Những nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (22)
    • 1.2. Ở Việt Nam (24)
      • 1.2.1. Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng (24)
      • 1.2.2. Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng (25)
      • 1.2.3. Những nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (28)
    • 1.3. Các văn bản của tỉnh Quảng Bình liên quan đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (30)
    • 1.4. Thảo luận (31)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (32)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (32)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (32)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (32)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (33)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.4.1. Phương pháp luận nghiên cứu (33)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng (35)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG (40)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (40)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (40)
      • 3.1.2. Điều kiện địa hình (41)
      • 3.1.3. Tài nguyên thiên nhiên (42)
      • 3.1.4. Khí hậu thủy văn (43)
    • 3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội (45)
      • 3.2.1. Dân số (45)
      • 3.2.2. Thu nhập (45)
      • 3.2.3. Giao thông (45)
      • 3.2.4. Lâm nghiệp (46)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (47)
    • 4.1. Hiện trạng và diễn biến tài nguyên thực vật rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 (47)
      • 4.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp (47)
      • 4.1.2. Diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018 (52)
    • 4.2. Thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Quảng Ninh (60)
      • 4.2.1. Công tác phòng cháy chữa cháy rừng (60)
      • 4.2.2. Công tác tổ chức lực lượng quản lý bảo vệ rừng (64)
      • 4.2.3. Công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản (65)
      • 4.2.4. Công tác phòng chống phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp (71)
      • 4.2.5. Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật (74)
      • 4.2.6. Sự phối hợp của chính quyền địa phương và người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng (76)
    • 4.3. Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh (80)
      • 4.3.1. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến công tác quản lý bảo vệ rừng (80)
      • 4.3.2. Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến công tác quản lý bảo vệ rừng (84)
      • 4.3.3. Ảnh hưởng của đặc điểm xã hội ( phong tục, tập quán, kiến thức bản địa) (93)
      • 4.3.4. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác quản lý bảo vệ rừng (94)
    • 4.4. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh (97)
      • 4.4.1. Cơ sở đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng (97)
      • 4.4.2. Giải pháp về chính sách (104)
      • 4.4.3. Giải pháp về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân (105)
      • 4.4.4. Giải pháp về tổ chức thực hiện (107)
      • 4.4.5. Giải pháp về kỹ thuật (112)
      • 4.4.6. Kinh nghiệm thực tiễn (113)

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: 1 Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng trong những năm qua trên địa bàn huyện Quảng Ninh; 2 Phân tích những thuận

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng

Trên phạm vi toàn cầu, quản lý rừng tập trung dưới hình thức quản lý nhà nước hoặc tư nhân đã có lịch sử từ rất lâu dài (Westoby, 1987, 1989; Dixon và Sherman, 1991; Harrison, 1992; Peluso, 1992; Vandergeest và Peluso, 1995; Fay và Michon, 2003) Trong khi đó, quyền tiếp cận và sử dụng rừng lại thường bị lãng quên hoặc được đề cập một cách mờ nhạt (Peluso, 1992; Lynch và cộng sự, 1995).

Qua Colchester (2007) cho thấy những vấn đề nảy sinh đã gây phản ứng tiêu cực từ người dân địa phương đối với những tác động lên rừng mà họ không mong đợi (Hyakumura, 2010) Vì vậy, xu hướng quản lý bền vững tài nguyên rừng trên thế giới đang ngày càng hướng tới phân quyền và tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương như một yếu tố then chốt của quản trị rừng (Westoby, 1989; Fisher, 1999; Pei và cs, 2009; Tole, 2010, được dẫn theo Đoàn Tiến Vinh, 2013 [32]).

Theo FAO (2005), giai đoạn 1990-1995 các nước đang phát triển đã mất trên 65 triệu ha rừng Đến năm 2000, diện tích rừng toàn cầu (bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) chỉ còn khoảng 3.869,455 triệu ha, chiếm 29,6% diện tích lãnh thổ Điều này đã thúc đẩy cộng đồng quốc tế thành lập nhiều tổ chức, đề xuất và cam kết các công ước bảo vệ và phát triển rừng, như Chiến lược Bảo tồn Quốc tế (1980, 1991) và ITTO (1983).

Chương trình hành động của FAO (1985) và các công ước quốc tế quan trọng được ghi nhận tại UNCED (Rio de Janeiro, 1992), CBD (1992), CCD (1996) và ITTA (1997) được dẫn theo FAO, 2005 [38] Ở các quốc gia trên thế giới, việc nghiên cứu và thực hiện các chính sách quản lý đất đai và rừng được thực hiện một cách chặt chẽ và luôn gắn liền với môi trường sinh thái, phát triển con người và thể chế chính trị của đất nước.

Các nghiên cứu về Chương trình phát triển cộng đồng địa phương (ELCDP), do FAO tài trợ, cùng với một số nghiên cứu chuyên đề ở nhiều nước, khẳng định nguồn lợi từ quản lý rừng và các hoạt động từ rừng nên thuộc về các cá nhân hoặc nhóm trong cộng đồng tham gia Các phân tích này mô tả và đánh giá các hình thức quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của nhiều nước khác nhau, với việc công tác tài liệu hóa và đào tạo được triển khai từ những năm 1985 Nhấn mạnh các vấn đề xã hội liên quan đến quản lý rừng cho thấy nếu người dân địa phương không quan tâm và cơ chế hành chính không cho phép họ tiếp cận lợi ích từ quản lý rừng thì các dự án sẽ khó thực hiện được.

Ở Philippines, năm 1997 Chính phủ ban hành Điều luật quyền của người dân tộc bản địa (IPRA), công nhận quyền đất đai do tổ tiên để lại và cam kết thực hiện các bổn phận quốc tế; đến năm 2011, nước này công nhận quyền đất đai theo phong tục tập quán thông qua giấy chứng nhận quyền sở hữu đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, góp phần củng cố vai trò ngày càng quan trọng của người dân bản địa trong bảo vệ rừng và môi trường sinh thái, đồng thời khuyến khích khai thác gỗ có quy chế, thu hái lâm sản và những nỗ lực của cộng đồng trong trồng các loài cây có giá trị và bảo tồn, phân loại thực vật theo luật tục và tri thức truyền thống (Lương Thị Trường và Orlando M Genotiva, 2011) Ở Trung Quốc, trước những năm 1970, chính phủ chỉ đạo trồng cây bằng biện pháp hành chính nên hiệu quả trồng rừng thấp và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa lợi ích của cộng đồng với lợi ích của người dân; từ khi có Luật Lâm nghiệp năm 1984, toàn xã hội tham gia công tác lâm nghiệp và được Nhà nước khuyến khích hỗ trợ, từng bước đưa sản xuất lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế và xóa nghèo.

Ở Trung Quốc vào thập niên 80, quyền sử dụng đất đã không ổn định do thiếu khung pháp lý rõ ràng, khiến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp bị quản lý không bền vững Lúc này, pháp luật chưa phân biệt rõ giữa rừng và đất rừng, các quy định cũng không xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ dẫn đến xung đột về sự hưởng lợi, đặc biệt với rừng do hộ gia đình (HGĐ) quản lý Bên cạnh đó, trách nhiệm của hình thức sở hữu tập thể vẫn mập mờ vì định nghĩa tập thể thay đổi theo thời kỳ và theo địa phương.

Ở Châu Âu, đất rừng chủ yếu thuộc 2 dạng sở hữu chính là sở hữu công và sở hữu tư (Romando và Reed, 2006b [45]) Rừng thuộc sở hữu tư là những khu rừng do các cá nhân, HĐG và tập thể quản lý Trong khi đó, đất rừng được xác định thuộc sở hữu công là những vùng thuộc Nhà nước quản lý, hoặc thuộc các cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã quản lý (Schmithusen, F và F Hirsch, 2010 [46]).

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng các mô hình và chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương và mang lại hiệu quả rõ rệt; các nghiên cứu khoa học được triển khai đồng bộ trên nhiều khía cạnh, chú trọng quản lý rừng theo hướng cộng đồng với sự tham gia của người dân, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan và tăng cường hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu vẫn mang tính vĩ mô, chưa đưa ra được nhiều giải pháp cụ thể và đa dạng để áp dụng với điều kiện thực tế của từng vùng miền và địa phương trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

1.1.2 Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng

* Ảnh hưởng của sinh kế hộ gia đình

Một trong những vấn đề phức tạp và phổ biến ở nhiều nước là xung đột giữa sinh kế và tài nguyên rừng Theo Chandraskharan (dẫn theo FAO, 2005), xung đột tài nguyên là cuộc tranh chấp về quyền lợi giữa các nhóm xã hội trong quá trình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, khi một nhóm muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác Nguồn gốc của các xung đột này bắt nguồn từ hạn chế kinh tế của hộ gia đình (HGĐ), khiến phần lớn sinh kế phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng ở khu bảo tồn (KBT) hay các khu vực VQG Điều này đồng nghĩa với việc tại cùng một thời điểm, tài nguyên rừng sẽ phải chịu áp lực từ nhiều cộng đồng khác nhau, và áp lực này sẽ tăng lên khi kinh tế của các HGĐ xung quanh bị hạn chế (theo FAO, 2005) Xung đột giữa sinh kế và tài nguyên rừng còn được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, như thể chế cộng đồng, thành phần tham gia, chính sách và thủ tục, cũng như quản lý và các nhu cầu thực tế.

Kinh tế HGĐ được xác định là nhân tố chính chi phối các hình thức và mức độ tác động của người dân lên tài nguyên rừng và đất rừng Tổ chức nông lương thế giới (FAO, 2005 [39]) đã xác nhận rằng: phần lớn người dân vùng đệm các KBT hay các VQG sử dụng các sản phẩm lâm sản để phục vụ các nhu cầu sống của của mình Nhiều nơi có đến 50% thu nhập của các hộ dân nông thôn là từ lâm sản ngoài gỗ

Nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp giải quyết các vấn đề xung đột và bảo tồn tài nguyên đã cho thấy một chiến lược bảo tồn mới, gắn bảo tồn ĐDSH với phát triển sinh kế của người dân địa phương và phát triển cộng đồng, là tiếp cận hiệu quả Mô hình bảo tồn văn hóa cộng đồng địa phương gắn bảo tồn ĐDSH đã được thực hiện rất thành công ở VQG Kakadu (Australia), nơi người thổ dân được công nhận là chủ hợp pháp của VQG và tham gia quản lý thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền Ở Thái Lan, độ che phủ rừng giảm từ 60% (1954) xuống còn 26% (1995) với hơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá; để khắc phục, chính phủ Thái Lan đã tăng cường thành lập các khu bảo tồn (KBT) Tuy nhiên, quá trình này lại dẫn đến gia tăng mạnh mẽ các xung đột giữa các cộng đồng địa phương vùng đệm, và các nhà quy hoạch quản lý KBT nhận ra sự cần thiết phải xem xét điều kiện kinh tế - xã hội quanh KBT và đề xuất thiết lập các vùng đệm để ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài vào các KBT.

Trong chiến lược Quốc gia của Philippines về bảo tồn ĐDSH chi ra rằng:

Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là bảo đảm các cộng đồng địa phương—những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách môi trường—tham gia đầy đủ vào quá trình lập kế hoạch và quản lý các hoạt động bảo tồn ĐDSH Sự tham gia của họ tăng tính khả thi của các biện pháp bảo tồn, thúc đẩy sự đồng thuận và trách nhiệm chung, từ đó nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ đa dạng sinh học.

Peluso (1986) cho biết, tại Indonesia đã công bố các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: Rừng sản xuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều được nghiên cứu Sản phẩm là những mặt hàng sinh lời được và khó quản lý đối với các cơ quan lâm nghiệp nhưng có giá trị to lớn đối với nhân dân địa phương Kế hoạch hành động ĐDSH ở Indonesia cũng ghi nhận rằng: "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính ĐDSH cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch” (dẫn theo FAO, 2006 [39])

Bink Man W.1988 trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết về làng Ban Pong tỉnh S Risaket Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (dẫn theo Trần Ngọc Lân, 1999 [11]) Ở khu vực VQG bán đảo Paria - Vênêzuêla, Uỷ ban quốc gia của Vênêzuêla đã đề xuất các chương trình phát triển cộng đồng, như hoạt động phát triển, giáo dục và nghiên cứu cho người lớn và trẻ em; đưa vào ứng dụng các phương pháp canh tác lâu bền cho cộng đồng địa phương vùng đệm; triển khai các hoạt động làm ăn, sinh sống mới để tạo thu nhập cho người dân như vườn nhà, nuôi ong, du lịch sinh thái; đồng thời thực hiện nhiều nghiên cứu khoa học tại VQG (dẫn theo Khuất Thị Lan Anh,

Ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng

Trong những năm qua đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng theo quan điểm bảo tồn và phát triển, có thể kể đến các tác giả: Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) [14], Trần Đức Viên và cs (2005) [31], Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn (2006) [24] Cụ thể như sau:

Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) [14] tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại

3 tỉnh Hòa Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền sử dụng, các chính sách liên quan đến hình thức quản lý, bảo vệ rừng này Trong 5 mô hình quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương và được chính quyền địa phương chấp thuận Theo đó, tác giả đã đề ra quy định quản lý, sử dụng lâm sản cũng như hoạt động bảo vệ, phát triển rừng

Trần Đức Viên và các đồng tác giả (2005) đề xuất ba khuyến nghị quan trọng cho nghiên cứu phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân ở Việt Nam: (i) tăng cường phân quyền và giảm tiếp cận quản lý từ trên xuống; (ii) tập trung nhiều hơn vào sinh kế của người dân; và (iii) nâng cao vai trò của các tổ chức cộng đồng.

Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn (2006) [24], đã tiến hành nghiên cứu phân tích các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống chính sách, chế độ quản lý và khuyến khích phát triển rừng cho các HGĐ nông dân Trên cơ sở tổng kết đánh giá hệ thống chính sách, chế độ hiện hành, bước đầu đề xuất các khuyến nghị về việc hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các HGĐ nông dân Ở Việt Nam có 3 loại hình quản lý rừng cơ bản, bao gồm: (i) Rừng Nhà nước, (ii) Rừng cộng động, và (iii) Rừng của hộ gia đình nông dân Tuy nhiên, rừng cộng đồng tỏ ra có triển vọng tốt ở nhiều nơi Vì vậy, cần chú ý thực hiện tốt chính sách giao đất, khoán rừng đồng thời tăng cường các chính sách hưởng lợi cho người dân địa phương Ngoài ra, cần đẩy mạnh vai trò của lâm nghiệp cộng đồng, vài trò của quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và bố trí cụm dân cư hợp lý nhằm đảm bảo các diện tích phòng hộ cần thiết, nhất là các khu vực phòng hộ xung yếu (Ngô Đình Quế và cs, 2006 [22])

Phạm Xuân Phương và cs (2010) [17] cho biết từ năm 2003 đến nay, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã ban hành một khối lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý rừng Hệ thống văn bản pháp luật này đã đi vào đời sống xã hội, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và huy động nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng Nhờ đó, các quy định về quản lý rừng đã đóng góp vào ổn định kinh tế - xã hội, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân ở vùng trung du và miền núi.

Quá trình vận dụng văn bản pháp luật vào thực tiễn cho thấy nhiều hạn chế, đặc biệt là các văn bản đã lạc hậu so với nhịp phát triển của đất nước và chậm được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Thêm vào đó, sự tồn tại của nhiều cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở các thời điểm và hoàn cảnh khác nhau làm nảy sinh mâu thuẫn, chồng chéo và trùng lặp giữa các văn bản Những điều này gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách và đòi hỏi sự đồng bộ hóa hệ thống văn bản pháp luật để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi.

1.2.2 Những nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng

* Ảnh hưởng của sinh kế hộ gia đình

Miền núi Việt Nam có diện tích trên 20 triệu ha, chiếm khoảng 3/4 tổng diện tích tự nhiên cả nước, và khoảng 25 triệu người sinh sống thuộc 53 dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc đều giữ phong tục tập quán riêng và nền văn hóa đặc sắc, tạo nên sự đa dạng đáng kể cho vùng miền Tuy vậy, xét từ góc độ kinh tế – xã hội, miền núi vẫn có những đặc điểm chung nổi bật phù hợp cho các chiến lược phát triển nông nghiệp, du lịch văn hóa và nâng cao đời sống người dân ở vùng núi.

Trong bối cảnh sự phát triển toàn diện của KT-XH trên toàn quốc, kinh tế hộ gia đình (HGĐ) ở miền núi nước ta đang trải qua nhiều thay đổi đáng kể Những biến đổi này diễn ra ngày càng nhanh và mạnh, tác động lên nhiều lĩnh vực và góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền KT-XH nông thôn miền núi.

Phần lớn hộ gia đình ở miền núi hiện nay có cấu trúc hai thế hệ, trong khi các mô hình đại gia đình nhiều thế hệ trước đây còn lại rất ít; quy mô hộ gia đình miền núi ngày càng nhỏ Theo kết quả tổng điều tra thống kê năm 2006, bình quân mỗi hộ gia đình miền núi có 6,5 nhân khẩu và 3,3 lao động, cho thấy xu hướng thu hẹp quy mô hộ và thay đổi cơ cấu gia đình (theo Chu Tiến Quang, Lưu Đức Khải, 2009 [21]).

Hiện nay, trình độ văn hóa của đồng bào miền núi còn thấp, với tỷ lệ biết đọc biết viết chưa tới 40% Trình độ canh tác của người dân còn nhiều hạn chế, dù các hộ gia đình ở miền núi thường sở hữu diện tích đất đai tương đối lớn, nhưng diện tích đất nông nghiệp có thể canh tác lại khá ít và không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất lương thực Phần lớn khả năng tự đầu tư vốn của các hộ dân để phát triển sản xuất còn hạn chế, hệ số sử dụng lao động rất thấp, chỉ đạt khoảng 30% đến 40% tổng quỹ thời gian lao động.

+ Trong cơ cấu thu nhập của HGĐ miền núi thì thu nhập từ nông nghiệp chiếm tới 85%, trong đó trồng trọt chiếm 70%, thu nhập từ lâm nghiệp chiếm khoảng 9%, từ thủ công nghiệp khoảng 3%, còn lại các khoản thu nhập từ nhiều nguồn khác Do mức thu nhập thấp, nên phần lớn chi phí của HGĐ dành cho sinh hoạt hàng ngày, chiếm tới 70% - 80% [21]

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của sinh kế hộ gia đình đến tài nguyên rừng có thể kể đến: Đỗ Anh Tuân (1999) [23], cho biết, hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBT

* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên

Các tổ chức khoa học quốc tế đã cảnh báo từ trước rằng biến đổi khí hậu (BĐKH) làm gia tăng nguy cơ cháy rừng Nghiên cứu dựa vào số liệu khí tượng từ thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ 20 và các kịch bản biến đổi khí hậu để đánh giá sự dịch chuyển về nguy cơ cháy ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Yếu tố chính ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng là nhiệt độ và độ ẩm; dưới tác động của BĐKH, mùa cháy rừng khô hạn chứng kiến nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm, khiến độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng giảm mạnh và làm tăng nguy cơ cháy rừng.

Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm, năm 2016 trên cả nước đã xảy ra 490 vụ cháy rừng, thiệt hại 3.374 ha rừng các loại, tăng 13 vụ và 1.314 ha so với năm 2015 (năm 2015 thiệt hại 2.060 ha).

Các văn bản của tỉnh Quảng Bình liên quan đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Trước tình hình diễn biến lâm nghiệp tại tỉnh Quảng Bình còn phức tạp, UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Trong đó, Quyết định 227/QĐ-UB ngày 23/6/1997 thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 287/TTg ngày 5/2/1997 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức truy quét những cá nhân, tổ chức phá hoại rừng; Quyết định 38/1999/QĐ-UB ngày 23/9/1999 ban hành quy định chức năng nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành một loạt Chỉ thị và Nghị quyết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Những văn bản này nhằm cải thiện cơ chế phối hợp giữa các cấp, tăng cường quản lý đất lâm nghiệp và khuyến khích các hoạt động bảo vệ, phục hồi và sử dụng rừng bền vững Qua đó, mục tiêu là bảo đảm đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Các văn bản từ Chỉ thị 16/2001/CT-UB cho đến Chỉ thị 03/CT-UBND năm 2019 của tỉnh Quảng Bình tạo thành một khung pháp lý đồng bộ nhằm tăng cường kiểm tra và xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng động vật hoang dã và đồng thời nâng cao hiệu quả cứu hộ động vật hoang dã trên địa bàn; song song đó là hệ thống chỉ thị và quyết định về tăng cường phòng cháy và chữa cháy rừng, quản lý bảo vệ rừng và quản lý đất lâm nghiệp Nghị quyết 115/2009/NQ-HĐND phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2020, và các Kế hoạch số 665/KH-UBND (2017) cùng 31-KH/TU (2017) triển khai nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Văn bản 1065/UBND-KTN (2017) xác định trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng và quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong khi Chỉ thị 03/CT-UBND (2019) mở rộng các biện pháp quản lý rừng, đất lâm nghiệp và phòng cháy chữa cháy rừng.

Ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, các cấp, ngành và chính quyền địa phương các xã cùng các đơn vị chủ rừng đã được chỉ đạo triển khai các biện pháp bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR Tuy vậy, các biện pháp và phương án hiện hành mang tính tổng hợp và chưa sát với thực tế địa phương Do đó cần khuyến khích nhiều đề tài nghiên cứu khoa học tại địa bàn để đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện.

Thảo luận

Trong quá trình quản lý bảo vệ và phát triển rừng, các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã điều chỉnh thể chế nhằm tối ưu hóa quản lý nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, đồng thời thúc đẩy sinh kế bền vững cho cộng đồng Dưới tác động của các phương thức quản lý rừng, sự duy trì, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng ở Việt Nam và nhiều nơi khác đã được cải thiện đáng kể Mỗi phương thức có ưu thế và tồn tại riêng, vì vậy cần phối hợp cả ba phương thức quản lý: (i) quản lý trực tiếp của Nhà nước đối với các khu vực như vườn quốc gia, rừng đặc dụng và vùng sinh thái phòng hộ đầu nguồn rất xung yếu; (ii) quản lý của cộng đồng và (iii) các hình thức quản lý phối hợp khác để tối ưu hóa hiệu quả và tính bền vững.

Quản lý tư nhân về rừng và đất lâm nghiệp (chính sách giao đất giao rừng) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng là hai khuôn khổ quản lý quan trọng nhằm bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều tồn tại và thách thức như diện tích đất giao cho hộ gia đình thường là đất nghèo kiệt, khó khăn; người dân chưa dễ dàng tiếp cận các quyền lợi trên lô rừng được giao; người dân và cộng đồng địa phương chưa thật sự tham gia vào quá trình lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng và phân chia tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại địa phương; sinh kế dựa vào rừng chưa được đảm bảo dù rừng là nguồn mưu sinh của họ cho dù đó là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển Vì vậy, phát triển kinh tế - xã hội cần đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng nguồn tài nguyên rừng một cách tiết kiệm và hiệu quả; đây trở thành một xu thế chủ đạo và là yêu cầu sống còn của mỗi quốc gia, dân tộc.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng, nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đánh giá được hiện trạng và diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014-2018;

- Phân tích được thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng huyện Quảng Ninh;

- Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh;

- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh

2.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các khu rừng trên địa bàn huyện Quảng Ninh - tỉnh Quảng Bình; chính quyền địa phương các cấp và người dân sống liền rừng, gần rừng

+ Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu vào thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng

Phạm vi không gian của nghiên cứu được xác định tại hai xã Trường Sơn và Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, nơi có diện tích rừng lớn và tình hình diễn biến vi phạm lâm luật phức tạp, có thể hình thành điểm nóng Đề xuất chọn 1–2 thôn thuộc mỗi xã làm đơn vị nghiên cứu cụ thể nhằm thu thập dữ liệu và phân tích hiện trạng để đề xuất giải pháp quản lý và phòng ngừa hiệu quả.

- Bản Thượng Sơn, thôn Hồng Sơn xã Trường Sơn;

- Thôn Kim Sen xã Trường Xuân

+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong những năm gần đây từ 2014 - 2018.

Nội dung nghiên cứu

1 Đánh giá hiện trạng và diễn biến tài nguyên thực vật rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018

2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Quảng Ninh

- Thực trạng công tác quản ý bảo vệ rừng từ năm 2014 - 2018;

- Tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng;

- Sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng

3 Phân tích, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh

- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: Khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, đất đai,…đến công tác quản lý tài nguyên rừng

- Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến quản lý tài nguyên rừng

- Ảnh hưởng của xã hội: phong tục, tập quán, kiến thức bản địa

4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng huyện Quảng Ninh

- Giải pháp về cơ chế chính sách;

- Giải pháp về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân;

- Giải pháp về tổ chức thực hiện;

- Giải pháp về kỹ thuật;

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Quản lý bảo vệ và phát triển rừng là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước nhằm tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý và hiệu quả cao để khai thác tiềm năng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và nguồn lao động sẵn có Để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về rừng, ngăn chặn phá rừng, nâng cao trách nhiệm và khuyến khích các tổ chức, cá nhân bảo vệ và phát triển rừng, phát huy lợi ích của rừng phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2019), cần thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất vùng gắn với các tư liệu sản xuất khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ đất và môi trường sinh thái Do đó, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững phải đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương và sự chỉ đạo của cấp trung ương, cấp tỉnh ở mức độ hợp lý; phù hợp với chính sách, quy hoạch cấp trên (cấp tỉnh) và nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng, đồng thời tận dụng lợi thế của địa phương và có tính địa phương nhất định.

Quản lý bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp có vai trò sống còn đối với sự tồn vong của loài người, vì rừng vừa điều tiết khí hậu và là nền tảng của đa dạng sinh học và tiến hóa, vừa là nguồn tài nguyên quý giá cho cuộc sống nhờ các giá trị dược liệu và nguyên vật liệu cho nhiều ngành công nghiệp Dù là rừng sản xuất, rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng, chúng ta phải đặt vấn đề sử dụng bền vững các giá trị sinh thái, môi trường, kinh tế và xã hội của chúng thay vì chỉ tập trung vào bảo vệ đơn thuần Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp thực chất là giải pháp quản lý hiệu quả, và do đó cần có sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ và khai thác rừng trong quá trình quản lý và phát triển.

- Sử dụng bền vững vốn rừng hiện có để chuyển những giá trị tiềm năng của chúng thành những lợi ích kinh tế và từ đó khuyến khích mối quan tâm bảo vệ rừng của những người dân địa phương cũng như những nhà hoạch định chính sách;

- Sử dụng bền vững đất đang sản xuất nông nghiệp để giảm sức ép vào rừng tự nhiên Trước hết cần kể đến các hệ thống nông lâm kết hợp hiệu quả và phù hợp với điều kiện địa phương

Hình 2.1 Sơ đồ các bước thực hiện nghiên cứu của đề tài

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 2.4.2.1 Phương pháp kế thừa các nguồn tài liệu thứ cấp

Trên cơ sở thực hiện các nội dung nghiên cứu, đề tài kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu thứ cấp từ các cơ quan, tại địa phương cũng như các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các nội dung nghiên cứu chính của đề tài, cụ thể:

- Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã về công tác quản lý và bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu;

- Các tài liệu liên quan đến điểm nghiên cứu được thu thập tại địa phương như: điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, ;

- Báo cáo kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018;

- Bản đồ kiểm kê rừng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Quảng Ninh năm 2014, 2018 (tỷ lệ 1:25000);

- Báo cáo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Quảng Ninh;

- Các kết quả nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nước có liên quan đến các nội dung nghiên cứu chính của đềtài.

2.4.2.2 Phương pháp chọn địa điểm và xác định đối tượng nghiên cứu

* Chọn địa điểm nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng để xác định các xã, thôn, đáp ứng đủ các tiêu chí được chọn làm mục tiêu nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài nguyên rừng tại huyện Quảng Ninh

Các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã có rừng, trao đổi với cán bộ Hạt kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của các đơn vịchủ rừng Địa điểm xã nghiên cứu được lựa chọn cần thỏa mãn các tiêu chí sau:

- Có địa giới hành chính nằm trong ranh giới của huyện Quảng Ninh;

- Người dân có sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế;

- Lựa chọn các thôn/bản nghiên cứu;

- Những thôn/bản sống gần rừng;

- Thôn có đầy đủ các thành phần kinh tế hộ: Hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo

* Xác định dung lượng mẫu điều tra

Xác định dung lượng mẫu không lặp lại theo công thức sau:

+ n: Số hộ cần điều tra;

+ N: Tổng số hộ của xã điều tra (phải xác định tổng số hộ có những hoạt động sinh kế phụthuộc vào nguồn tài nguyên rừng và đất rừng (trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng, canh tác nông nghiệp trên đất rừng, trồng cây lâu năm trên đất lâm nghiệp…);

+ u: Hệ số tin cậy của phân bốchuẩn (u=1,96);

Căn cứ công thức trên ta có kết quả như sau:

- Tổng số hộ dân của thôn Hồng Sơn, xã Trường Sơn: 152 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra là: 58 hộ;

- Tổng số hộ dân Bản Thượng Sơn, xã Trường Sơn: 247 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra là: 69 hộ;

- Tổng số hộ dân của thôn Kim Sen, xã Trường Xuân: 297 hộ Như vậy, theo công thức trên số hộ điều tra là: 72 hộ

* Lựa chọn đối tƣợng hộ gia đình phỏng vấn

Việc chọn lựa hộ gia đình phỏng vấn đáp ứng các tiêu chí sau:

- Đại diện cho các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo (tiêu chí phân loại nhóm hộ khá, trung bình, nghèo được kếthừa theo báo cáo tổng hợp danh sách phân loại nhóm hộ của UBND xã) Bao nhiêu hộ khá, trung bình và nghèo/xã để điều tra;

- Các hộ gia đình được lựa chọn trên cơ sở phân loại hộ gia đình sau đó rút ngẫu nhiên lấy đủ số hộ đại diện rồi phỏng vấn;

- Đề tài tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình, chủ rừng, cán bộ chính quyền địa phương cấp huyện, xã và cán bộ thôn, tổ dân phố… Công cụ điều tra chủ yếu là bảng câu hỏi phỏng vấn

2.4.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, sốliệu điều tra ngoài hiện trường

Trên cơ sở kết quảkiểm kê rừng huyện Quảng Ninh năm 2014 và năm 2018, đề tài áp dụng một số công cụ trong bộ công cụ PRA như: phỏng vấn bán cấu trúc bằng phiếu hỏi được thiết kế trước để phỏng vấn cán bộ (Hạt kiểm lâm, UBND huyện, UBND xã, cán bộ xã phụ trách về nông lâm nghiệp, địa chính, …) và các hộ gia đình có các hoạt động sinh kế phụ thuộc phần lớn vào nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn khu vực nghiên cứu

- Phỏng vấn cán bộ địa phương về một số vấn đề có liên quan: Tình hình phát triển kinh tế xã hội, hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp; các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp của người dân; những định hướng và giải pháp chung của xã để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trong thời gian tới, đặc biệt là các hoạt động trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện; qua đó xác định được các nguyên nhân dẫn đến những diễn biến hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện

- Phỏng vấn hộ gia đình: Tiến hành phỏng vấn hộ gia đình điển hình theo bảng hỏi cấu trúc đã xây dựng trước tại các điểm nghiên cứu Mỗi thôn, bản tiến hành phỏng vấn 50 hộ gia đình điển hình, đại diện nhất trong xã theo các nhóm hộ (nhóm hộ khá, trung bình và nghèo) Tiến hành điều tra, phỏng vấn 1-2 thôn, bản/xã đại diện nhất về sự phụ thuộc về sinh kế của người dân vào nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, bao gồm: Bản Thượng Sơn và thôn Hồng Sơn, xã Trường Sơn và thôn Kim Sen xã Trường Xuân

Tham khảo ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà khoa học về các ý kiến đánh giá, các nhận định, các kinh nghiệm đến vấn đề phát triển sinh kế hộ gia đình cũng như công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu thông qua tham vấn trực tiếp Số lượng chuyên gia là

10 người (Chi Cục Kiểm lâm Quảng Bình (2 người), Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh (3 người); UBND xã Trường Sơn (1 người), UBND xã Trường Xuân (1 người) và 3 nhà khoa học có lĩnh vực chuyên môn có liên quan) Các vấn đề chính được đưa ra thảo luận và xin ký kiến chuyên gia, tập trung vào:

- Phân tích thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng huyện Quảng Ninh;

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG

Điều kiện tự nhiên

Huyện Quảng Ninh nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình và được thành lập theo Nghị quyết 125/NQ-CP của Chính phủ ngày 10/12/2013, tách ra từ huyện Quảng Trạch (cũ) Vị trí địa lý của huyện Quảng Ninh được xác định với các ranh giới tiếp giáp cụ thể như sau: [6].

- Phía Đông giáp Biển Đông;

- Phía Nam giáp Huyện Lệ Thủy;

- Phía Bắc giáp TP Đồng Hới Được thể hiện trên bản đồ như sau:

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình

Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nằm trên các trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam (Quốc lộ 1A) và Đông - Tây (Quốc lộ 11), đồng thời có đường sắt, đường sông (theo sông Long Đại và sông Nhật Lệ) và đường biển với bờ biển dài trên 25 km Cách Thành phố Đồng Hới 7 km về phía Bắc, vị trí này mang lại điều kiện thuận lợi để huyện mở rộng giao lưu văn hóa, chính trị và phát triển kinh tế Nhờ mạng lưới giao thông đa dạng và liên kết với các tuyến huyết mạch, Quảng Ninh có tiềm năng đẩy mạnh du lịch, kinh tế biển và liên kết vùng, thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân.

3.1.2 Điều kiện địa hình Địa hình của huyện Quảng Ninh chia thành các dạng sau:

Đồng bằng là kiểu địa hình chiếm phần lớn diện tích huyện, nằm chủ yếu ở vùng hạ lưu sông Long Đại và sông Nhật Lệ Địa hình này tương đối dốc đối với các xã hình thành từ phù sa của hai sông Long Đại và Nhật Lệ Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính của huyện, hàng năm cung cấp lượng lớn lương thực và thực phẩm cho nhân dân Nhờ đất phù sa màu mỡ và hệ thống giao thông thuận lợi, khu vực này rất thuận tiện cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Hình 3.2 Bản đồ địa hình huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Địa hình ven biển nổi bật với các cồn cát và dải cát trắng vàng, xuất hiện dưới dạng lưỡi liềm và dải quạt, tạo nên cảnh quan biển đặc trưng của khu vực; khu vực này nằm trên địa bàn các xã Gia Ninh, Hải Ninh và Võ Ninh.

- Địa hình núi thấp: Kiểu đại hình này tập trung chủ yếu ở xã Vĩnh Ninh, Vạn

Ninh Khu vực này bị chia cắt sông, suối và đất chủ yếu phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm, chăn nuôi gia súc, gia cầm [6]

Địa hình đồi núi cao tập trung chủ yếu ở các xã miền núi cao Trường Sơn và Trường Xuân, với địa hình dốc và dãy đá vôi nằm dọc theo Trường Sơn Khu vực này chủ yếu phát triển trồng rừng, canh tác nương rẫy và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên a) Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 119.418,19 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 108.668,18 ha, đất phi nông nghiệp là 7.495,20 ha và đất chưa sử dụng là 3.236,81 ha Các nhóm đất được phân thành gồm đất cát, đất phèn, đất phù sa, đất xám và đất tầng mỏng.

Tài nguyên đất của huyện Quảng Ninh tương đối phong phú về nhóm và loại đất, cho phép đa dạng hóa các hình thức sử dụng với nhiều loại cây trồng như cây lâm nghiệp, cây ăn trái và các loại cây công nghiệp ngắn ngày; tuy nhiên, do điều kiện địa hình và đặc điểm khí hậu nên phần lớn đất nghèo dinh dưỡng Vì vậy, để khai thác hiệu quả nguồn đất đai, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đòi hỏi sự đầu tư thỏa đáng, đặc biệt là các công trình thủy lợi; đồng thời bảo vệ và phát triển rừng hai bên các dòng sông, rừng ngập mặn và rừng phòng hộ, làm ổn định dòng chảy mặt, tránh xói lở và hạn chế lũ lụt b) Tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng cho hệ sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội của huyện, với sự kết hợp giữa rừng phòng hộ, rừng ngập mặn và các loại rừng khác giúp bảo vệ đất, nguồn nước và đa dạng sinh học, đồng thời thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp bền vững.

Quảng Ninh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp 102.305,29 ha (trong đó: rừng tự nhiên 78.339,38 ha; rừng trồng 15.386,48 ha và đất lâm nghiệp 8.579,43 ha), với 3 loại rừng gồm: rừng đặc dụng 127,56 ha; rừng phòng hộ 44.778,88 ha và rừng sản xuất 55.869,14 ha Rừng tự nhiên và rừng trồng của huyện Quảng Ninh khá đa dạng về chủng loại cây trồng và có trữ lượng gỗ tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở xã Trường Sơn và Trường Xuân Song song với công tác trồng mới rừng, UBND huyện đã chỉ đạo UBND xã Trường Sơn, Trường Xuân thực hiện giao khoán Bảo vệ rừng đối với diện tích rừng tự nhiên do UBND xã quản lý cho cộng đồng dân cư theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP để chăm sóc, bảo vệ hơn 3.000 ha; giao rừng tự nhiên cho 9 cộng đồng thôn, bản quản lý với 1.860 ha; đồng thời tuyên truyền bảo vệ rừng, chú trọng phòng cháy, chữa cháy rừng và tích cực tuần tra bảo vệ rừng Nhờ đó diện tích và chất lượng rừng ngày càng nâng cao.

Huyện Quảng Ninh có đường bờ biển dài khoảng 25 km, chạy dọc theo địa bàn hai xã Võ Ninh và Hải Ninh Dọc theo bờ biển có cửa sông chính là sông Nhật.

Đây là điều kiện then chốt để hình thành nguồn phù du sinh vật – nguồn lợi giá trị cho sự phát triển của nguồn lợi thủy sản tự nhiên nói chung và cho hoạt động nuôi trồng thủy hải sản nói riêng Việc duy trì và quản lý tốt nguồn phù du giúp tăng tính đa dạng sinh học, cải thiện chu trình dinh dưỡng biển và cung cấp nguồn thức ăn nền cho các loài thủy sản quan trọng Nguồn phù du chất lượng cao đóng góp vào tăng trưởng và sản lượng của thủy sản tự nhiên cũng như hiệu quả của nuôi trồng thủy hải sản, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững ngành thủy sản Do đó, việc bảo vệ và quản lý hệ sinh thái phù du có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng khai thác và nuôi trồng thủy sản an toàn và hiệu quả.

Ngư trường biển có nguồn lợi hải sản phong phú và mang lại nhiều giá trị kinh tế với các loài chủ lực như tôm hùm, mực, cá thu và cá chim Vùng cửa sông mặn lợ có giá trị từ tôm, cua và rau câu, đồng thời hệ thống ao hồ thủy lợi và các ao hồ khác trong dân cư trên sông cụt có thể nuôi cá nước ngot và nuôi cá lồng bè Dọc bờ biển Quảng Ninh có nhiều bãi tắm và cảnh quan đẹp sẵn sàng khai thác phát triển du lịch biển, điển hình như bãi tắm Hải Ninh và bãi tắm Nhật Lệ.

3.1.4 Khí hậu thủy văn a) Đặc điểm khí hậu

Quảng Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc trưng của khu vực Bắc Trung Bộ với nền nhiệt cao, lượng ánh sáng và mưa dồi dào, tạo điều kiện phát triển đa dạng cây trồng Tuy vậy, nơi đây cũng có khí hậu khá khắc nghiệt với hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 chịu tác động của gió Tây Nam khô nóng, thường gây hạn; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, thường có mưa lớn và lũ lụt.

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 24-25 0 C Mùa lạnh có 3 tháng (tháng

Trong năm, mùa lạnh có nhiệt độ xuống thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1, trung bình khoảng 18°C và đôi khi xuống tới 8-9°C Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8 với nhiệt độ cao trung bình khoảng 28-30°C, và tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7 với nhiệt độ tối đa có thể lên tới 40°C.

42 0 C Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm chênh lệch 7-9 0 C

- Chế độ mưa: huyện Quảng Ninh có lượng mưa bình quân hàng năm tương đối cao khoảng từ 2.100-2.300mm, phân bố không đều theo vùng và theo mùa

Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau, với lượng mưa tập trung ở các tháng 9, 10, 11 chiếm 70-75% lượng mưa cả năm Từ tháng 3 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 25-30% lượng mưa cả năm Sự tập trung cao của lượng mưa trong thời gian ngắn của mùa mưa thường gây lũ lụt, trong khi mùa hè có lượng mưa ít kéo dài dễ dẫn đến thiếu nước và khô hạn Trung bình mỗi năm có khoảng 125 ngày mưa.

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm của huyện Quảng Ninh khoảng 83-84%, mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 có độ ẩm trung bình 70-80% và thấp nhất vào tháng 7 ở mức 65-70%, trong khi mùa mưa thường có độ ẩm cao hơn, ở trên 85% và có lúc lên đến 90%.

- Nắng: huyện Quảng Ninh có số giờ nắng khá cao, trung bình 5-6 giờ/ngày

Các tháng có số giờ nắng cao thường vào tháng 5, 6, 7, 8 đạt trên 200 giờ và tháng

1, tháng 2 có số giờ năng thấp (chỉ đạt 70-80 giờ/tháng) Số giờ nắng trung bình khoảng 2.600 giờ/năm

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tính đến hết 31/12/2018, dân số trung bình toàn huyện là 91.136 người, trong đó dân số thành thị là 4.669 người (5,12%), dân số nông thôn là 86.467 người (94,88%) Tỷ lệ tăng dân số hàng năm có xu hướng giảm, năm 2014 đạt 8,74%.

2015 giảm xuống còn 8,46%; đến năm 2016 giảm còn 8,10% đến năm 2017 tăng lên 8,37%, năm 2018 giảm 8,35%

Sự phân bố dân cư trên lãnh thổ không đồng đều, với mật độ dân số toàn huyện là 76 người/km2 và cao nhất ở Thị trấn Quán Hàu với 1.411 người/km2, thấp nhất ở xã Trường Sơn chỉ 6 người/km2 Hai xã Trường Sơn và Trường Xuân có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất toàn huyện nhưng mật độ dân số ở khu vực này rất thấp, dao động từ 6–16 người/km2. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để tăng hiệu quả SEO và làm nổi bật bài viết về phân bố dân cư ngay hôm nay!

Cùng với sự phát triển chung của đất nước, đời sống nhân dân huyện Quảng Ninh đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 12,9 triệu đồng, năm 2011 tăng lên 15,8 triệu đồng, năm 2012 ước tính đạt 18,6 triệu đồng và đến năm 2017 đã lên tới 33,4 triệu đồng Những con số này thể hiện xu hướng tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng sống của người dân huyện Quảng Ninh từ năm 2010 đến 2017, phản ánh sự phát triển bền vững của địa phương.

Tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn giai đoạn 2016 - 2020 giảm nhanh từ 2.434 hộ với 9,14% tháng 01/2016 xuống còn 1.648 hộ với 5,875 % tháng 12/2017

Tuy nhiên, mức thu nhập có sự chênh lệch giữa các vùng đô thị, đồng bằng ven biển và vùng núi [30]

Huyện Quảng Ninh có hệ thống giao thông đường bộ phong phú và kết nối, bao gồm Quốc lộ 1A dài 20 km, đường Hồ Chí Minh nhánh Đông dài 35 km và đường Hồ Chí Minh nhánh Tây dọc theo dãy núi Trường Sơn dài 55 km; cùng với 7,5 km đường tỉnh lộ 569, 45 km đường huyện, 120 km đường xã, 35 km đường đô thị và 357,2 km đường giao thông nông thôn khác Ngoài ra, huyện còn có hệ thống giao thông đường thủy dài 40 km và 25 km bờ biển.

Trong những năm qua, giao thông huyện đã có bước chuyển biến tích cực khi hệ thống đường được mở rộng và nâng cấp lên đường nhựa đến từng ngõ ngách xã, thị trấn Đến nay 15/15 xã, thị trấn đã có đường ôtô đến UBND, bảo đảm liên thông và thuận tiện cho người dân Tuy nhiên, nhiều tuyến đường huyện và xã vẫn là đường cấp phối chất lượng thấp, gây khó khăn khi di chuyển, đặc biệt trong mùa mưa, đòi hỏi đầu tư và cải tạo để nâng cao chất lượng dịch vụ giao thông nông thôn.

Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được triển khai đồng bộ trên địa bàn, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành Các địa phương đã củng cố kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng từ cấp xã, phường xuống thôn xóm, đồng thời lập phương án và kế hoạch thực hiện cụ thể Việc tiếp tục thực hiện quy hoạch quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cho người dân được tăng cường để nâng cao hiệu quả tuyên truyền, thực thi tại cộng đồng Nhờ làm tốt công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng nên trong năm không có vụ cháy rừng nào xảy ra.

Quảng Ninh có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế lâm nghiệp theo mô hình nông lâm kết hợp, nhờ đất đai và khí hậu của huyện phù hợp với nhiều loại cây trồng Người dân địa phương có truyền thống và kinh nghiệm trồng rừng, giúp tăng nguồn thu nhập và cải thiện đời sống Mô hình này còn có tác động tích cực tới bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời hệ thống hạ tầng giao thông thuận lợi hỗ trợ quá trình sản xuất và tiêu thụ Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (QLBVR) ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm và coi trọng.

Tuy nhiên, do địa bàn huyện có khí hậu đặc thù thường xuyên gặp nhiều cơn bão lớn dẫn đến đổ gãy các loại cây trồng gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội, công tác QLBVR trên địa bàn huyện cũng gặp nhiều khó khăn bởi giao thông đi lại thuận lợi tạo điều kiện để lâm tặc tiếp cận các khu rừng và dễ dàng xâm hại; lực lượng công tác QLBVR mỏng, thiếu trang bị, phương tiện, chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện tập trung tại hai xã Trường Sơn và Trường Xuân nơi trình độ dân trí khá thấp, có nhiều đồng bào Công giáo nên tình hình an ninh trật tự, chính trị, xã hội tương đối nhạy cảm; tập tục làm nhà gỗ của người dân địa phương, cơ sở hạ tầng, đóng tàu thuyền phát triển nhanh dẫn đến nhu cầu gỗ rất lớn gây nên áp lực lớn cho rừng và công tác QLBVR.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Khuất Thị Lan Anh (2009), Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại khu ảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại khu ảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Khuất Thị Lan Anh
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội
Năm: 2009
2. Nguyễn Ngọc Bình và cộng tác viên (2006), Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven iển. Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp &đối tác. Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình, cộng tác viên
Nhà XB: Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp & đối tác
Năm: 2006
3. BNN & PTNT (2006), Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế quản lý rừng, ban hành theo thông tư số 99/2006/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế quản lý rừng
Tác giả: BNN & PTNT
Nhà XB: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
4. Bộ NN&PTNT và UN-REDD (2010), Thiết kế Hệ thống chia sẻ lợi ích cho REDD. UN-REDD và MARD, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế Hệ thống chia sẻ lợi ích cho REDD
Tác giả: Bộ NN&PTNT, UN-REDD
Nhà XB: UN-REDD và MARD
Năm: 2010
5. Cục Kiểm lâm (2016), Báo cáo công tác quản lý ảo vệ rừng và PCCCR năm 2016, Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý ảo vệ rừng và PCCCR năm 2016
Tác giả: Cục Kiểm lâm
Nhà XB: Bộ NN&PTNT
Năm: 2016
6. Chi cục thống kê huyện Quảng Ninh (2018), Niên giám thống kê năm 2018, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2018
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Quảng Ninh
Năm: 2018
7. Chính phủ (2006), Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 về Tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 về Tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh, Báo cáo Tổng kết ảo vệ rừng và triển khai nhiệm vụ QLBVR năm 2014, 2015, 2016,2017,2018, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết ảo vệ rừng và triển khai nhiệm vụ QLBVR năm 2014, 2015, 2016,2017,2018
Tác giả: Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh
9. Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh, Báo cáo diễn iến rừng huyện Quảng Ninh năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo diễn biến rừng huyện Quảng Ninh năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018
Tác giả: Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh
Nhà XB: Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh
Năm: 2014-2018
10. Hoàng Thế Hùng (2013), Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp trên địa àn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2007-2011, Trường Đại học Nông lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2007-2011
Tác giả: Hoàng Thế Hùng
Nhà XB: Trường Đại học Nông lâm Huế
Năm: 2013
11. Trần Ngọc Lân (chủ biên) (1999), Phát triển ền vững vùng đệm Khu ảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ền vững vùng đệm Khu ảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia
Tác giả: Trần Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
12. Luật số 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017, Luật Lâm nghiệp (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019). Quốc Hội 14 – Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Lâm nghiệp
Tác giả: Quốc hội Việt Nam
Năm: 2017
13. Vũ Văn Mễ, Claude Desloges, 1996, Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có người dân tham gia, Dự án GCP/VIE/ITA, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có người dân tham gia
Tác giả: Vũ Văn Mễ, Claude Desloges
Nhà XB: Dự án GCP/VIE/ITA
Năm: 1996
14. Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002), Tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, ảo vệ rừng tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế, luận văn Thạc sỹ Trường Đại học lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, ảo vệ rừng tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế
Tác giả: Vũ Hoài Minh, Haws Warfvinge
Nhà XB: Trường Đại học lâm Nghiệp
Năm: 2002
15. Nguyễn Bá Ngãi, 2001, Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm, nông nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm, nông nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2001
16. Quách Đại Ninh (2003), Nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến quá trình phát triển kinh tế HGĐ, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến quá trình phát triển kinh tế HGĐ
Tác giả: Quách Đại Ninh
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2003
17. Phạm Xuân Phương, Ngô Đình Thọ, Đỗ Anh Minh (2010), Khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình cá nhân, cộng đồng được giao, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp tại tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc, Sơn La và Điện Biên, Báo cáo tư vấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình cá nhân, cộng đồng được giao, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp tại tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc, Sơn La và Điện Biên
Tác giả: Phạm Xuân Phương, Ngô Đình Thọ, Đỗ Anh Minh
Năm: 2010
18. Phòng Nông nghiệp và PTNT, Báo cáo tổng kết năm về phát triển nông nghiệp năm 2014,2015,2016,2017,2018, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm về phát triển nông nghiệp năm 2014,2015,2016,2017,2018
Tác giả: Phòng Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: Phòng Nông nghiệp và PTNT, Quảng Bình
Năm: 2014-2018
19. Nguyễn Xuân Quát (1996), Sử dụng đất tổng hợp và ền vững, Cục khuyến nông và khuyến lâm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tổng hợp và ền vững
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Nhà XB: Cục khuyến nông và khuyến lâm
Năm: 1996
20. Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19/3/2019 về việc Công ố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2018, Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19/3/2019 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2018
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Bộ NN&PTNT
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm