ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TRẦN THỊ QUYÊN ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN THỊ QUYÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ KIM QUAN,
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN THỊ QUYÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ KIM QUAN,
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã số: 885 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Kiều Quốc Lập
Thái Nguyên - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Trần Thị Quyên, xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do
cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Kiều Quốc Lập, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Trần Thị Quyên
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, tôi đã nghiên cứu và tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại, nâng cao trình
độ năng lực của bản thân
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS Kiều Quốc Lập - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo - QLKH&HTQ các thầy/cô giáo trong Khoa Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cám ơn đến các ban, ngành UBND huyện Yên Sơn; cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân xã Kim Quan cùng bà con nhân dân trong xã đã giúp đỡ tôi thu thập các tài liệu và số liệu phục vụ cho Luận văn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu trên địa bàn
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn
bè đã luôn động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do giới hạn về trình độ nghiên cứu, giới hạn về tài liệu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Thị Quyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Những đóng góp của đề tài 2
4 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Các khái niệm có liên quan 4
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 7
1.1.3 Các văn bản pháp lý liên quan 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Các vấn đề về môi trường và an toàn thực phẩm ở nông thôn Việt Nam 8
1.2.2 Xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 14
1.2.3 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 16
1.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới và thực hiện tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 20
1.3 Tổng quan về nghiên cứu nông thôn mới và các nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam và trên thế giới 23
1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 25
1.4.1 Điều kiện tự nhiên xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 25
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 29
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Quan điểm nghiên cứu 34
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
Trang 63.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang 38
3.1.1 Tiêu chí số 1 - Quy hoạch 39
3.1.2 Tiêu chí số 2 - Giao thông 39
3.1.3 Tiêu chí số 3 - Thủy lợi 40
3.1.4 Tiêu chí số 4 - Điện 40
3.1.5 Tiêu chí số 5 - Trường học 40
3.1.6 Tiêu chí số 6 - Cơ sở vật chất văn hóa 41
3.1.7 Tiêu chí số 7 - Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn 41
3.1.8 Tiêu chí số 8 - Thông tin và Truyền thông 41
3.1.9 Tiêu chí số 9 - Nhà ở dân cư 41
3.1.10 Tiêu chí số 10 - Thu nhập 42
3.1.11 Tiêu chí số 11 - Hộ nghèo 42
3.1.12 Tiêu chí số 12 - Lao động có việc làm 42
3.1.13 Tiêu chí số 13 - Tổ chức sản xuất 42
3.1.14 Tiêu chí số 14 - Giáo dục và Đào tạo 42
3.1.15 Tiêu chí số 15 - Y tế 43
3.1.16 Tiêu chí số 16 - Văn hóa 43
3.1.17 Tiêu chí số 17 - Môi trường và an toàn thực phẩm 43
3.1.18 Tiêu chí số 18 - Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật 44
3.1.19 Tiêu chí số 19 - Quốc phòng và An ninh 44
3.2 Thực trạng môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 48
3.2.1 Tình trạng sử dụng nước sinh hoạt 48
3.2.2 Nước thải và xử lý nước thải 49
3.2.3 Rác thải sinh hoạt 50
3.2.4 Vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm 52
3.2.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nông thôn xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 54
3.3 Đánh giá việc thực hiện tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 57
3.3.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định 57
3.3.2 Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường 57
3.3.3 Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn 57
3.3.4 Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch 58
3.3.5 Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định 58
Trang 73.3.6 Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo
3 sạch 58
3.3.7 Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường 59
3.3.8 Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm 59
3.4 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan 61
3.4.1 Gia tăng dân số 61
3.4.2 Trình độ dân trí 62
3.4.3 Phát triển các ngành kinh tế 65
3.4.4 Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và vệ sinh ATTP 70
3.5 Đề xuất các giải pháp về đích tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 71
3.5.1 Giải pháp chung nhằm về đích tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm 71
3.5.2 Giải pháp cụ thể hoàn thành các chỉ tiêu thuộc tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 84 BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
5 BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
6 BVMT Bảo vệ môi trường
7 BVTV Bảo vệ thực vật
9 CTR Chất thải rắn
10 HĐND Hội đồng nhân dân
11 MTQG Mục tiêu Quốc gia
12 MTTQ Mặt trận tổ quốc
13 NTM Nông thôn mới
14 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
15 TCCP Tiêu chuẩn cho phép
16 TDMNPB Trung du miền núi phía Bắc
17 THCS Trung học cơ sở
18 THPT Trung học phổ thông
19 UBND Ủy ban nhân dân
20 VSMT Vệ sinh môi trường
21 VSV Vi sinh vật
22 XDNTM Xây dựng nông thôn mới
Trang 9
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nội dung tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 6 Bảng 1.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 xã Kim Quan, huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang 27 Bảng 1.3 Các loại cây trồng phổ biến tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 29 Bảng 1.4 Các loại vật nuôi phổ biến tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 29 Bảng 1.5 Bảng tổng hợp hiện trạng dân số toàn xã 31 Bảng 1.6 Dân số xã Kim Quan tính theo thành phần lao động 31 Bảng 3.1 Đánh giá các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 44 Bảng 3.2 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 48 Bảng 3.3 Chất lượng nước dùng trong sinh hoạt xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 49 Bảng 3.4 Lượng rác thải hàng ngày của các hộ gia đình tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 51 Bảng 3.5 Các hình thức đổ rác thải sinh hoạt của người dân tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 52 Bảng 3.6 Thực trạng nhà vệ sinh xã Kim Quan,huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 52 Bảng 3.7 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 53 Bảng 3.8 Kết quả tổng hợp đánh giá tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang 60 Bảng 3.9 Hiện trạng và dự báo dân số xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 62 Bảng 3.10 Số liệu điều tra về nguồn tiếp nhận thông tin VSMT và ATTP của người dân xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 63 Bảng 3.11 Ý kiến của người dân xã Kim Quan, huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang về cải thiện điều kiện môi trường và vệ sinh ATTP 63 Bảng 3.12 Nhận thức của người dân xã Kim Quan, huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang
về vấn đề môi trường 64 Bảng 3.13 Nhận thức của người dân xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
về vấn đề vệ sinh ATTP 64
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí địa lý xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 25
Hình 3.1 Các loại cống thải của hộ gia đình tại xã Kim Quan, 50
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 50
Hình 3.2 Tỷ lệ chuồng nuôi gia súc ở xã Kim Quan, 53
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 53
Hình 3.3 Số liệu điều tra trình độ dân trí tại xã Kim Quan, 62
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 62
Hình 3.4 Những loại phân bón được các hộ nông dân sử dụng ở xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nông thôn Việt Nam đang trên con đường đổi mới và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu
cụ thể đến năm 2020, cả nước có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai đã đem lại những thay đổi đáng kể về đời sống, hạ tầng kỹ thuật cũng như cảnh quan môi trường nhiều vùng nông thôn
Yên Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp huyện Chiêm Hóa (tỉnh Tuyên Quang); Phía Đông giáp các huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); phía Tây giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang), huyện Yên Bình (tỉnh Yên Bái); phía Nam giáp huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ), huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) Trên địa bàn huyện có quốc lộ 2C đi qua theo hướng Bắc Nam, quốc lộ 37 đi theo hướng Đông Tây là những trục giao thông quan trọng thúc đẩy giao lưu kinh tế huyện Yên Sơn với các huyện trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh lân cận
Định hướng phát triển kinh tế của huyện trong thời gian tới là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp Trong những năm vừa qua kinh tế của huyện đã
có nhiều sự phát triển vượt bậc nâng cao đời sống nhân dân, tuy nhiên kéo theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường đã bắt đầu xuất hiện đặc biệt là khu trung tâm thị trấn của huyện và trung tâm các xã Toàn huyện có 31 xã, 01 thị trấn đang thực hiện xây dựng nông thôn mới trong đó xã Kim Quan là xã được bổ sung vào kế hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Yên Sơn trong năm 2019
Kim Quan là một trong những xã vùng sâu vùng xa, đặc biệt khó khăn của huyện Yên Sơn, trình độ dân trí lại không đồng đều nên gây khó khăn trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Kim Quan cũng là xã đạt số tiêu chí thấp nhất trong 6 xã xây dựng nông thôn mới của huyện Yên Sơn Trong đó, có những tiêu chí đạt rất thấp như bình quân thu nhập của xã mới đạt
23 triệu đồng/người/năm, thấp hơn 10 triệu đồng so với yêu cầu đặt ra; đầu năm 2019,
Trang 12xã còn trên 200 hộ nghèo, 41 nhà tạm Để đạt các tiêu chí này, xã tập trung tuyên truyền, vận động người dân khai thác tiềm năng, thế mạnh, đầu tư phát triển kinh tế;
mở rộng các mô hình kinh tế hiệu quả như trồng cây ăn quả, nuôi bò, trồng chè, nuôi ong lấy mật Xã tạo điều kiện để người lao động trong độ tuổi được đi xuất khẩu lao động và làm việc tại các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh Đã có 200 lao động của
xã đi làm việc tại khu công nghiệp Thái Nguyên và Bắc Ninh với thu nhập từ 4,5 - 6 triệu đồng/người/tháng
Tính đến 31/10/2019, xã đã đạt được 13/19 tiêu chí, còn lại 6 tiêu chí chưa hoàn thành trong đó có tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm Đây là một trong những tiêu chí khó thực hiện nhất trong các tiêu chí chưa đạt của xã do tính không ổn định, thường xuyên thay đổi và chịu ảnh hưởng từ các rào cản của các tiêu chí khác về hạ tầng (như hệ thống đường, thu gom nước thải, tiêu thoát nước mưa ) cũng như phụ thuộc vào ý thức, trách nhiệm của các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh trên địa bàn Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất
giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” sẽ đưa ra
được các giải pháp giúp hoàn thành tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm cùng với việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tổng quan thực trạng môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trên địa bàn xã Kim Quan
- Đề xuất các giải pháp cụ thể, phù hợp với địa phương để thực hiện đạt chỉ tiêu về tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan
3 Những đóng góp của đề tài
3.1 Đóng góp về mặt khoa học
Đề tài cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng kế hoạch thực hiện tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Kim Quan
3.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đề tài xác định thực trạng môi trường nông thôn tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Làm rõ được những lợi thế, cơ hội cũng như những hạn chế,
Trang 13thách thức của các nhân tố tác động đến quá trình thực hiện tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm tại xã Kim Quan
- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức của người dân về môi trường và an toàn thực phẩm
- Quá trình nghiên cứu đề tài giúp nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra được những kinh nghiệm thực tế, từ đó vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập
và nghiên cứu
4 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm có liên quan
- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối
với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)
- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần
môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)
- Nông thôn
Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh tế -xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị Trong khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật
độ dân số và số lượng dân cư
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”
- Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau
Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra khái niệm: Phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong số những người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn
Trang 15Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Với điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác”
- Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới:
Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, mục tiêu chung của chương trình là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
Theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới nhằm thực hiện 19 tiêu chí bao gồm: 1: Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ sở vật chất văn hóa, 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, 8: Thông tin và truyền thông, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11: Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Lao động có việc làm, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường và an toàn thực phẩm, 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật tự xã hội 19 tiêu chí này được chia thành 05 nhóm: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội, nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị
- Tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm (tiêu chí số 17):
Nội dung: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng
Tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm là tiêu chí số 17 thuộc nhóm 4 trong
Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, được chia thành 8 chỉ tiêu với các tỉ lệ được quy định theo từng vùng (tỉnh Tuyên Quang thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc),
cụ thể như sau:
Trang 16Bảng 1.1 Nội dung tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong Bộ tiêu chí
quốc gia về xây dựng nông thôn mới
TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu
chung
TDMN phía Bắc
17 Môi trường và an toàn thực phẩm
17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định
≥95% (≥60%
nước sạch)
≥95% (≥50%
nước sạch) 17.2 Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh
doanh nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo
dân tộc 17.5 Chất thải rắn trên địa bàn
và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định
Đạt Đạt
17.6 Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp
vệ sinh và đảm bảo 3 sạch
≥85% ≥70%
17.7 Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo
vệ sinh môi trường
≥70% ≥60%
17.8 Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm
100% 100%
(Nguồn: Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới kèm theo Quyết định số
1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ)
Trang 171.1.2 Vai trò, ý nghĩa của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 Theo đó, mục tiêu chung của Chương trình nhằm: Xây dựng nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ;
gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chương trình cũng đề ra mục tiêu cụ thể như: đến năm
2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới và năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là một chương trình phát triển nông thôn toàn diện, quan tâm đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn nên luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho diện mạo nông thôn thay đổi khá toàn diện, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, người dân nhận thức được việc xây dựng NTM mang lại lợi ích thiết thực, đồng thời xây dựng NTM cũng là trách nhiệm của người dân, do đó nhận được sự ủng hộ và tham gia tích cực của người dân trong cộng đồng dân cư
1.1.3 Các văn bản pháp lý liên quan
- Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015;
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
- Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
Trang 18- Quyết định số 2540/QĐ-TTg, ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT ngày 01/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số nội dung thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Văn bản số 2054/BTNMT-KHTC ngày 27/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một số chỉ tiêu thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Quyết định số 115/QĐ-UBND ngày 14/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc ban hành một số tiêu chí, chỉ tiêu xã nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2016 - 2020;
- Thông báo số 902-TB/TU ngày 13/3/2019 của Thường trực Tỉnh ủy Tuyên Quang
về kế hoạch xây dựng nông thôn mới xã Thái Bình, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn;
- Kế hoạch số 44/KH-UBND ngày 20/3/2019 của UBND xã Kim Quan về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Kim Quan năm 2019
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các vấn đề về môi trường và an toàn thực phẩm ở nông thôn Việt Nam
a) Môi trường nông thôn ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 4/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu phấn đấu tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2015 là 20% và đến năm 2020 là 50% Từ khi thực hiện Chương trình nông thôn mới đến nay, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn từng bước được nâng cao Chương trình đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật là đầu
tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã đem lại những thay đổi tích cực về đời sống, cơ sở hạ tầng cũng như cảnh quan môi trường nông thôn Bên cạnh những mặt đạt được, môi trường nông thôn đang chịu sức ép ô nhiễm ngày càng lớn từ hoạt động dân sinh, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi… cũng như chịu sự tác động từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu đô thị lân cận Ở một số vùng nông thôn, môi trường nước hoặc môi trường không khí đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt việc quản lý chất thải rắn nông thôn chưa thực sự được coi trọng, đã và đang là vấn đề bức xúc
Trang 19Môi trường không khí
Chất lượng môi trường không khí khu vực nông thôn còn khá tốt, nhiều vùng chưa có dấu hiệu ô nhiễm Tuy nhiên, có sự khác biệt về nồng độ các chất trong không khí ở các vùng nông thôn tùy theo khu vực và hoạt động gây ô nhiễm
Khu vực có chất lượng không khí tốt với nồng độ chất gây ô nhiễm thấp là khu vực miền núi phía Bắc, các khu vực thuần nông, nơi hầu như chưa chịu tác động của các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi tập trung Một số nơi khác như khu vực ven đô, các khu vực dân cư đông đúc… có nồng độ các chất trong không khí cao hơn song hầu hết các vùng chưa ghi nhận hiện tượng ô nhiễm
Bên cạnh đó, một vài khu vực tại vùng nông thôn đã có dấu hiệu ô nhiễm cục
bộ, nơi bị ảnh hưởng bởi một số hoạt động làng nghề, điểm công nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, các cơ sở sản xuất, các trại chăn nuôi tập trung, khu vực xung quanh các điểm khai thác khoáng sản, khu vực chôn lấp và đốt chất thải sinh hoạt cũng như xây dựng hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn…
Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí xung quanh các khu vực làng nghề là vấn đề tồn tại từ nhiều năm nay Ở nước ta, làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, nằm xen kẽ trong khu dân cư nên ô nhiễm không khí mang tính cục bộ và gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ sản xuất cũng như các hộ dân xung quanh Thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm không khí xung quanh các làng nghề và các cơ sở sản xuất phụ thuộc nhiều vào loại hình sản xuất Ô nhiễm mùi tập trung tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, giết mổ; ô nhiễm bụi phổ biến tại các làng nghề gốm sứ, chế tác đá, đồ gỗ mỹ nghệ; ô nhiễm khí độc hại (SO2, NO2…) tập trung nhiều tại các làng nghề tái chế nhựa
Bên cạnh vấn đề ô nhiễm mùi và khí thải tại các làng nghề, vấn đề ô nhiễm bụi
do khai thác khoáng sản cũng đang xảy ra cục bộ tại một số điểm, tập trung chủ yếu tại vùng TDMNPB với nhiều loại khoáng sản khác nhau như than, sắt, đồng, apatit Do công nghệ còn lạc hậu, các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường còn hạn chế nên bụi phát sinh tại hầu hết các công đoạn sản xuất và có sự ảnh hưởng lớn đến môi trường không khí các khu vực dân cư nông thôn xung quanh
Trong những năm gần đây, các cụm công nghiệp có xu hướng chuyển dần về khu vực nông thôn, thực chất là xu hướng dịch chuyển ô nhiễm từ vùng này sang vùng khác,
đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường không khí ở nông thôn Một vài khu vực đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ với nồng độ chất ô nhiễm ở mức cao, một số nơi đã vượt ngưỡng giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam (QCVN): Khu vực xung quanh các nhà máy nhiệt điện, sản xuất thép, xi măng tại Hải Dương, Hải Phòng,…môi trường không khí đã bị ô nhiễm bụi, SO2, CO [2]
Trang 20Môi trường nước
Việt Nam có nguồn nước mặt phong phú với hệ thống sông, suối dày đặc cùng với các hồ, ao, kênh rạch phân bố rộng khắp các khu vực trên cả nước Theo đánh giá, nguồn nước mặt đầu nguồn các con sông chảy qua khu vực trung du, miền núi ít dân
cư, hoặc các sông chảy qua khu vực thuần nông vùng đồng bằng có chất lượng nước còn khá tốt do chưa chịu tác động lớn của các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải Môi trường nước mặt tại hầu hết các vùng còn tương đối tốt, có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên, tại một số nơi, nước mặt có dấu hiệu suy giảm về chất lượng và ô nhiễm cục bộ chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, kim loại nặng và
ô nhiễm vi sinh Khu vực có chất lượng nước mặt suy giảm chủ yếu là vùng hạ lưu các con sông, các khu vực ven đô, nơi tiếp nhận nước thải tổng hợp từ các khu đô thị, nước thải sinh hoạt, làng nghề
Tùy theo địa bàn chảy qua và thành phần chất thải, nước thải tiếp nhận mà nước mặt tại mỗi nơi sẽ bị ảnh hưởng bởi các chất gây ô nhiễm khác nhau Sự tác động liên tục của các nguồn thải từ hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp làm cho chất lượng nước có sự biến động lớn, nguồn nước bị nhiễm bẩn với một số thông số ô nhiễm vượt QCVN Nước mặt tại khu vực Bắc Bộ và khu vực Đông Nam Bộ, nơi có mật độ dân cư đông và hoạt động làng nghề, sản xuất công nghiệp phát triển có mức
độ ô nhiễm cao hơn nhiều so với khu vực miền Trung, Tây Nguyên Điển hình như khu vực đồng bằng Bắc Bộ đã ghi nhận những thông số như COD, BOD5, TSS, Coliform vượt QCVN [2]
Ô nhiễm nước mặt tại các khu vực làng nghề cũng đang là vấn đề nóng tại một
số vùng nông thôn hiện nay, đặc biệt là tại khu vực đồng bằng sông Hồng Đối với nhóm làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, vấn đề ô nhiễm nước mặt chủ yếu
là ô nhiễm chất dinh dưỡng và ô nhiễm vi sinh Đối với nhóm làng nghề cơ kim khí
và làng nghề tái chế kim loại, hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nước mặt cũng như trong đất đang là vấn đề đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường
Ngoài ra, hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy hải sản là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt vùng Duyên hải miền Trung
và đồng bằng sông Cửu Long Nước mặt khu vực nuôi trồng thủy sản có đặc trưng chứa hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh cao Một số vùng nông thôn
đã xuất hiện ô nhiễm do hoạt động nuôi trồng thủy sản như các xã Thạch Phước, An Thủy, An Nhơn (Bến Tre), nuôi tôm trên cát ở các xã Cát Khánh, Mỹ Đức, Mỹ Thành (Bình Định)
Trang 21Bên cạnh đó, môi trường nước dưới đất tại một số khu vực nông thôn cũng đã
có hiện tượng ô nhiễm chất hữu cơ (NO3, NH4+), kim loại nặng (Fe, As) và ô nhiễm vi sinh (Coliform, E.Coli), tập trung ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Theo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia, kết quả phân tích chất lượng nước dưới đất năm 2017 cho thấy hàm lượng các kim loại nặng tại một số khu vực có giá trị vượt Tiêu chuẩn cho phép (TCCP) như: Hàm lượng Mn cao nhất tại công trình quan trắc xã Sơn Đông, huyện Hoài Đức, Hà Nội là 7,16 mg/l cao hơn TCCP (0,5mg/l), hàm lượng As cao nhất là 0,254 mg/l tại công trình quan trắc xã Thọ
An, huyện Đan Phượng, Hà Nội cao hơn TCCP (0,05mg/l) Tại Tây Nguyên, kết quả phân tích cho thấy hàm lượng các kim loại nặng này đều có hàm lượng thấp hơn TCCP [19]
Như vậy có thể thấy rằng, chất lượng nước dưới đất tại một số khu vực đã có sự
ô nhiễm cục bộ, thường gặp ở các khu vực nông thôn tập trung nhiều làng nghề, xung quanh các khu, cụm công nghiệp phát triển
Môi trường đất
Nhìn chung, chất lượng môi trường đất tại các vùng nông thôn hiện nay vẫn đáp ứng tốt cho các nhu cầu sử dụng, đặc biệt là hoạt động canh tác nông nghiệp Tuy nhiên, những năm gần đây, hàm lượng các kim loại nặng cũng như dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) ở khu vực nông thôn đã có sự gia tăng nhẹ Nguyên nhân là do ảnh hưởng từ chất thải sản xuất, việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu còn phổ biến trong canh tác nông nghiệp cũng như ảnh hưởng từ các hóa chất BVTV tồn lưu
Ở Việt Nam, phân bón hóa học được sử dụng còn phổ biến do ưu thế về chi phí
và hiệu quả nhanh chóng tác động lên cây trồng Ở một số vùng thâm canh tăng vụ cao, lượng phân bón hóa học sử dụng trong sản xuất nông nghiệp còn cao hơn Khảo sát ở tỉnh Lâm Đồng cho thấy mức sử dụng các loại phân bón thường cao hơn từ 30 -
40 %, đặc biệt đối với loại phân NPK thì lượng dùng lớn hơn tới 60% Bên cạnh đó, tập quán ở một số vùng phía Bắc còn sử dụng các loại phân bắc, phân chuồng tươi góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường đất Thêm vào đó thói quen vứt bừa bãi vỏ, bao
bì thuốc BVTV sau sử dụng ra đồng ruộng, kênh mương cũng là vấn đề đáng lo ngại
Dư lượng thuốc BVTV theo nước mưa và nước tưới đi vào nguồn nước, thấm và tích lũy gây ô nhiễm các tầng đất
Bên cạnh đó, ảnh hưởng từ các hóa chất BVTV tồn lưu là nguyên nhân chính dẫn tới hàm lượng các kim loại nặng cũng như dư lượng hóa chất BVTV trong đất ở khu vực nông thôn có sự gia tăng Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong Danh mục điểm tồn lưu hóa chất BVTV gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm
Trang 22trọng, đến tháng 4/2019, có 407/439 cơ sở theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đã hoàn thành biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để (chiếm tỷ lệ 92,71%); có 281/435 cơ sở theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg cơ sở đã hoàn thành xử lý triệt để (chiếm tỷ lệ 64,59%)
Ngoài ra, biến đổi khí hậu và sử dụng bất hợp lý các loại đất là những nhân tố dẫn đến hiện tượng thoái hóa đất trên cả nước Hiện tượng thoái hóa đất đang làm ảnh hưởng đến 50% diện tích đất toàn quốc, trong đó phần lớn là nhóm đất đồi núi nằm ở các khu vực nông thôn Một số loại hình thoái hóa đất đang diễn ra trên diện rộng như rửa trôi, xói mòn, hoang hóa, phèn hóa, mặn hóa, khô hạn, ngập úng, lũ quét và xói lở đất Thoái hóa đất do xói mòn, rửa trôi xảy ra nhiều ở các vùng đồi núi, có độ dốc và mạng lưới sông suối dày đặc Xu hướng này biểu hiện rõ nhất ở Tây Nguyên với hơn 30% tổng diện tích bị thoái hóa nặng, trong khi đó, ở vùng đồng bằng (sông Hồng, sông Cửu Long) chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 4-14% Tình trạng xâm nhập mặn sớm, xâm nhập sâu, độ mặn cao và thời gian duy trì dài xảy ra phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Nước mặn xâm nhập sâu kết hợp với suy giảm nguồn nước ở hạ lưu đã gây ảnh hưởng lớn đến nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp Trong thời gian qua, hạn hán đã xảy ra và gây thiệt hại nhiều mặt cho các vùng Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ
Hạn hán kéo dài, làm tăng nguy cơ cháy rừng và làm suy giảm đáng kể sức sản xuất của đất Sự gia tăng nhanh chóng diện tích hoang mạc ở các vùng khô hạn, bán khô hạn, kể
cả một số vùng ẩm ướt không chỉ do khí hậu và BĐKH, mà còn do sức ép của sự gia tăng dân số và hoạt động sống của con người Ngoài ra, ngập úng và sạt lở đất cũng xảy
ra khá phổ biến ở các vùng trũng, đồng bằng, khu vực ven sông [2]
Chất thải rắn nông thôn
Hiện nay, chất thải rắn (CTR) không chỉ là vấn đề cấp bách của riêng các đô thị
và thành phố lớn mà còn là của các vùng nông thôn trong toàn quốc Cùng với sự phát triển ngành nghề ở nông thôn, cũng như việc thay đổi tập quán sinh sống của người dân làm cho CTR tại nông thôn gia tăng cả về thành phần, tính chất độc hại lẫn tải lượng rác thải
Khu vực trung du, miền núi diện tích tự nhiên lớn, dân cư thưa thớt, CTR sinh hoạt phát sinh không nhiều Hầu như chưa có hoạt động thu gom, xử lý tập trung CTR sinh hoạt tại các khu vực này Chất thải hữu cơ được tận dụng cho chăn nuôi Phần còn lại chủ yếu được người dân tự xử lý bằng phương pháp đốt, chôn lấp trong vườn nhà hoặc đổ thải ra các khu vực công cộng Tại các vùng ven đô thị, vùng đồng bằng tập trung nhiều dân cư thì việc thu gom, xử lý CTR sinh hoạt đang đặt ra nhiều thách thức lớn Hiện tại, CTR tại các khu vực này đã được các tổ đội vệ sinh môi trường thu gom
và vận chuyển về các bãi chôn lấp Hình thức bãi chôn lấp lộ thiên, hầu hết không có
Trang 23hệ thống xử lý nước rỉ rác hoặc có nhưng hoạt động không hiệu quả gây ô nhiễm môi trường xung quanh
Bên cạnh đó, việc thu gom, xử lý chất thải từ bao bì, chai lọ hóa chất BVTV từ hoạt động trồng trọt hiện còn hạn chế Tại một số địa phương, việc thu gom các loại bao bì được áp dụng nhưng ở quy mô nhỏ Bao bì thuốc BVTV được lưu trong các thùng chứa hoặc bể xi măng cố định Nhiều khi vẫn xảy ra tình trạng các loại vỏ bao
bì, vỏ chai hóa chất BVTV thường bị vứt bừa bãi tại ruộng, góc vườn, hoặc nguy hiểm hơn, có trường hợp còn vứt ngay đầu nguồn nước sinh hoạt
Thực hiện tiêu chí 17 của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tại một số địa phương đã đẩy mạnh việc thành lập đơn vị thu gom CTR tập trung Việc thu gom, xử lý cũng mới bước đầu được áp dụng đối với CTR sinh hoạt
Đối với các loại chất thải nguy hại và khó phân hủy như vỏ chai, lọ, bao bì thuốc BVTV, việc thu gom và xử lý hiện còn rất hạn chế và gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng môi trường Ngoài ra, việc xử lý các loại chất thải khác như rơm rạ, chất thải từ chăn nuôi, hoạt động làng nghề… vẫn còn nhiều tồn tại, gây khó khăn cho công tác bảo vệ môi trường khu vực nông thôn
Có thể thấy rằng, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi tích cực: Kinh tế phát triển, đời sống của người dân đang được nâng cao… Tuy nhiên, đi cùng với đó là sức
ép ngày càng lớn từ hoạt động dân sinh; sử dụng phân bón, thuốc BVTV bừa bãi trong sản xuất nông nghiệp; hoạt động của các khu, cụm công nghiệp, các nhà máy… lên môi trường nông thôn, từ đó đã xuất hiện những khu vực có dấu hiệu ô nhiễm hoặc ô nhiễm cục bộ Chính vì vậy, cần có sự vào cuộc, chung tay của các cấp, các ngành chức năng để có những giải pháp phù hợp làm giảm những bức xúc về môi trường nông thôn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường nông thôn và phát triển nông thôn bền vững
b) Vấn đề an toàn thực phẩm ở Việt Nam
Hiện nay, tình hình an toàn thực phẩm (ATTP) đang là vấn đề nhức nhối trong
xã hội, nó không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển, kém phát triển mà còn ở cả những nước phát triển, có trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến Thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của người tiêu dùng Tuy nhiên, vì những mục đích khác nhau, các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm vẫn sử dụng những biện pháp bảo quản, kích thích tăng trưởng không hợp lý Ở Việt Nam, tình hình ATTP trong cả nước, nhất là khu vực đô thị, đang tạo nhiều lo lắng cho người dân
Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, do đó vấn đề ATTP ngày càng trở nên nóng bỏng và được cộng đồng hết sức quan tâm
Trang 24Theo báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về an toàn thực phẩm diễn ra ngày 11/01/2020, toàn quốc ghi nhận 76 vụ ngộ độc thực phẩm làm gần 2.000 người mắc, 1.918 người đi viện và 8 trường hợp tử vong trong năm 2019 Thách thức lớn nhất là sản xuất nhỏ lẻ (với trên 8 triệu hộ) với nhiều nguy cơ về an toàn thực phẩm, nhất là các thói quen, tập quán canh tác, sản xuất, mua bán, tiêu dùng nhỏ lẻ
đòi hỏi phải tiếp tục tuyên truyền vận động và nhất là thúc đẩy việc hợp tác, liên kết sản xuất quy mô lớn, chuyên canh, áp dụng quy trình tiên tiến Việc kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm, đặc biệt là các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, trong khu dân cư không đảm bảo an toàn thực phẩm vẫn hết sức khó khăn Thói quen lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng thuốc bảo vệ thực vật không bảo đảm chất lượng, không rõ nguồn gốc vẫn còn
Từ năm 2017, tiêu chí bảo đảm an toàn thực phẩm đã được đưa vào là một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới, song song với tiêu chí Môi trường
Công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm sạch được đẩy mạnh, chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) chủ yếu là sản phẩm thực phẩm nông nghiệp (thực phẩm, đồ uống, thảo dược…) thu hút sự hưởng ứng của cả nước Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm là nhiệm vụ quan trọng, liên quan trực tiếp đến sức khỏe của nhân dân, nòi giống, sức cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế
1.2.2 Xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
* Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Là một nước nông nghiệp nhưng lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên khiến Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu đi tìm những phương hướng phát triển mới để xóa đói, giảm nghèo Sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào “Saemaulundong” - được hiểu là
“Phong trào đổi mới nông thôn” vào ngày 22/4/1970 Sự ra đời kịp thời của
“Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần
có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp
đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD) Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… Từ đó, các phương thức sản xuất cũng được thay đổi rõ rệt sang cơ giới hóa, áp dụng công
Trang 25nghệ cao, nhà lưới, nhà kính và sử dụng các giống lai tạo mới cho năng suất cao và khả năng chống chịu lớn “Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc [10]
* Xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
Đất nước Nhật Bản đã thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới từ phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" Từ năm 1979 Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả đất nước Nhật Bản
Ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào mỗi làng một sản phẩm, đó là: Địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kĩ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem
đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian [10]
* Xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống, để thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của các cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn;
tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức như hội trợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên một cách khoa học và hợp lý; xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp; Tập trung khai thác các ngành nông nghiệp mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, phát triển mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;…
Với những chính sách và đường lối đúng đắn, nông thôn Thái Lan cũng đã chuyển mình mạnh mẽ, tạo nên những kinh nghiệm và bài học quý giá cho các quốc gia khác trong việc xây dựng và phát triển nông thôn mới [10]
* Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Việc thực hiện xây dựng NTM dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể
Trang 26ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp
Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng
để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu năm 2006 Trung Quốc xóa
bỏ thuế nông nghiệp đã tồn tại 2.600 năm Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn
Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ, ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân Trung Quốc còn có chủ trương đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước định hướng và trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm [20]
1.2.3 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
a) Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng được triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc Mục tiêu đặt ra là xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, cả nước có 3.289 xã (đạt 36,84%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (mục tiêu là 31%); có 50 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm
vụ xây dựng nông thôn mới Xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông thôn, bên cạnh việc cải thiện điều kiện sinh sống, sản xuất còn góp phần thúc đẩy giao lưu hàng
Trang 27hóa, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa Đời sống kinh tế khu vực nông thôn có nhiều khởi sắc và đây là một trong những kết quả rõ nét của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo tín hiệu của thị trường; đầu tư cho cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp; thực hiện có hiệu quả Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016 - 2020; ưu tiên thúc đẩy phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, nhất là sản xuất nông nghiệp sạch - an toàn Kinh tế phát triển, góp phần giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân [8]
Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng có dấu hiệu nghiêm trọng ở một số địa bàn, nhất là ở một số làng nghề Rác thải sinh hoạt nông thôn ngày càng trở thành một vấn đề phức tạp, chưa có biện pháp quản lý, giải quyết hiệu quả Tình hình
ô nhiễm môi trường ở một số địa bàn nông thôn ngày càng phức tạp, khó xử lý, trong
đó có ô nhiễm nguồn nước ở các tuyến sông, kênh, mương Chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm, nông sản trên phạm vi cả nước tuy có tiến bộ nhưng sự chuyển biến chưa rõ nét, vẫn đang là vấn đề nổi lên được xã hội quan tâm
b) Xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương tại Việt Nam Xây dựng nông thôn mới tại Hà Giang
Nếu như ở các tỉnh đồng bằng, xây dựng nông thôn mới (NTM) cần rất nhiều
nỗ lực thì với tỉnh Hà Giang, nhất là các huyện vùng biên giới như: Mèo Vạc, Đồng Văn, Quản Bạ , việc xây dựng NTM càng khó khăn gấp bội Hà Giang là tỉnh có điều kiện địa lý đồi núi chia cắt, sạt lở, lũ quét thường xuyên xảy ra Thế nhưng, nhờ cách làm phù hợp, các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang đã thu được kết quả ban đầu trong xây dựng NTM
Năm 2019 Hà Giang đặt mục tiêu thực hiện nâng tiêu chí nông thôn mới, toàn tỉnh không còn xã đạt dưới 7 tiêu chí, hoàn thành 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới Tính đến hết tháng 6/2019, tổng nguồn lực huy động để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại Hà Giang đạt gần 590 tỷ đồng, trong đó vốn xã hội hóa đạt khoảng
65 tỷ đồng Triển khai chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tỉnh Hà Giang đã phân bổ 3 tỷ đồng cho các đơn vị thực hiện các hoạt động có liên quan đến chương trình này như xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm
Chia sẻ về khó khăn trong quá trình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Hà Thị Minh Hạnh cho rằng, để triển khai
Trang 28chương trình xây dựng nông thôn mới, Hà Giang cần nhu cầu nguồn lực rất lớn Tuy nhiên, do là tỉnh nghèo nên việc bố trí nguồn lực rất hạn chế, việc bố trí lồng ghép các nguồn lực và huy động xã hội hóa cũng đạt không cao [16]
Xây dựng nông thôn mới tại Yên Bái
Năm 2018, tỉnh Yên Bái có thêm 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã
về đích nông thôn mới của tỉnh lên 46 xã Điển hình về xây dựng nông thôn mới tại Yên Bái là huyện Trấn Yên, từ xây dựng nông thôn mới, bức tranh huyện miền núi đã có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân ngày càng được nâng lên Đến nay, 100% thôn, bản trong huyện có đường ô tô; trong đó, 65% đường đã được bê tông hóa Các công trình thủy lợi, chợ trung tâm xã, trường học, nhà văn hóa… trên địa bàn được kiên cố hóa, đảm bảo phục vụ cho giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Để có được kết quả này, Trấn Yên luôn đẩy mạnh các giải pháp để huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Chỉ trong giai đoạn 2016 - 2018, huyện đã huy động được gần 110 tỷ đồng từ các nguồn cho xây dựng nông thôn mới Tính đến hết năm 2018, 100% các xã trên địa bàn huyện Trấn Yên đạt từ 10 tiêu chí trở lên, trong đó có 15 xã đã được tỉnh Yên Bái thẩm định, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới Đối với tiêu chí nông thôn mới cấp huyện cũng đạt 6/9 tiêu chí Kinh nghiệm của Trấn Yên là xác định công tác tuyên truyền như một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong xây dựng nông thôn mới Đối tượng cần tuyên truyền đầu tiên là cán bộ, công chức cấp xã thì sẽ tạo ra nhận thức ngay từ cán bộ, công chức vì đó chính là lực lượng sẽ tuyên truyền đến người dân hiểu được xây dựng nông thôn mới là phục vụ cho nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho chính bản thân người dân Nhờ đó, Trấn Yên đã tạo được sự đồng thuận rất lớn trong việc xây dựng nông thôn mới của huyện
Tỉnh Yên Bái đã hình thành được các vùng chuyên canh như: vùng lúa chất lượng cao; vùng cây ăn quả có múi, vùng trồng sơn tra, vùng quế…với tổng diện tích trên 260 nghìn héc ta Từ đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp đạt 4,5%/năm
Mục tiêu của tỉnh là đến năm 2020, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn của tỉnh đạt 32 triệu đồng/người/năm, gấp đôi so với năm 2015; toàn tỉnh có 64/157 xã đạt chuẩn nông thôn mới và Trấn Yên được công nhận là huyện nông thôn mới [24]
Xây dựng nông thôn mới tại Tuyên Quang
Năm 2012 tỉnh Tuyên Quang phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2012-2020, định hướng đến năm 2030 Theo kết quả rà soát, đánh giá tại thời điểm lập Đề án, tỉnh Tuyên Quang chưa có xã nào đạt tiêu chí môi trường, tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 59,7%, tỷ lệ hộ được sử dụng nước
Trang 29sạch theo quy chuẩn quốc gia đạt 37,6%; nghĩa trang, bãi chôn lấp rác thải trên địa bàn các xã chưa được đưa vào quy hoạch; tỷ lệ số hộ có nhà tắm hợp vệ sinh đạt 59,5%; tỷ
lệ số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 41,3%; tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh đạt 32,2% Trên địa bàn tỉnh chưa có chính sách riêng để thực hiện các nội dung của tiêu chí môi trường
Nhìn chung, khu vực nông thôn của tỉnh Tuyên Quang những năm 2010-2012 chậm phát triển, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, người dân vẫn canh tác, chăn nuôi theo phương thức truyền thống, chậm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Môi trường sống khu vực nông thôn khá trong lành, không có cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tuy nhiên, công tác vệ sinh môi trường, cải tạo, xây dựng cảnh quan xanh-sạch-đẹp chưa được quan tâm, ý thức của người dân về vệ sinh môi trường còn thấp và chậm chuyển biến Tỷ lệ nhà tắm, nhà tiêu vẫn còn rất thấp và chưa được người dân quan tâm đầu tư, việc nuôi nhốt gia súc, gia cầm gần nhà ở, dưới gầm nhà, chuồng trại chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh vẫn tồn tại ở nhiều địa phương trong tỉnh
Ngoài những chính sách hỗ trợ hoạt động về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện một số chính sách hỗ trợ cho công tác bảo vệ môi trường nông thôn như: Chính sách cho hội viên, nông dân được vay vốn và hỗ trợ lãi suất tiền vay để xây dựng công trình nhà tiêu và hệ thống chuồng trại chăn nuôi theo Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 28/12/2012, Quyết định số 303/QĐ-UBND ngày 24/7/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Chương trình hỗ trợ thu gom, xử lý vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật theo Quyết định số 366/QĐ-UBND ngày 25/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Chương trình hỗ trợ xây dựng hầm Biogas và nhà vệ sinh tự hoại hộ gia đình bằng vật liệu nhựa Composite cho các hộ di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang và các hộ sở tại bị ảnh hưởng; Chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả vốn vay Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2016-2020
Năm 2015, sau 3 năm triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, tỉnh Tuyên Quang đã có 129/129 xã được phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới Có 10 xã đạt chuẩn tiêu chí môi trường và được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 7,8%
(tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 75,0%; 50% số hộ sử dụng nước sạch theo quy chuẩn quốc gia; 65,5 % số cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đạt chuẩn về môi trường; 58,5% số hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể nước hợp vệ sinh; 52,8 % số hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh; 10/129 xã có đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng
hộ xanh - sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường; 11/129 xã có quy hoạch và quản lý nghĩa trang theo quy hoạch; 65% chất thải, nước thải khu vực nông
Trang 30thôn được thu gom và xử lý theo quy định) Đến tháng 6 năm 2019, tỉnh Tuyên Quang
có 38 xã đạt tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm, đạt 29,46%
1.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới và thực hiện tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Tại Hội nghị tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Sơn, đến nay huyện đã huy động được trên 2.000 tỷ đồng đầu tư xây dựng: Trên 870km đường bê tông nông thôn; gần 230km kênh mương nội đồng; trên 200 công trình trường, lớp học; trên 300 nhà văn hóa xã, thôn, bản và
hỗ trợ xóa gần 1.700 nhà tạm dột nát
Huyện Yên Sơn cũng đã triển khai các dự án phát triển sản xuất như: Cải tạo vùng chè, nhãn, bưởi; Đầu tư phát triển vùng nguyên liệu giấy; Chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá đặc sản… Nhiều nông sản xây dựng được nhãn hiệu hàng hóa, có sức cạnh tranh trên thị trường
Đến nay toàn huyện đã có 7/30 xã đạt chuẩn nông thôn mới Ước thu nhập của người dân Yên Sơn năm 2019 đạt trên 30 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 9% Trong giai đoạn 2021-2025, huyện Yên Sơn phấn đấu 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới, huyện đạt chuẩn nông thôn mới Các công trình hạ tầng thiết yếu đảm bảo tính kết nối, liên thông và ứng phó với biến đổi khí hậu Chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được nâng cao, thu nhập bình quân đến năm 2025 tăng ít nhất 1,6 lần so với năm 2020
* Kết quả thực hiện tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, từ cấp huyện đến cấp xã đã được quan tâm, kiện toàn, củng cố, có sự phân công, phân cấp phụ trách thực hiện tiêu chí và địa bàn cụ thể, công tác kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc
và giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở có trọng tâm, trọng điểm nên đã triển khai kịp thời, có hiệu quả về thực hiện các chỉ tiêu của tiêu chí 17 về môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng xã nông thôn mới
Huyện Yên Sơn đã triển khai và huy động thực hiện nhiều cơ chế chính sách trong thực hiện tiêu chí 17 như: nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh cho các xã xây dựng nông thôn mới, các nguồn vay hỗ trợ theo chính sách về thực hiện các chỉ tiêu thuộc tiêu chí
Tại Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2019 của huyện Yên Sơn, UBND huyện đã đánh giá về kết quả thực hiện các nội dung của tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới như sau:
Trang 31a) Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định:
- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 86,09%
- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung: 70,23%
b) Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường:
- Số cơ sở có hồ sơ về môi trường: có 1.280 cơ sở có kế hoạch/cam kết bảo vệ môi trường
- Tỷ lệ cơ sở có công trình xử lý chất thải: trên 97,4 % số cơ sở có biện pháp xử
lý nước thải
- Tỷ lệ cơ sở có chuyển giao chất thải cho các đơn vị có chức năng, thu gom, xử
lý chất thải: Việc vận chuyển chất thải mới được thực hiện đối với cơ sở ở địa bàn có đơn vị triển khai thu gom, xử lý, còn lại các cơ sở tự thu gom và xử lý bằng phương pháp chôn hoặc đốt
c) Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn:
- Việc vệ sinh đường làng, ngõ xóm, khơi thông cống rãnh, vệ sinh môi trường nơi công cộng được thực hiện thường xuyên; khu công cộng hạn chế được hiện tượng
xả nước thải, chất thải bừa bãi gây mất mỹ quan
- Các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn các xã đã nhận thức, ý thức và chủ động thực hiện cải tạo vườn, chỉnh trang hàng rào, cổng ngõ không lầy lội
d) Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch, theo quy định cụ thể của
Ủy ban nhân dân tỉnh: Các xã trên địa bàn huyện mới được quy hoạch đất nghĩa trang, chưa được đầu tư xây dựng, đưa vào sử dụng và có quy chế quản lý; Việc mai táng ở các xã trên địa bàn vẫn thực hiện theo phong tục tập quán của địa phương
e) Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định:
- Đối với chất thải rắn:
+ Tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Trên địa bàn huyện có 05 đơn vị thực hiện về thu gom, xử lý rác thải tập trung thu gom rác tại một số khu vực đông dân cư như dọc các tuyến đường quốc lộ và trung tâm huyện
+ Tình hình thu gom, xử lý chất thải sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp): Hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện đều tuân thủ các quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải theo đúng quy định; phế phẩm, chất thải nông nghiệp được tận dụng làm phân hữu cơ
Trang 32+ Tình hình thu gom, xử lý chất thải y tế: Tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện rác thải y tế đều thực hiện việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý bằng phương pháp đốt ở tại các lò đốt rác thải y tế đã được đầu tư cho bệnh viện và các trạm y tế xã
+ Tình hình thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật: Trên địa bàn huyện đã được Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh Tuyên Quang hỗ trợ đầu tư 124 bể chứa vỏ bao bì thuốc BVTV sau sử dụng; thực hiện việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng đáp ứng được một số tiêu chí theo Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 16/5/2016
- Về xử lý nước thải:
+ Tỷ lệ khu cân cư tập trung: Trên địa bàn các xã chưa có điểm thu gom, xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường
+ Tỷ lệ hộ gia đình có biện pháp xử lý nước thải: Đạt trên 67%
g) Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch
- Tỷ lệ hộ có nhà tiêu đảm bảo vệ sinh đạt: 71,33%
- Tỷ lệ hộ có nhà tắm hợp vệ sinh đạt: 67,72%
- Tỷ lệ hộ có bể chứa nước hợp vệ sinh đạt 71,33%
h) Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường:
- Tỷ lệ cơ sở chăn nuôi có hồ sơ môi trường: Các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn các xã là do các hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ nên không thuộc đối tượng phải thực hiện lập hồ sơ về môi trường
- Tỷ lệ cơ sở chăn nuôi thu gom, xử lý chất thải: Trên 90% cơ sở chăn nuôi đều được thu gom, xử lý chất thải về chăn nuôi
- Các hình thức, biện pháp, mô hình thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi: lắp đặt hầm biogas, ủ làm phân hữu cơ, lót đệm sinh học… để tận dụng lượng phân và chất thải chăn nuôi
i) Tỷ lệ hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm: Trên 90% số cơ sở, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn đều được tập huấn và cam kết chấp hành thực hiện các quy định về
an toàn thực phẩm
Nhận định về sự chuyển biến tích cực trong ý thức và sự tham gia của các tổ chức, người dân, cộng đồng; sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể… đối với công tác bảo vệ môi trường nông thôn cho thấy đã có nhiều sự chuyển biến trong ý thức của người dân về thực hiện các chỉ tiêu của tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm; các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp
Trang 33quan tâm, chỉ đạo sát sao trong lộ trình, giai đoạn triển khai thực hiện tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm đối với cấp huyện, cấp xã Tuy nhiên, ý thức chấp hành các quy định của pháp luật, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm của một số ít
bộ phận của tổ chức, cá nhân còn chưa tốt; địa hình dốc, dân cư thưa thớt cũng gây nên nhiều khó khăn cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải;
1.3 Tổng quan về nghiên cứu nông thôn mới và các nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam và trên thế giới
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn
đề nông thôn là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở
nước ta như: Công trình “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”
của tác giả Frans Ellits (1994); Công trình “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân
nông thôn ở các nước và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria Kerrkvliet,
Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định
Đặc biệt, sau khi chương trình MTQG xây dựng NTM được triển khai trên toàn
quốc, nhiều tác giả đã có nghiên cứu trực tiếp về vấn đề này Những vấn đề lý luận
cũng như thực tiễn về xây dựng NTM được đề cập trong cuốn “Xây dựng NTM:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Vũ Văn Phúc (2013) hay cuốn “Xây dựng NTM: Khảo sát và đánh giá” của Trần Minh Yến (2013) Đồng thời, các tác giả cũng
đề cập tới kinh nghiệm xây dựng NTM ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Cuốn “Xây dựng NTM ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi
mới” của nhóm tác giả Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng phân tích khá cụ
thể, sâu sắc vai trò và thực tiễn của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong tiến trình phát triển đất nước và đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp
và xây dựng NTM Nghiên cứu cũng cho thấy, phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở nước ta cần đảm bảo sự cân bằng trong phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái và giảm thiểu ô nhiễm, nhất là trong bối cảnh BĐKH, coi xây dựng NTM là một tiến trình phát triển lâu dài và toàn diện Công trình cũng phân tích các nội dung cần thay đổi cho phù hợp với phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, trong đó
có xác định cả việc thay đổi tư duy, cách thức xây dựng NTM [4] Xây dựng NTM cụ
thể đến cấp xã được đề cập trong nghiên cứu “Quy hoạch xây dựng NTM” của Đỗ Đức Viêm [22] Nguyễn Thị Hoa (2015) với bài viết “Hoàn thiện điều kiện đảm bảo thực
hiện thành công chương trình MTQG về xây dựng NTM” làm rõ những quan điểm về:
(i) Các điều kiện đảm bảo thực hiện thành công Chương trình MTQG về xây dựng NTM; (ii) Đối chiếu các điều kiện đảm bảo thực hiện thành công Chương trình MTQG
Trang 34giải pháp hoàn thiện các điều kiện nhằm thực hiện thành công Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2011-2020 [5] Nhằm đúc kết những vấn đề lý luận NTM, Hoàng
Văn Hoan (2014) đã tập trung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp “Xây dựng mô
hình NTM vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nước ta”
Ngoài ra một số công trình nghiên cứu đã đưa những giải pháp thực hiện xây
dựng nông thôn mới như: “Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong mô
hình xây dựng NTM ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” của tác giả Nguyễn Văn Hiệu
(2011) đã chỉ rõ sự tham gia của người dân phải bắt đầu từ công tác tuyên truyền, đưa
ra ý kiến xây dựng đóng góp, kiểm tra xử lý các hoạt động trong xây dựng mô hình
NTM hay công trình nghiên cứu: “Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Thanh Trương, tỉnh Nghệ An” của tác giả Phan Đình Hà (2011), đưa ra
giải pháp để đẩy mạnh nông thôn mới: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân tự hiểu và tự giác thực hiện, tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Xây dựng và phát triển các tổ chức chính trị
xã hội nông thôn vững mạnh, vận động nhân dân hiến đất để xây dựng nông thôn mới, xây dựng một số công trình liên xã, đẩy mạnh công tác quy hoạch và xây dựng các thị trấn, thị tứ trên địa bàn Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm sát sao đối với các địa phương có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, công trình của PGS.TSKH Phan Xuân Sơn và ThS Lưu Văn Quảng (2015) đã trực tiếp bàn về chính sách, hơn nữa lại là
chính sách liên quan đến nông nghiệp nông thôn và chính sách dân tộc trong cuốn
“Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay”
Việt Nam với nền tảng là một quốc gia có nền nông nghiệp lâu đời, bên cạnh việc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước thì việc phát triển lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn cũng đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu nhiều khía cạnh trong việc xây dựng nông thôn mới tại một số nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam và một số địa phương trong cả nước
Các nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới như:
Các công cụ, chính sách về xây dựng nông thôn mới; việc tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị cũng như sự chung tay của toàn thể nhân dân; từ đó đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
Dựa trên các kết quả của các công trình nghiên cứu trên, đề tài luận văn có kế thừa một số điểm chung về kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn, giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Tuy nhiên, với đặc thù là một xã miền núi còn nhiều khó khăn, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường còn chưa cao… thì việc đạt chuẩn nông thôn mới tại xã nói chung và hoàn thành tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm nói riêng đang là một thách thức không chỉ cho
Trang 35các nhà quản lý mà còn cho nhân dân sinh sống tại xã Các nghiên cứu trong luận văn
sẽ chỉ ra những khó khăn trong công tác xây dựng nông thôn mới cũng như các giải pháp để hoàn thành tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
1.4.1 Điều kiện tự nhiên xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
* Vị trí địa lý
Xã Kim Quan là một xã nằm ở phía Tây của huyện Yên Sơn, cách trung tâm huyện lỵ Yên Sơn mới khoảng 51km về phía Tây Bắc, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 42 km về phía Tây theo tuyến Quốc lộ 2C, với tổng diện tích tự nhiên là 3.047,26 ha, chiếm 2,7% diện tích tự nhiên của huyện Xã Kim Quan có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp xã Trung Sơn;
- Phía Nam giáp xã Trung Yên (huyện Sơn Dương);
- Phía Đông giáp thôn Bum, xã Hùng Lợi;
- Phía Tây giáp xã Công Đa
Hình 1.1 Vị trí địa lý xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Trang 36* Địa hình, địa mạo
Xã Kim Quan có địa hình chủ yếu là vùng núi thấp, dốc dần theo hướng Nam, hình thành 2 dạng địa hình đặc trưng:
Bắc Vùng núi (độ cao 300Bắc 500m): Độ dốc trung bình 10Bắc 200 chiếm 66,75%; phân
bố đồng đều trên địa bàn xã, có khả năng phát triển cây lâu năm
- Địa hình đồi thấp và đất bằng nằm dọc theo sông, suối và trong các thung lũng Vùng này chiếm 33,3% diện tích tự nhiên, có tiềm năng phát triển cây xanh lương thực, rau màu và công nghiệp ngắn ngày
* Địa chất công trình
Qua quan sát thực tế và khảo sát, xem xét một số các công trình đã xây dựng kiên cố tại địa phương cho thấy: Nền đất khu vực tương đối ổn định, các công trình xây dựng 2-3 tầng đầu xử lý móng ở mức đơn giản
* Khí hậu
- Khí hậu của xã mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa và chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9; Mùa đông hanh khô, lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22-240C Nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông là 160C, nhiệt độ các tháng mùa hè là 280C Nhiệt độ tối cao trung bình hàng năm khoảng 300C; Nhiệt độ tối thấp trung bình hàng năm khoảng 160C
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80-82% Biến động về độ ẩm không khí không lớn giữa các tháng trong năm từ 76-82%
* Thủy văn - Thủy lợi
Kim Quan có hệ thống sông và các nhánh suối nhỏ, phân bố không đồng đều trên địa bàn Sông Phó Đáy và hệ thống ao, hồ, sông ngòi kênh mương thủy lợi là nguồn nước chính tưới cho đồng ruộng và cũng là hệ thống tưới tiêu trên địa bàn xã Toàn xã
có 93,36 ha diện tích đất mặt nước ao hồ nhỏ, chiếm 3,06% tổng diện tích tự nhiên
Mạng lưới thủy văn của xã chịu ảnh hưởng chính của Sông Phó Đáy và các khe suối nhỏ khác, những cánh đồng ven sông, suối này được bồi đắp một lớp phù sa mầu
mỡ thuận lợi cho cây mầu phát triển Hàng năm lượng mưa khá nhiều, trung bình khoảng 1.800-1.900mm/năm và phân bố không đồng đều theo mùa, mưa nhiều tập trung vào tháng 7,8,9 trong năm gây ảnh hưởng đối với một số diện tích gieo trồng mùa vụ
Nguồn nước mặt của xã Kim Quan được cung cấp chủ yếu từ các con sông, suối chạy qua xã
Trang 37* Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Trên địa bàn xã phần lớn diện tích là đất đỏ vàng trên đá sét (chiếm khoảng 40% diện tích), đất có thành phần cơ giới thịt trung bình độ dày tầng đất trên 120cm
Ngoài ra còn có các loại đất vàng nhạt trên cát, đất xám bạc màu
Tổng diện tích đất tự nhiên: 3.047,26 ha; bao gồm:
Bảng 1.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 xã Kim Quan, huyện Yên Sơn,
4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 6,98 0,23
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 73,04 2,40
2 Đất đồi núi chưa sử dụng 25,59 0,84
Trang 38- Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt của các thôn được cung cấp chủ yếu từ các hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn xã và nước mưa tự nhiên (lượng mưa hàng năm khoảng 1.800 -1.900 mm) Nguồn nước mặt của xã chịu ảnh hưởng theo mùa, lượng nước dồi dào vào các tháng 7, tháng 8 hàng năm Về cơ bản nguồn nước đã đáp ứng được yêu cầu của người dân trong sản xuất và sinh hoạt
Nguồn nước ngầm: Kim Quan là một xã miền núi nên nguồn nước ngầm cũng có nhiều hạn chế, việc khai thác sử dụng nguồn nước của nhân dân trong xã chưa cao Khi triển khai Chương trình MTQG xây dựng NTM, đa số các hộ gia đình khai thác nguồn nước ngầm bằng cách đào giếng gia đình, tuy nhiên nguồn nước sinh hoạt chưa đáp ứng nhu cầu dùng cho sinh hoạt, nhất là vào mùa đông ít mưa, lượng nước khan hiếm
- Tài nguyên rừng
Tại xã Kim Quan, đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2019, diện tích đất lâm nghiệp của xã là 2.417,62 ha,
chiếm 79,34% trong tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã và chiếm 85,5% trong nhóm
đất nông nghiệp Trong đó, Khuôn Hẻ là thôn nhiều rừng nhất xã Kim Quan với diện tích hơn 300 ha, trong đó có 200 ha rừng tự nhiên
Diện tích đất lâm nghiệp đã được quy hoạch phân vùng phát triển và phân định thành các loại đất rừng chính gồm: rừng sản xuất, rừng tự nhiên Trong đó diện tích đất rừng sản xuất chiếm tỷ lệ lớn Rừng tái sinh có ở cả 8 thôn trong xã với gần 500
ha Những diện tích này đã được giao cho hàng trăm hộ dân, cộng đồng dân cư quản
lý, bảo vệ Xã đã thực hiện trồng rừng sản xuất nguyên liệu giấy gắn với cơ sở chế biến trên toàn bộ diện tích đất rừng sản xuất hiện có tại các thôn trên địa bàn xã; chăm sóc rừng trồng đảm bảo đạt năng suất bình quân 100m3/ha; hướng dẫn các hộ trồng keo và cây có giá trị kinh tế, có thị trường tiêu thụ Công tác trồng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ phát triển rừng được chính quyền và nhân dân trong xã thực hiện tương đối tốt, nhất là công tác chỉ đạo, vận động nhân dân phủ xanh đất trống đồi núi trọc cũng như tập trung thực hiện quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu sản xuất đối với từng cây, con theo hướng tập trung thành vùng sản xuất hàng hóa
- Tài nguyên nhân văn và cảnh quan môi trường
Toàn xã có 7 dân tộc bao gồm: Kinh, Tày, Dao, Nùng, Cao Lan, Mông, Hoa đang sinh sống trong 8 thôn Sự giao hòa giữa các nền văn hóa của cộng đồng người bản địa và nền văn hóa miền xuôi của người Kinh đã mang lại những nét đặc trưng phong phú trong tập quán sinh hoạt cũng như kinh nghiệm sản xuất và văn hóa tín ngưỡng dân gian
Nhìn chung, cảnh quan và môi trường của xã Kim Quan vẫn mang đặc trưng của miền núi: Với những dãy núi dài và cánh rừng tự nhiên, khí hậu ôn hòa trong lành,
ít bị ô nhiễm
Trang 391.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Năng suất bình quân (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: UBND xã Kim Quan, 2019)
- Lâm nghiệp: Năm 2019 xã Kim Quan đã trồng được 119/117 ha, đạt 102% kế
hoạch Diện tích đã khai thác 29,46/80 ha, đạt 37% kế hoạch; sản lượng 2,514/8.000m3, đạt 31% kế hoạch
- Chăn nuôi, thú y:
Bảng 1.4 Các loại vật nuôi phổ biến tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn,
tỉnh Tuyên Quang Các loại
vật nuôi Đơn vị tính Kế hoạch giao Số lượng
thực tế
Đạt kế hoạch (%)
Trang 40Công tác Thú y: UBND xã đã xây dựng kế hoạch tiêm phòng dịch bệnh trên đàn gia súc vụ Đông xuân năm 2019 đến các thôn bản và triển khai tiêm phòng đạt kết quả:
Tiêm Lở mồm long móng đàn trâu 347/403 con đạt 86,1 %; đàn bò 203/299 con đạt 68
%; Tiêm tụ huyết trùng: Trâu 378/403 con đạt 93,7 %, đàn bò 242/299 con đạt 80,9 %;
Tiêm tụ huyết trùng lợn 300/782 con đạt 38,3%; Tụ huyết trùng gia cầm và Niucatson 3.200/14.900 con đạt 21,4 %; Tiêm phòng dại cho đàn chó 250/509 con đạt 49,1 %
Trong năm 2019, xã cũng đã triển khai kế hoạch về phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu phi trên địa bàn Thành lập các Ban chỉ đạo phòng, chống dịch tả lợn Châu phi; thành lập tổ công tác phòng, chống dịch tả lợn Châu phi trên địa bàn xã; thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát giết mổ tại các chợ, các điểm kinh doanh, giết mổ, sản phẩm thịt gia súc, gia cầm Thực hiện tốt việc kiểm soát, vận chuyển gia súc ra vào địa bàn xã Đến tháng 12/2019, trên địa bàn xã có đàn gia súc, gia cầm ổn định không có dịch bệnh xảy ra
- Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp: Trên địa bàn xã có 03 hợp tác xã
Nông lâm nghiệp thực hiện các dịch vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; chuyển đổi
cơ cấu cây trồng - vật nuôi cho các hộ gia đình làm nông nghiệp trong xã
- Công tác thủy lợi: Hệ thống công trình thủy lợi của xã cơ bản đáp ứng được
yêu cầu sản xuất nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Toàn xã đã thực hiện kiên cố 19,815/26,984 km kênh mương nội đồng, đảm bảo diện tích đất trồng lúa 2 vụ được tưới nước chủ động 98/111 ha, đạt 85,6%
- Khu vực kinh tế dịch vụ: Trên địa bàn xã thường xuyên duy trì các phiên chợ,
tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đến giao thương hàng hóa với chủng loại đa dạng
- Thu ngân sách: UBND xã tập trung chỉ đạo bộ phận chuyên môn thu thuế, phí,
lệ phí theo quy định Đến ngày 24/12/2019, tổng thu ngân sách thực hiện là 5.686.493.989 đồng, đạt 131,1 % kế hoạch và tổng chi ngân sách là 5.025.159.145 đồng, đạt 115,9 % kế hoạch Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tại thời điểm báo cáo là trên 49,7 tỷ đồng (Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: trên 28,4 tỷ đồng; Phòng Giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội: 21,3 đồng)