Đặc biệt trên những vùng trọng điểm, do bị phunrải chất độc hoá học nồng độ cao từ trên tán cây xuống với phương thức càn đi quét lại nhiều lần nên tán rừng đã bị trụi lá hoàn toàn, cây
Trang 1Nguyễn Tấn liêm
Đánh giá thực trạng rừng
bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học
và đề xuất giải pháp phục hồi rừng tại
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn: GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung
Trang 2Nguyễn Tấn liêm
Đánh giá thực trạng rừng
bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học
và đề xuất giải pháp phục hồi rừng tại
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Hà tây: tháng 6/ 2006
Trang 3Việt nam trong những năm 1965 – 1975 của thế kỷ XX được coi là cuộcchiến tranh vô tiền khoáng hậu, là một sự kiện chưa từng có trong lịch sửchiến tranh thế giới Trong cuộc chiến tranh này quân đội Mỹ đã phun rảihơn 72 triệu lít chất diệt cỏ và làm rụng lá cây để phá huỷ gần 2 triệu harừng nội địa, rừng ngập mặn ở khắp miền Nam Việt nam, gây hậu quả vô
cùng nặng nề và lâu dài đối với sức khỏe, đời sống của con người và môitrường sinh thái Việt nam Tại hội nghị quốc tế năm 1993 với chủ đề “ Chấtdiệt cỏ trong chiến tranh- tác hại lâu dài với con người và thiên nhiên” cácnhà khoa học quốc tế đã khẳng định cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ tạiMiền Nam Việt nam là cuộc chiến chống môi sinh lớn nhất trong lịch sửnhân loại [31]
Kon tum là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở cực bắc Tây nguyênViệt nam Trong thời gian chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Kon tum là mộttrong những địa bàn trọng điểm đầu tiên ở miền Nam Việt nam mà quân
đội Mỹ chọn thử nghiệm và triển khai chiến tranh hoá học Tại nơi đây,quân đội Mỹ đã thực hiện 374 phi vụ rải 954.459 gallons chất diệt cỏ vàlàm rụng lá cây với nồng độ cao xuống 2 huyện Ngọc hồi và Sa thầy đã làmcho gần 130.000 ha rừng tự nhiên, chiếm gần 50% diện tích của cả 2 huyện
bị phá hoại nghiêm trọng Đặc biệt trên những vùng trọng điểm, do bị phunrải chất độc hoá học nồng độ cao từ trên tán cây xuống với phương thức càn
đi quét lại nhiều lần nên tán rừng đã bị trụi lá hoàn toàn, cây rừng bị chết,làm cho cấu trúc hệ sinh thái rừng bị phá vỡ, gây mất cân bằng sinh thái,dẫn đến nhiều tác hại môi trường khác, ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến
đời sống và sức khỏe của người dân trong vùng
Trang 4Muốn khắc phục hậu quả sinh thái của cuộc chiến tranh hoá học đểlại, biện pháp cần thiết và có hiệu quả nhất là phục hồi vốn rừng tự nhiên đã
bị phá hoại Tuy nhiên, việc lựa chọn con đường nào để phục hồi hệ sinhthái rừng này nhanh chóng và có hiệu quả là vấn đề không hề đơn giản
Thực tế cho thấy: mặc dù đã qua gần 40 năm nhưng trên một số vùng bị ảnhhưởng bởi chiến tranh hoá học rừng vẫn không thể tự phục hồi được, hoặcrừng phục hồi vẫn không đảm bảo các chức năng sản xuất và phòng hộ môitrường Điều đó cho chúng ta thấy rằng: việc phục hồi hoàn toàn hệ sinhthái rừng đã bị phá huỷ không thể hoàn toàn dựa vào con đường tái sinh tựnhiên mà cần phải có tác động của con người bằng hệ thống các giải phápkinh tế - kỷ thuật phù hợp
Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng muốn đề ra một hệ thốngcác giải pháp đúng đắn để tác động vào một đối tượng rừng nào đó cần phải
có sự hiểu biết đầy đủ về thực trạng, bản chất các quy luật sống, điều kiệnhình thành và cấu trúc của hệ sinh thái rừng đó, đặt trong một tổng thể các
điều kiện kinh tế xã hội và trình độ kỷ thuật công nghệ nhất định Đây làhướng tiếp cận đúng đắn trong nỗ lực tìm kiếm những giải pháp khôi phụcnhững hệ sinh thái rừng đã bị suy thoái, trong đó có hệ sinh thái rừng saukhi bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học Vì vậy, trong điều kiện cho phépthực hiện Luận văn tốt nghiệp Cao học, chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
“ Đánh giá thực trạng rừng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học
và đề xuất giải pháp phục hồi rừng tại Vườn quốc gia Chư Mom Rei tỉnh Kon tum”.
-Theo chúng tôi, thực hiện đề tài này có ý nghĩa khoa học và thực tiễnnhất định, có thể góp phần vào việc tìm kiếm những giải pháp phục hồirừng có hiệu quả tại Vườn quốc gia Chư Mom Rei- một trong những vùng
bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh hoá học và trên địa bàn tỉnh Kon tumtrong thời gian đến
Trang 5Chương 2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.1 Lược sử về cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ tiến hành tại Miền nam Việt nam và trên địa bàn tỉnh Kon tum.
2.1.1.Mục đích và quá trình triển khai cuộc chiến tranh hóa học:
Theo tài liệu của Lê Cao Đài (1999) [4] cho biết: Ngày 11/5/1961,sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ Kennedy đã họp Hội đồng An ninhquốc gia Hoa kỳ và ra tuyên bố “ Để ngăn chặn Cộng sản xâm lược NamViệt nam, quyết định dùng chất diệt cỏ, và các kỷ thuật tân kỳ khác đểkiểm soát các đường bộ, đường thủy dọc biên giới Việt nam” Sau đó, kếhoạch sử dụng chất khai quang ở chiến trường Nam Việt nam được Tổngthống Mỹ Kennedy chính thức chuẩn y vào ngày 30/11/1961 và triển khaidưới mật danh là “Chiến dịch Ranch Hand” Trên thực tế thì cuộc chiếntranh hóa học này đã được quân đội Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt nam từ
đầu tháng 8/1961 và tỉnh Kon tum được chọn là địa bàn thí điểm đầu tiên
Được sự thống nhất, ủng hộ của chính quyền Ngô Đình Diệm, sau buổi họptại thị xã Kon tum vào ngày 3/8/1961, Phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ tạiMiền nam Việt nam (MAAG) đã quyết định chọn quận Đăk tô thuộc tỉnhKon tum làm nơi thí điểm đầu tiên cho việc rải chất độc hóa học Ngày10/8/1961 chuyến bay đầu tiên đã rải chất độc hóa học Dinoxol dọc theotheo đường quốc lộ số 14, phía bắc thị xã Kon tum để phá hủy nương rẫy vàhoa màu Ngay ngày hôm sau, 11/8/1961, chuyến bay tiếp theo rải chấtTrinoxol lên khu vực đường Kon tum để phá hủy khoai lang, sắn, chuối và
cỏ tranh Sau 2 giờ các loại cây bị phun rải đã héo và chết Cuộc thử nghiệmnày được đánh giá là thành công mỹ mãn Sau đó, hai loại chất độc hóa họcDinoxol và Trinoxol được tiếp tục phun rải ở Kon tum, Bình phước, Biênhòa và nhiều nơi khác ở Miền nam Việt nam
Trang 6Mục đích của cuộc chiến tranh hoá học của quân đội Mỹ là: Làm trụilá và gây chết cây rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quan sát, pháthiện nơi trú quân, tiếp vận của quân đội ta; Phá hoại mùa màng để cắtnguồn lương thực của quân du kích, buộc người dân địa phương phải rờichổ ở của họ tới những vùng chính quyền Sài gòn có thể kiểm soát được vàkhai quang các vị trí xây dựng căn cứ quân sự.
Thời gian diễn ra cuộc chiến tranh hoá học bắt đầu từ năm 1961 đếnnăm 1975 và được chia thành 3 giai đoạn:
- Từ năm 1961 đến năm 1964 Thử nghiệm và tiến hành phun rải chất
- Các chất diệt cỏ, làm rụng lá cây( thường được gọi tên chung làchất khai quang) và các tạp chất của nó
- Các chất diệt côn trùng và diệt muỗi: Bao gồm chủ yếu là chấtMalathion( Phốt pho hữu cơ) và DDT
- Chất kích thích CS
- Các hoá chất khác: Bao gồm các vũ khí gây cháy khác như các loạibom, pháo, bom Napan, phốt pho trắng Đây là những hoá chất gây cháyrừng trên diện tích sau khi bị rải chất diệt cỏ và làm rụng lá cây
Trang 7Trong 4 nhóm hoá chất trên thì các chất diệt cỏ và làm rụng lá câycùng các tạp chất của nó được sử dụng chủ yếu để phun rải trên thảm thựcvật rừng và là những loại hóa chất được dùng nhiều nhất trong cuộc chiếntranh hóa học ở miền Nam Việt nam Những hoá chất phổ biến này đượcgọi tên bằng các mật danh dễ nhận biết qua ký hiệu màu sắc trên thùngchứa như: Chất trắng, chất xanh, chất tím, chất hồng, chất xanh lục, chất dacam, chất da cam II, trong đó nguy hiểm nhất là chất da cam vì nó có chứamột loại tạp chất rất độc và bền vững được gọi tên là Dioxin- một hợp chất
được xem là hoá chất độc nhất trong các loại hoá chất mà con người tổnghợp ra được cho đến nay Chất da cam thường được phun rải trên thảm thựcvật rừng kết hợp với chất trắng và chất xanh Do vậy, trong giới hạn của đềtài cũng chỉ giới thiệu tóm tắt một số đặc điểm, tính năng của 3 loại hóachất này và gọi tên chung là chất độc hoá học:
+ Chất trắng: là dung dịch màu nâu đen, hòa tan trong nước, khônghòa tan trong dầu, dầu Diesel hoặc dung môi hữu cơ Đây là hỗn hợp 1: 4của 2 chất Pichloram và 2,4 D ( 2,4 Dichloro phenoxy acetic acid ) Khi rảikhông pha loãng, với lượng 28,06 lít/ha Chất này có tác dụng thấm vào tếbào lá và làm rụng lá cây
+ Chất xanh là một dung dịch màu vàng nhạt, hòa tan trong nước,không hòa tan trong dung môi hữu cơ, dầu và dầu Diesel Đây là hỗn hợpcủa acid cacodylic và natricocadylat Khi rải không pha loãng, với lượng28,06 lít/ ha Chất xanh tác động lên cây làm rút nước của lá gây héo khô lá
cây Khi thấm qua màng tế bào vào cây, nó hoà tan trong nước và có thểthấm xuông tận rễ làm cho cây chết Do vậy chất xanh được sử dụng đểkhai quang rừng già vừa phá hoại màu màng, nhất là lúa
+ Chất da cam là dung dịch màu hồng nâu, hòa tan trong dầu, dầuDiesel và các dung môi hữu cơ, không hòa tan trong nước Đây là hỗn hợp50: 50 của hai chất n-butyl este 2,4 D và 2,4,5 T (2,4,5 Trichloro phenoxy
Trang 8acetic acid ) Khi rải không pha loãng, với lượng trung bình 28,06 lít/ha,trong đó chứa khoảng 107 mg Dioxin Chất da cam II tương tự như chất dacam, chỉ khác ở chổ thay thế n-butyl este 2,4,5 T bằng iso-octyl este 2,4,5
T Chất da cam dễ thấm qua màng tế bào làm rụng lá cây, do vậy nó được
sử dụng chủ yếu để khai quang rừng già và phá hoại mùa màng
2.1.3 Số lượng hoá chất, phương tiện phun rải, cách thức và thời
điểm sử dụng các chất diệt cỏ và làm rụng lá cây
2.1.3.1 Số lượng hóa chất: Theo số liệu thống kê của Lê Cao Đài [4]
thì tổng cộng chất diệt cỏ và làm rụng lá cây quân đội Mỹ sử dụng trongchiến tranh Việt nam là 72.354.000 lít, trong đó có 44.338.000 lít chất dacam; 19.835.000 lít chất trắng và 8.182 chất xanh, trên diện tích là 1,7 triệuha.Tuy nhiên, theo tính toán của Viện điều tra quy hoạch rừng thì tổng diệntích rừng bị rải là 3,1 triệu ha, trong đó rừng nội địa bị rải là 2,95 triệu ha,còn lại 150.000 ha là diện tích rừng ngập mặn Riêng trên địa bàn tỉnh Kontum, vùng bị rải chủ yếu ở 2 huyện Sa thầy và Ngọc hồi, các tài liệu chobiết quân đội Mỹ đã tiến hành 374 phi vụ rải 954.459 gallons tức khoảng4,3 triệu lít hoá chất gồm chất da cam, chất trắng và chất xanh trên diện tích129.000 ha Trên bản đồ các băng phun rải cho thấy VQG Chư Mom Reihiện nay nằm trong vùng bị ảnh hưởng nặng nề, tức là thuộc lưu vực sông
Sê san, trên một dải kéo dài từ khu vực ngã ba biên giới Việt nam- Campuchia, xuống tận phía nam, qua phía đông bắc huyện Sa thầy
Lào-2.1.3.2 Phương tiện phun rải: Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà quân đội
Mỹ sử dụng những loại phương tiện phun rải khác nhau cho phù hợp như
máy bay có cánh cố định, máy bay trực thăng, máy phun trên xe cơ giới,máy phun cầm tay Đối với các khu vực rộng lớn (tối thiểu dài 5000m, rộng
1000 m) cần mở hành lang hoặc khai quang rừng rậm thì phương tiện được
sử dụng chính là máy bay có cánh cố định loại C-123 có gắn hệ thống rảiloại Honglass MC1 Hệ thống này có thể rải 240 gallons/ phút, khi máy
Trang 9bay ở độ cao 150 foots ( khoảng 50 m), với tốc độ bay là 130 dặm/ giờ(khoảng 210 km/ h) có thể tạo ra một vệt rộng 260 ± 20 foots (khoảng 80m)
và trong thời gian rải khoảng 3,5 - 4 phút vừa đủ để rải 950 gallons hoá
chất trên một vệt dài khoảng 8,7 dặm ( khoảng 14 km)
2.1.3.3 Cách thức sử dụng hóa chất: Do tính năng tác dụng của từng
loại hoá chất khác nhau, tính mẫn cảm của từng loài cây rừng đối với cáchoá chất cũng khác nhau, điều kiện thời tiết khí hậu biến đổi theo từngvùng, từng thời điểm, yêu cầu và mục đích phun rải trên từng đối tượng cókhác nhau cho nên quân đội Mỹ phải nghiên cứu lựa chọn cách thức sửdụng loại hoá chất, nồng độ, số lần phun rải và thời điểm phun rải hết sứccẩn thận, chính xác, để có thể đạt mức độ phá hủy mạnh nhất Đối với rừng
gỗ và tre nứa, theo tài liệu của các nhà khoa học cho biết: do chất da cam vàchất trắng có tác dụng làm rụng lá cây mạnh hơn là làm chết cây, cho nên
để làm chết cây hoàn toàn cần phải kết hợp sử dụng chất xanh; mặt khácnếu chỉ phun rải 1 lần thì số cây chết chỉ chiếm khoảng 10% số cây rừng,nếu phun rải 2 lần thì số cây chết chiếm khoảng 25% số cây rừng, chủ yếu
là các cây ở tầng nhô và tầng sinh thái, nhưng nếu phun rải từ 3 lần trở lênthì số cây chết lên đến 70%-90% số cây rừng Do vậy, để đạt mức độ hủyhoại cao nhất, khi điều kiện có thể, quân đội Mỹ sử dụng cả 3 loại hóa chất
là chất cam, chất trắng và chất xanh để phun rải và phun rải 2 đến 3 lần rảitrở lên theo trình tự quy định:
+ Lần thứ nhất: Dùng chất da cam hay chất trắng để làm rụng lá cây
+ Lần thứ hai : Vẫn dùng 2 loại chất da cam và chất trắng để tiếp tụclàm rụng trụi lá, trụi cành trên thân cây
+ Lần thứ ba: Dùng chất xanh để thuốc thấm đến rễ, làm cho câychết hoàn toàn
Thời gian từ lần 2 cách lần 1 là khi thấy lá rụng, lần 3 cách lần 2 làkhi thấy đã có kết quả đối với thân và cành cây Ngoài ra, để hủy diệt hoàn
Trang 10toàn thảm thực vật rừng, sau khi cây rừng đã chết khô, quân đội Mỹ còndùng hóa chất gây cháy như bom napan, bom xăng để đốt cháy thân lá cây
gỗ, biến một khu vực rừng rậm rạp thành nơi trống địa
2.1.3.4 Thời điểm phun rải hóa chất: Theo tài liệu huấn luyện của
quân đội Mỹ thì thời gian tốt nhất để diệt cây là vào thời kỳ sinh trưởng củacây, khoảng 3 đến 4 tuần lễ sau khi mọc lá non Mùa phun rải tốt nhất làvào mùa mưa tức là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, sang đến mùa khô cây đã
chết thì có thể dùng bom napan để đốt trụi Trong ngày, thời điểm phunthuốc tốt nhất vào sáng sớm, tốt nhất là phun xong trước 8 giờ sáng, trờikhông mưa, nhiệt độ không khí thấp làm hóa chất ít bị bay hơi, tốc độ giókhông quá 8 dặm/ giờ, hoá chất sẽ ít bị phân tán theo chiều gió Tuy nhiên
đôi khi cũng có thể rải vào lúc trưa, chiều và những đêm trăng sáng
Thảo luận: Qua những tài liệu đã được trích lược trên đây cho thấyrằng: Cuộc chiến tranh hóa học này nằm trong một chủ trương chiến lược
về Chiến tranh Việt nam của Chính phủ Mỹ, được sự đồng tình ủng hộ củaChính quyền Sài gòn cho nên quân đội Mỹ đã nghiên cứu, triển khai thựchiện rất triệt để với quy mô lớn trong thời gian dài, bất chấp sự phản đốimạnh mẽ của các nhà khoa học có lương tri trên thế giới và ngay cả các nhàkhoa học Mỹ thời bấy giờ Chính vì vậy, mức độ tàn phá của nó rất tànkhốc, hậu quả của nó để lại cho con người và môi trường thiên nhiên Việtnam rất to lớn và lâu dài, trong đó thảm thực vật rừng nội địa và rừng ngậpmặn là những đối tượng bị hủy hoại nặng nề nhất, gây nên thảm họa sinhthái khôn lường Đúng như nhận định của Hoàng Hòe (1983)[31]: “Việc sửdụng chất diệt cỏ và rụng lá cây đã đựợc nghiên cứu kỹ trên cơ sở đặc điểmsinh thái của rừng nhiệt đới nhằm hủy diệt tận gốc tài nguyên và môi trườngViệt nam”
Trang 112.2 Lược sử nghiên cứu về cấu trúc rừng, tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới và các biện pháp xử lý lâm sinh cho rừng thứ sinh nghèo.
2.2.1 Trên thế giới.
2.2.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới.
Từ những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà khoa học đã quan tâmnghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên cả 2 phương diện: cấu trúc sinhthái và cấu trúc hình thái Về phương pháp nghiên cứu có 2 hướng : Nghiêncứu định tính, mô tả và nghiên cứu định lượng trên cở sở ứng dụng toánthống kê và tin học Mục tiêu của các nghiên cứu này đều cố gắng tìm racấu trúc mẫu để ứng dụng xây dựng những khu rừng có thể mang lại hiệuquả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường, có tính ổn định cao Nhữngcông trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu có thể kể đến là:
- Nghiên cứu về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng: Đại diện là
Baur.G.N.(1964) nghiên cứu về cơ sở sinh thái của kinh doanh rừng mưa;
Odum.F.P nghiên cứu về cơ sở sinh thái học; Richard.P.W (1952) nghiêncứu cấu trúc tổ thành rừng mưa nhiệt đới và phân biệt thành 2 loại: Rừngmưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản và rừng mưa hỗn hợp có tổ thànhloài cây phức tạp Tuy những nghiên cứu này còn định tính, nặng về mô tả
nhưng rất có giá trị , đã đặt nền móng cho những nghiên cứu sau này
- Nghiên cứu về hình thái cấu trúc rừng:
+ Đại diện cho những nhà khoa học nghiên cứu hình thái cấu trúcrừng theo hướng định tính là Richard.P.W.(1939); Catinot(1965);
Rollet(1971); Plaudy.J.(1987) Các tác giả này đã biểu diễn hình thái cấutrúc rừng trong không gian bằng các phẫu đồ ngang và đứng Các phẫu đồnày đã đưa ra những hình ảnh khái quát về phân bố cây rừng trên mặt đất vàcấu trúc tầng thứ, phân bố số cây theo chiều thẳng đứng nhằm giúp các nhàlâm học có những nhận xét và đề xuất các biện pháp ứng dụng thực tế Vềcấu trúc tầng thứ, Richard.P.W.(1939) đã phân rừng ở Nigeria thành 5 tầng
Trang 12và phương pháp vẽ biểu đồ ngang và dọc của ông đã được các nhà khoa họcsau này áp dụng và có sự cải tiến để mô tả hình thái cấu trúc rừng.
+ Các nhà khoa học nghiên cứu hình thái cấu trúc rừng theo hướng
định lượng thì biễu diễn hình thái cấu trúc lâm phần bằng cách sử dụng cáchàm toán học mô tả các quy luật kết cấu lâm phần và quy luật tương quancủa các nhân tố cấu thành lâm phần
Trong những quy luật kết cấu lâm phần thì quy luật phân bố số câytheo đường kính (N-D) và quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H) lànhững quy luật kết cấu cơ bản được quan tâm nhiều nhất Để mô tả quy luậtphân bố N-D, Mayer(1934) đã dùng hàm phân bố giảm liên tục;
Balley(1931) sử dụng hàm Weibull; Shiffel(1934) đã tính cộng dồn phầntrăm số cây; Prôdan.M và Patascase(1964), Bill và Kem.K.A biễu diễnbằng phương trình logarit; DiatchencoZ.N sử dụng phân bố Gamma biểuthị phân bố số cây theo đường kính lâm phần thông ôn đới ; Loesch dùnghàm Beta để nắn phân bố thực nghiệm Đối với quy luật phân bố N-H nhiềutác giả cũng đã dùng các hàm toán học để mô tả
Trong những quy luật tương quan giữa các nhân tố cấu trúc, các tácgiả quan tâm nhiều nhất tương quan giữa chiều cao với đường kính 1,3m(H-D1.3); tương quan giữa đường kính tán với đường kính 1,3 (Dtán-D1,3);
tương quan giữa các đại lượng tính toán thể tích và thể tích với các đạilượng tổ thành nó như D1,3, H , F Đối với tương quan H-D nhiều tác giả đã
dùng phương pháp giải thích toán học để tìm phương trình tương quan thíchhợp, tiêu biểu là các tác giả Naslund( 1929), KrenK ( 1946), Mayer ( 1952)
2.2.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới: Nghiên cứu về tái sinh
rừng đã được tiến hành từ hàng trăm năm trước, tuy nhiên nghiên cứu về táisinh rừng nhiệt đới thì chỉ bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX Cáccông trình nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới đã tập trung vào việc khámphá các đặc điểm và quy luật tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới, sự ảnh hưởng
Trang 13cúa các nhân tố sinh thái đến tái sinh rừng làm cơ sở để sản xuất các biệnpháp xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng nhiệt đới, Van Steenis J
(1956) đã nêu lên hai đặc điểm tái sinh phổ biến đó là tái sinh phân tán, liêntục dưới tán rừng của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài câytiên phong ưa sáng, mọc nhanh để hàn gắn những lỗ trống trong tán rừng donhững cây già tự đổ hoặc do cây bị gió bão làm đổ gãy trong một thời gian,sau đó bị những cây con tái sinh của những loài cây sống ở tầng trên thuộcxã hợp cũ vượt lên và thay thế Ngoài ra khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ởchâu Phi, Obrevin.A (1938) đã đưa ra lý luận bức khảm tái sinh hay còngọi là lý luận tuần hoàn tái sinh, theo đó thì thành phần ưu hợp trong rừngmưa hỗn hợp nhiều loài đều không cố định trong không gian và thời gian vàkhông có loài nào đạt thế cân bằng sinh thái với hoàn cảnh một cách vĩnhviễn và ổn định Tại một địa điểm và trong một thời gian nhất định, xã hợpcủa các loài ưu thế sẽ được thay thế không phải bằng một xã hợp có thànhphần nguyên như thế mà bằng một xã hợp khác Theo tác giả thì hiện tượngnày là kết quả thuần tuý ngẫu nhiên không thể phán đoán được vì còn phụthuộc vào quá nhiều nguyên nhân phức tạp nhưng cũng cho đó là một hiệntượng tuần hoàn, nói lên tính quy luật của nó Đáng chú ý là những kết quả
quan sát của Davis.T.A.W và Richards.P.W (1933); Beard (1946); Schuntz(1960); Rollet(1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại cho thấy tất cả nhữngloài cây có nhiều trong cấp thể tích lớn thì đồng thời cũng có nhiều trongcấp thể tích nhỏ, tuy độ nhiều tương đối của các loài cây có trong cấp thểtích nhỏ có khá so với các tầng cao hơn Như vậy ở đây xuất hiện hiệntượng tái sinh tại chổ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả
năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài
Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừngnhiệt đới cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm, đáng chú ý là các công
Trang 14trình nghiên cứu của: G.Baur (1962), trong đó đã chỉ ra rằng: sự thiếu hụt
ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến sinh trưởng và phát triển của cây con;
Ghent A.W.(1969) lại cho rằng thảm mục, chế độ thuỷ nhiệt và tầng đấtmặt đều có quan hệ với tái sinh rừng ở mức độ khác nhau; Andel.S (1981)khi nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc quần thụ đến tái sinh đã chứng minh
độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình thường của cây gỗ là 0,6-0,7 Độ khéptán của quần thụ có quan hệ với mật độ và sức sống của cây con; Nghiêncứu của Bannikov (1967) và Vipper ( 1973) cho thấy rằng cỏ và cây bụi,qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng củatầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây tái sinh của các loài cây gỗ đặc biệt
là ở những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiệnphát sinh mạnh mẽ, là nhân tố gây trở ngại rất lớn đến tái sinh rừng
2.2.1.3 Nghiên cứu về các biện pháp xử lý lâm sinh cho rừng thứ sinh nghèo Có nhiều nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử lý lâm sinh cho
rừng thứ sinh nghèo kiệt như : Kỹ thuật làm giàu bằng phương pháp trồngcây theo rạch do Aubreville ( 1937) đề xuất áp dụng ở Châu Phi; Nghiêncứu cơ sở sinh thái học của các biện pháp xử lý rừng mưa của George Baur(1962); Phương pháp trồng theo rạch cải tiến của Catinot (1965); Phươngpháp trồng theo đám nhỏ trên rạch của Anderson; Phương pháp Caimital doFinot ( 1969) đề xuất làm giàu rừng bằng cách mở rạch bằng cơ giới ( máyủi) đề xuất tái sinh tự nhiên hoặc kỹ thuật cải tạo rừng theo phương pháplimba được áp dụng ở Công gô Brazaville; Phương pháp Okoume ở Gabon;
Phương pháp Taungya ở Myanmar; Phương pháp Sylvo bananer ở Zaie
2.2.2 ở Việt nam:
2.2.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng :
Nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt nam được bắt đầu từ giữa nhữngnăm 1970 của thế kỷ XX Tuy ra đời muộn hơn so với các nước khácnhưng hầu hết các nhà khoa học Việt nam đều tập trung nghiên cứu cấu
Trang 15trúc rừng theo phương pháp định lượng, rất ít công trình nghiên cứu theophương pháp định tính Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về cấu trúcrừng là của Đồng Sỹ Hiền ( 1974 ) đã dùng họ đường cong Pearson để biểudiễn phân bố N-D ở rừng tự nhiên; Nguyễn Hải Tuất ( 1975, 1982, 1990) đã
ứng dụng phân bố khoảng cách và quá trình Poisson để nghiên cứu cấu trúcquần thể rừng; Trương Hồ Tố ( 1985) dùng họ đường cong Pearson nghiêncứu cấu trúc rừng thông; Nguyễn Ngọc Lung ( 1987) xây dựng cấu trúc mật
độ bằng hàm hồi quy; Nguyễn Văn Trương ( 1973-1986 ) đưa ra phươngpháp thống kê cây đứng mô tả quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loại; Trần VănCon ( 1991 ) ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu đặc trưng cấu trúc và
động thái của hệ sinh thái rừng khộp -Tây nguyên; Lê Minh Trung ( 1991)nghiên cứu cấu trúc rừng phục vụ công tác nuôi dưỡng; Bảo Huy (1993)nghiên cứu cấu trúc rừng nữa rụng lá và rụng lá ưu thế bằng lăng ở Tâynguyên; Lê Sáu ( 1996 ), Đào Công Khanh (1996) nghiên cứu cấu trúc rừnglá rộng thường xanh Kết quả của những nghiên cứu trên là đã lựa chọn cáchàm toán học phù hợp nhất để mô phỏng quy luật cấu trúc rừng như : phân
bố số cây theo cấp đường kính (N/D) mô phỏng bằng hàm khoảng cách,hàm Weibull…, phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H) có dạng một
đỉnh, nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull,tương quan giữa đường kính và chiều cao( D/H) biểu diễn bằng các phươngtrình đường thẳng, phương trình logarit, hàm mũ…, từ đó đề xuất xây dựngmô hình cấu trúc mẫu làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp lâm sinhphù hợp với từng đối tượng rừng và mục tiêu kinh doanh cụ thể
Về mô tả cấu trúc tầng thứ của rừng theo theo phương pháp định tínhThái Văn Trừng ( 1978 ) đã phân chia rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt
đới ở Việt nam thành 5 tầng khác nhau và biểu diễn chúng bằng các phẫu
đồ ngang và thẳng đứng theo phương pháp của Richard P.W đã được cảitiến cho phù hợp
Trang 162.2.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng: ở Việt nam nghiên cứu về tái
sinh rừng bắt đầu từ những năm 1960 của thế kỷ XX Một số tác giả cónhững công trình nổi bật phải kể đến là: Thái Văn Trừng( 1963,1978,1998 )khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt nam đã khẳng định: Trong quá
trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp tự nhiên nguyên sinh hay thứ sinh, có
2 cách tái sinh : thứ nhất là cách tái sinh liên tục dưới tán kín rậm, củanhững loại cây chịu bóng, sự tái sinh này thường thưa thớt và yếu ớt vì thiếu
ánh sáng, thứ hai là cách tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống trongtán rừng do cây già đổ rụi hay gió bão làm đổ gãy của những cây tiênphong ưa sáng mọc nhanh mà tác giả phân biệt thành 2 loại là: cây tiênphong tạm thời có tuổi thọ ngắn tự tiêu vong “sau khi hoàn thành nhiệmvụ” hoặc sẽ bị tiêu diệt bởi tán kín rậm của các loài cây định vị mọc sau vàcây tiên phong định cư có tuổi thọ dài, có thể tồn tại trong thành phần củacác xã hợp đã tái sinh tự nhiên Trong nhóm nhân tố sinh thái khí hậu - thuỷvăn thì ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình táisinh tự nhiên của các xã hợp trong thảm thực vật rừng; Vũ Đình Huề (1975)khi nghiên cứu tái sinh rừng miền Bắc Việt nam đã rút ra kết luận là tái sinhrừng miền Bắc Việt nam có đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới và nhậnthấy trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ,
ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm kém giá trị, hiện tượng tái sinhtheo đám tạo phân bố số cây không đều trên mặt đất Từ kết quả nghiêncứu, tác giả đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng chocác đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc Việt nam; Phùng Ngọc Lan (1984)[13] khi nghiên cứu về bảo đảm tái sinh trong khai thác rừng cho biết : Docây mạ có tính chịu bóng cho nên một số lượng lớn cây tái sinh phân bốchủ yếu ở cấp chiều cao thấp, trừ một số loài cây ưa sáng cực đoan, tổ thànhloài tái sinh dưới tán rừng ít nhiều gần giống tổ thành tầng cây cao của quầnthể Đồng thời tác giả cũng nêu rõ khai thác có ảnh hưởng rất quyết định
Trang 17đến tái sinh rừng và đề xuất biện pháp kỷ thuật đảm bảo tái sinh rừng phục
vụ cho các luân kỳ khai thác tiếp theo; Nguyễn Ngọc Lung, Đỗ Đình Sâm[18] khi nghiên cứu những cơ sở để xây dựng quy phạm khai thác gỗ, đềcập đến vấn đề tái sinh rừng đã nêu:“ Quy luật thay đổi và phân hoá của câytái sinh rất mạnh Trong điều chế và khai thác rừng cho phép lấy tái sinh tựnhiên, con người chỉ hỗ trợ hoặc làm lấy khi nào khả năng tái sinh tự nhiênkém hoặc cần đưa những loài cây mới vào” Nguyễn Hồng Quân (1984)khi nghiên cứu kết hợp chặc chẽ khai thác với tái sinh nuôi dưỡng rừng đã
chỉ rõ, để đáp ứng yêu cầu khai thác bảo đảm tái sinh và nuôi dưỡng rừng,
đối với rừng không đồng tuổi cần thực hiện cả 4 nội dung chủ yếu là: Thuhoạch cây thành thục, chặt tái sinh, chặt nuôi dưỡng và chuẩn hoá cấu trúcrừng về trạng thái mong muốn, từ đó đưa ra biện pháp khắc phục tình trạngkhai thác hiện thời (chỉ nặng về thu hoạch cây thành thục) để khai thác đảmbảo tái sinh và nuôi dưỡng rừng; Vũ Tiến Hinh (1991) khi nghiên cứu đặc
điểm tái sinh của rừng tự nhiên với đối tượng rừng Sau sau phục hồi và rừng
tự nhiên thứ sinh hỗn giao đã nhận thấy: nhìn chung toàn lâm phần tự nhiêncây rừng tái sinh liên tục và càng ở tuổi nhỏ số cây càng tăng, đồng thờicòn cho biết hệ số tổ thành tính theo phần trăm (%) số cây của tầng cây táisinh và tầng cây cao có sự liên hệ chặc chẽ và chúng có quan hệ theo dạng
đường thẳng với hệ số tương quan từ 0,9 trở lên Từ đó tác giả đã rút ranhận xét là lâm phần rừng tự nhiên thứ sinh nói chung và mỗi loài cây nóiriêng đều có đặc điểm tái sinh liên tục và càng về giai đoạn sau số cây càngtăng Vận dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tế sản xuất kinh doanh và
điều tra rừng, tác giả đã đề xuất các loại biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên
và đề nghị trong điều tra rừng do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinhnên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao
để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh Nguyễn Duy Chuyên (1985)nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh
Trang 18hỗn loại vùng Quỳ châu, Nghệ an đã rút ra kết luận là trong toàn lâm phầnphân bố lý thuyết của cây tái sinh tự nhiên ở rừng trung bình (III A2) cây táisinh tự nhiên có phân bố Poisson, các loại rừng khác cây tái sinh có phân
bố cụm
2.2.2.3 Nghiên cứu các biện pháp xử lý lâm sinh cho rừng thứ sinh nghèo Trong thời kỳ Pháp thuộc, đáng chú ý có thử nghiệm phục hồi rừng
bằng phương pháp trồng rừng trên đất chặt trắng có đốt chà nhánh ở Trảngbom của Maurand (1935) Vào những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX,Tổng cục lâm nghiệp đã ban hành “ Quy trình kỷ thuật tu bổ rừng” và đã
được áp dụng rộng rãi trong thời gian dài Tuy nhiên, quy trình kỷ thuật này
có nhược điểm về kỷ thuật xử lý tầng cây bụi, thảm tươi và thời gian đầu tư
dài nên sau này bị bãi bõ Cũng vào thời kỳ này kỷ thuật cải tạo lâm phần
đã được hình thành, hoàn thiện và được đưa vào áp dụng cho đến gần cuốinhững năm 1990 Cùng với tu bổ và cải tạo rừng, ý tưởng “khoanh núi nuôirừng” cũng đã xuất hiện, từng bước được hoàn thiện và được áp dụng phổbiến cho đến ngày nay thông qua “Kỷ thuật phục hồi rừng bằng khoanhnuôi” do Bộ lâm nghiệp cũ ban hành ( QPN- 14-92) và “Kỷ thuật phục hồirừng bằng khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung” do BộNông nghiệp &PTNT ban hành (QP-21-98) Đồng thời trong quy phạm 14-
92 của Bộ lâm nghiệp trước đây ban hành cũng đã quy định các giải pháp
kỷ thuật lâm sinh như nuôi dưỡng rừng, làm giàu rừng, xúc tiến tái sinh tựnhiên áp dụng cho rừng gỗ và tre nứa Trong các giải pháp kỹ thuật lâmsinh, giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng, lợi dụng tái sinh tự nhiên đã và
đang được các nhà khoa học và quản lý quan tâm đánh giá, xem xét về tínhhiệu quả của nó Theo đánh giá của Nguyễn Ngọc Lung và Lâm Phúc Cố(1994) [17] thì :“ Chỉ có bằng con đường khoanh nuôi phục hồi rừng, conngười mới lợi dụng được khả năng to lớn về tái sinh tự nhiên của rừng vàmới tạo được các khu rừng hỗn loài bền vững theo hướng cao đỉnh mà
Trang 19người ta gọi là rừng đại ngàn ba tầng điển hình của hệ sinh thái rừng nhiệt
đới Việt nam” Năm 2001, sau khi khảo sát các mô hình tái sinh phục hồirừng bền vững theo hướng lâm nghiệp xã hội ở 11 tỉnh trung du và miền núiphía Bắc, tổ chức JICA( Nhật bản) và Cục lâm nghiệp đã có báo cáo kếtluận, trong đó khẳng định là: phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là một trongnhững giải pháp lâm sinh không thể thiếu được trong xây dựng rừng nhiệt
đới Việt nam”[10] Tuy vậy cũng có những ý kiến chưa hoàn toàn nhất trí
về lựa chọn con đường tái sinh tự nhiên Theo Trần Ngũ Phương(2000)[21]
cho rằng: “ Đi theo con đường tái sinh tự nhiên, chúng ta không thể nào đưacông tác phát triển rừng vào quy hoạch Đi theo con đường tái sinh tự nhiên,phải tốn quá nhiều thời gian, ít nhất là gấp hai lần tái sinh nhân tạo” Từ đó
ông khẳng định: “ Chúng ta có thể kết luận ngay rằng, con đường tái sinh tựnhiên, không thể là con đường của chúng ta”
Thảo luận Từ lược sử quá trình nghiên cứu về cấu trúc rừng, tái sinhrừng và các biện pháp xử lý lâm sinh áp dụng cho rừng thứ sinh nghèo củacác nhà khoa học trên thế giới và ở Việt nam được trình bày trên đây chothấy công việc nghiên cứu về rừng tự nhiên nhiệt đới được tiến hành tương
đối lâu dài, đối tượng và nội dung nghiên cứu phong phú, đa dạng vàphương pháp nghiên cứu ngày càng hoàn thiện, chính xác, hiện đại, có giá
trị thực tiễn cao Việc lựa chọn con đường tái sinh tự nhiên hay nhân tạo,không thể áp đặt mà tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội
cụ thể, tuỳ trình độ khoa học công nghệ và mục đích kinh doanh lợi dụngrừng trong từng giai đoạn nhất định để lựa chọn giải pháp kỷ thuật lâm sinhhợp lý vì “kỷ thuật lâm sinh không thể bắt chước tự nhiên một cách thụ
động và cũng không thể làm trái với tự nhiên một cách tuỳ tiện”(PhạmXuân Hoàn)[10]
Trang 202.3 Lược sử nghiên cứu về rừng tự nhiên bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học và giải pháp phục hồi rừng.
Theo tài liệu của Võ Quý ( 1983) [31] cho biết: Ngay trong thời kỳcuộc chiến tranh hoá học đang diễn ra, mặc dù Bộ quốc phòng Mỹ đã tuyên
bố là các chất diệt cỏ ở Việt nam không gây tác hại về mặt sinh thái (J.S
Foster), nhưng nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu hậu quả của cuộc chiếntranh này đối với rừng, tài nguyên thiên nhiên, đất, mùa màng và môitrường Việt nam và đã có những ý kiến trái ngược nhau Đầu tiên vào năm
1967, Viện nghiên cứu Midwest của Mỹ đã cử nhà khoa học P.H.Tachirleysang Việt nam để điều tra ảnh hưởng của chất diệt cỏ về mặt sinh thái vàP.H.Tachirley đã cho rằng việc Mỹ sử dụng chất diệt cỏ đã gây ảnh hưởngnghiêm trọng đối với hệ thực vật ở Việt nam ( Science,1969) Nhận địnhnày cũng đã được hai nhà khoa học khác là E.W.Pfeiffer và G.H.Orian xácnhận ( Science,1970).Tiếp theo, nhiều nhà khoa học khác cũng đã đến Việtnam để nghiên cứu vấn đề này và đã thống nhất rằng đây là một cuộc chiếntranh có tính chất huỷ diệt sinh thái Tuy nhiên vì không có điều kiệnnghiên cứu nhiều ở hiện trường hoặc chưa hiểu rõ điều kiện của thiên nhiênViệt nam, hoặc không đủ điều kiện để theo dõi lâu dài nên cũng còn một số
ý kiến chưa chính xác hoặc chưa đánh giá được một cách thật đúng đắn vềmức độ nghiêm trọng của vấn đề
Sau ngày miền Nam được giải phóng, vào tháng 10 năm 1980, Hội
đồng Bộ trưởng( nay là Chính phủ) có quyết định thành lập Uỷ ban quốcgia Điều tra hậu quả chất hoá học dùng trong chiến tranh Việt nam ( gọi tắt
là Uỷ ban 10-80) Trong nhiều năm sau, Uỷ ban 10-80 đã chủ trì nhiềucông trình nghiên cứu khoa học, hợp tác với các nhà khoa học, các họcviện, viện nghiên cứu, các trường Đại học, bệnh viện trong cả nước và cácnhà khoa học nước ngoài như Mỹ, Pháp, Nhật bản, Canada Các kết quả
nghiên cứu này đã được trình bày tại 3 cuộc hội thảo khoa học, trong đó 2
Trang 21hội thảo quốc tế vào các năm 1983 và 1993, một hội thảo quốc gia vào năm
1986 Trong luận văn này chỉ tóm lược một số kết quả nghiên cứu chủ yếucủa các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày tại các hội thảo cóliên quan đến vấn đề ảnh hưởng của chiến tranh hoá học đối với rừng nội
địa ở Việt nam
Công trình nghiên cứu phải kể đến trước tiên là của nhà khoa họcWesting A.H trong tác phẩm “ Chất độc hoá học – hậu quả lâu dài cho conngười và sinh thái” (1984), trong đó tổng hợp khá đầy đủ về cuộc chiếntranh hoá học của Mỹ ở Miền nam Việt nam và những hậu quả của nó, cónhiều tư liệu có giá trị, được nhiều khà khoa học khác sử dụng làm căn cứcho các nghiên cứu sau này;
Nghiên cứu về ảnh hưởng của chất diệt cỏ, nhà khoa học Paul W
Richards (1983) [31] cho biết: thiệt hại do chất diệt cỏ đối với rừng nội địa
ở Việt nam khác với ảnh hưởng thông thường do khai thác gỗ và du canh về
2 mặt: trước hết là phạm vi rộng lớn của vùng bị ảnh hưởng, thứ hai nhân tốphá hoại chính lại là chất diệt cỏ, mặc dù còn bị phá hoại rộng lớn do hốbom và mảnh bom Do đó, vấn đề quan trọng là liệu những tác hại của cácchất diệt cỏ về cơ bản có khác với tác hại do các hình thức đảo lộn kháckhông, trong đó hầu hết những cây nổi bật đều bị chết hay thiệt hại nghiêmtrọng Đánh giá về khả năng phục hồi rừng tác giả cho rằng, trong một số
điều kiện, đặc biệt là về khí hậu có những mùa khô rất rõ như ở Miền namViệt nam diễn thế thường đưa đến sự thiết lập những dải rậm rạp vô dụngnhư cỏ tranh hay tre nứa Nếu những dải này bị đốt chúng có xu hướng ítnhiều không thay đổi, nhưng nếu chúng được bảo vệ chống những đảo lộnthì những cây gỗ có thể định cư tập đoàn để sau này rừng có thể tự thiết lập
Tuy nhiên tác giả cũng cho rằng những chất diệt cỏ được sử dụng rộng rãinhất là 2,4- D và 2,4,5 –T không tồn tại lâu dưới đất và chắc chắn là sau 10năm chúng sẽ không còn ảnh hưởng trực tiếp nghiêm trọng đối với thực vật;
Trang 22Nghiên cứu sự tái sinh rừng thường xanh nhiệt đới bị ảnh hưởngchiến tranh hoá học, tác giả Peter.S Ashton (1983) [31] cho biết: Thànhphần và cơ cấu của các loài cây đã thay đổi đáng kể ở các vùng bị rải hoá
chất Nhiều loài thực vật và động vật đã bị giảm đi rất nhiều về số lượnghoặc hoàn toàn mất hẳn Ví dụ như ở trong các khu rừng nhiệt đới hạ duhầu như tất cả các loài cây và cây con đều đã bị triệt hẳn Nói chung nhữngdiện tích ở rừng này hiện nay là tiêu biểu cho loại sa van, nơi có những câylá cứng mọc trội hơn ở lớp đất bề mặt Hiện tượng tái sinh tự nhiên của cây
gỗ và các loài cây nhỏ không diễn ra ở đây Theo tác giả thì hậu quả củaviệc sử dụng hoá chất và máy móc phá hoại rừng theo cách được gọi là “cày
La mã”, những vũ khí có hơi ép mạnh, Mỹ đã gây tai hại cho thiên nhiênViệt nam, phá hoại các nguồn tài nguyên rừng và các giá trị tiềm tàng củarừng trong nhiều năm còn vượt xa những tổn thất về kinh tế Giải pháp đểphục hồi cho sản xuất lâm nghiệp là thông qua trồng trọt;
Nghiên cứu vấn đề tự khôi phục rừng tại các vùng ở miền nam Việtnam chịu tác động huỷ diệt sinh thái, trên cơ sở phân tích các điều kiện địahình, khí hậu, thổ nhưỡng, mức độ xói mòn đất trong vùng bị rải chất độchoá học và mức độ thảm thực vật rừng bị phá huỷ, đối chiếu với sơ đồ kếtục trong các hệ sinh thái nhiệt đới ẩm và tương đối ẩm, các tác giả
V.Y.E.Solokov và YU.G.Puzachenko (1983) [31] đã đưa ra dự báo rằng:
trong tất cả các trường hợp, cần phải có đến vài trăm năm thì mới có thể có
được sự khôi phục hoàn toàn các giá trị về sinh thái của rừng mưa nhiệt đớivới các loài có nhiều vẻ khác nhau và khả năng tạo khí hậu của rừng đượcphục hồi Từ đó chúng ta có thể có lý mà nói tới các quy trình không thể
đảo ngược được của môi trường Có thể đạt được các tiềm năng kinh tếtrước kia của vùng lãnh thổ trong khoảng từ 40-100 năm tuỳ thuộc vào các
điều kiện để đạt được điều đó miễn là có những đầu tư lớn, cũng trong giai
đoạn này cường độ xói mòn có thể bị triệt tiêu về cơ bản
Trang 23Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nêutrên, các nhà khoa học Việt nam cũng đã có nhiều nghiên cứu trên thực địa
có giá trị Lê Trọng Cúc(1983)[31] đã nghiên cứu tác hại lâu dài của chiếntranh hoá học lên môi trường huyện A Lưới thuộc tỉnh Bình Trị Thiên ( nay
là tỉnh Thừa thiên-Huế) cho biết: Trước khi bị chiến tranh hoá học vùngthung lũng A lưới với chiều dài 30km, rộng từ 2-6 km được bao phủ bởimột thảm thực vật kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, giàu thành phầnloài, cấu trúc phức tạp, nhiều tầng, có tính ổn định cao Sau khi bị rải chất
độc hoá học vào năm 1965, đến thời điểm nghiên cứu năm 1982 thảm thựcvật rừng này đã bị thay thế bằng thảm thực vật cỏ cao và dày đặc, gồm cácloài họ lúa, sống lâu năm, thân cứng, lá sắc, có bộ rễ phát triển mạnh, thânngầm khoẻ, sống dai như Chít, Chè vè, Cỏ tranh, Lau…, cao đến 3-4m, dày
đặc không thể đi qua được Thỉnh thoảng trong thảm cỏ còn gặp một ít loàicây bụi như Sim, Mua Về tình hình tái sinh cây gỗ, tác giả cho biết: chưatìm thấy một mầm cây gỗ nào dưới thảm cỏ này, từ đó cho rằng các quầnxã cỏ này đã trở thành cao đỉnh và có lẽ vĩnh viễn rừng không bao giờ mọclại được;
Nghiên cứu hậu quả chiến tranh hoá học đối với rừng ở khu rừng Mã
Đà thuộc tỉnh Đồng nai, tác giả Hoàng Hoè (1983)[31] cũng cho kết quả
tương tự, đó là khoảng 5.000 ha rừng nhiệt đới giàu, có cấu trúc 5 tầng, tầngvượt tán và ưu thế sinh thái gồm nhiều loài cây họ Dầu, sau khi bị rải chất
độc hoá học nhiều lần đã trở thành trảng cỏ tranh và cỏ đuôi chồn rộng lớn,xen vào có một vài cây bụi kém giá trị Trong băng rải chỉ có một vài loài
có khả năng chịu được chất độc và có khả năng phục hồi nhanh như cây Kơ
nia ( Irvingia malayana), Cám ( Parinari anamense) Riêng những vùng
đất trũng hoặc ven khe suối có rừng tre gai mọc xen kẽ với cỏ tranh Đốivới những vùng xung quanh băng rải cấu trúc rừng cũng bị thay đổi, tầng
ưu thế sinh thái bị phá vỡ, không liên tục, số cây cụt ngọn và sâu bệnh
Trang 24chiếm đến 20-25% Đánh giá khả năng phục hồi tự nhiên của rừng, tác giả
cho biết khu rừng Mã đà chỉ còn khoảng 20% tổng diện tích khu rừng còn
có khả năng phục hồi tự nhiên, với số lượng cây tái sinh có trên 1000cây/ha phân bố nơi xa băng rải, nhưng cũng phải trải qua quá trình diễn thếhàng trăm năm mới khôi phục lại rừng như cũ Diện tích còn lại hầu như
mất khả năng phục hồi tự nhiên do tất cả những yếu tố thuận lợi của rừngnhiệt đới đã bị thay đổi, những khó khăn ngày càng nhiều và muốn phụchồi đối tượng này trở thành một khu rừng ổn định ở Mã đà nói riêng, ởMiền Nam Việt nam nói chung phải lấy biện pháp tái sinh nhân tạo vàtrồng lại rừng là chính;
Nghiên cứu phục hồi rừng nội địa sau chiến tranh hoá học ở miềnnam Việt nam của Nguyễn Quang Hà và Phùng Tửu Bôi ( 1985)[5], với kếtquả điều tra tái sinh ở một số vùng Sa thầy ( Kon tum), Mã đà ( Đồng nai),
A Lưới và Bạch mã ( Thừa thiên – Huế) đã nhận định rằng: quá trình táisinh tự nhiên diễn ra trên vùng bị rải chất độc không dễ dàng như một sốtác giả đã thực nghiệm trong phạm vi hẹp, đồng thời khuyến cáo: có khả
năng lợi dụng tái sinh tự nhiên để phục hồi rừng trong những khu vực cònhoàn cảnh rừng, có nguồn hạt giống nhưng đòi hỏi thời gian từ 80 đến 100năm và trồng rừng mới là con đường tích cực nhất để phục hồi lại rừng;
Nghiên cứu về ảnh hưởng của chất độc hoá học lên một số tính chấthoá học của đất trên nhiều vùng bị rải chất độc hoá học ở miền nam Việtnam, Hoàng Văn Huây và Nguyễn Xuân Cự (1983) [31] đã rút ra kết luận:
Do thảm thực vật bị chất độc hoá học phá huỷ, xói mòn bề mặt tăng, cácquá trình rửa trôi xảy ra mạnh mẽ làm cho hàm lượng chất hữu cơ, nitơ,phốt pho tổng số, can xi và magiê trao đổi giảm xuống, nhôm di động và độchua tiềm tàng tăng lên, làm cho độ phì nhiêu của đất phân bố ở địa hìnhkhông bằng phẳng, nhất là đất Feralit sản xuất nông lâm nghiệp nói chunggiảm
Trang 25Đề cập đến những giải pháp phục hồi các hệ sinh thái rừng nhiệt đớirừng rậm nhiệt đới ẩm sau khi bị ảnh hưởng bởi chất độc hoá học, Thái VănTrừng (1998) [24] đã đặt vấn đề: Làm thế nào để huỷ diệt hàng vạn ha trảng
cỏ tranh, cỏ Mỹ ổn định vĩnh viễn, tìm ra cây gì để làm cây tiên phong,trồng lại những cây gỗ lớn, gỗ quý đã tồn tại trong rừng cũ, với những biệnpháp kỹ thuật là gì? Đây là một bài toán rất khó và tất cả những ý kiến đềxuất đều là giả thuyết Tuy vậy, tác giả cũng nêu một số mô hình có triểnvọng như : Mô hình Mã đà dùng cây Keo lá tràm ( Acacia auriculiformis)
làm cây tiên phong để phục hồi môi trường đất và lấy củi cho dân vànguyên liệu làm giấy thực sự là một biện pháp rẻ tiền và hữu hiệu để tiêudiệt trảng cỏ tranh, cỏ Mỹ; Mô hình Bàu cạn trồng xen keo lá tràm với Sao,Dầu theo băng; Mô hình Tây ninh trồng cây Sao đen và Dầu rái với các câynông nghiệp theo mô hình nông lâm kết hợp…
Trên địa bàn tỉnh Kon tum, vào năm 1995, Sở khoa học-công nghệ vàmôi trường tỉnh Kon tum đã lập dự án Điều tra ảnh hưởng của chất độctrong chiến tranh tại tỉnh Kon tum, trong đó cũng đề cập đến hậu quả củachiến tranh hoá học đến tài nguyên rừng trên địa bàn hai huyện Sa thầy vàNgọc Hồi , tuy nhiên chỉ tiến hành trong phạm vi nhất định
Tại VQG Chư Mom Rei, trong quá trình xây dựng đánh giá các tiêuchí và tác động môi trường, trong khuôn khổ Dự án bảo vệ rừng và pháttriển nông thôn, đã tiến hành điều tra, nghiên cứu chuyên đề cấu trúc thảmthực vật, trong đó có đánh giá quá trình tác động của con người đối với hệsinh thái rừng của VQG trong thời trước và trong thời kỳ chiến tranh chống
Mỹ cứu nước, đáng chú ý có sự ảnh hưởng của chất độc hoá học
Thảo luận: Qua những nghiên cứu về rừng tự nhiên bị ảnh hưởng bởichiến tranh hoá học được lược trích trên đây cho thấy cuộc chiến tranh hoá
học này đã sớm được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước nhậnthức được hậu quả sinh thái nghiêm trọng của nó đối với tài nguyên và đời
Trang 26sống của con người Việt nam, đồng thời đã quan tâm nghiên cứu một cáchnghiêm túc Hầu hết những công trình nghiên cứu này đã khẳng định cuộcchiến tranh hoá học mà Mỹ đã tiến hành ở miền nam Việt nam là tội ácchống môi sinh lớn nhất trong lịch sử , chẳng những đã gây ra những hậuquả tức thời cho môi trường sinh thái và sức khoẻ con người Việt nam màcòn để lại hậu quả lâu dài hàng trăm năm khó có thể khắc phục được, nếukhông có sự đầu tư đầy đủ của con người Bên cạnh đó cũng có một số quan
điểm cho rằng: mặc dù chất độc hoá học có huỷ hoại tài nguyên rừng củaViệt nam là nghiêm trọng, nhưng các chất hoá học này sẽ nhanh chóng bịphân huỷ, việc phục hồi tự nhiên lại rừng sau chiến tranh hoá học chỉ cầnvài chục năm là có thể phục hồi lại được và sau hơn 40 năm chiến tranh hoá
học đi qua, người ta có thể tin rằng hệ sinh thái rừng nhiệt đới đã hoàn toànhồi phục mà không cần phải có sự can thiệp của con người Điều này cũng
dễ hiểu, bởi vì quan điểm, thái độ nhìn nhận vấn đề của các bên chưa hoàntoàn thống nhất, từ đó phương pháp tiếp cận, nghiên cứu vấn đề và đưa rakết luận khác nhau Đáng tiếc là trong nhiều năm qua, bởi nhiều lý do khácnhau, đề tài có tính nhạy cảm này chưa được nghiên cứu đánh giá một cáchliên tục và đầy đủ Tuy nhiên hiện trạng rừng trên thực tế là minh chứngkhách quan, thuyết phục nhất và hiện trạng rừng sau khi bị ảnh hưởng bởichiến tranh hoá học ở VQG Chư Mom Rei được nghiên cứu trong đề tài nàycũng là một minh chứng, hy vọng có thể góp phần tìm hiểu rõ hơn thực chấtcủa những dự đoán trên
Trang 27Chương 3.
Mục tiêu, giới hạn, nội dung và phương pháp nghiên cứu.
3.1.Mục tiêu:
- Đánh giá thực trạng rừng sau khi bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá
học, qua đó góp phần tìm hiểu ảnh hưởng của chiến tranh hoá học đối vớitài nguyên rừng tại VQG Chư Mom Rei
- Đánh giá khả năng tự phục hồi của rừng sau khi bị ảnh hưởng bởichiến tranh hóa học và đề xuất những giải pháp phục hồi rừng ở một sốvùng trọng điểm tại VQG Chư Mom Rei
3.2.Giới hạn đề tài nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thảm thực vật rừng bị ảnh hưởng bởi chiếntranh hoá học và rừng trên vùng điều tra đối chứng
- Địa điểm nghiên cứu: Khu vực rừng bị ảnh hưởng bởi chiến tranhhoá học và vùng điều tra đối chứng tại VQG Chư Mom Rei, tỉnh Kon tum
3.3 Nội dung nghiên cứu :
3.3.1 Xác định vị trí, diện tích, hiện trạng các loại rừng sau khi bị
ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học và lựa chọn vùng điều tra đối chứng trên bản đồ và thực địa.
3.3.2 Điều tra đánh giá một số đặc điểm về cấu trúc và tình hình tái sinh của rừng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học và rừng ở vùng
Trang 283.3.2.2 Điều tra đánh giá tình hình tái sinh tự nhiên.
+ Tổ thành loài cây tái sinh
+ Mật độ cây tái sinh
+ Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và cấp chất lượng + Phân bố cây tái sinh trên mặt đất
3.3.3 Đánh giá hiện trạng rừng sau khi bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học có so sánh với rừng trên vùng điều tra đối chứng và nhân
tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành các trạng thái rừng.
3.3.4 Đánh giá ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh hoá học đối với tài nguyên rừng.
3.3.5 Đề xuất các giải pháp phục hồi rừng trên một số vùng trọng
điểm bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.Quan điểm :
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vậtrừng, vi sinh vật rừng và đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đócây gỗ tre nứa là thành phần chính và giữa các thành phần đó có mối quan
hệ tác động lẫn nhau Mỗi quần thể thực vật rừng có đặc điểm hình thái cấutrúc đặc trưng được quy định bởi tổ hợp các nhân tố sinh thái nhất định
Rừng tự nhiên nước ta mang đầy đủ đặc điểm cơ bản của rừng nhiệt đới, cócấu trúc tổ thành loài cây đa dạng, phong phú, hình thái phức tạp, nhiềutầng tán rất khó phân biệt rõ ràng, tuy có tính ổn định cao với điều kiệnhoàn cảnh nhưng cũng rất nhạy cảm với những tác động tiêu cực từ bênngoài, dễ bị phá vỡ và rất khó phục hồi Khi thảm thực vật rừng bị phá huỷ,
sẽ làm toàn bộ quá trình trao đổi vật chất và năng lượng trong hệ sinh tháirừng bị đảo lộn, quá trình tái sinh và diễn thế rừng diễn ra theo nhữngchiều hướng phức tạp, rất khó hồi nguyên trạng thái ban đầu Rừng là một
hệ sinh thái, phục hồi rừng thực chất là phục hồi một hệ sinh thái hoàn
Trang 29chỉnh, trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thựcvật cây gỗ Sự hình thành nên thảm cây gỗ này sẽ tạo điều kiện cho sự xuấthiện các thành phần khác của rừng như tầng cây bụi, tầng cỏ quyết, khu hệ
động vật, vi sinh vật, tạo hoàn cảnh rừng và các quá trình trao đổi vật chất
và năng lượng diễn ra liên tục và ổn định
Rừng tự nhiên ở miền nam Việt nam bị ảnh hưởng bởi chiến tranhhoá học là đối tượng rừng bị con người phá hoại bằng một phương thức đặcbiệt, khác hẳn các phương thức tác động thường gặp khác.Trước chiếntranh, đây là một hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa được xem là mộttrong những hệ sinh thái rừng cực đỉnh ở miền nam Việt nam, trong đó kiểuthảm thực vật cực đỉnh là kiểu rừng kín rậm cây lá rộng, nửa thường xanh
ưu thế là các loài cây họ Sao Dầu (Thái Văn Trừng -1998)[24] Khi bị rảichất diệt cỏ làm rụng lá với số lượng và nồng độ cao, rải đi rải lại nhiều lầntrên diện rộng, đã làm rụng lá cây rừng, tán rừng bị phá vỡ, cây rừng bịchết, nguồn hạt giống khan hiếm, dẫn đến quá trình trao đổi vật chất vànăng lượng trong hệ sinh thái rừng cũng bị đảo lộn, khả năng tái sinh phụchồi rừng khó khăn Tuy nhiên, do có tổ thành loài cây rừng phức tạp, nhiềutầng tán, độ mẫn cảm của mỗi loài cây rừng với hoá chất khác khau, địahình phân bố rừng ( độ cao, độ dốc) khác nhau, bị rải với số lần nhiều hay
ít, các tác động hỗ trợ phá huỷ ( như đạn pháo, bom napan ) khác nhau chonên mức độ bị thiệt hại của rừng không hoàn toàn giống nhau Trên cùngmột khu vực rộng lớn bị ảnh hưởng, có một số nơi cây rừng còn sống sótnhiều ; có nơi cây rừng bị chết ít chỉ còn ít cây bụi; có nơi toàn bộ thảmthực vật bị phá trụi hoàn toàn ‘như hoang mạc trên mặt trăng’ Mặt khác,sau khi chiến tranh hoá học kết thúc, hệ sinh thái rừng ở từng nơi vẫn còntiếp tục bị tác động theo những chiều hướng khác nhau: tích cực và tiêu cựcvới mức độ tác động cao thấp khác nhau Chính những điều kiện trên đã
quyết định đến khả năng và tốc độ của quá trình phục hồi rừng trở lại như
Trang 30ban đầu Những nơi cây rừng sống sót nhiều, điều kiện hoàn cảnh rừng vànguồn hạt giống đảm bảo, hoặc bị rải hoá chất nhiều, cây rừng sống sót ítnhưng địa hình ít dốc, lân cận vùng không bị ảnh hưởng, có nguồn hạtgiống phong phú, được bảo vệ tốt sẽ có khả năng và tốc độ phục hồi rừng tựnhiên sẽ nhanh hơn những nơi bị rải hoá chất nhiều lần, thảm thực vật bịphá trụi trên diện rộng, nguồn hạt giống khan hiếm, độ dốc cao, thườngxuyên bị hạn hán và lửa rừng.
Vì vậy, khi phân tích đánh giá sự ảnh hưởng của chiến tranh hoá học
đối với tài nguyên rừng và khả năng phục hồi rừng sau khi bị ảnh hưởng bởichiến tranh hoá học, đề tài luôn nhận thức một cách toàn diện và thống nhấtcác quan điểm lịch sử, quan điểm địa lý, quan điểm sinh vật học và quan
điểm sinh thái học để giải quyết những vấn đề nội dung nghiên cứu nêu ra,
đề xuất những nhóm giải pháp phục hồi rừng trên một số vùng trọng điểm
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu:
3.4.2.1 Phương pháp kế thừa: Thu thập các tài liệu liên quan đến đề
tài như:
+ Điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế trong khu vực nghiên cứu
+ Các loại bản đồ như : Bản đồ địa hình hệ UTM tỷ lệ 1/50.000, Bản
đồ các băng rải chất khai quang của quân đội Mỹ, bản đồ chuyên đề thểhiện độ che phủ của rừng trước khi bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học,bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và sử dụng đất năm 2005 ở tỉnh Kon tum
3.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoài nghiệp: Sử dụng phương
pháp lập ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời Trên mỗi trạng thái rừng trong
Trang 31vùng nghiên cứu và vùng đối chứng lập 5 ô tiêu chuẩn điển hình tạm thờivới diện tích mỗi ô là 2500 m2 ( 50m x50m ) Trong mỗi ô tiêu chuẩn thuthập các chỉ tiêu sau:
-Đối với tầng cây gỗ:
+Xác định tên cây từng cá thể theo tên phổ thông và tên khoa học
Đối với những loài cây không biết tên lấy tiêu bản để giám định
+Đo đường kính ở vị trí 1.3m ( D1.3 ) cho tất cả các cây gỗ có đườngkính từ 8 cm trở lên ( rừng non là 6 cm trở lên), tức là những cây thuộc tầngA1,A2,A3 bằng thước kẹp kính, đơn vị đo là cm
+Đo chiều cao vút ngọn ( Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) các cây
đã đo đường kính, dùng cụ đo bằng thước đo cao, đơn vị đo là mét, lấy đến1/10 mét
+Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo 2 chiều Đông-Tây vàNam-Bắc sau đó lấy giá trị trung bình
+Xác định các tầng cây gỗ A1.A2,A3 như sau:
Cây tầng A1 là những cây có chiều cao vượt hẳn tán rừng
Cây tầng A2 là những cây có chiều cao bằng tán rừng
Cây tầng A3 là những cây có chiều cao đã tham gia vào tán rừngnhưng thấp hơn các cây ở tầng A2
Cấu trúc tầng thứ tầng cây gỗ được mô tả trong trắc đồ dọc của phẫu
đồ lát cắt của quần thể thực vật rừng trong ÔTC đại diện cho mỗi trạng thái
Trang 32- Đối với tầng cây bụi: Trong mỗi ô tiêu chuẩn điều tra 15 ô dạng bản Diện tích mỗi ÔDB là 4m2được bố trí trên tuyến song song cách đều của
ÔTC.Trong mỗi ÔDB cần xác định:
+ Xác định tên cây từng cá thể theo tên phổ thông và tên khoa học
Đối với những loài cây không biết tên lấy tiêu bản để giám định
+Mật độ cây bụi trên ÔDB
+ Đo chiều cao cây bình quân và cây cao nhất của loài bằng thướcmét, đơn vị đo là mét, lấy đến 1/10 m
+ Xác định độ che phủ của tầng cây bụi: là tỷ lệ phần trăm diện tích
đất rừng ở ODB được che phủ
+ Đánh giá tình trạng sinh trưởng của cây bụi: chia làm 3 cấp : tốt,trung bình và xấu
- Đối với tầng thảm tươi: Trong mỗi OTC điều tra tầng thảm tươi vẫn
ở trên 15 ODB đã điều tra tầng cây bụi Trong mỗi ÔDB điều tra các nhân
tố sau:
+ Xác định tên loài cây
+ Đo chiều cao từng cây
+ Xác định độ nhiều của tầng thảm tươi.độ nhiều của tầng thảm tươi
được đánh giá theo phân cấp của Drude như sau:
Soc: Cây phủ kín hoặc gần kín ÔDB Cây rất nhiều và các cá thể lồngvào nhau Độ che phủ lớn hơn hoặcbằng 90% mặt đất
Cop 3: Cây rất nhiều nhưng các cá thể không lồng nhau toàn bộ Độche phủ từ 60-90% mặt đất
Cop 2: Cây tương đối nhiều Độ che phủ từ 30-60% mặt đất
Cop 1: Cây hơi nhiều, độ che phủ từ 10-30% mặt đất
Sp: Cây mọc phân tán, số lượng không nhiều lắm Độ che phủ nhỏhơn 10% mặt đất
Sol: Thỉnh thoảng gặp vài cây
Trang 33- Đối với tầng cây tái sinh: Điều tra cây tái sinh tiến hành trên 30
ÔDB cho mỗi ÔTC với diện tích mỗi ÔDB là 4m2(2x2m) được bố trí trênnhững tuyến song song cách đều, các ÔDB được bố trí so le trên tuyến Câytái sinh được điều tra từ giai đoạn cây mạ đến giai đoạn cây tái sinh chưatham gia vào tầng A3.Trong ÔDB cần xác định các yếu tố sau:
+Tên loài cây phổ thông và tên khoa học Những cây chưa biết tên
được lấy tiêu bản để giám định
+ Xác định chiều cao cho từng cây tái sinh
+ Phân cấp chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: Tốt, trung bình và xấu
Kết quả điều tra cây tái sinh được ghi vào biểu thống kê tầng cây táisinh
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp.
3.4.3.1 Xác định vùng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học, vùng trọng điểm và vùng điều tra đối chứng.
-Vùng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoá học là vùng nằm trongcácbăng rải chất độc hoá họ Dùng phương pháp chồng ghép các bản đồ
đơn tính gồm: Bản đồ địa hình hệ UTM tỷ lệ 1/50.000, bản đồ hiện trạngrừng, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Kon tum hệ UTM tỷ lệ 1/50.000,Bản đồ các băng rải chất khai quang của quân đội Mỹ đã được phóng tỷ lệ1/50.000, Bản đồ ranh giới cắm mốc VQG Chư Mom Rei kết hợp với điềutra thực địa để xây dựng Bản đồ Vùng bị rải chất độc hoá học VQG Chư
Mom Rei Bản đồ này được số hoá đưa vào phần mềm máy vi tính, thể hiện
Trang 34rõ ranh giới và tính toán diện tích các trạng thái rừng trong vùng bị ảnhhưởng bởi CTHH.
+Vùng trọng điểm là vùng nằm trong vùng bị ảnh hưởng bởi CTHH,
bị phá huỷ nặng nề đến mức rừng không thể phục hồi nguyên trạng đượcbằng con đường tự nhiên, cần thiết phải có các biện pháp khôi phục rừng đểphục vụ các yêu cầu bảo tồn của VQG Chư Mom Rei
+Vùng điều tra đối chứng là vùng nằm ngoài các băng rải chất độchoá học, ít bị tác động sau chiến tranh, có các điều kiện tự nhiên, xã hộitương đối đồng nhất với khu vực nghiên cứu
- Phân loại hiện trạng rừng trên vùng bị ảnh hưởng bởi CTHH và trênvùng đối chứng Theo tài liệu kiểm kê rừng thì hiện trạng rừng trên vùng bị
ảnh hưởng bởi CTHH được phân chia dựa trên khung phân loại được quy
định tại quy phạm thiết kế kinh doanh rừng (QPN6-84) của Bộ lâm nghiệp
cũ, có xuất xứ từ hệ thống phân loại trạng thái rừng của M.Loeschau(1963), bao gồm các trạng thái: IIIB, IIIA3, IIIA2, IIIA1, IIA, IA, IB, Hỗngiao gỗ và tre nứa, rừng khộp và rừng tre nứa Mặc dù việc phân chia cáckiểu phụ rừng trong nhóm kiểu 3 gồm các trạng thái : IIIB, IIIA3, IIIA2,IIIA1 chưa thực sự phù hợp thực tế, nhưng kết quả phân loại này vẫn là tàiliệu cơ bản cho việc tiến hành các bước điều tra khảo sát trên thực địa Đểthuận tiện hơn trong việc mô tả các trạng thái rừng, đề tài sử dụng các thuậtngữ :
- Rừng giàu: tương ứng với trạng thái III B và IIIA3
- Rừng trung bình : tương ứng với trạng thái III A2
- Rừng nghèo : tương ứng với trạng thái IIIA1
- Rừng non : Tương ứng trạng thái II A
- Đất trống cây bụi : Tương ứng trạng thái IA và IB
- Các trạng thái rừng Hỗn giao gỗ và tre nứa, rừng tre nứa vẫn giữ
nguyên tên gọi
Trang 35Sau khi tiến hành điều tra đo đếm và tính toán các số liệu thu thập ởtừng trạng thái, đề tài sẽ đánh giá được sự phù hợp giữa cách phân loại cáctrạng thái nêu trên với thực tế và có đề xuất cụ thể.
3.43.2 Tính toán các chỉ tiêu điều tra cấu trúc và tái sinh rừng Sửdụng phương pháp thống kê trong lâm nghiệp để xử lý các số liệu trên máytính với sự trợ giúp của phần mềm Excel 7.0 và SPSS 11.0
- Đối với tầng cây gỗ lớn
+Tính tỷ lệ tổ thành tầng cây gỗ theo phương pháp xác định chỉ sốquan trọng IV% (Important Value) của Daniel Mamillod Công thức IV%
được tính như sau:
+ Mật độ cây gỗ lớn theo phương pháp nội suy, từ ô tiêu chuẩn suy
ra cho cả ha theo công thức sau:
10.000
S
Trong đó: N/ ha: là mật độ cây trên ha.
S : Diện tích ô tiêu chuẩn (m²).
n: Tổng số cây trong ÔTC.
Trang 36- Đối với tầng cây tái sinh + Tổ thành loài cây tái sinh được xác định theo tỷ lệ giữa số lượngcủa một loài có mặt trong ÔDB điều tra so với tổng số cây của các loàitrong ÔDB Tỷ lệ tổ thành của từng loài cây tái sinh trên mỗi trạng tháiđược tính theo công thức sau:
N i
N
Trong đó: N% : Tỷ lệ tổ thành loài thứ i tính theo phần 100.
N i: Số lượng cá thể loài thứ i trong ÔDB
N: Tổng số cá thể điều tra trong ÔDB.
Hệ số tổ thành của 1 loài cây tái sinh được tính theo công thức:
+ Mật độ tái sinh của một loài trong các ÔDB được tính bằng sốlượng cá thể của loài đó trên diện tích các ÔDB, từ đó suy ra mật độ cây táisinh của loài đó trên ha Tổng mật độ tái sinh của các loài chính là mật độcây tái sinh cho cả ha Mật độ tái sinh của 1 loài được tính theo công thức:
N i x 10.000
S ô
Trong đó: N i /ha: Mật độ của loài i trên ha
S ô: Diện tích ô tiêu chuẩn ( m²)
N i: Số lượng cá thể loài thứ iDựa vào mật độ của từng loài để tính mật độ tái sinh cho cả ha
N/ha = ∑ N i /ha. (3-7)+ Chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo 3 cấp: Tốt, trung bình
và xấu dựa vào hình thái và tình hình sinh trưởng của cây tái sinh
Trang 37+ Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao chia làm các cấp có khoảngcách giữa các cấp là 0,5m Cụ thể là dưới 0,5m; 0,5-0,99m; 1-1,49m; >1,5m Cây tái sinh có triển vọng là cây tái sinh có chiều cao vượt khỏi tầng câybụi, thảm tươi, do vậy từ chiều cao của tầng cây bụi thảm tươi có thể xác
định được những cây tái sinh triển vọng Qua điều tra thực tế cho thấy tầngcây bụi thảm tươi ở các trạng thái rừng không quá 1,5m, do vậy có thể xác
định cây tái sinh triển vọng là cây có chiều cao từ 1,5m trở lên
+Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang Đề tài nghiên cứuhình thái phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất dựa trên phương pháp xác
định xác định khoảng cách từ một cây tái sinh chọn ngẫu nhiên đến mộtcây gần nhất Sử dụng tiêu chuẩn U ( phân bố chuẩn) của Clark và Evans (Nguyễn Hải Tuất) để đánh giá với dung lượng quan sát đủ lớn, qua đó dựđoán cây tái sinh trên mặt đất rừng Công thức tính như sau:
(ri √ λ – 0,5) √ n
0,26136
Trong đó: r ilà giá trị bình quân của n lần quan sát khoảng cách gần nhất
λ là mật độ cây tính trên đơn vị diện tích ( m²)
n là số lần quan sát
Nếu: -1,96 <U < 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên
U > 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố đều
U < - 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố cụm.
Trang 38Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
4.1 Giới thiệu khái quát về VQG Chư Mom Rei.
VQG Chư Mom Rei nằm ở phía Tây của tỉnh Kon Tum trên địa phậnhuyện Sa Thầy và huyện Ngọc Hồi.Toạ độ địa lý: 14018’ - 14038’ vĩ độ Bắc,
107029’ - 107047’ kinh độ Đông Chư Mom Rei là một trong những khuvực có giá trị cao về đa dạng sinh học cho nên từ năm 1982 đã được Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có quyết định số 65/HTBT ngày7/5/1982 xác lập là một trong những khu rừng cấm với diện tích 10.000ha
Đến ngày 9/ 8/ 1986 khu rừng cấm này đã được xếp hạng là Khu bảo tồnthiên nhiên Mom Rei - Ngọc Wil theo quyết định số 194/CT với diện tích35.000 ha
Năm 1995 Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành khảo sát, lập Luậnchứng kinh tế kỹ thuật xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Rei vàchính thức được phê duyệt theo quyết định số 1894/QĐ-UB, ngày 9 /11/
1996 của UBND tỉnh Kon tum Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên ChưMom Rei chính thức được thành lập theo quyết định số 09 QĐ/UB ngày27/01/1996 của UBND tỉnh Kon tum, trực thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh vớidiện tích quản lý là 48.658 ha
Năm 2001 UBND tỉnh Kon tum ra quyết định 35/2001/QĐ-UB ngày10/8/2001, chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Rei trực thuộcUBND tỉnh Kon tum
Năm 2002 Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Rei chính thức đượcchuyển hạng thành Vườn Quốc gia Chư Mom Rei theo quyết định số103/QĐ-TTg ngày 30/7/ 2002 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích56.621 ha Đến năm 2005 diện tích VQG mở rộng lên 56.771 ha và đượcphân khu thành các phân khu chức năng sau:
Trang 39+ Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt : 40.556 ha+ Phân khu phục hồi sinh thái :12.137 ha+ Phân khu hành chính và dịch vụ Du lịch : 4.068 haVQG Chư Mom Ray có diện tích tương đối lớn, tới 56.771 ha vớihơn 10.000 ha rừng giàu và trung bình Do phân bố từ độ cao 200m tới1.773m, trên nhiều dạng địa hình khác nhau nên VQG có nhiều hệ sinh tháikhác nhau và là nơi có tính đa dạng sinh học cao.
+ Về thực vật: Đến năm 2005 đã thống kê được 1.494 loài thực vậtbậc cao có mạch thuộc 551 chi, 154 họ của 5 ngành thực vật ở VQG ChưMom Rei Trong số các loài đã thống kê, có 37 loài thực vật quý hiếm đượcghi trong sách đỏ Việt nam, trong đó có 9 loài cây gỗ đang bị đe dọa, cónguy cơ bị tiêu diệt như: Chò chỉ Trung quốc, Tuế lá xẻ, Kim giao lá nhỏ,Kim giao, Thông tre, Cẩm lai nam, Trầm hương, Gù hương, Dầu đọt tím
+ Về động vật: Chư Mom Ray là nơi bảo tồn các loài thú lớn và cácloài linh trưởng quý hiếm ở Việt Nam Qua điều tra khảo sát của cácchuyên gia đã ghi nhận được 448 loài động vật có xương sống ở VQG ChưMom Ray, trong đó, lớp Thú có 115 loài, Chim có 276 loài, Bò sát 44 loài
và Ếch nhái có 13 loài Yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật khá cao, có tới
8 loài động vật cỡ lớn đặc hữu cho Việt Nam Nhóm động vật quý hiếm ởVQG Chư Mom Ray cũng khá cao, tới 74 loài đã được ghi nhận, nhiều loài
có tầm quan trọng bảo tồn cả ở mức độ quốc gia và thế giới Trong số đónổi bật nhất là 3 loài Bò rừng và 3 loài Chà vá
Do ở vị trí ngã ba biên giới, VQG Chư Mom Ray có thể liên kết vớiVườn Quốc gia Virachay, Ratanikiri (Campuchia) và Đong Nậm Giôn(Lào) tạo thàmh một khu bảo tồn liên quốc gia rộng lớn ở Đông dương,nhằm mở rộng vùng sống và trao đổi nguồn gen giữa các quần thể độngthực vật trên một vùng rộng lớn chưa từng có ở Đông Nam á
Trang 40Năm 2004 với những giá trị cao về đa dạng sinh học và những cốgắng trong công tác bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia Chư Mom Rayđược Hiệp hội các nước Đông Nam á công nhận là Di sản Asian.
Tuy nhiên trong chiến tranh, Vườn quốc gia Chư Mom Rei là mộttrong những vùng bị phá hoại nặng nề bởi chiến tranh hoá học ở tỉnh Kontum Sau ngày giải phóng cho đến nay, một số nơi trong VQG tài nguyênrừng vẫn bị xâm hại, nhiều vấn đề khó khăn trong công tác bảo tồn vẫnchưa được giải quyết, trong đó có việc khôi phục hệ sinh thái rừng bị mất
4.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội vùng nghiên cứu:
4.2.1.Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu:
4.2.1.1 Vị trí : Khu vực nghiên cứu nằm trong phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt của VQG Trên cơ sở chồng ghép các loại bản đồ đơn tínhgồm: Bản đồ địa hình hệ UTM tỷ lệ 1/50.000, bản đồ hiện trạng rừng, bản
đồ quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Kon tum hệ UTM tỷ lệ 1/50.000, Bản đồ cácbăng rải chất khai quang của quân đội Mỹ đã được phóng tỷ lệ 1/50.000,Bản đồ ranh giới cắm mốc VQG Chư Mom Rei kết hợp với điều tra thực
địa, kết quả cho thấy khu vực bị rải chất độc hoá học nằm phần lớn ở phíabắc và phía tây VQG, trải dọc theo thung lũng Yaboc, lưu vực các suối
ĐăkHdrai, suối Yalon, suối Đăksal và vùng biên giới Việt nam –Campuchia, ở độ cao khoảng từ 300 m đến 1000m Trong chiến tranh, khuvực này là một trong những khu hậu cứ cách mạng của quân đội ta, có
đường mòn Hồ Chí Minh đi qua, lại nằm gần ngã ba biên giới Việt Lào- Campuchia nên được xem là một trong những mục tiêu quan trọng để
nam-đánh phá và rải chất độc hoá học của quân đội Mỹ
4.2.1.2 Địa hình: Khu vực nghiên cứu phân bố trên những kiểu địa
hình sau: