1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá sinh trưởng mô hình rừng trồng thông caribê (pinus caribaea) tại tỉnh cao bằng và tỉnh yên bái nhằm cung cấp gỗ lớn​

89 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá sinh trưởng mô hình rừng trồng Thông caribê (Pinus caribaea) tại tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái nhằm cung cấp gỗ lớn
Tác giả Nguyễn Hữu Thu
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Xuân Trường, TS. Lê Văn Bình
Trường học Trường đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Trên thế giới (11)
      • 1.1.1. Các nghiên cứu khảo nghiệm xuất xứ Thông caribê (11)
      • 1.1.2. Các nghiên cứu chọn giống và trồng rừng trên các dạng lập địa khác nhau5 1.1.3. Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng (13)
    • 1.2. Ở Việt Nam (17)
      • 1.2.1. Các nghiên cứu khảo nghiệm giống (17)
      • 1.2.2 Nghiên cứu về trồng rừng thâm canh (22)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Mục tiêu (26)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (26)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (26)
      • 2.3.1. Nội dung 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng của Thông caribê trong mô hình khảo nghiệm loài tại hai tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái (26)
      • 2.3.2. Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của cây Thông caribê (26)
      • 2.3.3. Nội dung 3: Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của cây Thông caribê (26)
      • 2.3.4. Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng Thông caribê cung cấp gỗ lớn (26)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.4.1. Phương pháp chung (27)
      • 2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể (27)
        • 2.4.3.1. Phương pháp thu thập số liệu (28)
  • Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU.25 3.1. Đặc điểm khí hậu, địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu (33)
    • 3.1.1: Huyện Trà Lĩnh - Tỉnh Cao Bằng (33)
    • 3.1.2: Huyện Trạm Tấu - Tỉnh Yên Bái (35)
    • 3.1.3. Tính chất đất tại các địa điểm xây dựng mô hình (40)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (41)
    • 4.1. Sinh trưởng Thông caribê trong mô hình khảo nghiệm loài tại Cao Bằng và tỉnh Yên Bái (41)
      • 4.1.1 Kết quả tỷ lệ sống (41)
      • 4.1.2 Kết quả về sinh trưởng (42)
    • 4.2. Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của cây Thông caribê (46)
      • 4.2.1. Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng Thông caribê tại (48)
      • 4.2.2. Sinh trưởng của rừng trồng Thông caribê tại Yên Bái theo các công thức bón phân khác nhau (52)
    • 4.3. Đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng của cây Thông caribê (57)
    • 4.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng thâm canh Thông caribê . 52 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Thông caribê cung cấp gỗ lớn cho vùng cao tại 2 tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái (60)

Nội dung

Do điều kiện thời gian thực hiện của đề tài cấp bộ có hạn 2012 -2016 chưa thu thập và đánh giá được khả năng sinh trưởng của những năm tiếp theo, nên đề tài luận văn này đã kế thừa và ti

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

Để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, nhiều nghiên cứu toàn cầu đã tập trung vào khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ và khảo nghiệm giống Các công trình này giúp lựa chọn loài, xuất xứ hoặc giống phù hợp với đặc điểm sinh thái và điều kiện đất đai của vị trí trồng Việc này nhằm tối ưu hóa hiệu quả trồng rừng, đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao năng suất rừng.

Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc rừng, mang lại những phương pháp hiệu quả để phát triển rừng bền vững Trong phạm vi tổng quan nghiên cứu của đề tài, các khía cạnh liên quan đến kỹ thuật nuôi dưỡng và quản lý rừng cũng được xem xét kỹ lưỡng, nhằm nâng cao năng suất và bảo vệ rừng hiệu quả.

1.1.1 Các nghiên cứu khảo nghiệm xuất xứ Thông caribê

Thông caribê (Pinus caribaea Morelet) là loài cây hạt trần phổ biến nhất được trồng rộng rãi tại các vùng nhiệt đới, với diện tích rừng trồng lên tới khoảng 90.000 ha mỗi năm trên toàn cầu, chiếm ưu thế trong ngành trồng rừng quốc tế Loài này được ưa chuộng vì có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu tốt với côn trùng và bệnh, chất lượng sợi gỗ cao, và khả năng thích nghi tốt trong nhiều môi trường sống khác nhau Thông caribê chủ yếu được sử dụng trong ngành công nghiệp giấy, sản phẩm gỗ, gỗ củi và các mục đích đa dạng khác, nhờ đặc tính sinh trưởng nhanh và đa mục đích Tuy nhiên, nguồn hạt giống của loài này hiện còn hạn chế ngoài xuất xứ, khiến chi phí nhập khẩu tăng cao, nhất là đối với các quốc gia kém phát triển, gây cản trở trong việc mở rộng trồng trọt loại cây này.

Một khảo nghiệm quốc tế do Viện nghiên cứu Lâm nghiệp thuộc Đại học Oxford thực hiện nhằm đánh giá tiềm năng của các loài Pinus caribaea Morlet và P oocarpa Schiende tại Trung Mỹ và vùng Caribe bắt đầu từ những năm 1960 Đến đầu những năm 1970, hạt của các loài này đã được khảo nghiệm để đánh giá khả năng thích nghi và phát triển trong môi trường khu vực Các nghiên cứu này góp phần quan trọng trong việc mở rộng phạm vi trồng rừng và khai thác nguồn tài nguyên gỗ bền vững ở khu vực Trung Mỹ và Caribe.

Các kết quả khảo nghiệm trên 50 quốc gia cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các xuất xứ của loài Pinus caribaea Xuất xứ P caribaea var caribaea có hình thân đẹp, cành nhánh nhỏ, mật độ sợi gỗ cao, khả năng chống chịu sâu đục ngọn của Đông Nam Á còn hạn chế, đặc biệt là tỷ lệ sống thấp ở giai đoạn đầu Trong khi đó, P caribaea var bahamensis có đặc điểm giống var caribaea nhưng kém chịu gió hơn Xuất xứ coastal của P caribaea var hondurensis phát triển tốt, thân đẹp, vỏ mỏng, chống gió tốt, cành nhỏ nhưng có hiện tượng ngọn sinh trưởng dạng đuôi cáo, mật độ sợi gỗ thấp và dễ bị sâu đục ngọn tấn công Xuất xứ inland của cùng loài có tốc độ tăng trưởng khác nhau rõ rệt, nhiều khảo nghiệm cho thấy tăng trưởng thấp, nhưng một số lại cao, tỷ trọng gỗ vượt trội so với xuất xứ coastal Hình dạng thân thẳng, chống gió tốt nhưng cành nhánh kém hơn và ít chịu sâu đục ngọn Xuất xứ insular (Guanaja) của P caribaea var hondurensis có tỷ lệ tăng trưởng và tỷ trọng gỗ cao, tuy nhiên lại kém chịu gió, cành cong vẹo, tỉa cành tự nhiên kém và dễ bị sâu đục ngọn.

Thông caribê bắt đầu được trồng tại miền Nam Trung Quốc từ năm 1961, xuất xứ từ Cuba (Pinus caribaea var caribaea) và Guatemala (Pinus caribaea var hondurensis) Năm 1973, giống Pinus caribaea var bahamensis được giới thiệu, nhưng đến năm 1983 mới bắt đầu khảo nghiệm xuất xứ trên các địa điểm khác nhau Kết quả khảo nghiệm cho thấy có sự khác biệt về chất lượng gen và khả năng tăng trưởng giữa các xuất xứ, trong đó Pinus caribaea var bahamensis cho kết quả phát triển tốt nhất (Wang, Malcolm et al 1999).

Năm 1988, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định nguồn gốc phù hợp nhất cho trồng rừng thương mại và xây dựng vườn giống, với sự khảo nghiệm 5 xuất xứ gồm 47 gia đình tại Planaltina, Brazil Các xuất xứ bao gồm Poptun (Guatemala), Gualjoco, Los Limones, El Porvenir và Santa Cruz de Yojoa (Honduras), được đánh giá sau 12 năm để xác định tiềm năng khai thác và đặc điểm sinh trưởng Kết quả cho thấy, xuất xứ Poptun và Gualjoco có trữ lượng cao nhất, trong khi Los Limones và El Porvenir ít phân nhánh và có hình dạng ngọn đuôi cáo đặc trưng So sánh với các giống P caribaea var hondurensis thử nghiệm ở các vùng khác như Brazil, Colombia và Venezuela, cho thấy ảnh hưởng của lập địa ít tác động lớn đến nguồn gốc xuất xứ, phù hợp với đặc điểm của các loài thông khác (Moura và Dvorak).

Nghiên cứu so sánh tăng trưởng di truyền giữa bốn dòng gồm P elliottii var elliottii, P caribaea var hondurensis, và các cây lai F1, F2 của hai dòng này tại Đông Nam Queensland cho thấy, số liệu tăng trưởng ở tuổi 15 là 17,6, 23,0, 23,7 và 23,5 m³/năm tương ứng Kết quả này đề xuất sử dụng cây lai F1 để trồng rừng lấy gỗ tại toàn bang Queensland nhằm tối ưu hóa năng suất.

Các khảo nghiệm cho thấy Pinus caribaea var hondurensis có ưu điểm vượt trội so với các xuất xứ khác của loài Pinus caribaea Morelet, phù hợp để phát triển rừng trồng bền vững Nghiên cứu của Việt Nam tại Đại Lải xác nhận rằng nguồn giống này mang lại mức sinh trưởng vượt trội trên nhiều vùng sinh thái khác nhau Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khuyến nghị sử dụng nguồn giống Pinus caribaea var hondurensis để trồng rừng quy mô lớn, góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế ngành lâm nghiệp.

1.1.2 Các nghiên cứu chọn giống và trồng rừng trên các dạng lập địa khác nhau

Các dạng lập địa khác nhau, đặc biệt là các loại đất ở các độ cao khác nhau, ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và chất lượng rừng trồng Chính vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đã sớm quan tâm đến việc khảo nghiệm và chọn giống phù hợp với các dạng lập địa và độ cao khác nhau Các nghiên cứu này giúp nâng cao hiệu quả trồng rừng, tối ưu hóa năng suất và đảm bảo chất lượng rừng trồng, góp phần phát triển bền vững ngành lâm nghiệp.

Nghiên cứu năm 1987 về phục hồi rừng đã thử nghiệm 83 loài cây trên lập địa cỏ ở Nam Kalimantan, Indonesia, nhằm đánh giá tỷ lệ sống và sinh trưởng của các loài cây trồng Các loài ngoại lai như Acacia, Gmelina arborea, Paraserianthes falcataria và Cassia siamea đạt tỷ lệ sống từ 90-100%, với đường kính tán 3-6m và chiều cao trung bình 5-8m sau 2 năm, cho thấy khả năng thích nghi cao Trong khi đó, một số loài cây bản địa như Anthocephalus chinensis, Peronema canescens và Parkia roxburghii có sinh trưởng không như mong đợi Các loài bạch đàn và thông không được xem là phù hợp do sinh trưởng chậm và không khuyến khích trồng trên lập địa cỏ Đến tuổi 7-8, các loài ngoại lai vẫn giữ ưu thế về sinh trưởng, nhưng tỷ lệ sống của một số loài giảm, đặc biệt là Acacia crassicarpa, A cincinnata và hầu hết cây bản địa Anthocephalus chinensis đều gặp khó khăn hoặc chết Nghiên cứu đề xuất rằng việc lựa chọn các loài cây sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu là rất quan trọng làm cơ sở cho các hoạt động phục hồi rừng hiệu quả (Otsamo, Adjers et al 1997).

Nghiên cứu về sinh trưởng của 6 loài cây bản địa và 2 loài cây nhập nội (Pinus caribaea var hondurensis và Gmelina arborea Roxb) trên vùng khí hậu ẩm đến bán ẩm của Nam Costa Rica cho thấy các loài bản địa phản ứng rõ rệt với lập địa sau 7 năm phát triển, trong khi các loài nhập nội lại ít bị ảnh hưởng Sinh trưởng của cây nhập nội trên lập địa có tính axit và mùa khô rõ rệt cao hơn so với các loài bản địa, nhưng khi bổ sung chế độ dinh dưỡng đất và nước, khoảng cách về tốc độ tăng trưởng giữa hai nhóm cây càng được rút ngắn.

Thông caribê (Pinus caribaea Morelet) gồm ba biến chủng chính là Pinus caribaea var caribaea, Pinus caribaea var hondurensis và Pinus caribaea var bahamensis, đều phân bố tự nhiên tại vùng Trung Mỹ Biến chủng Caribaea thường sinh trưởng ở những khu vực thấp, đồi bát úp của quần đảo Cuba và đảo Juventus thuộc vùng biển Caribbean, phân bố từ 16° đến 20° vĩ Bắc, chủ yếu ở độ cao khoảng 330m so với mực nước biển, với một số trường hợp tại độ cao gần 760m và hiếm khi ở trên 1200m Trong khi đó, biến chủng Bahamensis phân bố tự nhiên từ 22° đến 27° vĩ Bắc tại các đảo Bahamas và Caicos, bên cạnh đó còn xuất hiện ở bán đảo Yucatan thuộc vùng Đông Bắc Mỹ Biến chủng Hondurensis phân bố từ 12° đến 16° vĩ Bắc, tập trung chủ yếu ở các đảo Belize, Guatemala, Poptun, Guanaja và Nicaragua, sinh trưởng chủ yếu ở các khu vực đồng cỏ, đồng bằng ven biển có độ cao từ 460 đến 760m, trong đó phổ biến nhất là ở độ cao 460m.

Nghiên cứu cho thấy loài này đã được nhập khẩu và trồng tại hơn 65 quốc gia trên thế giới, mở rộng phạm vi vĩ độ từ 55°V tại Argentina đến 33°B ở Ấn Độ Độ cao trồng cây đa dạng từ mặt nước biển đến 1.200m tại Zaire, 1.220m ở Nigeria, trên 1.820m ở Uganda và 2.400m tại Kenya Caribê đã thích nghi và phát triển tốt trên nhiều vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới khác nhau.

1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng

Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng rừng, đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ sớm Công trình của Appanah, S và Weiland, G (1993) đã tổng kết kinh nghiệm trồng rừng lấy gỗ lớn tại bán đảo Malaysia, đề xuất hướng dẫn kỹ thuật cho hơn 40 loài cây Bên cạnh đó, Mayhew, J.E và Newton, AQ.C (1998) đã tổng hợp những tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong quản lý cây gỗ thương mại, điển hình là loài Mahogany (Swietenia macrophylla).

Ở Việt Nam

Các nhà khoa học trong nước đã sớm quan tâm nghiên cứu việc khảo nghiệm chọn loài, chọn xuất xứ và chọn giống trồng rừng, đặc biệt vào những năm 80 của thế kỷ XX Dự án PAM đã nhập hàng chục tấn hạt keo và bạch đàn để trồng tại các tỉnh miền núi nhằm mục tiêu ban đầu là phủ xanh đất trống đồi núi chọc và cải thiện môi trường sinh thái Sau đó, việc trồng rừng thâm canh để cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến bột giấy và ván nhân tạo đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm vào cuối thế kỷ XX Các công trình nghiên cứu về trồng rừng ngày càng phát triển theo các lĩnh vực chính như lựa chọn giống, cải thiện năng suất và phát triển bền vững ngành lâm nghiệp.

1.2.1 Các nghiên cứu khảo nghiệm giống

Cây lâm nghiệp có chu kỳ phát triển dài tới hàng chục năm, việc chọn giống phù hợp và tốt giúp đạt hiệu quả kinh tế cao trong trồng rừng Trước đây, các dự án trồng rừng của nhà nước chủ yếu tập trung vào các loài như thông mã vĩ và thông nhựa, nhưng hiện nay, thông caribê đã nổi bật hơn về khả năng sinh trưởng Đặc biệt, thông caribê phát triển tốt trên các lập địa khó thích nghi hơn các loài cây khác, góp phần mở ra cơ hội mới cho ngành lâm nghiệp Việt Nam Chính vì thế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chính thức đưa thông caribê vào danh mục các loại cây trồng chính tại một số vùng sinh thái của đất nước.

Thông caribê được nhập vào trồng thử nghiệm tại Việt Nam từ năm 1963 tại Lâm Đồng và đã trải qua các giai đoạn khảo nghiệm hoàn chỉnh, như trong dự án Sida ở Phú Thọ (1978-1984) Trong thập niên 1980-1990, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng của Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với nhiều cơ quan trong và ngoài viện đã khảo nghiệm Thông caribê trên các vùng trồng khác nhau, cho thấy loài cây này sinh trưởng nhanh, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái, đặc biệt tốt trên đất đồi trọc, đất trống nghèo dinh dưỡng Thông caribê có tiềm năng lớn để phát triển thành loài cây trồng rừng có thể cung cấp nhiều loại gỗ phục vụ xây dựng, sản xuất nội thất, đóng tàu, ván ép, và các sản phẩm giấy, góp phần nâng cao độ che phủ rừng và ổn định môi trường sinh thái của đất nước Do đó, loài cây này đang được nhiều cơ quan và doanh nghiệp lâm nghiệp quan tâm nghiên cứu và phát triển.

Kết quả khảo nghiệm Thông caribê tại Đà Lạt năm 1963 cho thấy, giống cây này có tốc độ sinh trưởng nhanh và hình dáng thân đẹp, cao thon đều, với tán lá nhỏ và cành mọc ngang Ở tuổi 12, cây cao trung bình đạt 14,3 mét, đường kính ngang ngực trung bình là 16,3 cm, với tốc độ tăng trưởng chiều cao trung bình là 1,19 mét và đường kính là 1,35 cm Nhìn chung, Thông caribê thể hiện khả năng phát triển mạnh mẽ và thích nghi tốt tại vùng đất Đà Lạt.

Các cây trồng có chiều cao trung bình là 19,9 mét và đường kính ngang ngực trung bình là 27,9 cm, với tốc độ tăng trưởng chiều cao trung bình là 1,24 m/năm và đường kính 1,65 cm/năm Khảo nghiệm tại Mang Linh cho thấy cây PCH trồng trên đất feralit vàng đỏ, phát triển tốt trên đá mẹ granit với tầng đất sâu, ẩm và có lớp mùn dày, giúp cây sinh trưởng nhanh hơn so với các loại cây thông khác.

Ba lá Đà Lạt sau 16 năm trồng đạt chiều cao trung bình 17 mét và đường kính 16,6 cm, thể hiện sự phát triển vượt bậc của loại cây này Trong đó, tốc độ tăng trưởng hàng năm về chiều cao là khoảng 1,21 đến 1,22 mét, còn về đường kính là từ 1,76 đến 1,80 cm (Lê Đình Khả, Hồ Viết Sắc, 1980) Những số liệu này cho thấy khả năng sinh trưởng mạnh mẽ của cây Ba lá Đà Lạt theo thời gian.

Năm 1976, Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã tiến hành xây dựng 4 khảo nghiệm loài và xuất xứ nhằm đánh giá sự khác biệt giữa các loài và biến dị xuất xứ bên trong loài, tập trung vào tất cả 3 biến chủng của Thông caribe Kết quả cho thấy Thông caribê có khả năng sinh trưởng khá ở vùng miền Bắc Việt Nam, trong đó xuất xứ Mountain Pine Ridge (206) đạt chiều cao gần 20m sau 25 năm trên lập địa Sơn Nam, dù mức độ sai khác về khả năng sinh trưởng giữa các xuất xứ của PCH là khá nhỏ Tuy nhiên, PCC sinh trưởng chậm hơn so với PCB và PCH, không phù hợp với điều kiện lập địa miền Bắc Việt Nam Trong khi đó, PCB có tốc độ sinh trưởng chiều cao nhanh nhất trong 8 năm đầu và nằm trong nhóm thứ hai chỉ sau Mountain Pine Ridge của PCH sau 25 năm, cho thấy khả năng sinh trưởng vượt trội Ngoài ra, các xuất xứ PCH từ vùng cao như Poptún và Mountain Pine Ridge chứng tỏ khả năng sinh trưởng tốt hơn so với xuất xứ Guanaja.

Giai đoạn 1978 – 1982 : Một khảo nghiệm xuất xứ khá đầy đủ theo dự án

Sida tại Phú Thọ (thuộc Vĩnh Phú cũ) (P.Stahl, 1984) [29] Vật liệu nghiên cứu gồm

Có bốn loài Thông chính được nghiên cứu, bao gồm Thông nhựa (Pinus merkusii) với năm nguồn gốc khác nhau, Thông ba lá (Pinus kesya) với sáu nguồn gốc, Thông oocarpa (Pinus oocarpa) với một nguồn gốc duy nhất, và Thông Caribê (Pinus caribaea) gồm ba biến chủng, gồm PCC (một nguồn gốc), biến chủng Bahamêsis (một nguồn gốc), và biến chủng Hodurensis (bốn nguồn gốc) Các khảo nghiệm được thực hiện tại bốn địa điểm là Thái Long, Sơn Nam (Tuyên Quang), Đền Hùng và Yên Kiện (Vĩnh Phú cũ), giúp đánh giá đặc điểm và khả năng thích nghi của từng loại Thông tại các vùng khí hậu khác nhau.

Trong số 4 loài Thông đưa vào khảo nghiệm, Thông Caribê nổi bật với khả năng sinh trưởng nhanh nhất, đặc biệt là biến chủng PCH khi được khảo nghiệm tại các tỉnh Thái Long và Sơn Nam có tốc độ tăng trưởng đường kính trung bình hàng năm lần lượt là 2,76 cm và 1,88 cm, trong khi các xuất xứ tại Đền Hùng và Yên Kiên có tốc độ thấp hơn Tại Thái Long, PCH còn đạt chiều cao trung bình hàng năm là 1,23 m, cao hơn so với các địa phương khác như Yên Kiên, Đền Hùng và Sơn Nam Kết quả khảo nghiệm ở tuổi 8 cho thấy, trong 3 biến chủng Thông Caribê, PCH và PCB có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất, trong khi PCC sinh trưởng kém nhất; các xuất xứ có hiệu quả sinh trưởng tốt gồm Poptun (Guatemala), Guanaja (Honduras), Cardwell (Queensland, Australia), Almicamba (Nicaragua) và Andros (Bahamas) Các nghiên cứu cho rằng, nếu trồng rừng quy mô lớn, nên tập trung vào các xuất xứ tốt của PCH và PCB để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn PCB thường có thân thẳng hơn, ít thót ngọn, vỏ mỏng hơn PCH, đồng thời có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, giúp tăng khả năng sinh khối và thích hợp trồng ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam.

Từ năm 1980 đến 1990, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng phối hợp với nhiều cơ quan trong và ngoài Viện đã tiến hành khảo nghiệm các giống cây trồng ở nhiều vùng khác nhau trên cả nước như Đại Lải, Ba Vì, Yên Lập, Đại Huệ, Đông Hà, Pleyku, Sông Mây và Hàm Thuận Kết quả khảo nghiệm sau 9 năm trồng cây Thông caribê tại các vùng như Đại Lải, Đông Hà và Sông Mây cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao trung bình của các giống từ 1,2 đến 1,6 mét mỗi năm, và tốc độ phát triển đường kính từ 1,1 đến 1,4 cm mỗi năm Các kết quả ban đầu cho thấy Thông caribê có tiềm năng phát triển nhanh, đặc biệt biến chủng P caribaea var hondurensis được đánh giá có khả năng sinh trưởng vượt trội so với các biến chủng còn lại Trong các xuất xứ, Poptun, Alamicamba, Guanaja và Cardwell là những nguồn có triển vọng nhất và phù hợp với nhiều vùng trồng của Việt Nam (Phí Quang Điện, 1989) Các đánh giá gần đây về kết quả khảo nghiệm đã giúp xác định rõ hơn tiềm năng phát triển của các giống cây này, góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng và phát triển bền vững nguồn nguyên liệu gỗ ở Việt Nam.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Khả năng sinh trưởng của ba biến chủng đều phù hợp với các kết quả nghiên cứu quốc tế, trong đó PCH thể hiện khả năng sinh trưởng nhanh hơn trên diện rộng so với PCB hoặc PCC, nhưng lại kém hơn về độ thẳng thân và khả năng chịu gió (Birks and Barnes, 1990) Tuy nhiên, lượng biến dị của PCH trong các khảo nghiệm này rất nhỏ so với các nghiên cứu trước đây, như của Birks and Barnes (1990), Dvorak et al (1993, 2000), và Hodge and Dvorak, cho thấy sự khác biệt trong đặc tính sinh trưởng và độ bền của các biến chủng.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Xác định các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Thông Caribê giúp nâng cao năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng, làm cơ sở phát triển và mở rộng mô hình rừng thâm canh Áp dụng các giải pháp kỹ thuật này góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu ngày càng tăng của xã hội Việc tăng trưởng nhanh và hiệu quả cây Thông Caribê sẽ thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển bền vững và góp phần nâng cao thu nhập cho người trồng rừng.

2.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Thông caribê (Pinus caribaea); giống/xuất xứ (Hondurensis)

- Kế thừa mô hình khảo nghiệm loài và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng được bố trí thí nghiệm tại tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái

Dự án cấp Bộ được thực hiện từ năm 2012 đến năm 2016, với thời gian theo dõi tiếp tục của luận văn từ năm 2016 đến năm 2018 Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã kế thừa một phần số liệu từ đề tài trước đó và bổ sung thêm số liệu sinh trưởng của cây trồng trong một năm để nâng cao độ chính xác của kết quả nghiên cứu.

Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng được mục tiêu đã đặt ra, các nội dung nghiên cứu bao gồm:

2.3.1 Nội dung 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng của Thông caribê trong mô hình khảo nghiệm loài tại hai tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái

2.3.2 Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của cây Thông caribê

2.3.3 Nội dung 3: Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của cây Thông caribê

2.3.4 Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng Thông caribê cung cấp gỗ lớn

2.3.5 Nội dung 5: Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Thông caribê cung cấp gỗ lớn cho vùng cao tại hai tỉnh Cao Bằng và tỉnh Yên Bái.

Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát kết hợp với phỏng vấn để thu thập thông tin về các mô hình hiện có, nhằm đảm bảo tính chính xác và toàn diện của dữ liệu Đồng thời, phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời được sử dụng cùng với các phương pháp phân tích xử lý số liệu trong phòng để xác định các chỉ tiêu kinh tế phù hợp và cần thiết, góp phần tối ưu hóa quá trình nghiên cứu và đánh giá.

Phương pháp chủ đạo của đề tài là kế thừa khảo nghiệm các biện pháp kỹ thuật đã được thử nghiệm trong giai đoạn 2012-2016, do Ths Đặng Quang Hưng và Ths Bùi Trọng Thủy chủ trì Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên lặp lại từ 3-4 lần, tuân theo tiêu chuẩn công nhận giống 04-TCN-147-2006 của Bộ NN&PTNT Dữ liệu được thu thập theo phương pháp ô tiêu chuẩn, đo đếm toàn bộ số cây trong ô, với các chỉ tiêu gồm D 1,3, H VN, H DC, D T.

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của các phần mềm máy tính như SPSS, Excel 7.0

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 2.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 1 Đánh giá sinh trưởng Thông caribê Trên khu vực nghiên cứu khảo nghiệm

Trong nghiên cứu khảo nghiệm giống theo tiêu chuẩn ngành 04 TCN 147 – 2006, phương pháp thí nghiệm được thiết kế theo dạng khối ngẫu nhiên đầy đủ, gồm 4 lần lặp lại, mỗi ô thử có 49 cây Các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá cây trồng bao gồm đường kính D00/D1.3, chiều cao vút ngọn và đường kính tán cây Phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và khách quan trong việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng của giống mới.

2.4.2.2.Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 2

* Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng của Thông caribê , gồm 4 công thức phân bón lót:

CT1: 0,1 kg NPK + 2kg phân chuồng;

CT2: 0,2 kg NPK + 2kg phân chuồng;

CT3: 0,3kg NPK + 2kg phân chuồng

CT4: Đối chứng (không bón) (Phân chuồng: Phân trâu, bò ủ hoai; Phân NPK: 5:10:3)

- Sử dụng mô hình phân tích phương sai 1 nhân tố với 3 lần lặp để xác định công thức tốt nhất

* Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng của Thông caribê

Bố trí 2 công thức mật độ 1650 cây/ha (cự ly 3x2m) và mật độ 1110 cây/ha (cự ly 3x3m)

Công thức mật độ được thiết kế theo khối ngẫu nhiên, lặp lại 3 lần, số cây/ô:

49 cây/ô Các chỉ tiêu thu thập: (i)- Đường kính D00/D1.3; (ii)- Chiều cao vút ngọn

2.4.2.3.Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 3

* Sử dụng một số hàm kinh tế để dự đoán giá trị kinh tế của mô hình rừng trồng trong tương lai (hàm NPV, IRR)

2.4.2.4 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Thông caribê cung cấp gỗ lớn cho vùng cao tại 2 tỉnh Cao Bằng và Yên Bái

* Từ kết quả số liệu thu thập đề xuất các biện pháp mật độ trồng, biện pháp bón phân, kỹ thuật trồng thâm canh rừng

2.4.3 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

2.4.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

* Số liệu về điều kiện tự nhiên: Kế thừa các tài liệu đã công bố

Các phẫu diện đất được chọn tại 3 vị trí chân, sườn, đỉnh của các OTC điển hình để đảm bảo độ đa dạng mẫu đất Mẫu đất được lấy ở các độ sâu 0-10cm, 10-30cm và 30-50cm nhằm phản ánh rõ biến đổi theo chiều sâu của đất Phương pháp lấy mẫu theo kiểu hỗn hợp, kết hợp đào 3 phẫu diện ở các vị trí khác nhau, sau đó trộn đều đất ở các độ sâu tương ứng để lấy 1kg mẫu phân tích, giúp đảm bảo độ chính xác và đại diện cho toàn bộ khu vực nghiên cứu.

Dung trọng đất được xác định bằng phương pháp dùng ống dung trọng có thể tích 100cm 3 (20cm 2 x 5cm)

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, thu thập số liệu trên các OTC định vị đã được thiết kế sẵn khi xây dựng mô hình thí nghiệm:

Theo dõi tình hình sinh trưởng của Thông caribê là rất quan trọng để đánh giá tác động của các công thức mật độ và phương pháp bón phân Việc thu thập số liệu định kỳ hàng tháng giúp xác định chính xác ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự phát triển của cây Đặc biệt, dữ liệu thu thập vào tháng quan trọng trong việc điều chỉnh các phương pháp canh tác nhằm tối ưu hóa năng suất và sức khỏe của cây thông Trong quá trình nghiên cứu, việc phân tích các yếu tố sinh trưởng kết hợp với các biện pháp bón phân phù hợp sẽ giúp nâng cao hiệu quả trồng trọt và thúc đẩy phát triển bền vững.

Để đánh giá sinh trưởng của cây, cần thu thập các chỉ tiêu chính như đường kính ngang ngực D1,3, chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) và đường kính tán (Dt) Việc này giúp xác định chính xác tốc độ phát triển của cây theo các yếu tố sinh trưởng quan trọng Ngoài ra, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu chất lượng dựa trên tiêu chí cây tốt, trung bình giúp đánh giá toàn diện về tình trạng sức khỏe và chất lượng của cây trồng Các số liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp quản lý và chăm sóc phù hợp nhằm tối ưu hóa sự phát triển của rừng.

- xấu), tỉ lệ cây sống, chết

+ Đo chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (H dc )bằng thước Laser kết hợp với sào đo cao

+ Xác định đường kính D1,3 thông qua việc đo chu vi bằng thước dây, độ chính xác đến 0,1cm

+ Đo đường kính tán (Dtán) bằng thước dây, độ chính xác đến 0,1dm

+ Đánh giá chất lượng cây rừng: Kết hợp với điều tra sinh trưởng để phân loại phẩm chất cây rừng theo 3 cấp bằng kinh nghiệm:

+ Cây tốt (T): có thân thẳng đẹp, tròn đầy, tán cây cân đối, không cong queo, không sâu bệnh, sinh trưởng tốt

+ Cây trung bình (TB): thân cân đối, tán đều, không cụt ngọn, không cong queo, sinh trưởng bình thường

+ Cây xấu (X): là những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, tán lệch, sinh trưởng kém

2.4.3.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu Ứng dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học trong Nông lâm nghiệp với sự trợ giúp của phần mềm Excel, SPSS để xử lý và tính toán số liệu (Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi, 1996 ; Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình,

2005 ; Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi, 2006 ) [15][16]

- Phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp phân tích đất của Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng - Viện

Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam với một số chỉ tiêu xác định với các phương pháp cụ thể sau:

Xác định thành phần cơ giới bằng phương pháp hút 3 cấp của Mỹ

Xác định độ pH bằng pH Metrers

Xác định tỷ lệ mùn bằng phương pháp Tjurin

Xác định đạm tổng số bằng phương pháp Kjiendhal

Xác định P20 5 bằng phương pháp Oniani

Xác định K 2 0 5 bằng phương pháp Matlova

Xác định Ca, Mg trao đổi bằng phương pháp NaCl với phức chất TrilonB

Xác định chua trao đổi bằng phương pháp Xôcôlốp

- Phân tích các đặc trưng thống kê + Các giá trị trung bình được tính theo công thức: n

Trong đó: X là giá trị trung bình n là số cây được điều tra + Thể tích cây đứng được tính theo công thức

Trong đó: G là tiết diện ngang tại vị trí 1.3m và được tính bằng công thức:

Hvn là chiều cao vút ngọn của cây f là hình số giả định = 0,5 (Đối với Thông caribê ); π = 3,1416

+ Xác định các đặc trưng mẫu (X , S 2 , S, S% ) cho cả 4 nhân tố điều tra:

D 1.3 , D T , H VN , H DC bằng trình lệnh T-D-D (Tools - Data Analysis - Descriptive statistic)

- Tính hệ số biến động theo công thức

- Tính lượng tăng trưởng bình quân theo công thức: a

 (2.5) với X = D 1 3 ; H VN ; D T ; H DC và a là tuổi của rừng Thông caribê

- Tính giá trị kinh tế của mô hình dựa vào công thức tính giá trị hiện tại thuần NPV:

Trong đó: Bt là dòng tiền thu vào tại năm thứ t

Dòng tiền chi ra tại năm thứ t (Ct) cùng với tỷ suất chiết khấu (r) phản ánh giá trị của khoản đầu tư theo thời gian Tỷ lệ chiết khấu (r) thường được xác định dựa trên tỷ suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư hoặc chi phí sử dụng vốn, thường dựa trên lãi vay ngân hàng Việc sử dụng tỷ lệ này giúp tính toán giá trị hiện tại của các dòng tiền trong suốt quá trình đầu tư, từ đó hỗ trợ quyết định đầu tư hiệu quả hơn.

To test the hypothesis of equality of two population variances, the F-test based on Fisher's F-distribution is used The procedure involves navigating to Tool/Data Analysis, then selecting "F-Test Two-Sample for Variances," which provides a statistical assessment of whether the variances are equal This method is essential for verifying assumptions in various statistical analyses, ensuring accurate and reliable results.

S 1 2 và S 2 2 là phương sai của hai mẫu quan sát 1 và 2

- Dùng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố để kiểm tra sự thuần nhất giữa các công thức thí nghiệm đối với từng chỉ tiêu sinh trưởng

Dùng phương pháp phân tích phương sai hai nhân tố để kiểm tra sự thuần nhất giữa các công thức thí nghiệm đối với từng chỉ tiêu sinh trưởng

- Kiểm tra sai dị giữa các trung bình mẫu thực hiện theo tiêu chuẩn t với k n – a bậc tự do: j i N j i n

Trong đó: x i , x j là các trị số trung bình của các công thức i, j

S N là phương sai thừa n i , n j là các giá trị quan sát tương ứng của các công thức i,j

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU.25 3.1 Đặc điểm khí hậu, địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu

Huyện Trà Lĩnh - Tỉnh Cao Bằng

Huyện Trà Lĩnh là huyện miền núi với địa hình phức tạp, gồm các khu vực núi cao hiểm trở và các đồi núi xen kẽ thung lũng nhỏ hẹp Phía Tây Bắc của huyện có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chủ yếu là đá vôi phong hóa mạnh tạo thành nhiều hang động (Castơ) Vùng phía Đông và Đông Nam gồm các dãy đồi thoải dần không theo hướng cố định, trong khi trung tâm huyện có vùng thung lũng bằng phẳng Trà Lĩnh là khu vực thấp trũng so với các huyện lân cận, đặc biệt thấp hơn nhiều so với Trung Quốc, dẫn đến hiện tượng trữ nước cùng khí hậu á nhiệt đới rõ rệt.

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Trà Lĩnh Địa mạo của huyện có thể chia thành hai miền khác nhau như sau:

Vùng gồm các xã Cô Mười, Quang Vinh, Lưu Ngọc, Tri Phương, Quang Trung và phần Cao Chương, Quốc Toản, có độ cao trung bình từ 700-800m so với mực nước biển Do quá trình phát triển mạnh của hệ thống castơ, địa hình nơi đây hiểm trở, nhiều suối ngầm, gây ra tình trạng mất nước phổ biến ngay cả sau những trận mưa lớn Nước từ khe castơ thấm về khu vực hồ Thăng Hen qua huyện Hòa An rồi chảy về sông Bằng Giang, làm cho tình trạng thiếu nước trở nên trầm trọng vào mùa khô Chính vì vậy, khu vực này thường đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và sinh hoạt, hạn chế phát triển nông nghiệp, chủ yếu thích hợp cho hoạt động lâm nghiệp nhằm khoanh nuôi, bảo vệ và tái sinh rừng đầu nguồn.

Miền đồi cao núi thấp kéo dài từ khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh qua huyện lỵ, gồm các thị trấn và xã như Hùng Quốc, Quang Hán, Xuân Nội, Cao Chương, Quang Trung, Quốc Toản, với độ cao trung bình từ 600-800m so với mực nước biển and độ dốc trung bình 25-40 độ, chủ yếu là các dãy núi thấp đan xen với các dải đồi cao không theo hướng cố định Các thung lũng hình thành giữa các vùng đồi núi thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, phù hợp cho mô hình khai thác nông lâm kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương.

Huyện Trà Lĩnh có hơn 60% diện tích đất tự nhiên là núi đá vôi, gây nhiều khó khăn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng Địa hình đồi dốc cùng với rừng bị phá hoại bừa bãi trước năm 1990 đã làm tăng nguy cơ sạt lở, xói mòn đất nặng nề Các xã vùng cao như Lưu Ngọc và Quang Vinh gặp nhiều hạn chế trong việc đầu tư xây dựng hạ tầng do địa hình khắc nghiệt Điều kiện địa hình núi và đất đồi dốc đã ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và cảnh quan của huyện Trà Lĩnh.

Trà Lĩnh có nguồn tài nguyên rừng phong phú và đa dạng, với diện tích đất lâm nghiệp đạt 18.789,9 ha và độ che phủ rừng đạt 52,5% Rừng Trà Lĩnh còn lưu giữ nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm, tuy nhiên thảm thực vật tự nhiên còn thưa thớt, trữ lượng không cao và phân bố không đều trên toàn huyện Các vùng rừng tập trung chủ yếu tại những khu vực hiểm trở, ven biên giới với Trung Quốc Hệ sinh thái thực vật của Trà Lĩnh phân bố theo các độ cao khác nhau, phản ánh đa dạng sinh học của khu vực.

Bảng 3.1 Tổng hợp thông tin về điều kiện tự nhiên ở địa điểm xây dựng mô hình

Tọa độ địa lý 22°49'59.2" N106°17'57.5"E Độ cao so mực nước biển (m) 718

Số giờ nắng trung bình (giờ/năm) 1.330,2

Nhiệt độ trung bình (nhiệt độ/năm) 20,20 Độ ẩm không khí (%/năm) 81,80

Lượng mưa TB (mm) 1.769,52 Độ dốc (độ) 5-25

Loại đất/đá Faralit vàng nhạt Độ dầy tầng đất (cm) >50 Đá lẫn, đá lộ đầu Trung bình

Thực bì Rừng tự nhiên nghèo kiệt

(Trích Niên giám thống kê tỉnh, Cao Bằng từ năm 2011 đến năm 2015)

Hệ động vật rừng của huyện còn khá phong phú, với các loài động vật như:

Nai và sóc là những loài động vật phổ biến trong hệ sinh thái rừng của huyện, tuy nhiên do hoạt động khai thác rừng làm nương rẫy và săn bắt thú rừng bừa bãi, đa dạng sinh học rừng đang bị suy giảm rõ rệt Tình trạng này gây ảnh hưởng tiêu cực đến số lượng và sự đa dạng của các loài động thực vật trong khu vực Một mô hình nghiên cứu tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, với độ cao 718m, đã được thực hiện để đánh giá tác động của hoạt động khai thác rừng đối với hệ sinh thái địa phương, góp phần vào công cuộc bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học của khu vực.

Huyện Trạm Tấu - Tỉnh Yên Bái

Huyện Trạm Tấu là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Yên Bái, có toạ độ địa lý:

Từ 20 0 21’ đến 21 0 40’ vĩ độ Bắc, Từ 104 0 17’ đến 104 0 40’ kinh độ Đông

Phía Tây Bắc giáp huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

Phía Đông, Đông Bắc, Đông Nam giáp với huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Phía Tây, Tây Nam giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

Dự án 661 được thực hiện tại huyện Trạm Tấu, gồm 01 thị trấn và 11 xã, bao gồm các xã Hát Lừu, Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Trạm Tấu, Pá Hu, Pá Lau, Phình Hồ, Làng Nhì, Tà Xi Láng và thị trấn Trạm Tấu.

T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang T tuyên quang

T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang T hà giang

T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ T Phú thọ

T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la T Sơn la sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí sơ đồ vị trí huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái huyện Trạm Tấu trong tỉnh Yên bái

T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La T Sơn La

T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u T La i C h© u

T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai T Lao Cai

H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải H Mù Cang Chải

H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên H Lục Yên

H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên H Văn Yên

H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu H Trạm Tấu

H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn H V¨n ChÊn

Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên Trấn Yên

H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình H Yên Bình Địa điểm nghiên cứu Hình 3.2 Bản đồ hành chính huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Khu vực nghiên cứu thuộc xã Túc Đán có ranh giới hành chính như sau:

Phía Bắc giáp xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Phía Tây, Nam giáp tỉnh Sơn La

Phía Đông giáp thị trấn Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Huyện Trạm Tấu nằm trong hệ thống dãy núi Hoàng Liên Sơn, phía sườn đông dãy Púng Luông, có địa hình núi trung bình đến cao, chia cắt mạnh và độ dốc lớn trung bình từ 27° đến 35° Độ cao trung bình của huyện dao động từ 600 đến 800 mét so với mực nước biển, nổi bật với các đỉnh núi cao như Trung Xang Xi (2.978,9 m) ở xã Xà Hồ, Fu Sa Fin (2.875 m), Phu Lông Mê (2.399 m) và điểm thấp nhất là 390 mét tại xã Pá Hu, Trạm Tấu Địa hình của huyện có đặc điểm cao dần từ đông sang tây, với nhiều dãy núi cao hợp thủy sâu, vách đứng, hệ số xâm thực lớn, chủ yếu gồm các dạng địa hình núi cao, núi trung bình và núi thấp với độ cao từ 390 mét trở lên.

400 - 800 m, địa hình thung lũng và trũng giữa núi gồm các thung lũng thấp nằm giữa các dãy núi lớn

Huyện có đặc điểm địa hình và địa thế phong phú, đa dạng, tạo điều kiện phát triển hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn bền vững Tuy nhiên, sự đa dạng này cũng đặt ra những khó khăn và thách thức trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ một cách hiệu quả nhất.

Khu vực nghiên cứu rộng 20 ha, nằm trên kiểu địa hình sườn dốc, có độ cao từ 800 m - 1.000 m thuộc địa hình núi trung bình, độ dốc từ 15 - 30 o

* Đất đai, khí hậu, thủy văn + Thổ nhưỡng

Theo tài liệu thổ nhưỡng của Hội Khoa học đất Việt Nam, đất huyện Trạm Tấu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa trên núi, gây ảnh hưởng đáng kể đến đặc điểm đất đai khu vực Quá trình phong hoá đất ở đây diễn ra khá mạnh, tạo thành các tầng đất có độ dày khác nhau từ mỏng đến dày, phù hợp với đặc trưng của đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình Những đặc điểm này góp phần quan trọng vào việc xác định xử lý đất đai và phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu đất đai trong vùng được chia làm 4 nhóm:

Nhóm đất phù sa (P), đặc biệt là đất Fluvisol (FL), chiếm diện tích 9 ha, chiếm khoảng 0,01% diện tích tự nhiên toàn huyện Loại đất này phân bố chủ yếu ở khu vực Ngòi Thia giáp huyện Văn Chấn, với đặc điểm phân bố phụ thuộc vào thành phần mẫu đất và chất lượng của các suối chảy qua khu vực Thành phần sản phẩm bồi tụ trên đất phù sa có các đặc tính lý, hoá học khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong môi trường và điều kiện tự nhiên của vùng.

Nhóm đất xám (X), hay còn gọi là Acrisols (AC), chiếm diện tích lớn nhất trong vùng với 48.372,01 ha, chiếm 65,07% tổng diện tích tự nhiên Các đất này chủ yếu phân bố ở khu vực đồi núi của huyện, thường ở độ cao dưới 1.800 m, tập trung nhiều nhất ở các xã Túc Đán, Làng Nhì, Tà Xi Láng Đặc trưng của nhóm đất này là hình thành tại chỗ trên địa hình đồi núi, có độ dốc lớn, đất chứa tầng B tích sét (tầng Argic) với khả năng trao đổi ion dưới 24me/100g đất, độ no bazơ nhỏ hơn 50% Chúng thường không có tầng E, nằm đột ngột trên lớp đất có tính thấm chậm, màu đỏ vàng trên đá mắc ma axit, phiến sét, biến chất, phù sa cổ, đá, cát đều có phản ứng chua, độ no bazơ thấp và hoạt tính thấp, phản ánh khả năng dinh dưỡng và trao đổi chất hạn chế của loại đất này.

Nhóm đất đỏ Ferrasol (FR) diện tích 8.262,26 ha, chiếm 11,12% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố chủ yếu ở các xã như Trạm Tấu và Bản Công trên địa hình dốc trên 15 độ Đây là loại đất có tầng dày trên 30 cm, khả năng trao đổi cation nhỏ hơn hoặc bằng 16 me/100g sét, chứa dưới 10% khoáng có thể phong hóa trong cấp hạt 50-200 mm, và dưới 5% đá chưa phong hoá Đất Ferrasol có phản ứng chua, khả năng hấp thụ dinh dưỡng thấp, chủ yếu chứa khoáng sét là Kaolinit, và quá trình tích luỹ Fe và Al diễn ra tương đối bền vững.

Nhóm đất mùn Alis trên núi cao (A) có diện tích 14.915,6 ha, chiếm khoảng 20,26% tổng diện tích tự nhiên, phân bố rải rác tại các xã vùng cao trên địa hình núi cao trên 1.800 m so với mực nước biển Đây là loại đất hình thành tại chỗ do quá trình tích luỹ mùn chiếm ưu thế, trong điều kiện nhiệt độ thấp và quá trình khoáng hoá yếu Đất có phản ứng chua (KHklc từ 4-5), độ no bazơ thấp dưới 45%, hàm lượng mùn trong tầng mặt trên 5%, nhưng giảm đột ngột ở các tầng dưới, phần lớn có tầng đất mỏng dưới 100 cm.

Nhóm đất khác chiếm diện tích 2.643,33 ha, lớn khoảng 3,54% tổng diện tích tự nhiên của huyện Khu vực nghiên cứu thuộc nhóm đất xám phát triển trên đá biến chất Gnai, phù hợp với các mục đích sử dụng đất nông nghiệp và phát triển bền vững.

Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa trên núi trung bình, với đặc điểm mùa đông lạnh khô và mùa hè oi nóng Nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mang lại lượng mưa lớn và thời tiết ẩm ướt, còn mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau có khí hậu khô ráo, ít mưa và nhiệt độ cao hơn.

Vào mùa đông, khối không khí lạnh từ phía Bắc tràn xuống gây ra gió mùa Đông Bắc, ảnh hưởng lớn đến khí hậu khu vực Khi gió di chuyển đến dãy Hoàng Liên Sơn, nó bị chặn lại và theo các máng trũng của sông Hồng hướng về Trạm Tấu theo hướng Đông Do trải qua hành trình dài qua nhiều dãy núi cao, nhiệt độ thường giảm bớt, gây cảm giác mát mẻ hơn, cùng với đó là hiện tượng mưa phùn xuất hiện thỉnh thoảng, làm tăng thêm đặc trưng khí hậu mùa đông ở khu vực này.

Vào mùa hè, gió có nguồn gốc từ lục địa qua Lào thổi sang, khiến nhiệt độ chuyển từ nóng ẩm sang nóng khô, đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 6 Gió Đông Nam từ vịnh Bắc Bộ thổi vào mang theo nhiều hơi nước, dễ gây ra mưa rào, dông hoặc lốc xoáy, ảnh hưởng đến thời tiết khu vực.

Gió địa phương như gió Than Uyên và gió Bình Lư hình thành do chênh lệch áp suất giữa các khu vực, thường xuất hiện vào mùa hè Loại gió này mang đặc điểm khô nóng, ảnh hưởng lớn đến khí hậu và cuộc sống sinh hoạt của người dân địa phương.

Khu vực Hoàng Liên Sơn là nơi đón nhận và phân giải các cơn bão, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực lên các hoạt động sản xuất và cuộc sống của người dân Huyện Trạm Tấu ít chịu ảnh hưởng từ gió mạnh, đảm bảo sự ổn định trong đời sống và phát triển kinh tế địa phương Nhờ đó, khu vực này duy trì môi trường an toàn, thích hợp để phát triển nông nghiệp và các hoạt động cộng đồng.

Tính chất đất tại các địa điểm xây dựng mô hình

Bảng 3.2: Kết quả phân tích đất tại địa điểm nghiên cứu

STT Tên mẫu pH OM Nts Tổng số (%) Độ chua trao đổi

Chua thủy phân Thành phần cơ giới me/100g 2 - 0.02 0.02 -

Phần phân tích đất cho thấy đất tại hai mô hình có độ chua trao đổi từ 0,09 đến 0,141 me/100g, cho thấy khả năng trao đổi cation của đất pH KCl dao động từ 4,86 đến 6,69, phản ánh tính axit nhẹ đến trung bình của đất Độ chua thủy phân dao động trong khoảng 3.582 đến 8.779 e/100g, thể hiện mức độ axit của đất ảnh hưởng đến quá trình tiêu hoá dinh dưỡng của cây trồng.

Hàm lượng lân tổng số là từ 0,08 – 0,187% Kali tổng số từ 0,368 – 0,486%

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Xuân Quát và các cộng tác viên (1990), Nghiên cứu xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật rừng trồng cung cấp gỗ lạng ở Tây Nguyên, trọng tâm cây Tếch, Báo cáo tổng kết đề tài NCKHCN cấp nhà nước, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật rừng trồng cung cấp gỗ lạng ở Tây Nguyên, trọng tâm cây Tếch
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát và các cộng tác viên
Năm: 1990
11. Đỗ Đình Sâm và các cộng tác viên (2001), Nghiên cứu bổ sung những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án: Đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên (1998 -2000), Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà nước, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án: Đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên (1998 -2000)
Tác giả: Đỗ Đình Sâm và các cộng tác viên
Năm: 2001
12. Nguyễn Huy Sơn (2006), Nghiên cứu các biện pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu KC.06.05, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu KC.06.05
Tác giả: Nguyễn Huy Sơn
Năm: 2006
13. Đặng Văn Thuyết, Lương Thế Dũng, Nguyễn Thanh Sơn (2009), Xác định điều kiện gây trồng cây Thông caribê cung cấp gỗ lớn ở vùng Đông Bắc, Kỷ yếu hội nghị Khoa học công nghệ Lâm nghiệp khu vực phía Bắc, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định điều kiện gây trồng cây Thông caribê cung cấp gỗ lớn ở vùng Đông Bắc
Tác giả: Đặng Văn Thuyết, Lương Thế Dũng, Nguyễn Thanh Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2009
14. Đặng Văn Thuyết (2010), Nghiên cứu hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh keo, bạch đàn, thông caribê cung cấp gỗ lớn, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh keo, bạch đàn, thông caribê cung cấp gỗ lớn
Tác giả: Đặng Văn Thuyết
Năm: 2010
15. Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình (2005), Khai thác và sử dụng SPSS để xử lý số liệu nghiên cứu trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và sử dụng SPSS để xử lý số liệu nghiên cứu trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
16. Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi (2006), Phân tích thống kê trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thống kê trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w