1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6 10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên​

87 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện Phú Lương Thái Nguyên
Tác giả Đào Trọng Tuyên
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Hồng Anh
Trường học Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngoại khoa
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (10)
    • 1.1. Phôi thai học, giải phẫu và sinh lý bao quy đầu (10)
      • 1.1.1. Phôi thai học và tiến triển tự nhiên của bao quy đầu (10)
      • 1.1.2. Giải phẫu bao quy đầu (12)
      • 1.1.3. Một số đặc điểm mô học của bao quy đầu (13)
      • 1.1.4. Sinh lý bao quy đầu (16)
    • 1.2. Hẹp bao quy đầu (17)
    • 1.3. Biến chứng của hẹp bao quy đầu (19)
    • 1.4. Điều trị hẹp bao quy đầu (22)
      • 1.4.1. Điều trị phẫu thuật cắt bao quy đầu (23)
      • 1.4.2. Điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu (24)
    • 1.5. Tình hình nghiên cứu điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu bằng steroid trên thế giới và Việt Nam (27)
      • 1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (27)
      • 1.5.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (30)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (31)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (0)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (32)
    • 2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu (36)
    • 2.5. Biến số nghiên cứu và cách đánh giá (36)
    • 2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu (39)
    • 2.7. Đạo đức trong nghiên cứu (0)
    • 2.8. Hạn chế của đề tài (40)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.1. Thực trạng hẹp bao quy đầu ở đối tƣợng nghiên cứu (41)
    • 3.2. Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% (51)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (55)
    • 4.1. Thực trạng hẹp bao quy đầu ở học sinh từ 6 - 10 tuổi tại 2 xã Hợp Thành và Tức Tranh của huyện Phú Lương - Thái Nguyên (55)
    • 4.2. Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% (62)
  • KẾT LUẬN (71)

Nội dung

Để tránh được các biến chứng do phẫu thuật, đồng thời giảm bớt chi phí trong điều trị hẹp bao quy đầu cho các trẻ trai ở vùng kinh tế còn khó khăn của huyện Phú Lương, chúng tôi tiến hàn

TỔNG QUAN

Phôi thai học, giải phẫu và sinh lý bao quy đầu

1.1.1 Phôi thai học và tiến triển tự nhiên của bao quy đầu

Quy đầu và bao quy đầu phát triển từ một khối tổ chức chung ở cuối của củ sinh dục trong tuần lễ thứ 3 của thai kỳ, xuất hiện trong bào thai vào khoảng tuần thứ 8 dưới dạng một vòng ngoại bì dày lên Đến khi bào thai 75 ngày tuổi, phần cuối của dương vật không còn được bao phủ bởi bao quy đầu, mà bởi một lớp ngoại bì dày liên tục với thành trước của cơ thể Khi bào thai dài khoảng 55mm, quy đầu được phân định rõ ràng khỏi thân dương vật bằng một vòng thắt, tạo thành một nếp gấp da hình bán nguyệt khuyết vào trung mô dương vật Quá trình phát triển tiếp tục khi nếp da này di chuyển về phía đỉnh quy đầu, với phần lưng phát triển nhanh hơn phần bụng, dẫn đến việc bao phủ toàn bộ phần đáy của quy đầu Đến tuần thứ 12, niệu đạo vẫn mở vào mặt dưới của thân dương vật và phần cuối của niệu đạo chưa hình thành hoàn chỉnh; nếu phát triển dừng lại ở giai đoạn này, có thể gây ra lỗ tiểu lệch thấp và bao quy đầu chỉ trùm lên một phần quy đầu Khi niệu đạo khép lại, phần bụng của bao quy đầu hòa nhập để hình thành hãm quy đầu, và quá trình phát triển bao quy đầu tiếp tục cho đến khi thai được khoảng 16 tuần tuổi, khi đó sự hình thành của bao quy đầu hoàn tất, bờ bao quy đầu dính liền với quy đầu tại lỗ sáo và mở rộng về phía đỉnh quy đầu.

Vào tháng thứ 5 của thai kỳ, biểu mô lát tầng của quy đầu và biểu mô của bao quy đầu phát triển hòa nhập mà không có khoảng tách biệt, điều này là đặc trưng của sự phát triển bình thường Quá trình tách bao quy đầu bắt nguồn từ sừng hóa và bong vảy của biểu mô giữa mặt trong bao quy đầu và quy đầu, bắt đầu từ cả phía trước và sau quy đầu, hướng về trung tâm Khoảng tháng thứ 6, điểm trung tâm sừng hóa xuất hiện đầu tiên ở vùng phình phía sau cuối của bao quy đầu, tạo thành các vòng xoắn tế bào niêm mạc đồng tâm khi tế bào sừng hình thành Sau đó, trung tâm của các vòng xoắn bắt đầu thoái triển, làm tăng kích thước khe giữa quy đầu và bao quy đầu, hình thành khoang bao quy đầu và dẫn đến quy đầu dần tách ra khỏi bao quy đầu Các tế bào bong vảy và sừng hóa tích tụ thành chất trắng (smegma) ở vùng dưới bao quy đầu, đặc biệt là nơi bao quy đầu chưa tách hoàn toàn khỏi quy đầu.

Khi mới sinh, sự phân tách giữa bao quy đầu và quy đầu chưa hoàn toàn ở đa số trẻ nhỏ Thông thường, quá trình này diễn ra trong suốt thời kỳ sơ sinh và trẻ nhỏ Có đến 54% trẻ sơ sinh có thể nhìn thấy đỉnh của quy đầu, nhưng chỉ 4% có thể lộn bao quy đầu hoàn toàn Đến 6 tháng tuổi, vẫn còn đến 80% trường hợp chưa thể lộn bao quy đầu, điều này cho thấy sự phát triển của bao quy đầu kéo dài trong những tháng đầu đời của trẻ.

Trong giai đoạn 12 tháng tuổi, tỷ lệ bao quy đầu còn dính là khoảng 80%, giảm xuống còn 20% vào lúc 2 tuổi và chỉ còn 10% trước 3 tuổi Quá trình tách dính giữa bao quy đầu và quy đầu tiếp tục diễn ra đến 16 tuổi, khi đó tỷ lệ gồm 1% các trẻ em có bao quy đầu không lộn ra được [19] Dinh dưỡng và kích cỡ dương vật của trẻ sơ sinh đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và tách dính của bao quy đầu, với những bé có dương vật lớn khi sinh thường có sự phân tách rõ ràng hơn so với những bé nhỏ hơn Ngoài ra, không có sự khác biệt rõ ràng về đặc điểm và tỷ lệ phân tách bao quy đầu giữa các chủng tộc da trắng và da đen [19].

1.1.2 Giải phẫu bao quy đầu

Dương vật là cơ quan sinh dục ngoài gồm ba phần chính: gốc, thân và quy đầu Quy đầu dương vật được bao phủ bởi một nếp mô mỏng gọi là bao quy đầu, gồm mặt ngoài là da và mặt trong là niêm mạc.

Bao quy đầu đóng vai trò bảo vệ và duy trì độ ẩm cho lớp niêm mạc quy đầu, giúp ngăn ngừa các viêm nhiễm và nhiễm khuẩn tiết niệu Bình thường, quy đầu được bao bọc hoàn toàn hoặc một phần bởi bao quy đầu, cần vệ sinh hàng ngày để loại bỏ các chất cặn bã như smegma, nhằm tránh các biến chứng viêm nhiễm và duy trì sức khỏe vùng kín Việc vệ sinh đúng cách giúp bảo vệ quy đầu khỏi viêm nhiễm và các vấn đề sức khỏe liên quan.

Nếp hãm quy đầu là một nếp da nhỏ, rất co giãn, có vai trò cố định da bao quy đầu với mặt dưới của quy đầu Khi dương vật cương cứng, nếp hãm căng ra giúp giữ cho quy đầu không bị tuột quá xa, bảo vệ và giữ cho quy đầu được che phủ khi cương cứng Nếp hãm đóng vai trò quan trọng trong chức năng bảo vệ và duy trì sự vận hành bình thường của quy đầu.

* Hệ thống mạch máu và thần kinh Động mạch

Có hai nguồn cấp máu chính cho tạng cương: nguồn nông xuất phát từ các nhánh nhỏ nằm trong tổ chức dưới da, có nguồn gốc từ động mạch thẹn ngoài và động mạch đáy chậu nông; trong khi đó, nguồn sâu được cấp từ các nhánh của động mạch thẹn trong, gồm động mạch dương vật sâu và động mạch mu dương vật, đảm bảo cung cấp máu cho toàn bộ cấu trúc của tạng cương.

Máu thoát ra từ bao quy đầu và các hang mạch máu đổ vào các tĩnh mạch nhỏ rồi chuyển hướng vào tĩnh mạch lớn hơn nằm sâu trong các thể hang của dương vật Quá trình này giúp duy trì cương cứng và đảm bảo lưu thông máu hiệu quả Máu sau đó được dẫn về tĩnh mạch mu dương vật sâu, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi sau khi kết thúc cương cứng.

Thần kinh chi phối dương vật gồm thần kinh mu dương vật, tách từ thần kinh thẹn và thần kinh vật lưng thuộc hệ thần kinh tự chủ, phản ánh sự phân bố phức tạp của hệ thần kinh này Phân bố thần kinh dương vật phức tạp giải thích tại sao phong bế thần kinh lưng dương vật không giúp giảm đau triệt để khi cắt bao quy đầu ở trẻ nhỏ Gây tê vòng dương vật cũng không thể chặn các dây thần kinh tạng hướng tâm từ thần kinh thể hang và các nhánh cảm giác của dây thần kinh đáy chậu Ngoài ra, kem gây tê cục bộ không thể giảm hoàn toàn cảm giác đau do cấu trúc nhiều lớp và hệ thống thần kinh phức tạp của dương vật.

1.1.3 Một số đặc điểm mô học của bao quy đầu

Bao quy đầu là một mô chuyên biệt gồm da và niêm mạc liên kết chặt chẽ, giống như các bộ phận như mí mắt, môi bé, hậu môn và môi đôi Cấu trúc của bao quy đầu bao gồm các thành phần quan trọng giúp bảo vệ đầu dương vật và duy trì chức năng sinh lý bình thường Hiểu rõ về cấu trúc và chức năng của bao quy đầu đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe nam giới.

5 lớp là lớp biểu mô niêm mạc, lớp mô liên kết, lớp cơ Dartos, lớp bì, lớp da nhẵn bên ngoài [16]

* Lớp biểu mô niêm mạc

Biểu mô niêm mạc bao quy đầu giống như biểu mô sừng bao phủ quy đầu Hai lớp biểu mô niêm mạc bao quy đầu và quy đầu hợp nhất từ khi mới sinh và chứa các dây thần kinh nhạy cảm Hai lớp biểu mô này không tách biệt nhau cho đến khi có các yếu tố kích thích và tăng trưởng thích hợp, góp phần vào sự phát triển và chức năng của vùng quy đầu.

Lớp mô liên kết bao quy đầu rất giàu mạch máu, dễ gây chảy máu biến chứng khi cắt bao quy đầu Bao quy đầu chứa collagen lỏng lẻo hơn so với lớp mô liên kết dày đặc của quy đầu, không có nang lông, tuyến mồ hôi hay tuyến bã nhờn Tuy nhiên, Tyson mô tả trong mô liên kết có tuyến bã nhờn tiết ra bựa trắng (smegma), nhưng theo nghiên cứu của Cowper năm 1964, những tuyến này thực chất là các sẩn trắng ở vành quy đầu, là cấu trúc biểu mô sợi, không phải tuyến.

Lớp cơ trơn Dartos chuyên biệt cho cơ quan sinh dục ngoài của nam giới, phần lớn nằm bên trong bao quy đầu và liên tục với cơ Dartos bìu, thay đổi theo nhiệt độ để điều chỉnh thể tích dương vật khi cương cứng Ở trẻ sơ sinh, các sợi cơ này sắp xếp theo mô hình khảm, khiến phần xa bao quy đầu nhăn nheo giống như van một chiều, trong khi sau tuổi dậy thì, tỷ lệ sợi cơ và sợi đàn hồi tăng lên, giúp bao quy đầu lộn ra bình thường hơn Sự phát triển của các sợi đàn hồi này giải thích tại sao phần xa bao quy đầu nhăn nheo hơn ở trẻ sơ sinh và ít nhăn hơn ở người lớn, góp phần vào khả năng lộn ra của bao quy đầu bình thường.

Lớp bì bao quy đầu gồm các mô liên kết, mạch máu, thân dây thần kinh, tiểu thể Meissner trong nhú bì và tuyến bã nhờn nằm rải rác, giúp bảo vệ và hỗ trợ cấu trúc của quy đầu Do có nhiều sợi đàn hồi hơn so với lớp liên kết bao quy đầu, lớp bì tạo ra hình dạng “mõm” quanh quy đầu, góp phần duy trì hình dạng và chức năng của quy đầu Các mô đàn hồi trong lớp bì bao quy đầu, cùng với cơ Dartos dày lên tạo thành hãm quy đầu, giúp cố định bao quy đầu và phục hồi vị trí giải phẫu bình thường sau khi căng hoặc lộn bao quy đầu trong quá trình cương hoặc sau phẫu thuật.

Hẹp bao quy đầu

Hẹp bao quy đầu là tình trạng phổ biến ở trẻ sơ sinh trai, trong đó nhiều trẻ có hẹp bao quy đầu sinh lý Khi lớn lên, phần lớn các trường hợp bao quy đầu sẽ tự tách khỏi quy đầu, tuy nhiên vẫn có những trường hợp trở thành hẹp bao quy đầu bệnh lý cần điều trị Việc nhận biết sớm giúp đảm bảo sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ.

Hẹp bao quy đầu sinh lý thường gặp ở trẻ nhỏ từ 0 đến 4 tuổi, do bao quy đầu chưa hoàn toàn tách dính khỏi quy đầu Khi cố gắng lộn bao quy đầu, miệng bao quy đầu mở ra giống như một bông hoa mềm mại, không có sẹo, giúp lộ rõ niêm mạc bên trong bao quy đầu, phù hợp với đặc điểm sinh lý của trẻ nhỏ.

[33], [52] Trong quá trình phát triển của trẻ, việc tách dính sẽ dần hoàn thiện, bao quy đầu sẽ lộn đƣợc ra để lộ hoàn toàn quy đầu

Hình 1.1 Hẹp bao quy đầu sinh lý “Nguồn Hutton K A (2008) [36]”

Trẻ hẹp bao quy đầu sinh lý thường có biểu hiện phồng ở bao quy đầu khi đi tiểu, nhưng hiện tượng này sẽ hết sau khi bao quy đầu tách dính hoàn toàn khỏi quy đầu Nghiên cứu không xâm lấn đã xác minh rằng, dòng nước tiểu chảy bình thường, thể tích nước tiểu còn tồn đọng trong bàng quang và độ dày thành bàng quang không bị ảnh hưởng bởi hẹp bao quy đầu sinh lý, cho thấy tình trạng này không gây ảnh hưởng tiêu cực tới chức năng tiết niệu của trẻ.

Hẹp bao quy đầu bệnh lý là tình trạng bao quy đầu bị hẹp cùng với sẹo ở lỗ bao quy đầu, thường xuất phát từ viêm quy đầu gây dính bao quy đầu và xơ hóa dẫn đến viêm xơ chít hẹp, gọi là Balanitis xerotica obliterans (BXO) Quá trình bệnh lý này ảnh hưởng đến bao quy đầu, quy đầu và đôi khi cả niệu đạo Các dấu hiệu thường gặp bao gồm bao quy đầu có màu tái nhợt, sẹo xơ, hẹp miệng bao quy đầu và có thể gây hẹp lỗ sáo.

Hình 1.2 Viêm xơ chít hẹp bao quy đầu

Hẹp bao quy đầu là bệnh lý đặc trưng với mô học gồm các đặc điểm tăng sừng với nhiều nang, teo lớp Malpighi, thoái hóa các tế bào đáy, phù bạch huyết, tiêu biến collagen dưới da và liên quan đến quá trình viêm mạn tính xâm nhập These histological changes contribute to the pathogenesis of the condition, highlighting the importance of understanding the underlying cellular and tissue alterations.

Triệu chứng điển hình của hẹp bao quy đầu bao gồm ngứa vùng quy đầu, nhiễm trùng tại chỗ, tiểu khó, dòng nước tiểu yếu, không lộn bao quy đầu được và xuất hiện sẹo xơ ở lỗ bao quy đầu Đôi khi, trẻ có thể gặp phải bí tiểu cấp tính hoặc đái dầm ban ngày và ban đêm do tắc nghẽn dòng tiểu kéo dài Siêu âm thường cho thấy hình ảnh ứ đọng nước tiểu ở bàng quang, với thể tích bàng quang dày và rất hiếm gặp giãn thứ phát của hệ tiết niệu trên.

Viêm xơ chít hẹp bao quy đầu hiếm gặp ở trẻ dưới 5 tuổi với tỷ lệ chỉ 0,6%, trong khi cao nhất ở nhóm trẻ trai từ 9 đến 11 tuổi chiếm đến 76% Bệnh không có xu hướng di truyền trong gia đình cũng như không liên quan đến bất kỳ tác nhân vi khuẩn hay virus nào đã được xác nhận Ngoài ra, viêm xơ chít hẹp bao quy đầu không có mối liên hệ rõ ràng với quá trình dậy thì.

Biến chứng của hẹp bao quy đầu

Viêm quy đầu và bao quy đầu

Hẹp bao quy đầu gây khó khăn trong việc đi tiểu, làm tăng nguy cơ tích tụ các chất bài tiết, hình thành bựa sinh dục (smegma) bên trong bao quy đầu Bựa sinh dục tích tụ lâu ngày có thể gây kích thích quy đầu, dẫn đến viêm nhiễm và các vấn đề sức khỏe liên quan.

Triệu chứng của viêm bao quy đầu cấp tính bao gồm nhiễm trùng toàn bộ túi bao quy đầu, có mủ và phù nề, với trường hợp điển hình có tích tụ mủ lan rộng ra toàn bộ thân dương vật Các thể nhẹ hơn giới hạn trong lỗ mở của bao quy đầu, gây đỏ và phù nề mà không có mủ tích tụ, đi kèm với triệu chứng tiểu khó và chảy máu nhẹ từ lỗ bao quy đầu Viêm bao quy đầu cần được phân biệt với nhiễm trùng tiết niệu, vì các triệu chứng của chúng khác nhau rõ ràng Bệnh thường do vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Proteus gây ra Viêm bao quy đầu có hai dạng chính: dạng viêm mô tế bào, đáp ứng tốt với thuốc và ít tái phát, còn dạng thứ hai là viêm da amoniac do ảnh hưởng của tã lót, đã được xác định rõ bởi Cooke năm 1921.

Vi sinh vật phân hủy ure trong nước tiểu và giải phóng amoniac gây kích thích da, làm da trở nên dày hơn và xuất hiện bong vảy trên bề mặt Vì lý do này, nhiều bác sĩ nhi khoa xem việc cắt bao quy đầu là phương pháp điều trị phù hợp Điều trị viêm bao quy đầu bao gồm sử dụng kháng sinh kết hợp vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục, còn phẫu thuật cắt bao quy đầu chỉ được chỉ định cho những bệnh nhi bị viêm tái phát nhiều lần Ngoài ra, các phương pháp thay thế như phẫu thuật tạo hình bao quy đầu hoặc sử dụng kem steroid bôi tại chỗ cũng được xem là các giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu việc cần phải cắt bao quy đầu [18], [36].

Tùy thuộc vào tuổi, dính bao quy đầu có thể tự khỏi theo thời gian, theo mô tả của Gairdner năm 1949 Một số trẻ trai xuất hiện các cục u vàng ở dương vật, thường nhầm là u bã nhờn hoặc u mỡ, nhưng thực chất là do sự tích tụ smegma dưới bao quy đầu, có thể loại bỏ đơn giản bằng vệ sinh sạch sau khi giải phóng dính bao quy đầu Trong một số trường hợp, có thể gặp u nang thực sự của bao quy đầu, và những u nang nằm tại chỗ có thể được khoét ra, còn tổn thương lan tỏa thì cần thực hiện cắt bao quy đầu để xử lý triệt để.

Thắt nghẹt bao quy đầu (Paraphimosis)

Thắt nghẹt bao quy đầu là tình trạng hiếm gặp ở các bé trai, liên quan đến thao tác lộn bao quy đầu quá mạnh dẫn đến không thể kéo lại phía đầu dương vật, gây phù nề bao quy đầu và quy đầu Thường xảy ra sau khi đặt sonde tiểu hoặc lộn bao quy đầu quá thô bạo Đây không phải là bệnh tiềm ẩn của bao quy đầu và một lần bị thắt nghẹt không đồng nghĩa cần phải cắt bao quy đầu Trong trường hợp này, có thể xử trí bằng cách giảm phù nề qua băng ép, chọc thủng bằng kim hoặc làm mát tại chỗ để giảm sưng phù, rồi kéo bao quy đầu về vị trí ban đầu Tuy nhiên, nếu tình trạng thắt nghẹt tái phát nhiều lần, chỉ định phẫu thuật cắt bao quy đầu sẽ được xem xét để tránh biến chứng lâu dài.

[36] Hình 1.9 là điển hình của paraphimosis, gây phù nề bao quy đầu

Hình 1.3 Thắt nghẹt bao quy đầu (Paraphimosis)

Viêm nhiễm ở quy đầu và bao quy đầu nếu không được điều trị sớm và triệt để có thể dẫn đến vi khuẩn xâm nhập vào sâu bên trong gây ra các bệnh lý nghiêm trọng như viêm bàng quang, viêm tiền liệt tuyến và viêm thận Các triệu chứng của nhiễm trùng này đa dạng tùy thuộc mức độ nặng nhẹ, bao gồm sốt, rối loạn thành phần và bài tiết nước tiểu như đái buốt, đái rắt, đái đục, kèm theo kết quả xét nghiệm nước tiểu có bạch cầu và nitrite Tình trạng nhiễm trùng kéo dài không được điều trị có thể dẫn đến suy thận, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.

Các chất cặn bã và chất bẩn kích thích mãn tính quy đầu và bao quy đầu có thể dẫn đến ung thư dương vật Nghiên cứu của Natasha L Larke vào năm 2011 chỉ ra rằng hẹp bao quy đầu là một trong những nguyên nhân chính gây ung thư dương vật, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc và kiểm tra sức khỏe quy đầu để phòng ngừa bệnh ung thư nam giới.

“Nguồn Hutton K A (2008) [36]” Ảnh hưởng đến sự phát triển của dương vật

Viêm nhiễm bao quy đầu tái phát liên tục có thể gây dính bao quy đầu, ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng cương cứng của dương vật Điều này gây đau đớn khi quan hệ tình dục và có thể dẫn đến các vấn đề như xuất tinh sớm, rối loạn cương dương, cùng với ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thủ dâm.

Viêm nhiễm bao quy đầu và quy đầu có thể gây viêm tuyến tiền liệt, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sinh lý và làm giảm chất lượng tinh dịch, từ đó có thể dẫn đến vô sinh Ngoài ra, bệnh còn ảnh hưởng đến sức khỏe của nữ giới khi lây truyền qua đường tình dục, gây các vấn đề viêm nhiễm và rối loạn sức khỏe sinh sản Vì vậy, việc phòng ngừa và điều trị sớm các bệnh viêm nhiễm này là rất cần thiết để duy trì sức khỏe toàn diện nam giới và nữ giới.

Các chất cặn bã và vi khuẩn tích tụ trong bao quy đầu có thể xâm nhập vào âm đạo nữ giới qua hoạt động quan hệ tình dục, gây viêm nhiễm cơ quan sinh dục nữ Tình trạng này là một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung ở phụ nữ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản Vì vậy, việc giữ vệ sinh bộ phận sinh dục đúng cách là rất quan trọng để phòng ngừa các bệnh viêm nhiễm và góp phần giảm thiểu nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung.

Điều trị hẹp bao quy đầu

Có nhiều quan điểm khác nhau về điều trị hẹp bao quy đầu Ở phương Đông, nhiều người cho rằng chỉ can thiệp khi hẹp gây biến chứng, trong khi đó, phương Tây có đến 80% ý kiến ủng hộ việc cắt hoặc nong bao quy đầu sớm ngay từ khi trẻ mới sinh để phòng ngừa các vấn đề liên quan.

1.4.1 Điều trị phẫu thuật cắt bao quy đầu

Cắt bao quy đầu là một phong tục lâu đời có từ hàng ngàn năm trước, được ghi nhận qua các xác ướp cổ đại ở Ai Cập khoảng 2300 năm trước Công nguyên Những hình vẽ trên tường tại Ai Cập cổ đại cũng cho thấy việc cắt bao quy đầu đã được thực hành từ hàng ngàn năm trước, phản ánh truyền thống lâu dài của văn hóa này.

Hình 1.5 Hình vẽ trên bia mộ Ankhmahor ở Saqquara, Ai Cập (2345-2182 trước Công Nguyên) đại diện cho buổi lễ cắt bao quy dầu người lớn

Hiện nay, việc chỉ định cắt bao quy đầu vẫn còn gây tranh cãi, chưa đi đến thống nhất hoàn toàn trong cộng đồng y học Tuy nhiên, các chỉ định phổ biến để thực hiện phẫu thuật này bao gồm những trường hợp cần thiết như hẹp bao quy đầu, viêm quy đầu tái phát hoặc các vấn đề về vệ sinh vùng kín gây ảnh hưởng đến sức khỏe Việc cắt bao quy đầu có thể mang lại lợi ích về mặt y học và chăm sóc sức khỏe nam giới, nhưng quyết định cần dựa trên đánh giá lâm sàng của bác sĩ chuyên môn.

Cắt bao quy đầu giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu, đặc biệt ở trẻ nhỏ Theo nghiên cứu của Hutton K A và cộng sự tại Mỹ, trẻ không cắt bao quy đầu có tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu cao hơn gấp 10 đến 20 lần so với những bé đã được cắt bao quy đầu Điều này cho thấy việc cắt bao quy đầu có thể là biện pháp phòng ngừa hiệu quả các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ nhỏ.

Cắt bao quy đầu giúp phòng ngừa ung thư dương vật, đặc biệt khi hẹp bao quy đầu hoàn toàn Hẹp bao quy đầu là nguyên nhân chính gây ra ung thư dương vật, do làm vệ sinh không sạch sẽ và tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh phát triển Thủ thuật cắt bao quy đầu giúp loại bỏ lớp da thừa, giảm nguy cơ viêm nhiễm và các vấn đề liên quan đến ung thư dương vật Vì vậy, cắt bao quy đầu là biện pháp phòng ngừa hiệu quả cho những người gặp phải tình trạng hẹp bao quy đầu, góp phần bảo vệ sức khỏe nam giới.

Cắt bao quy đầu là một phong tục phổ biến trong nhiều tôn giáo như Do Thái và Hồi giáo, xuất phát từ các yếu tố tôn giáo và truyền thống văn hóa Phương pháp này thường được thực hiện để thể hiện đức tin và tuân thủ các quy tắc tôn giáo liên quan đến vệ sinh và phẩm giá của người theo đạo Trong các cộng đồng này, cắt bao quy đầu không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình trưởng thành và nhận thức về tín ngưỡng của trẻ em.

1.4.2 Điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu Điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu không do viêm xơ chít hẹp bao quy đầu với mục đích để bao quy đầu lộn ra đƣợc hoàn toàn ở độ tuổi sớm hơn

Can thiệp như vậy thường tốt hơn cho những trường hợp hẹp bao quy đầu sinh lý có triệu chứng tại chỗ hoặc viêm bao quy đầu tái phát

Nghiên cứu tại nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ và tại Bệnh viện Nhi đồng I TP Hồ Chí Minh cho thấy, điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu ở trẻ em là phương pháp tiết kiệm chi phí, dễ thực hiện và giúp giảm thiểu nguy cơ tai biến so với phẫu thuật Phương pháp này mang lại hiệu quả tương đương các liệu pháp phẫu thuật, đồng thời trẻ không chịu đau đớn hoặc sang chấn về tinh thần và vùng tổn thương như trong quá trình cắt bao quy đầu.

1.4.2.1 Dùng tay kéo căng da bao quy đầu mỗi ngày

Phần lớn các trường hợp bao quy đầu bị hẹp có thể được nong rộ

Dưới đây là một số câu chính tóm gọn nội dung của bài viết: Bạn có thể hướng dẫn bố mẹ trẻ thực hiện phương pháp kéo giãn bao quy đầu bằng cách sử dụng dầu Vaseline làm chất bôi trơn, sau đó nhẹ nhàng kéo da bao quy đầu lên xuống vài lần để giãn dần mà không gây đau đớn hoặc tổn thương cấu trúc da Quá trình này cần thực hiện từ từ, nhẹ nhàng, và tăng dần mức độ kéo căng theo thời gian, nhằm giúp lớp da bao quy đầu giãn ra tự nhiên Phương pháp này đòi hỏi sự kiên trì, phối hợp tốt giữa bố mẹ và trẻ, đồng thời tuân thủ kỹ thuật đúng để tránh gây rách da hoặc tạo sẹo.

Nong bao quy đầu bằng dụng cụ thường được chỉ định cho trường hợp hẹp bao quy đầu mức độ nhẹ, giúp cải thiện tình trạng dễ dàng và an toàn Phương pháp này có thể thực hiện khi trẻ còn tỉnh, đảm bảo an toàn và giảm thiểu cảm giác đau đớn Việc nong bao quy đầu phù hợp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ nhỏ và phòng ngừa các biến chứng liên quan đến hẹp bao quy đầu trong tương lai.

1.4.2.3 Bôi kem steroid tại chỗ

Bôi kem steroid tại chỗ đã được chứng minh là phương pháp hiệu quả trong điều trị hẹp bao quy đầu nhờ khả năng làm mỏng và giãn bao quy đầu, giúp việc lộn bao quy đầu để hở quy đầu hoàn toàn trở nên dễ dàng hơn [28], [59].

Một số dạng steroid hay đƣợc sử dụng để điều trị hẹp bao quy đầu là:

Kem steroid như betamethasone 0,05%, clobetasol propionate 0,05%, và triamcinolone acetonide 0,02% thường được sử dụng hai lần mỗi ngày kéo dài từ 4 đến 8 tuần, có thể lặp lại đợt điều trị nếu chưa đạt hiệu quả mong muốn Việc dùng thuốc cần kết hợp với nong bao quy đầu bằng tay và thực hiện kiên trì để đạt kết quả tối ưu Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thành công của phương pháp này dao động từ 65,8% đến 95%, và đây là phương pháp điều trị an toàn, ít biến chứng.

Tác dụng dƣợc lý của kem bôi có chứa steroid

Hiệu lực của kem bôi chứa steroid phụ thuộc vào hàm lượng các chất dầu có trong sản phẩm Các loại kem steroid được phân thành 7 nhóm thùy dựa trên mức độ hiệu quả của chúng, giúp lựa chọn phù hợp với tình trạng da và mức độ nặng nhẹ của bệnh lý Việc hiểu rõ về từng nhóm steroid sẽ đảm bảo sử dụng đúng liều lượng, an toàn và hiệu quả trong điều trị các vấn đề da liễu.

Các sản phẩm steroid dùng tại chỗ bao gồm thành phần hoạt chất và dung môi, trong đó dung môi không chỉ vận chuyển hoạt chất mà còn ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc thông qua sự thay đổi tỷ lệ phóng thích steroid và khả dụng sinh học Các dạng dạng thuốc corticosteroid tại chỗ phổ biến gồm thuốc mỡ, kem bôi, gel, bình xịt và thuốc nước, được lựa chọn tùy theo mức độ nghiêm trọng của tình trạng da Thuốc mỡ thường phù hợp cho các tổn thương nghiêm trọng với vảy khô, nhờ chứa các thành phần như petrolatum, sáp, parafin, giúp tăng cường thấm thuốc và phân hủy lớp tế bào sừng Trong khi đó, kem bôi, gel và thuốc nước thích hợp cho các tổn thương có rỉ dịch, phồng rộp và các vùng da dễ bổ sung độ ẩm, đặc biệt được phụ huynh ưa chuộng vì dễ sử dụng, sạch sẽ và ít dính quần áo Trong điều trị hẹp bao quy đầu, Betamethasone 0,05% được xem là lựa chọn phổ biến và hiệu quả.

Betamethason là một corticosteroid tổng hợp, có tác dụng glucocorticoid rất mạnh, kèm theo tác dụng mineralocorticoid không đáng kể

[2] 0,75 mg betamethason có tác dụng chống viêm tương đương với khoảng

5 mg prednisolon Betamethason có tác dụng chống viêm và chống dị ứng

Tình hình nghiên cứu điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu bằng steroid trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Báo cáo đầu tiên của Kikiro C S và cộng sự (1993) đã giới thiệu một cách tiếp cận mới, không phẫu thuật trong điều trị hẹp bao quy đầu [39]

Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Royal của Úc đánh giá hiệu quả điều trị hẹp bao quy đầu ở 63 trẻ trai bằng thuốc mỡ chứa betamethasone valerate 0,05%, hydrocortisone 1% hoặc hydrocortisone 2%, sử dụng ba lần mỗi ngày trong 4 tuần Kết quả cho thấy, có tới 80,95% trẻ (51/63) có thể tự lộn bao quy đầu thành công sau khi điều trị, trong khi 12 trẻ còn lại cần phải thực hiện thủ thuật cắt bao quy đầu.

Sử dụng thuốc mỡ steroid tại chỗ là phương pháp điều trị hiệu quả hẹp bao quy đầu trong đa số trường hợp, đặc biệt khi không có sẹo trắng trên bao quy đầu Tuy nhiên, nếu bao quy đầu có sẹo trắng, phương pháp này thường ít mang lại kết quả khả quan Sau khi ngưng sử dụng thuốc steroid, hẹp bao quy đầu có thể tái phát ở một số trẻ Nghiên cứu của Wright J E (1994) tại Úc cho thấy phương pháp điều trị bảo tồn đạt tỷ lệ thành công khoảng 80% Bên cạnh đó, nghiên cứu của Esposito C và cộng sự (2008) so sánh hiệu quả của thuốc steroid bôi tại chỗ với giả dược, ghi nhận kết quả thành công lên tới 65,8%, cao hơn nhiều so với nhóm dùng giả dược chỉ 16,6%.

Ngay cả khi trẻ mắc hẹp bao quy đầu nặng, nghiên cứu của Lee CH (2013) đã ghi nhận sự cải thiện rõ rệt sau khi sử dụng thuốc bôi steroid, với tỷ lệ thành công lên đến 68,2%, cho thấy phương pháp điều trị này hiệu quả và an toàn.

Nghiên cứu của Nzayisenga J B M và cộng sự (2005) so sánh chi phí điều trị giữa ba phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu Kết quả cho thấy, điều trị bằng steroid tại chỗ là phương pháp hiệu quả về mặt kinh tế nhất, với chi phí từ 758 đô la trở lên Phương pháp này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đạt hiệu quả điều trị cao, phù hợp cho các bệnh nhân tìm kiếm giải pháp điều trị an toàn và tiết kiệm.

Chi phí phẫu thuật tạo hình bao quy đầu dao động từ 2.515 đến 2.580 đô la, trong khi chi phí cắt bao quy đầu từ 3.009 đến 3.241 đô la, cho mỗi trường hợp Phương pháp điều trị hiệu quả nhất là sử dụng steroid tại chỗ, cụ thể là betamethasone 0,05% trong 4 đến 6 tuần, giúp tiết kiệm tới 75% chi phí so với phẫu thuật cắt bao quy đầu Can thiệp phẫu thuật chỉ nên được xem xét khi các phương pháp điều trị tại chỗ thất bại, nhằm tối ưu hóa chi phí và hiệu quả điều trị.

Nghiên cứu của Berdeu D và cộng sự tại Pháp năm 2001 đã so sánh hiệu quả kinh tế giữa phẫu thuật và điều trị dùng steroid tại chỗ Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công của điều trị bằng steroid lên đến 85%, giúp giảm chi phí lên tới 75% và tiết kiệm khoảng 150 triệu Phăng trong vòng một năm.

Từ năm 1997 đến 1998, Orsola A cùng các cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá kết quả lâu dài của việc sử dụng steroid tại chỗ trong điều trị hẹp bao quy đầu ở trẻ em Nghiên cứu bao gồm 137 trẻ trai được điều trị tại phòng khám niệu nhi tại Fundacio Pulgvert Kết quả của nghiên cứu cho thấy hiệu quả tích cực của phương pháp sử dụng steroid trong việc cải thiện tình trạng hẹp bao quy đầu lâu dài, mang lại lợi ích lớn cho các bệnh nhi.

Trường hợp tại Tây Ban Nha, steroid betamethasone dipropionate 0,05% được sử dụng để điều trị hẹp bao quy đầu bằng cách bôi tại chỗ hai lần mỗi ngày trong một tháng Kết quả đánh giá sau điều trị và sau 6 tháng cho thấy có tới 90% trẻ trai bị hẹp bao quy đầu có thể lộn ra dễ dàng, không còn vòng hẹp xơ, và không có sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng giữa trẻ hẹp bao quy đầu sinh lý và bệnh lý Trong tổng số 137 trẻ tham gia nghiên cứu, betamethasone được dung nạp tốt mà không gây ra tác dụng phụ tại chỗ hoặc toàn thân Nghiên cứu của Nzayisenga J B M (2005) tại Zambia cũng cho thấy tỷ lệ thành công đạt 89% khi điều trị bằng betamethasone 0,1%, minh chứng cho hiệu quả và tính an toàn của phương pháp này trong điều trị hẹp bao quy đầu.

Năm 2000, Lund L và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi tại Hồng Kông để đánh giá hiệu quả điều trị hẹp bao quy đầu bằng steroid bôi tại chỗ trên 137 trẻ trai Trong nghiên cứu này, trẻ được chia thành hai nhóm, gồm nhóm sử dụng betamethasone (nf) và nhóm dùng giả dược (nq), và điều trị kéo dài trong 4 tuần với kem bôi 2 lần mỗi ngày, cùng khả năng kéo dài thêm 4 tuần nếu không đáp ứng Sau 4 tuần điều trị, 74% trẻ dùng betamethasone có thể lộn được bao quy đầu, so với 44% của nhóm dùng giả dược, cho thấy steroid tại chỗ là phương pháp điều trị hiệu quả đầu tiên giúp tránh phẫu thuật gần 90% các trường hợp Lund nhấn mạnh rằng sử dụng steroid tại chỗ nên được ưu tiên trong điều trị hẹp bao quy đầu.

Nghiên cứu năm 2005 trên 56 trẻ trai chẩn đoán viêm xơ chít hẹp bao quy đầu tại Bệnh viện Nhi Sheffield cho thấy, steroid chỉ hiệu quả đối với các trường hợp viêm xơ chít nhẹ, có sẹo nhỏ mới hình thành Tuy nhiên, khi sẹo đã tồn tại lâu, steroid không có tác dụng điều trị.

Nghiên cứu của Celis S và cộng sự từ năm 1995 đến 2013 đã ghi nhận phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ chốt cho viêm xơ chít hẹp bao quy đầu Tuy nhiên, họ cũng phát hiện rằng steroid tại chỗ mang lại kết quả khả quan và có thể xem xét là một lựa chọn thay thế an toàn, ít xâm lấn hơn.

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Hẹp bao quy đầu là tình trạng phổ biến ở trẻ trai, có thể là hẹp sinh lý hoặc bệnh lý Hai phương pháp điều trị chính gồm phẫu thuật cắt bao quy đầu và điều trị bảo tồn bằng kem steroid kết hợp nong bao quy đầu Việc chọn phương pháp phù hợp vẫn còn gây tranh cãi giữa các chuyên gia Nghiên cứu của Nguyễn Tiến và cộng sự tại Việt Nam đã đánh giá hiệu quả của điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu bằng kem betamethasone dipropionate 0,05% trên 319 trường hợp, mở ra hướng làm giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết.

Trong lần đầu tiên thực hiện tại bệnh viện, các bác sĩ gây tê tại chỗ và dùng dụng cụ nhẹ nhàng để nong tách dính giữa quy đầu và bao quy đầu tới rãnh quy đầu, sau đó làm sạch và bôi trơn quy đầu bằng kem betamethasone 0,05% Phương pháp này phải nhẹ nhàng để tránh rách da và gây chảy máu, đồng thời được hướng dẫn phụ huynh tự thực hiện tại nhà hai lần mỗi ngày trong vòng một tháng, mang lại tỷ lệ thành công lên tới 90,5% Nghiên cứu cho thấy, hiệu quả của phương pháp không phụ thuộc vào tuổi của trẻ, mà chủ yếu dựa trên thể trạng của bệnh, với tỷ lệ thành công cao ở các trẻ bị hẹp bao quy đầu do dính và thấp hơn ở trẻ có sẹo xơ hoá hoặc kèm theo vùi dương vật.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

Tất cả học sinh nam ở độ tuổi từ 6 - 10 tuổi, của trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tƣợng nghiên cứu

- Tất cả học sinh nam ở độ tuổi từ 6 - 10, có bộ phận sinh dục ngoài bình thường

- Chọn những học sinh nam bị hẹp bao quy đầu (từ loại I - IV theo phân loại của Kayaba [38])

- Bố mẹ học sinh và học sinh tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Học sinh có dị tật lỗ tiểu kèm theo

- Hẹp bao quy đầu bệnh lý

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Chọn chủ đích trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

Chúng tôi chọn hai trường tiểu học Hợp Thành và Tức Tranh thuộc huyện Phú Lương làm địa điểm nghiên cứu vì đây là các trường nằm trong vùng còn gặp nhiều khó khăn, nơi mà nhận thức của người dân về sức khỏe nói chung, đặc biệt là sức khỏe lứa tuổi học đường còn hạn chế Đặc biệt, các bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm và chú trọng đến sức khỏe của con em mình Nghiên cứu tập trung vào điều trị hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% tại hai trường, trong đó học sinh không phải trả phí, chi phí nghiên cứu tự túc nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng tiếp cận của cộng đồng.

Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 11 và 12 năm 2014 sau khi nhận được sự cho phép từ Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hợp Thành và Trường Tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên.

Trong thời gian 8 tuần, nghiên cứu bắt đầu bằng 2 tuần đầu tiên tập trung khám sàng lọc các trẻ bị hẹp bao quy đầu và thực hiện xét nghiệm nước tiểu Sau đó, trẻ được điều trị nong hẹp bao quy đầu kết hợp sử dụng thuốc bôi betamethasone 0,05% Hiệu quả của phương pháp điều trị được đánh giá sau 6 tuần thực hiện.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu can thiệp so sánh trước và sau khi điều trị Nghiên cứu gồm 2 giai đoạn:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá thực trạng hẹp bao quy đầu ở học sinh nam độ tuổi từ 6 đến 10 tại trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên Kết quả giúp hiểu rõ tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan, góp phần nâng cao nhận thức và phát hiện sớm các trường hợp cần can thiệp y tế Đồng thời, đề xuất các biện pháp phòng ngừa và chăm sóc phù hợp để giảm thiểu các biến chứng liên quan đến hẹp bao quy đầu ở trẻ nhỏ.

Dựa trên kết quả nghiên cứu mô tả cắt ngang, nhóm học sinh nam bị hẹp bao quy đầu (từ loại I đến loại IV theo phân loại Kayaba H 1996) đã được chọn để tiến hành can thiệp nong hẹp bao quy đầu kết hợp với bôi Betamethasone 0,05% Sau 6 tuần điều trị, kết quả đã được đánh giá để xác định hiệu quả của phương pháp điều trị này.

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu mô tả, phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện, bao gồm toàn bộ 353 học sinh nam trong độ tuổi từ 6 đến 10 tuổi tại Trường tiểu học Hợp Thành và Trường tiểu học Tức Tranh thuộc huyện Phú Lương - Thái Nguyên Việc chọn lứa tuổi 6-10 tuổi dựa trên thực tế là các học sinh đang theo học tại các trường tiểu học trong khu vực nghiên cứu.

* Đối với nghiên cứu can thiệp: Chọn mẫu thuận tiện có chủ đích

Trong nghiên cứu, toàn bộ 273 học sinh nam được chẩn đoán xác định có hẹp bao quy đầu đã được chọn vào nhóm nghiên cứu sau khi đáp ứng các tiêu chí tham gia Các học sinh cùng bố mẹ thống nhất đồng ý tham gia vào nghiên cứu, đảm bảo tính khách quan và hợp pháp của quá trình thu thập dữ liệu.

2.3.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

* Phương pháp xét nghiệm nước tiểu

- Phương pháp lấy mẫu nước tiểu: Hướng dẫn bố (mẹ) học sinh và học sinh lấy nước tiểu vào ống đựng bệnh phẩm như sau:

+ Phát cho mỗi học sinh một ống nghiệm đựng nước tiểu có nắp đậy kín và đã dán mã số theo mã nghiên cứu trên phiếu điều tra

Thời gian lấy mẫu nước tiểu là vào 6 giờ sáng ngay sau khi học sinh thức dậy Trước khi lấy mẫu, cần vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài sạch sẽ bằng nước sạch và xà phòng, sau đó lau khô bằng khăn sạch để đảm bảo mẫu nước tiểu chính xác Hướng dẫn bố mẹ và học sinh thực hiện đúng quy trình vệ sinh để phòng tránh nhiễm khuẩn và đảm bảo chất lượng mẫu.

Phương pháp lấy nước tiểu đúng cách bao gồm bỏ phần nước tiểu ban đầu, sau đó lấy phần giữa bãi vào ống nghiệm chiếm khoảng 2/3 dung tích, rồi đậy kín nắp ống nghiệm Bố mẹ hoặc người giám sát học sinh cần theo dõi quá trình lấy mẫu để đảm bảo độ chính xác của kết quả xét nghiệm.

- Loại que thử làm xét nghiệm nước tiểu: Sử dụng que thử nước tiểu 10 thông số loại ACON Mission

Để tiến hành xét nghiệm nước tiểu, nghiên cứu viên sử dụng que thử nước tiểu nhúng vào mẫu nước tiểu đã được lấy trong ống nghiệm, trừ phần cán que thử, và để trong khoảng 1-2 phút trước khi đọc kết quả.

Để đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu, bạn cần lấy que thử ra khỏi ống nghiệm và so sánh ngay màu sắc trên que thử với bảng màu mẫu trên lọ đựng Quá trình này giúp xác định chính xác sự có mặt của các thành phần trong nước tiểu, từ đó đánh giá tình trạng sức khỏe một cách hiệu quả.

Tiêu chuẩn đánh giá nhiễm khuẩn tiết niệu dựa trên kết quả xét nghiệm nước tiểu, trong đó có bằng chứng rõ ràng về sự hiện diện của Leukocyte (bạch cầu) và Nitrite Khi xét nghiệm nước tiểu cho thấy có cả Leukocyte và Nitrite, điều này xác định chính xác có nhiễm khuẩn tiết niệu Việc phát hiện đồng thời hai chỉ số này là tiêu chí quan trọng trong chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu, giúp các bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

Hình 2.1 Đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử

Phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu hiệu quả bao gồm việc nong bao quy đầu bằng dụng cụ chuyên dụng để mở rộng khe bao quy đầu Sau quá trình nong, bác sĩ sẽ bôi thuốc mỡ betamethasone 0,05% lên quy đầu và bao quy đầu nhằm giảm sưng tấy, làm mềm da, hỗ trợ quá trình điều trị tại nhà Phương pháp này giúp cải thiện tình trạng hẹp bao quy đầu an toàn, không xâm lấn, phù hợp với các trường hợp nhẹ đến trung bình Tuy nhiên, cần thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ để đạt hiệu quả tối ưu và tránh biến chứng.

- Địa điểm thực hiện phương pháp điều trị: Phòng y tế của Trường tiểu học Hợp Thành và Trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

- Dụng cụ nong bao quy đầu: Bộ panh tiểu phẫu cỡ nhỏ, gạc vô khuẩn, găng tay vô khuẩn

+ Thuốc để thực hiện thủ thuật:

Lidocain 10% dạng xịt Dung dịch betadin, nước muối sinh lý + Thuốc bôi tại bao quy đầu:

Biệt dƣợc: Medskin Beta Nhà sản xuất: Công ty cổ phần dƣợc Hậu Giang

+ Thuốc uống sau khi làm thủ thuật:

Paracetamol 500mg (phát cho trẻ uống sau khi nong và bôi thuốc, liều 10 - 15mg/kg cân nặng)

Kỹ thuật nong bao quy đầu và bôi thuốc Betamethasone 0,05% bắt đầu bằng việc gây tê tại chỗ bằng Lidocain 10% dạng xịt để giảm đau Sau đó, sử dụng panh nhỏ nhẹ nhàng nong qua lỗ bao quy đầu, tránh gây rách hoặc tổn thương để tách dính giữa quy đầu và niêm mạc bao quy đầu tới tận rãnh quy đầu Quá trình này cần diễn ra cẩn thận, nhẹ nhàng để không gây chảy máu hoặc tổn thương da, từ đó giảm nguy cơ hình thành sẹo sau này Sau khi tách dính, vệ sinh sạch sẽ, rồi tiến hành bôi Betamethasone 0,05% để giúp giảm viêm và hỗ trợ quá trình lành thương.

: + Bôi thuốc 2 lần/ ngày, vào buổi sáng trước khi đi học và buổi tối sau khi tắm

+ Trước khi bôi thuốc, phải vệ sinh bộ phận sinh dụ ằng nước sạch (hoặc nướ bằng khăn sạch

+ Kéo lộn bao quy đầu căng đến mức có thể (không gây đau cho trẻ) rồi bôi mỡ betamethasone 0,05% lên quy đầu và da bao quy đầu

+ Hẹn lịch khám lại cho học sinh sau 6 tuần để đánh giá kết quả điều trị

Trong quá trình điều trị tại nhà, phụ huynh và học sinh cần chú ý kéo bao quy đầu lên để vệ sinh và bôi thuốc đúng cách, sau đó phải kéo bao quy đầu về vị trí ban đầu để phòng ngừa tình trạng thắt nghẹt bao quy đầu (paraphimosis) Nếu không thể kéo bao quy đầu xuống trở lại, cần liên hệ ngay cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi điện thoại theo số ghi trên phiếu hướng dẫn để được hướng dẫn kịp thời.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu can thiệp so sánh trước và sau khi điều trị Nghiên cứu gồm 2 giai đoạn:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

* Đối với nghiên cứu can thiệp: Chọn mẫu thuận tiện có chủ đích

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.3.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

* Phương pháp xét nghiệm nước tiểu

- Phương pháp lấy mẫu nước tiểu: Hướng dẫn bố (mẹ) học sinh và học sinh lấy nước tiểu vào ống đựng bệnh phẩm như sau:

+ Phát cho mỗi học sinh một ống nghiệm đựng nước tiểu có nắp đậy kín và đã dán mã số theo mã nghiên cứu trên phiếu điều tra

Thời gian lấy nước tiểu là vào lúc 6 giờ sáng sau khi học sinh thức dậy Trước khi lấy mẫu, phụ huynh và học sinh cần vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài bằng nước sạch và xà phòng, sau đó lau khô bằng khăn sạch để đảm bảo mẫu nước tiểu sạch và chính xác cho xét nghiệm.

Phương pháp lấy nước tiểu đúng cách bao gồm việc bỏ phần nước tiểu đầu bãi rồi lấy phần nước tiểu giữa bãi vào ống nghiệm (khoảng 2/3 ống), sau đó đậy kín nắp ống nghiệm Trong quá trình này, bố mẹ hoặc người giám sát cần theo dõi chặt chẽ để đảm bảo việc lấy mẫu chính xác và vệ sinh Việc thực hiện đúng quy trình này giúp đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác, phù hợp với các quy chuẩn y tế.

- Loại que thử làm xét nghiệm nước tiểu: Sử dụng que thử nước tiểu 10 thông số loại ACON Mission

Để thực hiện xét nghiệm nước tiểu, sau khi lấy mẫu nước tiểu, nghiên cứu viên dùng que thử nước tiểu nhúng vào trong ống nghiệm chứa mẫu (trừ phần cán que thử), rồi để khoảng 1-2 phút để phản ứng diễn ra Sau đó, nghiên cứu viên lấy que thử ra và đọc kết quả xét nghiệm một cách chính xác.

Cách đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu rất đơn giản: lấy que thử ra khỏi ống nghiệm và so sánh ngay sự thay đổi màu sắc trên que với bảng màu mẫu in trên lọ đựng Việc này giúp xác định chính xác sự có mặt của các thành phần trong nước tiểu một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Tiêu chuẩn đánh giá nhiễm khuẩn tiết niệu dựa trên kết quả xét nghiệm nước tiểu, với yếu tố quan trọng là sự hiện diện của Leukocyte và Nitrite trong mẫu xét nghiệm Khi cả hai chỉ số này đều dương tính, khả năng cao là bệnh nhân đang mắc nhiễm khuẩn tiết niệu Việc xác định chính xác các dấu hiệu này giúp chẩn đoán nhanh chóng và chính xác, từ đó thúc đẩy quá trình điều trị hiệu quả hơn.

Hình 2.1 Đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử

Phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu hiệu quả bao gồm việc nong bao quy đầu bằng dụng cụ chuyên dụng để giải phóng phần hẹp Sau quá trình nong, bác sĩ sẽ tiến hành bôi thuốc mỡ betamethasone 0,05% lên quy đầu và bao quy đầu nhằm giảm sưng tấy và thúc đẩy quá trình hồi phục Phần lớn các trường hợp hẹp bao quy đầu có thể được điều trị thành công bằng phương pháp này mà không cần phẫu thuật.

- Địa điểm thực hiện phương pháp điều trị: Phòng y tế của Trường tiểu học Hợp Thành và Trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

- Dụng cụ nong bao quy đầu: Bộ panh tiểu phẫu cỡ nhỏ, gạc vô khuẩn, găng tay vô khuẩn

+ Thuốc để thực hiện thủ thuật:

Lidocain 10% dạng xịt Dung dịch betadin, nước muối sinh lý + Thuốc bôi tại bao quy đầu:

Biệt dƣợc: Medskin Beta Nhà sản xuất: Công ty cổ phần dƣợc Hậu Giang

+ Thuốc uống sau khi làm thủ thuật:

Paracetamol 500mg (phát cho trẻ uống sau khi nong và bôi thuốc, liều 10 - 15mg/kg cân nặng)

Kỹ thuật nong bao quy đầu kết hợp bôi thuốc Betamethasone 0,05% là phương pháp hiệu quả để điều trị dính quy đầu ở trẻ nhỏ Trước thực hiện, trẻ được gây tê tại chỗ bằng Lidocain 10% dạng xịt để giảm đau và rơn rể Tiếp theo, bác sĩ dùng panh nhỏ nhẹ nhàng nong qua lỗ bao quy đầu, tách biệt dính giữa quy đầu và niêm mạc mà không gây rách, đến tận rãnh quy đầu để đảm bảo hiệu quả điều trị Sau đó, vệ sinh sạch sẽ vùng da, dùng Betamethasone 0,05% để bôi trơn và làm mềm mô, giúp giảm viêm và hỗ trợ quá trình liền sẹo Trong quá trình nong, cần thực hiện nhẹ nhàng để tránh tổn thương da bao quy đầu, giảm nguy cơ chảy máu và sẹo sau này.

: + Bôi thuốc 2 lần/ ngày, vào buổi sáng trước khi đi học và buổi tối sau khi tắm

+ Trước khi bôi thuốc, phải vệ sinh bộ phận sinh dụ ằng nước sạch (hoặc nướ bằng khăn sạch

+ Kéo lộn bao quy đầu căng đến mức có thể (không gây đau cho trẻ) rồi bôi mỡ betamethasone 0,05% lên quy đầu và da bao quy đầu

+ Hẹn lịch khám lại cho học sinh sau 6 tuần để đánh giá kết quả điều trị

Hướng dẫn bố mẹ và học sinh trong quá trình điều trị tại nhà cần kéo bao quy đầu lên để vệ sinh và thoa thuốc, đồng thời nhớ kéo bao quy đầu trở lại vị trí ban đầu để tránh tình trạng thắt nghẹt bao quy đầu (paraphimosis) Trong trường hợp không thể kéo bao quy đầu xuống được, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất hoặc liên hệ với bác sĩ theo số điện thoại trên phiếu hướng dẫn để được hỗ trợ kịp thời.

Trong quá trình sử dụng thuốc tại nhà, nếu xuất hiện mẩn ngứa, đau bao quy đầu hoặc quy đầu, hoặc thấy bất kỳ thay đổi màu sắc và bất thường nào tại vùng quy đầu, bạn cần liên hệ ngay với bác sĩ qua số điện thoại ghi trong hướng dẫn để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Chỉ tiêu nghiên cứu

* Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1

- Hình thái bao quy đầu, đƣợc đánh giá và phân thành 5 loại theo Kayaba

- Tình trạng niêm mạc bao quy đầu

- Tiền sử có sƣng, đau quy đầu, bao quy đầu

- Tiền sử có đái buốt, đái rắt

- Tình trạng biến chứng do hẹp bao quy đầu (viêm bao quy đầu, viêm đường tiết niệu)

- Kết quả xét nghiệm nước tiểu: Nhiễm khuẩn tiết niệu (khi có cả Leukocyte và Nitrite trong nước tiểu)

* Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2

- Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% sau 6 tuần điều trị So sánh hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị

- Tỷ lệ các loại hình thái bao quy đầu sau khi điều trị (theo phân loại của Kayaba H [38])

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với hình thái bao quy đầu

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với tình trạng niêm mạc bao quy đầu

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu và việc tuân thủ điều trị

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với trình độ học vấn của bố, mẹ học sinh

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với dân tộc của bố, mẹ học sinh.

Biến số nghiên cứu và cách đánh giá

- Tuổi của học sinh: tính theo năm dương lịch

- Hình thái bao quy đầu: Khám và phân theo Kayaba H (1996) [38]:

Hình 2.2 Phân loại bao quy đầu

Bao quy đầu lộn ra có thể được phân thành bốn loại chính theo mức độ lộn ra và sự tiếp xúc với lỗ sáo Loại I là bao quy đầu lộn ra nhưng không hở lỗ sáo, trong khi Loại II là bao quy đầu lộn ra chỉ để lộ lỗ sáo Loại III đề cập đến trường hợp bao quy đầu lộn ra để lộ khoảng 1/2 quy đầu tính từ lỗ sáo, còn Loại IV là bao quy đầu lộn ra để lộ hơn 1/2 quy đầu nhưng chưa hề hở rãnh quy đầu Việc nhận biết các loại này giúp đánh giá mức độ tổn thương và hướng điều trị phù hợp.

Loại V là trạng thái bình thường của bao quy đầu, không gặp phải tình trạng hẹp bao quy đầu Trong khi đó, từ loại I đến loại IV thể hiện các mức độ hẹp bao quy đầu giảm dần, còn loại V dễ dàng kéo bao quy đầu ra để lộ hoàn toàn quy đầu Việc nhận biết các loại này giúp xác định chính xác tình trạng bao quy đầu và cần thiết trong việc đưa ra hướng điều trị phù hợp.

- Tình trạng niêm mạc bao quy đầu:

Viêm: Niêm mạc bao quy đầu dày đỏ, mất bóng, lộn bao quy đầu ra có mùi hôi

Không viêm: Niêm mạc bao quy đầu mỏng, màu hồng nhạt, bóng, lộn ra không có mùi hôi

Không đánh giá đƣợc: Không thể lộn đƣợc bao quy đầu để đánh giá niêm mạc bao quy đầu

+ Thời điểm đánh giá: Tại thời điểm điều tra

- Tiền sử sưng, đau vùng quy đầu: Trước thời điểm điều tra, học sinh đã từng bị sƣng đỏ, đau ở vùng quy đầu

Học sinh có tiền sử đái buốt, đái rắt trước khi được khám, thể hiện qua việc đi tiểu nhiều lần trong ngày nhưng mỗi lần chỉ đái được ít nước, kèm theo cảm giác buồn tiểu sau khi đã đi tiểu xong.

+ Tiêu chuẩn đánh giá: Kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử có cả Leucocyte và Nitrit

+ Thời điểm đánh giá: Tại thời điểm điều tra

- Hình thái bao quy đầu sau 6 tuần điều trị: theo phân loại của Kayaba [38]

- Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05%:

+ Thời điểm đánh giá: Sau 6 tuần điều trị

Kết quả tốt: Da bao quy đầu khi lộn để lộ hết quy đầu và rãnh quy đầu, khi kéo xuống không gây thắt nghẹt bao quy đầu

Kết quả trung bình: Mức độ hẹp bao quy đầu có cải thiện so với trước khi điều trị

Không kết quả: Tình trạng hẹp bao quy đầu không cải thiện so với trước khi điều trị

- Tai biến trong khi làm thủ thuật:

+ Rạn, rách bao quy đầu gây chảy máu

+ Tác dụng phụ của lidocain 10% dạng xịt: mẩn ngứa xuất hiện ngay sau khi xịt, sốc phản vệ

- Biến chứng sau khi làm thủ thuật:

Thắt nghẹt bao quy đầu xảy ra khi bao quy đầu sau khi lộn ra không thể kéo trở lại vị trí cũ, gây ra tình trạng thắt nghẹt Điều này khiến bao quy đầu phù nề, sưng mọng, gây khó chịu và cần được xử lý kịp thời để tránh biến chứng nghiêm trọng.

+ Nhiễm trùng bao quy đầu: bao quy đầu sƣng tấy, có mủ

- Tác dụng phụ của thuốc betamethasone 0,05%:

+ Dị ứng: da bao quy đầu mẩn đỏ, ngứa, khi ngừng bôi thuốc thì hết

+ Teo da: da bao quy đầu mỏng, mạch máu nổi rõ

+ Thay đổi màu sắc da bao quy đầu

- Tuân thủ điều trị tại nhà của bố (mẹ) học sinh và học sinh:

+ Có tuân thủ: Thực hiện đúng theo phương pháp điều trị đã được nghiên cứu viên hướng dẫn

+ Không tuân thủ: Không thực hiện đúng theo phương pháp điều trị do nghiên cứu viên hướng dẫn.

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Nghiên cứu viên trực tiếp khám và chẩn đoán đối tượng nghiên cứu, sau đó phân loại theo hệ thống của Kayaba H, chia thành 5 nhóm dựa trên phân loại bao quy đầu Các học sinh nam có bao quy đầu thuộc các loại I, II, III, IV đủ điều kiện đã đồng ý tham gia điều trị nhằm can thiệp phù hợp và được hướng dẫn cách điều trị bảo tồn tại nhà.

Các số liệu đƣợc thu thập theo mẫu phiếu điều tra

Trong nghiên cứu này, số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16.0 để đảm bảo độ chính xác của dữ liệu Tần suất và tỷ lệ phần trăm được sử dụng để mô tả các đặc điểm về hẹp bao quy đầu ở học sinh nam Kết quả điều trị được đánh giá bằng kiểm định χ², với ý nghĩa thống kê khi p < 0,05, cho thấy kết quả có tính khả thi và độ tin cậy cao.

Nghiên cứu này nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng, hướng tới việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Đề tài đã được Hội đồng phê duyệt đề cương của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành các bước nghiên cứu một cách chuyên nghiệp Mục tiêu chính của nghiên cứu là thúc đẩy các phương pháp phòng ngừa và nâng cao nhận thức về sức khỏe cộng đồng.

Nghiên cứu được thực hiện với tinh thần nghiêm túc, tôn trọng quyền và sự đồng thuận của học sinh cũng như cha mẹ học sinh Quá trình nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích và phương pháp cho phụ huynh của học sinh để đảm bảo sự hiểu biết và đồng thuận Chỉ những học sinh có sự đồng ý của gia đình mới được tham gia vào nghiên cứu, đồng thời kết quả sẽ được giữ bí mật và bảo mật tuyệt đối Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi đến gia đình học sinh dưới sự giám sát của giáo viên hướng dẫn, nhằm đảm bảo tính minh bạch và uy tín của quá trình nghiên cứu.

2.8 Hạn chế của đề tài

Dự án được triển khai tại hai xã khó khăn của huyện Phú Lương, đảm bảo quy trình thực hiện qua nhiều bước nhằm phù hợp với điều kiện địa phương Việc đánh giá kết quả được thực hiện sau 6 tuần để không ảnh hưởng đến việc học của học sinh và hoạt động chuyên môn của nhà trường Mục tiêu của dự án là nâng cao chất lượng giáo dục tại các xã đặc biệt, đồng thời đảm bảo tiến độ và hiệu quả của quá trình triển khai.

Do hạn chế về nguồn tài chính và nguồn nhân lực, lần đầu tiên áp dụng phương pháp nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi thuốc Betamethasone 0,05% tại cộng đồng, nên số lượng học sinh tham gia nghiên cứu còn hạn chế.

Hạn chế của đề tài

Dự án được triển khai tại hai xã khó khăn của huyện Phú Lương, đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của học sinh và hoạt động chuyên môn của nhà trường Quy trình thực hiện dự án bao gồm nhiều bước, được lên kế hoạch cẩn thận để đảm bảo hiệu quả Việc đánh giá kết quả dự án chỉ diễn ra sau 6 tuần thực hiện nhằm theo dõi sát sao, đồng thời duy trì môi trường học tập và hoạt động của nhà trường không bị gián đoạn.

Do nguồn tài chính và nhân lực hạn chế, đây là lần đầu tiên áp dụng phương pháp nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi thuốc Betamethasone 0,05% tại cộng đồng, dẫn đến số lượng học sinh trong nghiên cứu còn ng محدود.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Ngoại (2002). Bệnh lý hẹp bao quy đầu, .2. Betamethasone, (2002).. Tr. 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý hẹp bao quy đầu, ". 2. "Betamethasone
Tác giả: Bộ môn Ngoại (2002). Bệnh lý hẹp bao quy đầu, .2. Betamethasone
Năm: 2002
6. (2012). "Giá trị que thấm chẩn đoán nhanh nhiễm trùng tiểu ở trẻ em", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 16- Số 2.B. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị que thấm chẩn đoán nhanh nhiễm trùng tiểu ở trẻ em
Năm: 2012
7. Ashfield J E, Nickel K R. (2003), "Treatment of phimosis with topical steroids in 194 children", J Urol, 169 (3), pp 1106 -1108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of phimosis with topical steroids in 194 children
Tác giả: Ashfield J E, Nickel K R
Năm: 2003
8. Babu R, Harrison S K, Hutton K A. (2004), "Ballooning of the foreskin and physiological phimosis: is there any objective evidence of obstructed voiding?", BJU Int, 94 (3), pp 384-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ballooning of the foreskin and physiological phimosis: is there any objective evidence of obstructed voiding
Tác giả: Babu R, Harrison S K, Hutton K A
Năm: 2004
9. Bell L.E, Mattoo T.K. (2009), "Update on childhood urinary tract infection and vesicoureteral reflux", Semin Nephrol, 29, pp 349-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Update on childhood urinary tract infection and vesicoureteral reflux
Tác giả: Bell L.E, Mattoo T.K
Năm: 2009
10. Berdeu D, Sauze L. (2001),"Cost-effectiveness analysis of treatment for phimosis: a comparison of surgical and medicinal approaches and their economic effect", BJU International, 87, pp 239 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost-effectiveness analysis of treatment for phimosis: a comparison of surgical and medicinal approaches and their economic effect
Tác giả: Berdeu D, Sauze L
Năm: 2001
11. Birley H D, Walker M M. (1993), "Clinical features and management of recurrent balanitis; association with recurrent washing", Genitourin.Med 69, pp 400-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical features and management of recurrent balanitis; association with recurrent washing
Tác giả: Birley H D, Walker M M
Năm: 1993
12. Caljouw M A A, Elzen W P J. (2011), "Predictive factors of urinary tract infections among the oldest old in the general population. a population-based prospective follow-up study", Published online May 16, 2011,9 (57)), pp 10.1186/1741-7015-9-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictive factors of urinary tract infections among the oldest old in the general population. a population-based prospective follow-up study
Tác giả: Caljouw M A A, Elzen W P J
Năm: 2011
13. Celis S, Reed F, Murphy F. (2014), "Balanitis xerotica obliterans in chilren and aldolescents: a literature review and clinical series", J Pediatr Urol,vol 10 (1), pp 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Balanitis xerotica obliterans in chilren and aldolescents: a literature review and clinical series
Tác giả: Celis S, Reed F, Murphy F
Năm: 2014
14. Chu, C. C., Chen, K.C., Diau, G.Y. (1999), "Topical steroid treatment of phimosis in boys.". J. Urol,162, pp 861-863 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Topical steroid treatment of phimosis in boys
Tác giả: Chu, C. C., Chen, K.C., Diau, G.Y
Năm: 1999
15. Clark C J, Kennedy W A. (2010), "Urinary tract infection in children: when to worry". Urol Clin North Am, 37 (2), pp 229-241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urinary tract infection in children: when to worry
Tác giả: Clark C J, Kennedy W A
Năm: 2010
16. Cold C J, Taylor J R. (1999), "The prepuce", BJU Int,83 (1), pp 34-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prepuce
Tác giả: Cold C J, Taylor J R
Năm: 1999
17. Conway P H, Cnaan A. (2007), "Recurrent urinary tract infections in children: risk factors and association with prophylactic antimicrobials.", JAMA,298 (2), pp 179-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recurrent urinary tract infections in children: risk factors and association with prophylactic antimicrobials
Tác giả: Conway P H, Cnaan A
Năm: 2007
18. Davenport M. (1996), "ABC of general surgery in children. Problems with the penis and prepuce", BMJ, 312, pp 299-301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ABC of general surgery in children. Problems with the penis and prepuce
Tác giả: Davenport M
Năm: 1996
19. Deibert G A. (1933), "The separation of the prepuce in the humen penis", Anat Rec, 57 (4)pp 387-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The separation of the prepuce in the humen penis
Tác giả: Deibert G A
Năm: 1933
20. Dewan PE. (2003), "Treating phimosis", Med J,178 (4), pp 148 – 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treating phimosis
Tác giả: Dewan PE
Năm: 2003
21. Dobanovacki D, Lucić Prostran B. (2012), "Prepuce in boys and adolescents: what when, and how?", Med Pregl 65 (7 -8 ), pp 295-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prepuce in boys and adolescents: what when, and how
Tác giả: Dobanovacki D, Lucić Prostran B
Năm: 2012
23. Elmore JM, Baker LA, Snodgrass WT. (2002), "Topical steroid therapy as an alternative to circumcision for phimosis in boys younger than 3 years", J Urol,168 (4), pp 1746 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Topical steroid therapy as an alternative to circumcision for phimosis in boys younger than 3 years
Tác giả: Elmore JM, Baker LA, Snodgrass WT
Năm: 2002
24. Eric T, Herfindal D. (2011), "Corticosteroid, Goodman &amp; Gilman's pharmacological basis of therapeutics", pp 165-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corticosteroid, Goodman & Gilman's pharmacological basis of therapeutics
Tác giả: Eric T, Herfindal D
Năm: 2011
25. Escala J M, Rickwood A M. (1989), "Balanitis", Br. J. Urol, 63, pp 196-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Balanitis
Tác giả: Escala J M, Rickwood A M
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w