của địa phương, giúp lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đất phù hợp với cây trồng, vật nuôi để đưa ra hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong từng giai đoạn và là cơ sở để đề
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.1.1 Những lý luận cơ bản về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Việc sử dụng nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất là nền tảng để đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững Việc quản lý hiệu quả nguồn lực giúp tăng năng suất, giảm lãng phí và bảo vệ môi trường, đồng thời nâng cao lợi ích kinh tế cho nông thôn và cộng đồng Phát triển nông nghiệp bền vững dựa trên sử dụng tài nguyên một cách hợp lý đang là xu thế tất yếu của các nước trên thế giới Các nước cần đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ, cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ để thực hiện mục tiêu này một cách bền vững.
Kết quả hữu ích là đại lượng vật chất do mục tiêu của con người tạo ra, được biểu hiện bằng các chỉ tiêu phản ánh mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn và nhu cầu ngày càng tăng; ta phải xem xét cách thức kết quả đó được tạo ra, chi phí bỏ ra và liệu nó có mang lại kết quả hữu ích hay không Vì thế, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng của quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả Trên phạm vi toàn xã hội, chi phí để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội, do đó bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội, được xác định bằng tương quan giữa kết quả hữu ích thu được và lượng hao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn.
Sử dụng đất nông nghiệp một cách hiệu quả thông qua bố trí cơ cấu cây trồng và vật nuôi là vấn đề bức thiết được quan tâm ở hầu hết các nước trên thế giới; tối ưu hóa cơ cấu này không chỉ thu hút sự chú ý của giới khoa học, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp nông nghiệp mà còn là mong muốn thiết thực của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2001).
Việc sử dụng đất đai hiệu quả dựa trên một hệ thống biện pháp hài hòa giữa con người, đất đai và các nguồn tài nguyên khác trong mối quan hệ với môi trường Dựa trên nhu cầu thị trường, cần đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi theo thế mạnh của từng địa phương, từ đó nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm Đây là yếu tố then chốt để phát triển nền nông nghiệp hướng tới xuất khẩu có mức độ ổn định và bền vững, đồng thời tối đa hóa công dụng của đất để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường ở mức cao nhất.
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện ở
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung thâm canh
Hiệu quả sử dụng đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, vì vậy việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và nhận thức lý thuyết của lý thuyết hệ thống (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) Theo quan điểm này, hiệu quả được xem xét trên ba mặt cơ bản: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường; đánh giá đồng thời cả ba khía cạnh sẽ bảo đảm việc sử dụng đất vừa tối ưu nguồn lực kinh tế vừa đáp ứng các yêu cầu xã hội và bảo vệ môi trường.
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất được thực hiện trên ba khía cạnh cốt lõi: hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Hiệu quả kinh tế tập trung vào tối ưu hóa lợi ích, năng suất và chi phí liên quan đến sử dụng đất; hiệu quả xã hội xem xét tác động lên đời sống người dân, cơ hội việc làm và sự công bằng trong phân bổ nguồn lực; còn hiệu quả môi trường chú trọng đến chất lượng đất, nước, đa dạng sinh học và phát triển bền vững Đánh giá đồng thời cả ba yếu tố này giúp xác định mức độ hiệu quả tổng thể của quá trình sử dụng đất và định hướng cải thiện lâu dài.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội là đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn xã hội Khi nguồn lực sản xuất ngày càng khan hiếm, nâng cao hiệu quả trở thành một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.
Theo C Mác (1962), quy luật kinh tế đầu tiên dựa trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian lao động và phân phối có kế hoạch thời gian lao động giữa các ngành sản xuất khác nhau Việc thực hiện nguyên tắc "tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hóa và lao động sống) giữa các ngành" là điều kiện để tăng hiệu quả và cân đối quá trình sản xuất Theo quan điểm của C Mác, đây chính là quy luật kinh tế căn bản của hệ thống kinh tế xã hội.
Tiết kiệm được hiểu là tăng năng suất lao động xã hội, nói cách khác là tăng hiệu quả tổng thể Theo quan điểm của Mác, việc nâng cao năng suất vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là nền tảng của mọi xã hội Vì vậy, tăng hiệu quả phải được hiểu ở phạm vi rộng, bao gồm cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội.
Các nhà kinh tế học Samuelson và Nordhaus cho rằng hiệu quả kinh tế có nghĩa là không lãng phí nguồn lực Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, bởi chi phí bỏ lỡ khi tăng sản lượng một loại hàng hóa sẽ là lượng hàng hóa khác có thể được sản xuất Hiệu quả sản xuất xảy ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một loại hàng hóa này mà không làm giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường biên khả năng sản xuất (Production Possibility Frontier - PPF).
Theo L.M Canirop, hiệu quả của sản xuất được tính toán và kế hoạch hóa dựa trên các nguyên tắc chung của nền kinh tế quốc dân, thông qua việc so sánh kết quả sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng Phương pháp này cho phép đánh giá mức độ tối ưu hóa của quá trình sản xuất, từ đó điều chỉnh kế hoạch và phân bổ nguồn lực một cách hợp lý Việc đo lường dựa trên mối quan hệ giữa kết quả và chi phí giúp cả doanh nghiệp và nền kinh tế xác định các biện pháp cải tiến nhằm tăng hiệu quả, giảm lãng phí và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Đỗ Khắc Thịnh cho rằng hiệu quả thường được hiểu là hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thể thực hiện phép trừ hoặc phép trừ không mang ý nghĩa Vì vậy, hiểu hiệu quả một cách linh hoạt hơn là nhận định rằng hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và mục tiêu, đồng thời mang ý nghĩa không lãng phí nguồn lực.
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, nhưng đều thống nhất ở bản chất: người sản xuất muốn thu được kết quả bằng cách bỏ ra các chi phí nhất định, gồm nhân lực, vật lực và vốn Việc so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra cho thấy mức độ hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả với một chi phí định trước hoặc tối thiểu hóa chi phí để đạt được một kết quả nhất định.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và với mọi phạm trù và quy luật kinh tế khác Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng ba vấn đề: tối ưu hóa chi phí và nâng cao năng suất để tăng lợi ích sản xuất; phân bổ nguồn lực hợp lý và quản trị rủi ro nhằm đảm bảo tính khả thi và ổn định; và đảm bảo tính bền vững, thích ứng với biến đổi thị trường và điều kiện môi trường để duy trì sự phát triển lâu dài của ngành nông nghiệp.
Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật tiết kiệm thời gian; quy luật này là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và là điều kiện quyết định cho sự tiến bộ của văn minh xã hội, đồng thời góp phần nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại.
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Diện tích đất có hạn, dân số ngày càng tăng và nhu cầu về lương thực thực phẩm không ngừng tăng lên, nên việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là cấp thiết Để làm được điều này, cần xem xét đồng thời các khía cạnh như cơ cấu cây trồng phù hợp, ứng dụng công nghệ và nông nghiệp thông minh, tối ưu hoá hệ thống tưới tiêu và quản lý nước, cải thiện chất lượng đất và thực hiện quản lý phân bón hiệu quả theo lịch trình hợp lý Bên cạnh đó, đầu tư vào nghiên cứu giống chịu hạn và thích nghi với biến đổi khí hậu, nâng cao năng suất mà vẫn duy trì bền vững môi trường, cùng với xây dựng chuỗi cung ứng ổn định và chính sách hỗ trợ nông nghiệp sẽ góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho tương lai.
Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp đòi hỏi nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và phi kinh tế, như ánh sáng mặt trời, nhiệt độ, thông gió và độ ẩm Vì vậy, để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trước hết cần xác định kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính bằng sản lượng hoặc giá trị sản phẩm trên diện tích đó Việc đo lường hiệu quả theo năng suất trên diện tích cho phép so sánh giữa các vùng đất, nhận diện cơ hội tối ưu hóa quy trình canh tác và nâng cao hiệu quả kinh tế của từng hecta.
1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư (Nguyễn Đình Hợi, 1993);
Trên đất nông nghiệp có thể bố trí nhiều loại cây trồng và áp dụng các hệ thống luân canh khác nhau trên từng vùng đất; do đó cần đánh giá hiệu quả của từng cây trồng và từng hệ thống luân canh để tối ưu hóa sản xuất Việc phân tích hiệu quả theo vùng đất giúp xác định cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, nước và khí hậu, từ đó tăng năng suất, giảm rủi ro và hướng tới nông nghiệp bền vững.
Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp ở mức độ sâu, tác động tới hiệu quả sử dụng đất cả ngắn hạn và dài hạn Do đó, cần nghiên cứu kỹ lưỡng hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, đồng thời xem xét ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất, đặc biệt là các yếu tố môi trường đất và nước (Ngô Thế Dân, 2001).
Trong sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên quý giá, vừa là đối tượng lao động và là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của toàn ngành Tuy nhiên, nông nghiệp thường gây tác động mạnh lên môi trường, vì vậy cần triển khai các giải pháp quản lý bền vững để giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái đất và nước, đồng thời tối ưu hóa sử dụng nguồn lực thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học.
Trong quá trình phát triển, môi trường thường đặt ra những thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp, và chỉ có thể phát triển bền vững khi biết cách bảo vệ môi trường và hạn chế tác động tới đời sống xã hội Phát triển nông nghiệp cần cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, đảm bảo môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển hiện tại và mở ra điều kiện cho tương lai Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần xem xét tác động của hoạt động nông nghiệp tới môi trường xung quanh, khả năng thích ứng của các hình thức sử dụng đất với đặc tính đất đai, cũng như việc sử dụng hóa chất có thể để lại tồn dư hay không.
Lịch sử nông nghiệp là một hành trình dài thể hiện mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, phản ánh sự phát triển và đổi thay của hệ thống sản xuất nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội sâu sắc, gắn kết chặt chẽ với đời sống của nông dân và các quan hệ sản xuất ở nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần xem xét cả những tác động của quá trình sản xuất nông nghiệp và các vấn đề xã hội liên quan như giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Những yếu tố này cho thấy phát triển nông nghiệp không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là động lực cải thiện điều kiện sống và sự bền vững của cộng đồng nông thôn, như Đường Hồng Dật và các cộng sự nhấn mạnh (1994).
1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung xuyên suốt mọi hoạt động sản xuất của xã hội Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các nhà kinh tế đồng thuận rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát để đánh giá hiệu quả gồm: đáp ứng nhu cầu xã hội, tiết kiệm chi phí và nguồn lực, đồng thời đảm bảo sự ổn định lâu dài của hiệu quả.
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
Hiệu quả ở cấp độ toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng bằng của cải vật chất do quá trình sản xuất tạo ra; với nông nghiệp, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là việc đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường do xã hội đề ra, như tăng năng suất cây trồng và vật nuôi, nâng cao chất lượng và tổng sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng tốt nhu cầu nông sản cho thị trường nội địa và mở rộng xuất khẩu, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2001).
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần làm rõ đặc thù của từng đơn vị đất; với mỗi diện tích nông nghiệp nhất định, mục tiêu là đạt được sản lượng cao nhất đồng thời tối thiểu hoá chi phí và giảm thiểu tác động đến môi trường Kết quả này phản ánh quá trình đầu tư và khai thác các nguồn lực thông qua đất đai, cây trồng và các quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao (Đỗ Nguyên Hải, 2001).
Việc áp dụng lý thuyết sản xuất cơ bản theo nguyên tắc tối ưu hóa đòi hỏi xem xét các tiêu chuẩn liên quan đến sử dụng đất và các yếu tố đầu vào nhằm tối ưu hóa chi phí Theo nguyên tắc tiết kiệm, đất được sử dụng để cực tiểu hóa chi phí của các yếu tố đầu vào khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc để cực đại hóa sản lượng nông sản khi có một lượng đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác đi kèm (Đỗ Nguyên Hải, 2001).
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất của ngành nông nghiệp, đồng thời tác động đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp và đời sống của người làm nông Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải dựa trên quan điểm sử dụng đất bền vững và hướng tới ba tiêu chuẩn chung: kinh tế (hiệu quả sản xuất và sinh kế bền vững cho người nông dân), môi trường (bảo vệ và cải thiện hệ sinh thái đất đai), và xã hội (phúc lợi và công bằng trong phân bổ nguồn lực nông nghiệp).
* Bền vững về mặt kinh tế
Để đạt hiệu quả kinh tế cao và phát triển ổn định, các loại cây trồng được thị trường chấp nhận nên được ưu tiên lựa chọn Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp nên tập trung vào chuyên canh ở những vùng đất phù hợp và kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm để tăng giá trị gia tăng và giảm rủi ro Việc xác định cây trồng dựa trên tiềm năng thị trường, khả năng thích nghi với điều kiện địa phương và nguồn lực sẵn có giúp nông dân và chuỗi cung ứng hoạt động bền vững Mô hình sản xuất tập trung kết hợp đa dạng hóa sản phẩm sẽ tối ưu hóa lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng với điều kiện đất đai tương đồng, bởi năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả… và tàn dư để lại) Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải duy trì năng suất trên mức bình quân vùng để bảo đảm tính cạnh tranh trên cơ chế thị trường; đồng thời chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tùy theo mục tiêu của từng vùng.
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Để được xem là hiệu quả, tổng giá trị sản phẩm trong một giai đoạn hay chu kỳ phải vượt mức bình quân của vùng; nếu dưới mức vùng, người sử dụng đất sẽ không có lãi Hiệu quả vốn đầu tư cũng phải lớn hơn lãi suất vay vốn ngân hàng để đảm bảo khả năng trả nợ và duy trì lợi nhuận Như vậy, hiệu quả kinh tế của hệ thống sử dụng đất phụ thuộc vào hai yếu tố cốt lõi: giá trị sản phẩm trên diện tích và tỷ suất lợi nhuận so với chi phí vay.
* Bảo vệ về môi trường
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiêncứu
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội cho thấy những thách thức về cơ cấu đất đai, quy mô sản xuất và hiệu quả canh tác, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng bền vững Các giải pháp tập trung vào tối ưu hóa cơ cấu cây trồng, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý đất đai hợp lý nhằm tăng năng suất, sinh kế người dân và bảo vệ môi trường Mục tiêu là phát triển nông nghiệp bền vững cho địa bàn huyện Chương Mỹ, phù hợp với định hướng của Hà Nội và đóng góp vào an ninh lương thực, tăng trưởng kinh tế địa phương và chất lượng sống cộng đồng.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tiến hành một số nội dung chính như sau:
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất NN trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội;
- Đánh giá hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu thứ cấp: Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội, thực trạng sử dụng đất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện
Các điểm nghiên cứu đại diện cho việc thực hiện Kế hoạch 692 của UBND huyện Chương Mỹ về dồn điền đổi thửa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng Dựa trên các tiêu chuẩn được đặt ra, luận văn đã lựa chọn 3 xã đại diện là Quảng Bị, Thụy Hương và Lam Điền để đánh giá kết quả và tác động của kế hoạch trên địa bàn Việc lựa chọn này đảm bảo tính đại diện và khả năng khái quát các kết quả đối với huyện Chương Mỹ.
Để lựa chọn điểm nghiên cứu, ba xã Quảng Bị, Thụy Hương và Lam Điền được xem là các khu vực ưu tiên nằm trong chương trình thực hiện phát triển nông thôn mới của huyện Chương Mỹ Nền kinh tế của ba xã dựa vào nông nghiệp và được xem là cao nhất trên địa bàn Tại các xã này đã và đang áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp mới sau khi thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhằm tăng hiệu quả và bền vững cho sản xuất nông nghiệp địa phương.
Phương pháp điều tra nông thôn phỏng vấn bằng bảng hỏi được thực hiện ở mỗi xã đại diện theo phương pháp chọn mẫu có hệ thống, với tổng số hộ điều tra là 90 hộ (mỗi xã chọn 3 thôn, mỗi thôn 10 hộ) Nội dung điều tra nông hộ bao gồm chi phí sản xuất, lao động, năng suất cây trồng, loại cây trồng, mức độ thích hợp cây trồng với đất đai và những ảnh hưởng đến môi trường; có mẫu phiếu kèm theo để thu thập dữ liệu.
- Phương pháp thống kê và đánh giá hiệu quả:
Phân tích và xử lý dữ liệu theo chuỗi thời gian nhằm nhận diện quy luật của các yếu tố liên quan trong quá trình sử dụng đất và đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp sử dụng đất tối ưu hơn Dữ liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm Excel để đảm bảo tính khả thi và dễ triển khai cho các quyết định quản lý đất đai.
- Phân tích hiệu quả kinh tế:
Đối với các mô hình canh tác cây trồng dưới 12 tháng, phương pháp tĩnh được áp dụng để coi chi phí và kết quả là hai yếu tố độc lập tương đối, không chịu tác động của thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồng tiền Phương pháp này phù hợp với các mô hình canh tác cây ngắn ngày, giúp đánh giá hiệu quả kinh tế dựa trên sự ổn định của chi phí và lợi nhuận mà ít bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường ngắn hạn.
CP: Chi phí Đối với phương pháp này, nếu giá trị tính toán P > 0 thì mô hình canh tác đó có hiệu quả kinh tế và ngược lại
Đối với các mô hình canh tác trồng cây có chu kỳ trên 12 tháng sử dụng phương pháp động, phương pháp phân tích lợi ích – chi phí (CBA, Cost-Benefit Analysis) sẽ được áp dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế và tính bền vững của từng mô hình, đồng thời so sánh các lựa chọn quản lý và đầu tư dựa trên các yếu tố như chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vận hành, sản lượng và lợi ích thu được.
Phương pháp CBA là một công cụ hỗ trợ hệ thống quyết định và thiết lập các mục tiêu cần đạt được trong tương lai Các chỉ tiêu cần tính toán gồm NPV (giá trị ròng hiện tại), BCR (tỷ lệ lợi ích trên chi phí) và IRR (lợi suất nội bộ), các chỉ tiêu này đã được tích hợp sẵn trong Microsoft Excel, giúp người dùng dễ dàng thực hiện phân tích so sánh các kịch bản đầu tư và đưa ra quyết định tối ưu.
Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (NPV - Net Present Value) là chỉ tiêu xác định lợi nhuận ròng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, có tính đến ảnh hưởng của thời gian thông qua phương pháp chiết khấu Chỉ tiêu NPV được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất; hoạt động có NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao NPV > 0 cho thấy sản xuất có lãi, NPV < 0 cho thấy sản xuất bị lỗ, và NPV = 0 cho thấy sản xuất hòa vốn NPV được tính theo công thức xác định giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai bằng cách chiết khấu với mức lãi suất dự án phù hợp.
NPV: Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng);
Bt: Giá trị thu nhập của năm thứ t (đồng);
Trong phân tích dự án, Ct là giá trị chi phí của năm thứ t (đồng); r là tỉ lệ chiết khấu hay lãi suất (%); t là thời gian thực hiện các sản xuất (năm) Khi chu kỳ sản xuất kéo dài đến năm n, tổng giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ năm 0 đến năm n được ký hiệu là Σ Giá trị hiện tại ròng được tính bằng công thức PV = Σt=0^n Ct/(1+r)^t, trong đó Ct là chi phí của năm t và r là tỉ lệ chiết khấu Nói cách khác, Σ đại diện cho tổng giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ năm 0 đến năm n, giúp đánh giá tính khả thi tài chính của dự án dựa trên thời gian và chi phí theo từng năm.
BCR, hay Tỷ suất lợi ích trên chi phí, là hệ số phản ánh lợi nhuận thực tế và chất lượng đầu tư, cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Công thức tính BCR cơ bản là lợi ích chia cho chi phí, giúp đo lường mức độ sinh lời của dự án hoặc hoạt động sản xuất Khi BCR > 1 và càng lớn, hiệu quả kinh tế càng cao; ngược lại BCR ≤ 1 cho thấy dự án không hiệu quả.
BCR: Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng/đồng);
BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng);
CPV: Giá trị hiên tại của chi phí (đồng)
Các ký hiệu khác được giải thích ở công thức 2.1
IRR hay Tỉ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return) thể hiện mức sinh lời của vốn đầu tư cho một mô hình canh tác, trong đó yếu tố thời gian được tính đến thông qua chiết khấu dòng tiền IRR ở dạng phần trăm là thước đo khả năng thu hồi vốn và mức quay vòng vốn của dự án; từ đó cho phép xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư IRR càng lớn cho thấy hiệu quả đầu tư càng cao và thời gian thu hồi vốn càng ngắn So sánh với lãi suất chiết khấu r, IRR > r cho thấy dự án sinh lời, IRR < r cho thấy dự án bị lỗ, IRR = r cho thấy dự án hòa vốn.
Hòa vốn, khi đó NPV = 0)
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội được thảo luận với người dân và cho điểm theo các tiêu chí đó, thang điểm từ 1 đến 10 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội bao gồm: tác động lên chất lượng cuộc sống cộng đồng, hiệu quả phân bổ nguồn lực và chi phí, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, mức độ tham gia và đồng thuận của cộng đồng, tính bền vững và khả năng mở rộng của các chương trình, và công bằng trong tiếp cận dịch vụ và quyền lợi xã hội Quá trình đánh giá được thiết kế để phản ánh nguyện vọng của người dân, đảm bảo tính khách quan và dễ hiểu để họ có thể tham gia vào việc điều chỉnh chiến lược sao cho phù hợp với nhu cầu thực tế.
+ Khả năng lan rộng và phát triển hàng hóa của mô hình;
+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm;
+ Đảm bảo an ninh lương thực và an toàn thực phẩm;
+ Mức độ đầu tư và yêu cầu về kỹ thuật canh tác;
+ Mức độ thu nhập kinh tế, phù hợp với thị trường tiêu thụ
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường là một khuôn khổ đánh giá phức tạp, bởi bản thân hiệu quả môi trường là một chỉ tiêu khó định lượng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thảo luận với người dân và cho điểm từ 1 đến 10 để đánh giá mức độ hiệu quả của môi trường dựa trên một số tiêu chí cụ thể.
+ Khả năng bảo vệ đất chống xói mòn;
+ Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật;
+ Sự ổn định của năng suất cây trồng qua các năm
Các tiêu chí đánh giá này được thảo luận cùng người dân và cho điểm
Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp:
Hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác được hiểu là khả năng một phương thức vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, vừa đạt mức độ chấp nhận xã hội lớn nhất (hiệu quả xã hội) và vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái (hiệu quả sinh thái) Để đánh giá và so sánh các phương án canh tác, ta áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp (Ect) của mô hình canh tác theo công trình của W Rola (1994), cho phép hợp nhất ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường thành một thước đo duy nhất Việc sử dụng Ect giúp nhận diện các phương án có cân bằng tối ưu giữa lợi ích kinh tế, sự ủng hộ của cộng đồng và tác động sinh thái, từ đó hỗ trợ quyết định chọn lựa mô hình canh tác bền vững và có ý nghĩa trong bảo vệ môi trường.
Ect f n n 1 or or min max 1 min max
Chỉ số Ect là chỉ số hiệu quả tổng hợp của mô hình canh tác Khi Ect = 1, mô hình canh tác có hiệu quả tổng hợp cao nhất, và Ect càng gần 1 thì hiệu quả tổng hợp càng được tối ưu Trong công thức tính, f là các đại lượng tham gia vào tính toán như NPV, CPV, IRR và các yếu tố liên quan khác, còn n là số lượng đại lượng tham gia vào quá trình tính toán Việc đánh giá Ect giúp nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất canh tác và tối ưu hóa quyết định đầu tư dựa trên các chỉ số tài chính và hiệu quả vận hành.
Các phương pháp khác
Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo được triển khai trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài và sự tham vấn của các chuyên gia cũng như cán bộ các phòng Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Các ý kiến từ các điển hình sản xuất nông dân giỏi của huyện được tích hợp để đề xuất hướng sử dụng đất và các giải pháp thực hiện phù hợp với điều kiện địa phương.
- Phương pháp dự báo: Các đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài và những dự báo về nhu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nông nghiệp.