Theo Điều 3, Luật đất đai năm 2013[12] “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ni
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐẶNG NGỌC NHIỆM
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2016 - 2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 CHO HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐẶNG NGỌC NHIỆM
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2016 - 2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 CHO HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 8 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Quý
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vịnào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồngốc
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Nhiệm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn
cô giáo TS Vũ Thị Quý đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực
hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo khoa Quản lý Tài nguyên - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Mỹ Lộc, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, phòng Thống kê huyện Mỹ Lộc, phòng công thương, UBND các xã, thị trấn đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Nhiệm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở pháp lý của đề tài 4
1.2 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên Thế giới và Việt Nam 13 1.2.1 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên Thế giới 13
1.2.2 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.2.1 Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 22
2.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016 - 2018 22
2.2.3 Đánh giá của người sử dụng đất về quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2018 22
Trang 62.2.4 Xây dựng phương án điều chỉnhquy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 cho huyện Mỹ Lộc 22
2.2.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch sử dụng đất 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 23
2.3.2.Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 23
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu 24
2.3.4 Phương pháp kế thừa 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Kết quả đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tác động đến quy hoạch sử dung đất 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 28
3.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016 - 2018 36
3.2.1 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc 36
3.2.2 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016 - 2018 40
3.3 Đánh giá của người sử dụng đất về quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2018 45
3.3.1 Đánh giá công tác quản lý quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016- 2018 45
3.3.2 Đánh giá về kết quả thực hiện so với khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất 47
3.3.3 Đánh giá về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về đất so với giá thị trường khi thực hiện thu hồi đất thực hiện quy hoạch sử dụng đất năm 2016-2018 47
3.3.4 Đánh giá về chính sách tái định cư khi thu hồi đất 48
Trang 73.3.5 Đánh giá về ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất đến sự
phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội của địa phương 50
3.3.6 Đánh giá về những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện công tác QHSDĐ và áp dụng các văn bản mới liên quan đến QHSDĐ theo ý kiến của cán bộ ngành tài nguyên và môi trường 50
3.4 Xây dựng phương án điều chỉnhquy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 54 3.4.1 Định hướng sử dụng đất 54
3.4.2 Phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc đến năm 2020 55
3.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp 68
3.5.1 Những thuận lợi 68
3.5.2 Những khó khăn, tồn tại 70
3.5.3 Nguyên nhân của tồn tại 70
3.5.4 Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Đề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo giá so sánh 2014 29
Bảng 3.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành nông - lâm - thủy sản 29
Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu đất đai năm 2018 37
Bảng 3.4 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2018 37
Bảng 3.5 Diện tích, cơ cấu đất phi nông nghiệp năm 2018 38
Bảng 3.6 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016 - 2018 40
Bảng 3.7 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2018 41
Bảng 3.8 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2018 43
Bảng 3.9 Tính hợp lý và việc quản lý quy hoạch của huyện Mỹ Lộc theo ý kiến người dân trên địa bàn 46
Bảng 3.10 Chính sách bố trí tái định cư khi thực hiện quy hoạchsử dụng đất theo phiếu điều tra 49
Bảng 3.11 Những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện công tác QHSDĐ và áp dụng các Văn bản mới liên quan đến QHSDĐ 51
Bảng 3.12 Chỉ tiêu điều chỉnh QHSDĐ đến năm 2020 cấp tỉnh phân bổ so với số liệu điều chỉnh 55
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Đánh giá kết quả thực hiện so với khi xây dựng phương án
quy hoạch sử dụng đất 47 Hình 3.2 Đánh giá đơn giá bồi thường, hỗ trợ về đất so với giá thị
trường khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo nhóm đối tượng sử dụng 48 Hình 3.3 Ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất đến sự
phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội của địa phương 50
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình phát triển kinh tế của một địa phương luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong một thời kỳ nhất định, trong đó quy hoạch sử dụng đất
là một nội dung quan trọng không thể thiếu Việc sử dụng đất liên quan chặt chẽ đến mọi hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của người dân cũng như vận mệnh của cả quốc gia Vì vậy quy hoạch sử dụng đất là một yêu cầu đặc biệt quan trọng để sắp xếp quỹ đất cho các lĩnh vực và đối tượng sử dụng hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, tránh sự chồng chéo gây lãng phí trong việc sử dụng đất, hạn chế sự hủy hoại đất, phá vỡ môi trường sinh thái, không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, một nội dung quan trọng để quản lý Nhà nước về đất đai Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước có quyền định đoạt về đất đai và điều tiết các nguồn thu từ việc sử dụng đất
Theo Điều 3, Luật đất đai năm 2013[12] “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân
bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên
cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế-xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 22 Khoản 4 quy định "Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai" Công tác lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên phạm vi cả nước luôn được quan tâm triển khai rộng khắp và đã đạt được một số kết quả nhất định trong những năm gần đây, đặc biệt
là sau khi Luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 đi vào cuộc sống
Tuy nhiên quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập Việc lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch
sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) được thực hiện theo các quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013 quy
Trang 12định không thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã Ngoài ra, việc lập quy hoạch sử dụng đất đối với các dự án, công trình xây dựng ở các cấp thiếu đồng bộ, chưa thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, giữa quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Mỹ Lộc được Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định phê duyệt tại quyết định số 1004/QĐ-UBND ngày 21 tháng 6 năm 2013[17], [18] Sau khi quy hoạch được phê duyệt đã giúp cho công tác quản lý, sử dụng đất ở địa phương đi vào
nề nếp và mang lại hiệu quả thiết thực, làm tăng giá trị và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.Bên cạnh đó cũng chỉ ra những mặt còn hạn chế cần khắc phục làm căn cứ phục vụ hồ sơ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện
Mỹ Lộc đến năm 2020, nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của huyện và của tỉnh Nam Định Xuất phát từ thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Quý, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2018 và định hướng sử dụng đất đến năm 2020 cho huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2016 - 2018 đã được phê duyệt và đề ra phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
- Đánh giá của người sử dụng đất về quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2018
- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch sử dụng đất
- Đáng giá được công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, từ đó đưa ra các giải pháp để quản lý sử dụng đất hiệu quả, hợp lý
- Mục tiêu của đề tài ngoài việc xây dựng phương án sử dụng đất hiệu quả còn đảm bảo hài hòa các lợi ích của cộng đồng dân cư, đảm bảo cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Hệ thống hóa và xây dựng phương pháp khoa học về công tác quy hoạch
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua việc đánh giá kết quả công tác quy hoạch sử dụng đất,tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất nói riêng của huyện Mỹ Lộc, từ đó đề xuất được những giải pháp khắc phục khó khăn Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các địa phương có cùng điều kiện tương tự trong công tác quy hoạch sử dụng đất
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở pháp lý của đề tài
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013 [12]
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai [6]
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất [7]
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất [8]
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước [9]
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất [10]
- Thông tư 23/2014/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất [2]
- Thông tư 24/2014/TT-BTNMT về hồ sơ địa chính
- Thông tư 25/2014/TT-BTNMT về bản đồ địa chính
- Thông tư26/2014/TT-BTNMT vềQuy trình vàĐịnh mức kinh tế- kỹthuậtxây
dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường [3]
- Thông tư 29/2014/TT-BTNMT về Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [4]
- Thông tư 30/2014/TT-BTNMT về Quy định quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Thông tư 36/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết phương pháp định giá đất;
xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất
- Thông tư 37/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết về bối thường, hỗ trợ vàtại định cư khi nhà nước thu hồi đất
Trang 15- Thông tư 76/2014/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 45 về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư 77/2014/TT- BTC hướng dẫn Nghị định 46 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Quyết định số 2341/QĐ-TTg Ngày 02/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Văn bản số 2343/TTg-KTN ngày 24 tháng 11 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp tỉnh Nam Định đến năm 2020;
- Nghị quyết số 135/NQ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Nam Định;
- Quyết định số 1531/QĐ-UBND ngày 10/10/2012 của UBND tỉnh Nam Định phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Nam Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 1721/QĐ-UBND ngày 13/10/2011 của UBND tỉnh Nam Định
về việc phê duyệt kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn
2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020;
- Quyết định số 644/QĐ-UBND ngày 14/5/2012 của UBND tỉnh Nam Định về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản và muối tỉnh Nam Định giai đoạn 2010-2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 672/QĐ-UBND ngày 17/5/2012 của UBND tỉnh Nam Định về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-
2020 và tầm nhìn đến năm 2025;
- Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 28/5/2012 của UBND tỉnh Nam Định về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2020
và tầm nhìn đến năm 2025;
Trang 16- Công văn số 190/UBND-VP3 ngày 26 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về việc triển khai điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 2015-2020
- Quyết định số 1004/QĐ-UBND ngày 21/6/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của huyện Mỹ Lộc;
- Quyết định số 1083/QĐ-UBND ngày 10/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Mỹ Lộc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 489/QĐ-UBND ngày 8/3/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2018 huyện Mỹ Lộc
- Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX;
- Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lần thứ XI;
- Quy hoạch tổng thể phát triển triển kinh tế xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020;
- Quyết định số 2223/QĐ-UBND ngày 28/10/2015 của UBND tỉnh Nam Định
về quy hoạch phân khu hai bên tuyến đường bộ mới Nam Định - Phủ Lý (đoạn qua địa phận Nam Định) đến năm 2025
- Công văn số 93/UBND-VP3 ngày 3/1/2018 của UBND tỉnh Nam Định về việc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 cấp tỉnh
- Công văn số 408/STNMT-QHKH ngày 8/2/2018 của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định về việc hướng dẫn một số nội dung lập báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cấp huyện
- Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Mỹ Lộc đến năm 2020 [19]
- Quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh, huyện đến năm 2020
- Phương án điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể Thành phố Nam Định đến năm 2030 tầm nhìn 2040
- Các tài liệu, số liệu kiểm kê, thống kê đất đai của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định [15]
a Khái niệm chung về quy hoạch
Trang 17Theo Nguyễn Dũng Tiến (2005) [13]: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất” Theo TS Đoàn Công Quỳ [16] cho rằng:
- Quy hoạch là sự chuyển hóa tư duy hiện tại thành hành động tương lai nhằm đạt những mục tiêu nhất định
- Quy hoạch là kế hoạch hóa trong không gian, thực hiện những quyết định của Nhà nước trên một lãnh thổ nhất định
Quy hoạch mang tính hướng dẫn, tạo ra khả năng thực hiện các chính sách phát triển, kiểm soát các hoạt động sử dụng nguồn lực, tạo ra sự cân bằng sinh thái trong môi trường sống, sự công bằng trong đời sống xã hội
b Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất được xác định theo những quan điểm sau:
- Xét trên quan điểm đất đai là địa điểm của một quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất gắn với quy hoạch sản xuất về sở hữu và sử dụng, với lực lượng sản xuất
và tổ chức sản xuất xã hội thì quy hoạch sử dụng đất nằm trong phạm trù kinh tế -
xã hội ; có thể xác định khái niệm quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, hiệu quả thông qua việc phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng và định hướng tổ chức sử dụng đất trong các cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức đơn vị và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thực hiện đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái, bền vững [23]
- Xét trên quan điểm đất đai là tài nguyên quốc gia, một yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội, là nguồn lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội thì quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống đánh giá tiềm năng đất đai, những loại hình sử dụng đất và những dữ kiện kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn các giải pháp sử dụng đất tối ưu, đáp ứng với nhu cầu của con người trên cơ sở bảo vệ các nguồn tài nguyên lâu dài
Trang 18- Xét trên quan điểm chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, đất đai là tài sản quốc gia được sử dụng trong sự điều khiển và kiểm soát của Nhà nước thì quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp bố trí và sử dụng đất, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia theo lãnh thổ các cấp và theo các ngành kinh tế - xã hội [11]
c Căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
Trong bất kỳ một quốc gia nào, đất đai đều giữ vai trò quan trọng, trong đó hình thức sở hữu đất đai là cơ sở cho mối quan hệ đất của mỗi chế độ xã hội Ở nước ta Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã nêu:
“Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử
dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
Điều 4 và Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 [12] nêu rõ:
+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
+ Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai
+ Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai
+ Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Điều 22 Luật Đất đai năm 2013, xác định một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [12]
Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất có ý nghĩa rất lớn trong quản lý
và sử dụng đất Ngoài việc đảm bảo cho việc sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm, đảm bảo các mục tiêu nhất định phù hợp với các quy định của Nhà nước, cần phải đồng thời tạo ra cho Nhà nước theo dõi, giám sát quá trình sử dụng đất
Để thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương và Luật đất đai, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt các văn bản dưới luật dưới dạng các nghị định, chỉ thị, thông tư, hướng dẫn của ngành, liên ngành để chỉ đạo công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp
d Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 36 Luật Đất đai năm 2013 quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm:
Trang 19- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
e Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 42 Luật Đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính:
Chính phủ tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Bộ Quốc phòng tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; Bộ Công an tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
f Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch
Điều 45 Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trước khi trình Chính phủ phê duyệt
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất quy định tại khoản
Trang 203 Điều 62 của Luật này trước khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện [12]
* Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Qui hoạch sử dụng đất cấp huyện dưới sự chỉ đạo của qui hoạch cấp tỉnh, căn
cứ vào đặc tính của nguồn tài nguyên đất và mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế xã hội để xác định nội dung qui hoạch:
+ Xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và phương châm cơ bản sử dụng đất của huyện
+ Xác định qui mô, cơ cấu và bố cục sử dụng đất của các ngành + Xác định bố cục, cơ cấu và phạm vi dùng đất của các công trình hạ tầng chủ yếu,đất dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp , thủy lợi, giao thông, đô thị, khu dân cư nông thôn, xí nghiệp công nghiệp, du lịch và nhu cầu đất đai cho các nhiệm vụ đặc biệt Đề xuất chỉ tiêu có tính khống chế sử dụng các loại đất
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phân chia các khu đất và đề xuất phương hướng, nguyên tắc biện pháp quản lý và thực hiện sử dụng đất của các khu vực khác nhau Đồng thời phân chia các chỉ tiêu làm cơ sở sử dụng đất cho các xã trong huyện
Phân chia các khu đất sử dụng và dùng nó để khống chế bố cục sử dụng đất các loại và điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, là vấn đề cốt lõi của qui hoạch sử dụng đất cấp huyện
+ Phân chia loại đất sử dụng cho các xã và thể hiện trên từng mảnh đất cụ thể
+ Xác định vị trí các quy mô của điểm dân cư tại các xã và tiến hành điều hoà giữa các xã
+ Hoạch định khu bảo vệ nông nghiệp, những khu vực đã được xác định là khu bảo vệ cần phải được liền khoảnh, thể hiện diện tích, vị trí, ranh giới và biện pháp quản lý vào thuyết minh quy hoạch và bản đồ
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là cơ sở, thông qua việc khoanh định cụ thể các khu vực sử dụng với những công năng khác nhau, trực tiếp khống chế và thực hiện nhu cầu sử dụng đất của các dự án cụ thể, cũng là điểm mấu chốt thực hiện quy hoạch của cấp tỉnh và cả nước
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ở nước ta là một cấp cơ bản trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở và kéo dài của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước, có tác dụng trực tiếp chỉ đạo và khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ
Trang 21các ngành, các xí nghiệp, kế thừa cấp trên và gợi ý cho cấp dưới Do đó, phải được tổ chức dưới sự chỉ đạo chủ chốt của cấp huyện, do phòng Tài nguyên và môi trường thực hiện, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều nhà khoa học, thực hiện một cách thiết thực, làm cho quy hoạch có tính khoa học, tính tiên tiến, tính thực tế, tính khả thi cao [11]
e Những tiêu chí đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất
* Mức độ phù hợp của các phương án quy hoạch sử dụng đất
Mức độ phù hợp của các phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương được thể hiện qua từng cấp như sau:
- Đối với quy hoạch sử dụng đất của cả nước thì đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất của cả nước với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, quy hoạch phát triển của các ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Đối với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh thì đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất của tỉnh với quy hoạch sử dụng đất của cả nước, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch phát triển của các ngành tại địa phương và các đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh
Trường hợp chưa có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thì đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất với định hướng phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh được thể hiện trong Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân
- Đối với quy hoạch sử dụng đất của huyện thì đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất của huyện với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện, định hướng phát triển của các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện
Trường hợp chưa có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xă hội của huyện th́ đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất với định hướng phát triển
Trang 22kinh tế - xã hội của huyện được thể hiện trong nghị quyết của Đại hội Đảng bộ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân
* Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường
Thẩm định việc khái quát hiệu quả phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp
và dịch vụ trên mặt bằng sử dụng đất theo từng phương án quy hoạch sử dụng đất
Thẩm định việc đánh giá hiệu quả kinh tế đất của từng phương án quy hoạch
sử dụng đất theo dự kiến các nguồn thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, các loại thuế có liên quan đến đất đai và chi phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; theo dự kiến thu ngân sách từ việc đấu giá thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã và chi phí cho quản lý đất đai tại xã
Thẩm định yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực của từng phương án quy hoạch sử dụng đất
Thẩm định việc đánh giá hiệu quả xã hội của từng phương án quy hoạch sử dụng đất đối với việc giải quyết quỹ nhà ở, mức độ ảnh hưởng đến đời sống các hộ dân phải di dời chỗ ở, số lao động mất việc làm do bị thu hồi đất, số việc làm mới được tạo ra từ việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
Thẩm định sự phù hợp của từng phương án quy hoạch sử dụng đất đối với yêu cầu khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đánh giá tác động đến môi trường
Thẩm định yêu cầu phát triển diện tích phủ rừng của từng phương án quy hoạch sử dụng đất nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn hệ sinh thái
Thẩm định yêu cầu tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo tồn văn hoá các dân tộc của từng phương án quy hoạch sử dụng đất
* Tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất
Thẩm định tính khả thi của từng phương án quy hoạch sử dụng đất gồm khả năng thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất, khả năng thu hồi đất, khả năng đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng cho các mục đích; cơ sở khoa học và thực tiễn của các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Trang 231.2 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên Thế giới
* Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị tăng đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực đô thị mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước Trong những thập kỷ vừa qua cơ cấu sử dụng đất
đã có sự thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích khác
Giá trị sinh thái, thẩm mỹ của môi trường thường xuyên được nhấn mạnh trong quy hoạch Sự phát triển kinh tế đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ việc sử dụng đất và các
xu hướng của xã hội, giải quyết có hiệu quả mối liên kết trung ương và địa phương trong quản lý môi trường
* Tiến sĩ Azizi Bin Haji Muda cho rằng “cơ sở của sự phát triển nông thôn là cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn Quá trình phát triển kinh tế (hiện đại hoá nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp) ở Malaysia là nguyên nhân của những thay đổi sử dụng đất; Kết quả là nhiều đất nông thôn màu mỡ được chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp, đặc biệt dành cho các ngành công nghiệp sản xuất, nhà
ở và các hoạt động thương mại khác” [20]
* Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng phát triển giai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính
Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc độ nhanh, giới công thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh căn bản để phát triển Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu [21]
* Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau; trước hết là lập sơ đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết các ngành, trên
cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, việc phân bổ các khu chức năng để bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi
Trang 24trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Một nguyên tắc cơ bản của các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt là đất canh tác Tại các nước này quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do Ủy Ban kế hoạch Nhà nước đảm trách; quy hoạch đô thị do ngành xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai do cơ quan quản
lý đất đai thực thi
Tại Thụy Điển và các nước Đông Âu khác, phân vùng sử dụng đất được lồng ghép ngay trong khi tiến hành quy hoạch tổng thể không gian Việc mọi quan tâm chủ yếu tập trung vào quy hoạch chi tiết phát triển đô thị và vấn đề bảo vệ môi trường sống luôn được đặt lên hàng đầu [21]
Nói tóm lại: Bước đi, cách làm và tổ chức bộ máy tiến hành của các nước có khác nhau nhưng tất cả đều có nguyên tắc chung là sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, bảo vệ được tài nguyên rừng hiện có, duy trì và bảo vệ các khu phố cổ, bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống cho hiện tại và thế hệ mai sau
1.2.2 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, quy định pháp luật về công tác quy hoạch nhằm tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tốt hơn, nâng cao chất lượng quy hoạch, nâng cao tính hiệu quả và tính khả thi của các loại quy hoạch
Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, quá trình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta có thể phân theo các giai đoạn như sau:
* Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960
Ở giai đoạn 1930 - 1945, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ ở một số
đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su,
cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp Từ năm 1946 đến
1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày
có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm 1953, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953) Mục đích cải cách ruộng đất là tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến Phương châm cải cách ruộng đất là đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật tự, có lãnh đạo chặt chẽ “Những ruộng đất tịch
Trang 25thu, trưng thu, trưng mua chia hẳn cho nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất
đó, theo nguyên tắc xã làm đơn vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộng đất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu cố những nông dân trước đã cày trên những ruộng đất ấy” Làm đầy đủ những nội dung như vậy thì thực chất là đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai mà cụ thể là trong lĩnh vực nông nghiệp [22]
Từ sau khi hoà bình lập lại, ở Miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất, tiếp đến là cải tạo
xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp Trên toàn Miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hình thành quan
hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài Đây là thời kỳ quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát,
tự túc, khôi phục và kế thừa truyền thống cây trồng vật nuôi, phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thể của chế độ xã hội chủ nghĩa
* Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975 Đến cuối năm 1960, khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai
Vì vậy, công tác quy hoạch phân vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960, các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại Việc sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ
Trong bối cảnh cả nước trong thời kỳ chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương án phát triển sản
Trang 26xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất Nó là một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệp ngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này
* Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
Giai đoạn 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra cơ bản trên phạm vi cả nước Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông… cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới Thực tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này không được bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ lực như cao su,
cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ… trong cùng một địa bàn cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy việc thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/TVQH ngày 24/5/1979 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ; Nghị định số 404/CP ngày 09 tháng 11 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất)
Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng nhằm
“làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp (tháng 9/1979); xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (tháng 10/1979); thông báo về “khoán”
sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệt phải kể đến Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã” mà thực chất công tác
Trang 27này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quy hoạch sử dụng đất đai
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đã quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Trong chương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 -
2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề về tài nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai; coi đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động và vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá
Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 50 về xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện, đây được ví như là 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước hết sức sôi động
Như vậy, đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai mà thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị
Khi Luật đất đai năm 1987 ra đời (có hiệu lực thi hành từ tháng 01 năm 1988), đánh dấu một bước mới nữa về quy hoạch sử dụng đất đai, vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11, lúc này quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý và là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai Trong thời gian từ
1988 đến 1990, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã chỉ đạo một số địa phương lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã theo quy định của Luật đất đai 1988 Số lượng các quy hoạch này trên phạm vi cả nước chưa nhiều nhưng qua đó Tổng cục Quản lý ruộng đất và các địa phương đã trao đổi, hội thảo và rút ra những vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất, làm cho quy hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc sử dụng đất đai mà trở thành một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của các địa phương [23]
Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua
Trang 28một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng, nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng
Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý ruộng đất lần đầu tiên ban hành Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15 tháng 4 năm 1991 hướng dẫn về quy hoạch phân
bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung chính như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai
Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn cứ theo Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh) Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức, phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế Đại
đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu Vấn đề này có mặt được nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà ở với số lượng lớn mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạo nên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị [24]
* Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo được cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch
sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn Năm 1994, Tổng cục Địa chính được thành lập
và tới tháng 4 năm 1995, lần đầu tiên tổ chức được một Hội nghị tập huấn về công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cho Giám đốc Sở Địa chính của tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước tại Tỉnh Nam Định, từ ngày 03 đến 08
Trang 29tháng 4 năm 1995 Sau hội nghị này công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản hơn ở cả 4 cấp là: quốc gia, tỉnh, huyện, xã Một số dự án quy hoạch sử dụng đất đai vừa triển khai vừa rút kinh nghiệm thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện đại diện cho các vùng của cả nước đã được Tổng cục Địa chính chỉ đạo và tổ chức thực hiện Riêng các huyện điểm đã được tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời tại Hội nghị Bắc Thái từ ngày 15 đến 16 tháng 9 năm 1995 Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm của mấy chục năm trước đây, đặc biệt là thực tế công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai thời kỳ này, Tổng cục Địa chính đã cho nghiên cứu, soạn thảo và ban hành (tạm thời) Quyết định số 657/QĐ-ĐC ngày 28 tháng 10 năm 1995 về quy trình, định mức và đơn giá điều tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước Từ đó các địa phương có cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện các dự án quy hoạch sử dụng đất đai theo nội dung và quy trình tương đối thống nhất, đẩy nhanh tiến
độ công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai
Với những kết quả khả quan thu được, báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IX tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997); Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10 tháng 5 năm 1997 thông qua kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước Căn cứ Nghị quyết này, công tác quy hoạch sử dụng đất đai tiếp tục được đẩy mạnh Tiếp theo đó, trong các ngày từ 22 đến 26 tháng 10 năm
1998, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Hội nghị Tập huấn về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước nhằm thúc đẩy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai nhanh, mạnh hơn nữa để đáp ứng yêu cầu nội dung, tiến độ đề ra theo các Nghị quyết của Quốc hội Tuy vậy cũng phải sau 7 năm, tức là phải đến năm 2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội mới ra Nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tiến hành công tác rà soát quy hoạch sử dụng đất
an ninh, quốc phòng và đã được Chính phủ phê duyệt
Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, nội dung, phương pháp, trình tự lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp đã có những quy định cụ thể, rõ ràng và mang tính pháp lý: Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Mục II Chương II (gồm 10 Điều, từ Điều 21 đến Điều 30), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ
Trang 30về thi hành Luật Đất đai quy định tại Chương II (gồm 18 Điều, từ Điều 12 đến Điều 29); Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Định mức sử dụng đất; Định mức, đơn giá điều tra, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp
Ngày 01 tháng 7 năm 2014 Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của cấp tỉnh, cấp huyện [24]
Công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Lộc đã được UBND tỉnh Nam Định phê duyệt tại quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 21/1/2019 Với bản quy hoạch trên, việc điều chỉnh quy hoạch dựa trên nhu cầu đăng ký của các địa phương , các ngành, đảm bảo các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội và vẫn đảm bảo các mục tiêu phân bổ của cấp trên Do đó việc thực hiện một số chỉ tiêu như các cụm công nghiệp, các điểm đất sản xuất kinh doanh tập trung, các vùng chuyển đổi san Nuôi trồng thủy sản, vùng chăn nuôi khó thực hiện
Với đề tài tôi đang nghiên cứ và đề xuất, việc xây dựng nhu cầu dựa trên nhu cầu thực tế, qua điều tra, khảo sát các nguồn tài liệu, các quy hoạch chuyên ngành cũng như dự báo nhu cầu sử dụng trong giai đoạn tới, thì việc xây dựng phương án cho giai đoạn 2019-2020 có tính khả thi cao hơn do không chịu sự chi phối bởi các
số liệu phân khai và các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Mục tiêu của đề tài ngoài việc xây dựng phương án sử dụng đất hiệu quả còn đảm bảo hài hòa các lợi ích của cộng đồng dân cư, đảm bảo cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội
Với phạm vi nghiên cứu, thời điểm nghiên cứu và cách thức xây dựng phương ántối thấy đây là đề tài có tính khả thi cao, phương pháp nghiên cứ đảm bảo và không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định giai đoạn 2016 - 2018 và xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016 - 2018
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
- Đánh giá điều kiện tự nhiên
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội
- Những thuận lợi, khó khăn
2.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016 - 2018
- Khái quát Quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2016 - 2018
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Lộc giai đoạn
2016 - 2018
2.2.3 Đánh giá của người sử dụng đất về quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2018
- Đánh giá tình hình quản lý quy hoạch
- Đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch
2.2.4 Xây dựng phương án điều chỉnhquy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cho huyện Mỹ Lộc
- Quy hoạch đất nông nghiệp
- Quy hoạch đất phi nông nghiệp
- Quy hoạch đất chưa sử dụng
Trang 332.2.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch sử dụng đất
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
Việc thu thập các tài liệu, số liệu điều tra phục vụ nhu cầu nghiên cứu đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra, thu thập các số liệu thứ cấp: thu thập và xử lý các tài liệu, số liệu sẵn có của địa bàn nghiên cứu tại các cơ quan chức năng tại huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, Văn phòng HĐND và UBND Huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Chi cục Thống
kê, 11 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Các tài liệu, số liệu thu thập bao gồm:
+ Chỉ tiêu phân bổ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Nam Định trên địa bàn huyện Mỹ Lộc
+ Tài liệu, số liệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Lộc
có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất + Các quy định của Nhà nước có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất
+ Tài liệu, số liệu, bản đồ về hiện trạng sử dụng đất và thực trạng công tác lập, thực hiện quy hoạch sử dụng đất
+ Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất và các tài liệu, số liệu khác có liên quan đến đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Lộc
2.3.2.Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
- Điều tra, khảo sát: Trên cơ sở số liệu thứ cấp thu thập, tiến hành khảo
sát thực địa về hiện trạng sử dụng đất cùng với hệ thống bản đồ hiện trạng sử dụng đất của địa phương, các công việc điều tra thực địa được tiến hành như sau:
+ Xác định hiện trạng sử dụng đất theo ngành, đơn vị cấp xã;
+ Xác định vị trí, diện tích theo các danh mục công trình đã có quyết định
bổ sung trong kỳ quy hoạch đến năm 2020 của các cấp các ngành;
+ Xác định nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích của các ngành trên địa bàn xã, thị trấn
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn các nhà quản lý,
cán bộ 20 người ( bao gồm 11 địa chính Môi trường các xã, thị trấn và 9 phó chủ tịch HĐND cấp xã) và người dân trên địa bàn huyện Mỹ Lộc 110 người thuộc 5khu vực
Trang 34trên địa bàn huyện gồm khu vực trung tâm thị trấn 30 người( các tổ trưởng, bí thư tổ dân phố, một số hộ kinh doanh buôn bán), khu vực làng nghề xã Mỹ Thắng 20 người ( 8 trưởng thôn, 12 chủ cơ sở sản xuất kinh doanh), khu vực xã Mỹ Tân(giáp thành phố Nam Định) 25 người(16 trưởng thôn, bí thư chi bộ và 9 chủ hộ trồng hoa lớn trong xã), khu vực xã Mỹ Hà( giáp tỉnh Hà Nam) 25 người( 12 trưởng thô, bí thư chi
bộ thôn và 13 chủ trang trại nuôi trồng thủy sản), khu vực xã Mỹ Phúc ( khu văn hóa Trần) 10 người(5 trưởng thôn và 5 hộ làm dịch vụ)
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu
-Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành phân nhóm, thống kê diện tích, công trình, dự án đã thực hiện theo quy hoạch, hoặc chưa thực hiện theo quy hoạch; tổng hợp phân tích các yếu tố tác động đến kết quả triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
- Các tài liệu, số liệu được tổng hợp, xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel
2.3.4 Phương pháp kế thừa
- Sử dụng và kế thừa những tài liệu đã có về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Lộc trước đây, dựa trên những thông tin, tư liệu sẵn có để xây dựng và phát triển thành cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứa đề tài
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tác động đến quy hoạch sử dung đất
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Mỹ Lộc nằm ở phía Bắc tỉnh Nam Định, có Sông Hồng chạy qua ở phía Đông huyện và sông Châu Giang ở phía Bắc huyện Trung tâm huyện lỵ nằm cạnh Quốc lộ 21 B (trên trục đường Nam Định - Phủ Lý) Cách thành phố Nam Định
8 km về phía Tây Bắc, cách Thành phố Phủ Lý là 23 km về phía Đông Nam Huyện
Mỹ Lộc có vị trí địa lý cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam;
Phía Nam giáp thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản;
Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình;
Phía Tây giáp huyện Vụ Bản và tỉnh Hà Nam;
Hiện nay huyện Mỹ Lộc có tổng diện tích là 7.448,86 ha, dân số năm 2017 là 70.152 người, mật độ dân số 941 nguời/km2, gồm 11 đơn vị hành chính: 10 xã và 01 thị trấn Thị trấn Mỹ Lộc là trung tâm chính trị kinh tế văn hoá của huyện
Mỹ Lộc là cửa ngõ của thành phố Nam Định và tỉnh Nam Định, có lợi thế về giao lưu kinh tế với tất cả các vùng trong và ngoài tỉnh thông qua trục đường Quốc lộ
10, Quốc lộ 21A, Quốc lộ 21B, đường sắt Bắc - Nam và đường thủy Huyện là một trong những vành đai cung cấp lương thực, thực phẩm, lao động cho thành phố Nam Định, khu công nghiệp Hoà Xá và cụm công nghiệp An Xá, khu Công nghiệp Mỹ Trung Mỹ Lộc cũng là nơi cung cấp rau sạch hoa tươi cho thành phố Nam Định và các vùng phụ cận
* Địa hình, địa mạo
Huyện Mỹ Lộc được bao bọc bởi hệ thống đê sông Hồng dài 7,10 km và đê
Ất Hợi của sông Châu Giang dài 8 km nên đã chia cắt địa bàn huyện thành 2 tiểu địa hình khác nhau:
Đất khu ngoài đê: có địa hình cao, đất đai màu mỡ do được phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm thuận lợi cho việc trồng rau màu, đem lại thu nhập cho người nông
Trang 36dân Tuy nhiên hàng năm chịu ảnh hưởng của ngập úng gây ra bất lợi không nhỏ đến canh tác và đời sống nhân dân nơi đây Đất khu vực trong đê: có địa hình thấp hơn,
dễ bị ngập úng nên đất bị Glây hoá
Để khắc phục tình trạng này huyện Mỹ Lộc đã đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương thuỷ lợi tưới tiêu cho khoảng 70% diện tích đất canh tác trên địa bàn huyện
Đất trong đê phù hợp cho trồng lúa và nuôi trồng thuỷ sản Nếu xét về địa mạo thì ở
Mỹ Lộc có 3 dạng địa hình chính:
Địa hình đồng bằng tích tụ nguồn gốc sông có tuổi Holoxen muộn dọc 2 sông
Địa hình đồng bằng tích tụ nguồn gốc đầm lầy sông có tuổi Holoxen muộn trung tâm huyện
Địa hình đồng bằng tích tụ nguồn gốc đầm lầy ven biển có tuổi Holoxen muộn chủ yếu ở Tây Nam huyện
* Thuỷ văn
Huyện Mỹ Lộc có 3 con sông chính chảy qua là: sông Hồng, sông Đào và sông Châu Giang Sông Châu Giang ở phía Bắc huyện (8 km/28 km chiều dài sông) chủ yếu tiếp nhận nguồn nước tưới tiêu nội đồng, chảy ra sông Hồng qua trạm bơm Hữu Bị Sông Hồng đoạn chảy dọc ranh giới phía Đông huyện dài 7,1 km cung cấp nước tưới, tiêu cho cả huyện qua công trình đầu mối (trạm bơm Hữu Bị và Quán Chuột) Chế độ dòng chảy của sông Hồng qua huyện Mỹ Lộc mùa nước cạn từ tháng
11 năm trước đến tháng 4 năm sau, nước kiệt trong tháng 1, 2, 3 (mực nước cao +0,3 m) mùa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 75% lượng nước trong năm Đặc
chiếm trên 70% tổng lượng nước cả năm (khoảng 4 năm có 1 trận lũ lớn) Song do sự điều tiết của thuỷ điện Hòa Bình tần suất lũ và mực nước, lưu lượng dòng chảy thấp xuống và được phân bố đều hơn
* Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Theo số liệu của phòng thống kê thì trên địa bàn huyện Mỹ Lộc có các loại đất chính sau:
+ Đất phèn:Diện tích 1.003 ha, chiếm 13,70 % diện tích tự nhiên của huyện,
phân bố không đều ở các xã Nhóm đất phèn có một đơn vị đất là phèn tiềm năng và chủ yếu đang được dùng trồng lúa
Trang 37+ Đất phù sa:Diện tích 6.380 ha, chiếm 86,30 % diện tích tự nhiên và được
phân bố đều ở các xã trong huyện, là nhóm đất có diện tích lớn nhất trong các
nhóm đất của huyện
Trong nông nghiệp đất phù sa phần lớn dùng để trồng lúa, màu và một số cây công nghiệp ngắn ngày
b Tài nguyên nước
Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được lấy từ hai nguồn chính là nước mặt và nước ngầm
+ Nguồn nước mặt:
Huyện Mỹ Lộc có nhiều sông ngòi chảy qua, cùng với hệ thống kênh mương
và ao hồ, do vậy nguồn nước mặt rất phong phú Về mùa mưa nước mặt dư thừa, tuy nhiên trong mùa khô vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước cho cây trồng và sinh hoạt ở nhiều nơi Hiện nay, huyện có một trạm trung chuyển nước sạch tại thị trấn, còn lại chủ yếu lấy nước từ thành phố, huyện đang tiến hành xây dựng nhà máy nước Mỹ Hà
+ Nguồn nước ngầm:
Nguồn nước ngầm chủ yếu của huyện nằm trong tầng chứa lỗ hổng Plutoxen phân bố đều khắp trên địa bàn huyện, hàm lượng Cl<200 mg/l, tầng khai thác phổ biến ở độ sâu từ 10 - 120 m Tuy nhiên khi khai thác ở độ sâu khoảng 40 m, chất lượng nước còn nhiều sắt và tạp chất khác Vì vậy khi sử dụng cần có biện pháp xử
lý để loại trừ sắt và các tạp chất
c Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản ở Mỹ Lộc không nhiều, tập trung chủ yếu vào 2 loại chính: đất sét cho sản xuất gạch ngói nung, đất cát cho xây dựng và san lấp
Nguyên liệu giành cho sản xuất vật liệu xây dựng:
Nguồn tài nguyên này phân bố chủ yếu dọc theo các bãi bồi ven sông Hồng, sông Châu Giang, những diện tích này khó khăn trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả sản xuất không cao
Nguồn tài nguyên cát chủ yếu phân bố chạy dọc trên sông Hồng (Bãi Búng), có chiều dài gần 1.500 m và chiều rộng khoảng 200 m, từ km 84 - km 86 thuộc địa bàn xã
Mỹ Tân, Mỹ Trung đây là nguồn tài nguyên cát xây dựng khá dồi dào, đang được khai thác sử dụng
Trang 38d Tài nguyên nhân văn
Mỹ Lộc là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, sớm phát triển nghề trồng lúa nước, dệt vải và làm nghề thủ công Đây là nơi phát tích vương triều Trần, triều đại hưng thịnh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Thành quả lao động của các thế hệ để lại tiềm năng du lịch nhân văn có giá trị với những di tích lịch
sử văn hoá, lễ hội trong quần thể di tích đền Trần, đền Bảo Lộc Nơi thờ 14 vị vua Trần trong thế kỷ XIII và XIV Lễ hội đền Trần, thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc, được tổ chức vào tháng 8 âm lịch hàng năm và quần thể di tích đền Trần Quang Khải, lăng mộ Phụng Dương Công Chúa Đền Bảo Lộc thờ Đức Thánh Trần, Trần Hưng Đạo (Mỹ Phúc), đền thờ Thượng phụ thái sư Trần Thủ Độ (Mỹ Phúc), đền Cao Đài thờ Thượng Tướng Thái
Sư Trần Quang Khải (Mỹ Thành), đền Sùng Văn (Mỹ Thuận), đền Công Quốc (Mỹ Tân) và hàng chục di tích lịch sử văn hoá đã được xếp hạng khác
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, các giá trị nhân văn cũng đang được phục hồi và phát triển Các di tích được bảo vệ, tôn tạo Các sinh hoạt văn hoá truyền thống được khôi phục làm tăng thêm tính hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế
3.1.2 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng giá trị sản xuất của huyện năm 2018 đạt 2.906 tỷ đồng (giá so sánh)
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2014-2018 đạt 14,95%/năm
Bình quân thu nhập đầu người tăng qua các năm, năm 2014 đạt 24 triệu đồng/người/năm, năm 2018 đạt 47,2 triệu đồng/người/năm (theo giá hiện hành)
Cơ cấu kinh tế của huyện Mỹ Lộc trong những năm qua có sự chuyển đổi tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại tăng dần, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần, phát huy lợi thế của ngành và bước đầu khơi dậy được những tiềm năng thế mạnh của huyện tạo tiền đề cho các giai đoạn sau phát triển
Ngành nông nghiệp từ 34% năm 2014 giảm xuống còn 24 % năm 2018
Ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 44% năm 2014 tăng lên 50% năm 2018
Ngành thương mại dịch vụ tăng từ 22% năm 2014 tăng lên 26% năm 2018
Tuy nhiên cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch còn chậm tỷ trọng các ngành nông, lâm nghiệp thủy sản còn cao so với mức bình quân chung của toàn tỉnh
Trang 39Bảng 3.1: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo giá so sánh 2014
3
(Chi cụcThống kê huyện Mỹ Lộc, 2018)[15]
3.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Khu vực kinh tế nông nghiệp Bảng 3.2: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành nông - lâm - thủy sản
Trang 40(Chi cục Thống kê huyện Mỹ Lộc, 2018)[15]
Tốc độ tăng trưởng đạt và duy trì ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế nội ngành được chuyển dịch theo hướng tích cực Giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản năm
2014 đạt 584 tỷ đồng, năm 2018 đạt 636 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2014-2018 đạt 3,86% Cơ cấu kinh tế nội ngành có bước chuyển dịch theo hướng tích cực:
Nông nghiệp từ 90,19% năm 2014 giảm xuống còn 88,30% năm 2018
Lâm nghiệp từ 0,31% năm 2014 giảm xuống còn 0,24% năm 2018
Thủy sản tăng từ 9,50% năm 2014 lên 11,50% năm 2018
an ninh lương thực Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác tăng từ 67,27 triệu đồng năm
2010 lên 91,76 triệu đồng năm 2018
Cây lúa là sản phẩm chủ lực của ngành trồng trọt Cơ cấu giống lúa chưa thực
sự phù hợp với từng mùa vụ, các giống nhiễm sâu bệnh, chống chịu kém với hạn, úng, rét vẫn chiếm tỷ lệ cao trên 40% diện tích, nên sản xuất nông nghiệp còn tiềm ẩn nhiều rủi ro Nhiều xã trong cơ cấu cây trồng chỉ độc canh cây lúa nên giá trị sản xuất không cao Các loại rau màu hàng hóa có giá trị cao chưa được quan tâm đầu tư phát triển Việc nhân rộng các mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản hiệu quả cao hơn còn hạn chế, việc tự ý chuyển đổi không tuân theo quy hoạch còn xảy ra tại nhiều nơi
* Chăn nuôi:
Chăn nuôi có bước phát triển, chuyển dịch theo hướng tập trung, quy mô trang trại, gia trại, tăng năng suất, hiệu quả Chăn nuôi có xu hướng giảm nhẹ đầu con nhưng sản lượng vẫn tăng Đến năm 2018:
Tổng đàn trâu, bò đạt 3.831 con (trong đó: Đàn trâu 176 con, bò 3.655 con) Tổng đàn lợn 45.425 con không kể lợn sữa
Tổng đàn gia cầm đạt 303.000 con